Tudodanchu's Weblog

Freedom, Democracy, Human Rights, No Communism For Vietnam

TẾT TẢN CƯ

Posted by tudodanchu trên Tháng Bảy 14, 2008

 

TẾT TẢN CƯ

 

Bút Xuân TRẦN ĐÌNH NGỌC

 

 

 

Khoảng trên 60 năm trước đây, tôi cùng gia đình đã sống một cái Tết thật đặc biệt.

 

Chiến cuộc lan tràn từ ngày 26-12-1946 giữa Pháp và Việt Minh (VM) mỗi ngày càng khốc liệt. Pháp vận dụng xe tăng, tầu chiến, phi cơ, trọng pháo và các thứ lính Hải, Bộ, Không, Nhảy Dù…từ chính quốc sang quyết đè bẹp lực lượng Việt Minh mới đầu chỉ có dao găm, lựu đạn, súng lục và mã tấu mới ở rừng về thành phố, ở trong Nam là những cây gậy tầm vông. Nhưng sau đó, Việt Minh đã cầu viện Liên Xô, Trung Cộng và các nước trong Khối Cộng sản quốc tế như Tiệp Khắc, Hung gia Lợi, Ba Lan, Đông Đức …để quyết một mất một còn với Pháp.

 

Lúc đó Pháp không có chính nghĩa, bị coi như kẻ mạnh xâm lăng một nước nhược tiểu, muốn kéo dài vai trò chủ nhân ông thuộc địa để hút máu hút mủ dân bị trị  trong khi Việt Minh tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng, nhất là quần chúng nông thôn, là hãy cùng với Việt Minh đánh Pháp giành lại quyền Tự chủ, giương cao ngọn cờ Độc Lập, mưu cầu Tự do, Hạnh Phúc cho toàn dân Việt.

 

Lời tuyên truyền ấy có hiệu quả vô song bởi hầu hết dân Việt đã sống kiếp nhục nhằn nô lệ trong 80 năm dưới sự thống trị tàn ác của thực dân Pháp và hơn 1,000 năm dưới gót sắt giặc Tàu qua nhiều lần xua quân chiếm đóng lãnh thổ nước ta nhưng đã bị các anh hùng dân tộc Việt đánh cho tan nát phải chạy về Tàu.

 

Ngoài ra, sau trận đói tháng Ba năm Ất Dậu, làm chết gần 2 triệu người dân Bắc Việt, nguyên nhân từ Pháp và Nhật và mấy lí do khác nữa, người dân Việt đã căm thù Pháp và Nhật tận xương tủy. Nay có lời kêu gọi kháng chiến giành Độc lập thì từ một cháu bé tiểu học cho đến các cụ già phải chống gậy, ai nấy đều muốn hi sinh thân mình, của cải của mình  cho đại nghĩa dân tộc mà không hề nghi ngờ gì. Đó chính là cái thế toàn dân quyết thắng, Diên Hồng vùng lên  ông Hồ chí Minh, lãnh tụ đảng Cộng Sản, và đảng của ông đã được hưởng.

 

Từ thành phố đến nông thôn, không khí chiến tranh lan tràn, hình như đâu cũng ngửi thấy mùi thuốc súng khét lẹt và mùi tử khí tanh tưởi âm u trong gió. Quay qua quay lại phía nào cũng thấy khói lửa mù trời, nhà cửa, ruộng vườn, đền đài, miếu mạo, nhà thờ, trường học, tu viện các tôn giáo, nói chung là những kiến trúc lớn…bị cháy tan hoang, có những làng quê bị cháy gần hết ngay những ngọn cau, ngọn tre cũng bị ngã gục, xém rụi, cảnh tượng vô cùng thê thảm. Người bị thương, bị phỏng nằm rên la, không thuốc, không băng bó; còn người chết phải đợi đến đêm tối bó chiếu mang ra đồng e ban ngày máy bay Pháp đi tuần trông thấy sẽ bắn và bỏ bom, càng thêm tan nát. Người may lắm có được cái phản cưa ra làm săng (hòm) vì những hàng bán săng chạy tản cư hết cả, vả lại không có gỗ xẻ sẵn thì lấy gì làm săng, làm hòm? Chưa có thời kì nào người dân nước ta chịu khổ đau cùng cực như thế suốt từ 1945-1954!

 

Các đường giao thông đều bị gián đoạn. Đường xe lửa bị phá quá nửa, kể cả các nơi không cần thiết phải phá. Việt Minh ra lệnh cho du kích các làng xã, thôn xóm phải phá hết theo lệnh tiêu thổ kháng chiến, đồng không nhà trống để vô hiệu hóa quân Pháp. Đường ô-tô chạy liên lạc tỉnh này với tỉnh kia thì đào hoặc phá bằng mìn thành những cái hố sâu ngập đầu người, dài vài, ba chục mét, không xe nào đi được dù là xe đạp. Nếu không đào hố thì đắp mô thật lớn ở giữa đường để ngăn chận xe cộ các loại, trừ xe đạp. Việt Minh nói là phá, đắp để xe tăng, tầu bò của Pháp hết khiển dụng nhưng Pháp chưa cần bao nhiêu mà người dân nông thôn hết đi lại làm ăn, có chút lúa thóc để làm mùa cũng phải dốc ra ăn. Tình cảnh túng quẫn, đói kém cả nước vô cùng ngặt nghèo, khổ sở. Đường sông, thuyền bè đi lại ban ngày, Pháp nghi là tầu, thuyền chở tiếp tế cho VM nên máy bay sà xuống bắn phá, người chết, đò tầu tan nát. 

 

Quê tôi, tổng Trà Lũ, thuộc phủ Xuân trường, tỉnh Nam Định. Gia đình tôi rời Hải Phòng để về quê từ giữa năm 1947 với hi vọng có thể sống qua ngày với vài mẫu ruộng tư điền do ông bà nội để lại cho thầy mẹ tôi, vẫn cho người trong họ hàng cấy rẽ từ lâu. Ngoài ra còn dăm sào vuờn trồng chè tươi, cây ăn trái và rau cải. Lúc bình yên, chè tươi được hái quanh năm có thể dùng tiền đó mua thức ăn như thịt thà, tôm cá; trái cây trong vườn như cam, quýt, hồng, cau, khi được mùa cũng được bán thêm cặp ít nhiều còn rau cải đủ cung cấp cho cả gia đình quanh năm không phải mua ở chợ.

 

Kể từ hồi chiến tranh, việc học của anh tôi và tôi bị gián đoạn luôn luôn. Thực ra lúc đó có ai còn tâm trí nghĩ đến học hành. Đang ngồi ăn cơm tự nhiên một quả bích kích pháo hay một quả đạn đại bác ở đâu vèo vèo bay tới, nổ tung, có khi chết nguyên một gia đình. Đang trên đường đi chợ huyện, chợ tỉnh mua bán chút đỉnh nhu yếu phẩm hàng ngày chợt ba, bốn chiếc phóng pháo cơ của Pháp ở đâu lao tới bắn phá và bỏ bom, người ngả như rạ; còn nhà cửa, lều chợ hoặc những đống rơm, đống rạ, chuồng trâu, chuồng bò cháy ngút trời xanh.

 

Trường học, từ tiểu đến trung học dĩ nhiên đóng cửa hấu hết. Giả sử có trường còn hoạt động vì ở trong khu an toàn thì cũng thiếu giáo sư. Thầy đi dạy là trông vào lương để nuôi gia đình; chính phủ mải lo đánh nhau không phát lương, còn học trò toàn con nhà nghèo tiền đâu đóng học phí cho thầy? Những vùng do Việt Minh kiểm soát, họ đâu cần để ý đến giáo dục. Làm dân công khiêng đạn hoặc xung vào tổ giao liên, tổ du kích đối với họ quí hơn ngồi mà tụng dăm, ba chữ vô bổ (cho chiến tranh). Chẳng vậy họ Mao, sản xuất ra cái gọi là Maoism đã từng tuyên bố:”Trí thức không bằng cục phân”. Câu này được các cấp cán bộ lớn nhỏ học tập và là một trong những giáo điều quan trọng của chủ nghĩa Cộng sản khiến trí thức bị ngược đãi, trù dập đến phải chối bỏ cả cái vốn trí thức của mình để đẹp lòng cấp trên (vốn dốt nát). Nguyễn Tuân, tác giả “Vang Bóng một thời”, đã chẳng từng nói:”Sở dĩ tôi còn sống đến ngày nay là vì tôi biết sợ.” Đúng, phải biết sợ mới sống được!

 

Người ta còn nhớ ngày 16-10-1949 quân đội Liên Hiệp Pháp nhảy dù xuống vùng Hành Thiện, Bùi Chu và đặt một Tổng hành dinh ngay tại Hành Thiện, nơi xuất phát những cuộc hành quân tảo thanh du kích VM ở các xã thuộc phủ Xuân Trường, và các huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Nam Trực, Nghĩa Hưng, Trực Ninh…Mạch tiếp tế quân sự là từ tỉnh Nam Định, đi qua Cổ Lễ, xuống Hành Thiện và xuống tận đồn Lạc Quần để ảnh hưởng toàn vùng bao gồm các phủ huyện nói trên.

 

Gia đình tôi không di tản vào thị xã Bùi Chu (tỉnh mới) như những gia đình khác. Lí do giản dị là ở cái thị xã còn lèo tèo đó, chúng tôi không có phương tiện sinh sống trong khi vẫn còn phải bám lấy mảnh đất của gia đình nơi chôn nhau cắt rốn. Vả lại còn bà con, họ mạc, xóm giềng, bạn hữu… chúng tôi còn có thể xoay xở đủ sống, không sung túc như trước kia nhưng cũng không quá thiếu thốn với ngày hai bữa. Vườn, ao và vài mảnh ruộng với ít thóc lúa trữ được từ mùa trước có thể giúp gia đình tôi qua cơn ngặt nghèo để đợi mùa sau hi vọng trồng cấy dễ dàng hơn.

 

                                                                        ***

 

Bữa đó là đầu tháng chạp âm lịch, chính xác năm tôi cũng đã quên, mẹ tôi gọi con cái vào căn nhà ngang, bảo:

“Bố các con đi biền biệt không về, ở nhà chỉ có mẹ con mình. Mẹ ra đường thấy người ta có vẻ chuẩn bị Tết, mẹ nghĩ đến các con nên dù trong không khí chiến tranh, mình ở giữa hai lằn đạn của đôi bên, mẹ cũng muốn cho các con ăn một cái Tết vui vẻ kẻo sau này biết đâu xẻ đàn tan nghé, mẹ con không được đoàn tụ nữa.”

 

Mẹ tôi nói đến đó cảm động, giọng bà lạc đi, nghẹn ngào… Bà ngưng một chút lấy lại bình tĩnh rồi tiếp:

“Vậy mấy chị em bảo nhau xay, giã gạo nếp, ra vườn kiếm lá giong, lá chuối gói bánh chưng, mẹ sẽ đưa tiền cho Lạng – chị lớn chúng tôi, tên chồng – đi chợ dùm mẹ để mua thịt thà, tôm cá và đồ gia vị cần thiết. Còn 20 ngày nữa mới Tết nhưng mẹ sợ tình hình này không chắc có chờ được tới Tết. Vậy cứ chuẩn bị đâu đó ăn Tết trước một tuần cũng được.”

 

Chị Lạng lĩnh ở mẹ một ít tiền và hăng hái đi chợ phiên mua đồ. Tôi được giao một công việc nhẹ: ra vườn cắt lá giong, lá chuối và kiếm tre chẻ lạt buộc bánh.

 

Thời tiết tháng chạp ở miền Bắc lạnh khan. Gió heo may hun hút thổi xuống, lùa cái lạnh vào da thịt làm buốt như những mũi kim đâm mặc dù tôi đã mặc hai áo cánh và áo len bên trong, bên ngoài là cái áo trấn thủ chần quả trám và phía dưới là hai cái quần nâu dầy. Tre nhà tôi trồng xung quanh vườn rất nhiều, lựa một cây tre lạt (không già, không non) thật dễ nhưng lá giong nhà tôi thưa thớt, chẳng còn đủ, tôi phải đi qua nhà ông bác họ, bác Viên, xin thêm một ít nữa mới đủ gói vài chục tấm bánh.

 

Chuẩn bị hai, ba ngày mới đủ mọi thứ để gói bánh. Có tiền nhưng thịt thà, cá mú không có, đường đậu cũng không. Thực phẩm và nhu yếu phẩm như dầu lửa, dầu lạc, đá lửa, hộp diêm (quẹt), hạt tiêu, cánh hồi, các vị thuốc bắc dân ta thường dùng làm thuốc cao đan hoàn tán v.v…khan hiếm, tìm đâu cũng không ra. Người có, họ giữ lại cho gia đình họ dùng, người sẵn tiền mua tích trữ mong sau này bán lấy lời. Đá lửa và thuốc Dagenan (thuốc trị bá bệnh lúc đó) là hai thứ dân buôn lậu rất thích vì dễ cất giấu mà có lời nhiều, ai cũng cần nên bán rất chạy.

 

Ngày mẹ và các chị tôi bày biện gạo nếp đã ngâm, đỗ xanh, thịt ba chỉ, lá giong ra cái phản lớn ở ngay nhà ngang để bắt đầu gói bánh chưng là ngày thật vui trong gia đình. Anh Tuyến và anh Lạng, hai anh rể tôi,  bẻ sẵn góc bánh; tôi nổi lửa trong bếp hơ lạt cho dẻo, mẹ và các chị tôi ngồi gói, chuyện trò rôm rả, nếu người ở một nước khác nhìn vào cứ tuởng là thời bình gia đình xum họp, vui vẻ. Theo ý mẹ tôi, bà muốn gói chừng hai mươi lăm cái bánh, vừa đi biếu, vừa để ăn trong mấy ngày “Tết sớm”. Giò thủ, thịt đông, dưa cải bẹ nguyên cây và dưa hành đã có đủ, chỉ việc xào nấu thêm vài món nữa là có mâm cỗ Tết coi được.

 

Trước kia, bao giờ bánh cũng gầy nấu về đêm vào những ngày giáp Tết. Bây giờ, ban đêm không dám để le lói ánh lửa lọt qua vách bếp vì du kích Việt Minh trong làng đã ra lệnh cấm để ánh lửa và khói lọt ra, quân Pháp nhìn thấy sẽ câu đạn moọc-chê vào làng. Nhà nào không tuân lệnh sẽ bị bắt về đồn công an tra khảo, nhốt tù chưa biết tội vạ sẽ nặng như thế nào, nếu không thì cũng bị du kích xả súng bắn bừa vào nhà cho kì tắt ngọn lửa mới thôi.

 

Vì thế, bánh chưng chỉ được nấu ban ngày, nếu vàng vàng mặt trời bánh vẫn chưa chín thì cũng phải dập lửa củi đi, sáng rõ ngày mai ninh tiếp. Nấu hai, ba lửa thế này, bánh không ngon, có khi bị chương, bị hấy (sống) nhưng biết sao hơn? Ở vào thời loạn li, mạng người như con ong cái kiến, sống được là may mắn lắm rồi!

 

Chuyện củi lửa ban đêm còn có thể kiểm soát được chứ chuyện chó sủa du kích đi rình mò ban đêm thì thực là nan giải, là ngoài sức tưởng tượng của con người. Chó nào thấy người lạ không sủa:

 

Chó đâu có sủa lỗ không

Chẳng thằng ăn trộm cũng ông ăn mày.”

(Ca dao)

 

Ban đêm, du kích Việt Cộng đi rình mò ở bụi tre, gốc dứa, chó thấy sột soạt tất nhiên sủa báo cho chủ nhà cho kì du kích đi khỏi lãnh thổ của nó mới thôi. Nhưng có nhiều du kích nổi hứng, tiện tay có súng, đưa cho chó một phát. Thế là chó chết lăn quay; chó chết nhưng chưa hết chuyện. Ngày hôm sau, chủ chó còn bị đòi ra đồn công an xã làm việc tới nơi tới chốn, bị nhốt và bị phạt tiền, lại mất con chó giữ nhà, đau hơn hoạn.

 

Nhà tôi cũng có con Vàng, chó đực, nuôi đã bốn, năm năm, to lớn, rất khôn, xưa nay giữ nhà thực chu đáo. Nay có lệnh “bài trừ chó” của du kích xã, mẹ và chúng tôi rất bối rối. Giết nó đi ăn thịt thì không nỡ mặc dù thịt, nói chung, lúc đó rất hiếm. Làm sao có thể nuốt miếng thịt con chó thân thương coi như kẻ ăn người ở trong nhà? Đem bán nó đi cho người ta thì cũng tiếc vì biết chắc người ta cũng sẽ giết thịt nó chứ đâu có nuôi. Người ta cũng đang ở trong trường hợp “Cấm nuôi chó” khẩn trương.

 

Mẹ tôi và chúng tôi ngồi bàn hai buổi tối mà không tìm ra giải pháp trong khi lệnh cấm tuyệt chó chỉ còn 5 ngày. Tôi chợt có ý nghĩ là ban đêm nhốt nó ở trong buồng phía tây gần bờ ao. Nếu nó có gầm gừ vì có người lạ, toan sủa thì chính tôi là người nằm trong cái buồng đó phải ôm lấy cổ và vỗ vào lưng nó cho nó yên tâm không sủa. Cả nhà coi như thượng sách, đồng ý thi hành.

 

Nhưng chỉ được hai đêm, đến đêm thứ ba tôi mệt quá chịu không nổi. Vàng là loại chó quá thính tai, có khi tôi chẳng nghe thấy gì mà nó đã gầm gừ trong họng như có người đã đột nhập vào trong vườn. Chẳng trách khoa học khám phá ra thính giác của chó bén nhậy hơn của con người 70 lần. Dù đang thiu thiu ngủ, tôi phải choàng dậy, nhẩy khỏi giường và cái chăn ấm, ôm lấy nó. Có khi tôi đang ngủ say, nghe nó sủa, tôi mới choàng dậy rồi mẹ tôi từ buồng bà sang ôm lấy tôi trong khi tôi đang ôm nó. Mẹ bảo tôi:

“Như thế này là không được, con ạ. Chúng bắn vào nhà thì chết hết cả nhà mà suốt đêm mẹ có dám chợp mắt đâu!”

 

Tôi thương mẹ quá! Cuộc đời bà đã biết bao khổ cực vì chồng, vì con (bố tôi đi làm cách mạng trong VN Quốc dân đảng. Ông đã sang cả Tàu, cả Nhật với các đồng chí, đi hoài không về), giờ này lại khổ vì chó. Thế là kế hoạch giữ chó của tôi tiêu tan.

 

Nghe nói ở thành phố Nam Định, người ta chịu nhận nuôi chó. Thế là mẹ tôi bàn với anh Lạng mang chó lên tỉnh đem cho người ta, những người nhận nuôi chứ không nhận giết. Anh Lạng chỉ là dân buôn bán nhưng anh khoẻ mạnh như nông dân, đi bộ rất giỏi và thuộc đường đất, vứt anh vào đâu anh cũng kiếm đường về nhà được. Anh kiên nhẫn và chịu cực, chịu khó, làm việc gì làm đến nơi đến chốn, không chịu bỏ ngang dù khó khăn bao giờ.

 

Mẹ tôi phải nắm sẵn cơm nắm bó vào mo cau và rang vừng giã muối lại đưa thêm chút tiền uống nước dọc đường  và đi đò ngang cho anh Lạng dắt chó đi Nam Định.

Lúc anh Lạng buộc giây vào cổ kéo con Vàng ra đường, nó cứ trì lại không chịu bước. Mẹ tôi phải ôm nó và vuốt ve khuyên nhủ y như với đứa con:

“Mày phải đi chứ ở nhà người ta bắt mày làm thịt. Tao cũng thương mày lắm nhưng không thể giữ mày được. Hãy ngoan ngoãn đi nhé!”

 

 Sau đó, nó mới bước đi theo anh Lạng, đôi mắt nó đỏ hoe cũng không khác gì mắt mấy mẹ con chúng tôi.

 

Con Vàng lủi thủi đi rồi, từ mẹ tôi đến chúng tôi ai cũng cảm thấy một mất mát lớn. Nhưng chúng tôi yên tâm hơn vì từ nay không sợ du kích bắn vào nhà nữa. Chúng tôi chỉ cầu mong sao cho con Vàng được vào một gia đình khá giả và biết thương nó.

  

Phải 4 hôm sau anh Lạng mới về đến nhà, trên vai vác một đoạn tre, ở đầu tre buộc một cái gói bằng mo cau. Mẹ tôi giở gói ra thấy hai chục bánh đa sống, chục bánh gai Vĩnh Bảo, một gói khoảng 1 kg bột sắn và một hũ mắm rươi đậy thật kín.

 

Việc đầu tiên khi vừa vào tới nhà là anh nằm lăn ra phản rên hừ hừ. Anh bị nóng lạnh, sốt rét, nóng như than hồng trong lò, tiếp theo cơn lạnh run cầm cập.

 

Mẹ tôi và chị Lạng lo cuống cuồng, đi hái các thứ thuốc Nam như hương nhu, tía tô, gừng, sả… nấu nước cho anh uống với mấy viên thuốc cảm (thuốc Nam); sau đó nấu một nồi nước cho anh xông cho mồ hôi tóa ra rồi ăn bát cháo hành thật nóng.

 

Cũng hơi bớt nhưng cái chân sốt rét, chắc do muỗi anophèle chích khi anh ngủ đường ngủ chợ, không dứt được. Chị Lạng cậy cục mãi mới kiếm được thím Liên là người hay đi buôn Đồng Quan, Chợ Đại, Cống Thần, Nhật Tựu, Đống Năm, những nơi có nhiều hàng ngoại hóa từ trong thành phố lớn đưa ra như Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định v.v…Thím Liên bán cho chị Lạng, chỉ còn có 6 viên, kí ninh (quinine) quí hơn vàng lúc đó. Anh Lạng uống 6 viên trong 3 ngày nhờ vậy cơn sốt rét mới lui. Lúc đã hơi khoẻ, anh kể câu chuyện đem chó đi cho thật là trần ai. Mẹ và chúng tôi vừa thương anh chịu cực khổ với con Vàng, vừa buồn cười ra nước mắt vì bước đường lưu lạc của anh.

 

Anh Lạng kể có đầu đuôi, khi anh và con Vàng ra khỏi cổng làng trời đã sáng rõ. Du kích Việt Minh đêm đi rình mò nên giờ này đã về đồn công an hoặc về nhà ngủ thẳng cẳng. Nếu thấy anh dắt cho đi, chúng sẽ hỏi và làm khó kì cho anh phải tặng chúng con chó mới yên. Đêm hôm canh gác xót ruột, dăm ba bữa lại có cờ tây ngả ra đánh chén với nhau, còn gì thú bằng. Càng thú khi chó là chó cho không, không phải tiền bạc gì. Rượu trắng với gia vị xoay xở cũng không khó, chúng thiếu gì cách để mua mà không phải trả tiền có khi người bán cố nài ép cho chúng lấy để yên bề làm ăn sinh sống. Chỉ một lá cờ tam tài nhỏ bằng bàn tay giấu trong bụi tre ban đêm rồi ban ngày cho dăm tên du kích đeo mã tấu tới khám, lôi lá cờ ra là khổ chủ phải lậy như tế sao. Một vò hay hai vò rượu cũng dễ thôi! Ngoài ra, chỉ hỏi một cách lương thiện không cần gian trá, những nhà giầu có hoặc có máu mặt trong làng, trong tổng thấy chúng đến, chúng chưa mở lời đã phải đón ý rồi đồng ý. Ngoan cố sống không yên đâu. Vì thế, vừa phải đem đi tỉnh cho, vừa bị cái nạn “rựa mận” của du kích xã, chó trong các làng quanh vùng tôi vắng hẳn, mười con không còn một.

 

Anh Lạng và con Vàng cứ theo con đường cái quan trải đá đắp cho ô-tô chạy đi từ Bùi Chu, song song với sông Ninh Cơ, lên đến thành phố Nam Định. Buổi trưa, nghe chuông chùa hoặc chuông nhà thờ báo ngọ, anh Lạng kiếm cái gốc cây có bóng râm cạnh đường, hai thầy trò ngồi lại nghỉ và giở cơm nắm muối vừng ra ăn. Ăn xong, xuống bờ sông, bờ ruộng, người lấy tay vục nước uống, còn chó thì nhúng cả mõm xuống uống cho đã. Xong lại lên đi. Từ hồi chiến tranh lan tràn, các quán bán nước, bán cơm dọc đường cũng vắng dần. Khách bộ hành, thông thương không còn lai vãng thì bán cho ai?

Phải chịu là con Vàng đi khoẻ, anh Lạng nói vậy. Anh đi chừng nào, nó đi chừng đó, anh nghỉ nó mới nghỉ, mặc dù nó cũng thở há mõm, thè lưỡi vì mệt.

 

Khoảng bốn giờ chiều hôm đầu tiên, lúc chủ tớ vừa ngồi xuống nghỉ ở gốc cây đa ven đường được mấy phút thì súng nổ lộp độp ở lũy tre xanh bao bọc một ngôi làng nhỏ cách đó khoảng hơn 1km. Súng mới đầu thưa, càng lúc càng bắn rát, lại có cả tiếng “moọc chê” câu ục một cái và nghe tiếng đoàng như đất lở trời long.

 

Chủ tớ sợ dúm vó, nhất là con Vàng, nó sợ chết hơn người nữa; nó lồng lên làm anh Lạng sút mất sợi giây. Nó đeo sợ giây chạy băng xuống ruộng; anh Lạng phải chạy theo nó bén gót trong khi anh thấy lố nhố những người lính của bên nào không rõ, đang chạy, ẩn nấp và bắn từ phía ngoài lũy tre vào làng.

 

Lúa ruộng đã gặt hết tuy nhiên còn rạ, lại có thửa đang xếp ải ngang bụng. Nhờ thế, anh Lạng khom người xuống thật thấp cho lính khỏi trông thấy và luồn đi theo những luống ải. Nhưng con Vàng thì mất tăm mất tích, ruộng nương bát ngát bao la thế này, lại gò đống san sát, bụi cây um tùm, làm thế nào anh có thể kiếm lại được con Vàng?

 

Khoảng hơn một giờ sau, tiếng súng im hẳn nhưng trời cũng bảng lảng sắp tối. Anh Lạng đeo mo cơm nắm hãy còn một nửa trên vai (định để tối ăn) đi trên bờ ruộng (đắp rất nhỏ vì sợ tốn đất), gọi con Vàng. Tên nó là Kiki nên vừa đi, anh vừa nghểu nghến xung quanh tìm nó, vừa kêu chỉ đủ nghe:

“Kiki! Kiki! Kiki!”

 

Anh không dám kêu lớn vì sợ người trong làng nghe được ra hỏi han trình giấy, bắt bớ lôi thôi.

 

Vì mắt anh phải láo liên nhìn đây nhìn đó, lại lo sắp tối đến nơi, chủ một nơi, tớ một nẻo, lo ra trăm mối, anh bỗng bước hụt xuống một cái hố phân người ta trữ để bón lúa. Hố sâu quá, người anh gần chìm nghỉm dưới hố, may mà nó chỉ lên khoảng ngang ngực, phân tro bầy nhầy như đống bùn ao. Giây đeo mo cơm sút ra văng đâu mất, cái nón đội trên đầu anh cũng văng luôn. Một mùi hôi hám phà vào mũi anh khiến anh muốn ngộp thở.

Tuy bị dơ nhưng không quá lạnh, anh Lạng bình tĩnh bám tay vào bờ và trèo lên. Bùn quá trơn mà thân anh hơi nặng nên anh cứ leo lên được một tí thì nó lại tụt xuống. Mím môi mím lợi bám lấy đám cỏ gà cạnh đó cho bớt trơn, anh Lạng dùng hết sức trèo lên khỏi hố phân, anh vừa mệt đứt ruột vừa ngán: phân tro bám dính từ ngực anh trở xuống như người đi đóng bùn ao.

 

Bỗng anh nghe tiếng chó rít khe khẽ phía sau, quay lại là con Vàng đang đứng nhìn anh vẫy đuôi mừng tíu tít. Chỉ vì cái con chết tiệt này mà anh khổ, anh Lạng thầm nghĩ, rõ giận nó muốn thoi cho nó một đấm, nhưng rồi anh nghĩ lại, anh không oán nó mà lại mừng rỡ,  kêu:”Kiki, Kiki”. Nó chẳng phải là người bạn độc nhất cần thiết của anh sao? Anh mắng yêu nó vài câu và vuốt nhẹ vào lưng nó vài cái.

 

“Mày làm tao ra thế này, mày thấy không Kiki?”

Nào có có hiểu gì, nó chỉ mừng được gặp lại chủ, đứng vẫy đuôi mừng.

 

Trời sập tối. Anh Lạng kiếm được một cái lạch gần đó bèn nhào xuống giặt giũ, tắm rửa. Anh không có quần áo khô để thay nên phải vắt kiệt bộ quần áo ướt mặc trở lại, run cầm cập vì lạnh. Cái giây còn lòng thòng, anh Lạng lại dắt nó đi gập ghềnh qua mấy bờ ruộng, trở ra đường cái. Trong bụng anh, anh chỉ mong thấy được một cái quán bên đường hoặc ngôi nhà nào đó gõ cửa vào trọ qua đêm và kiếm chút gì ăn đỡ vì tối nay hai thầy trò chưa có gì vào bụng.

 

Con Vàng làm như biết lỗi, nó cắm đầu đi ngoan ngoãn, không hó hé một tiếng mà cũng không nhìn chủ. Anh Lạng bước nhanh nó cũng bước nhanh, anh đi chậm nó cũng đi chậm. Hai thầy trò cứ lủi thủi đi trong bóng đêm như hai bóng ma. Quang cảnh vắng tanh vắng ngắt.

 

Chợt anh Lạng nhìn thấy khoảng vài trăm thước trước mặt có một cái quán nhỏ. Anh mừng rỡ rảo chân đi tới. Nó không phải quán hàng hoặc cũng từng là quán bán hàng nhưng chủ nhân đã bỏ đi, để trống. Ngoài cửa quán có những vết chân trâu sâu hoắm nên anh Lạng đoán có thể mục đồng chăn trâu cắt cỏ qua lại thường vào trú mưa, trú nắng hoặc bày vài trò chơi nhỏ bên trong.

 

Anh Lạng khẽ gọi nhưng không ai thưa. Anh lách mình qua cái phên liếp vào bên trong thấy ấm hơn bên ngoài. Con Vàng theo anh bén gót. Chợt anh thấy trong góc có vài cục than hồng còn le lói. Anh mừng quá sờ sẫm mò vào cái bếp với ba hòn đầu rau còn nóng hổi chứng tỏ có người vừa mới đun xong. Sờ sẩm chung quanh, anh chạm tay mấy lọn rạ và củi khô. Anh cho rạ vào cục than hồng trong bếp và thổi phù phù. Chỉ còn một cục than hồng vừa bằng đầu ngón tay út còn tất cả đã ngàn tuy còn sức nóng. Anh Lạng biết rằng phải khéo léo lắm mới gây lửa từ cục than nhỏ xíu đó thành một bếp lửa để sưởi ấm anh và con Vàng đang sắp chết giá. Anh biết phải làm thật nhanh kẻo cục than tắt ngúm thì khốn khổ, anh quơ thêm rạ, vò trong hai bàn tay cho nó mềm ra, uốn tròn cho nó thành như một cái tổ chim mềm mại, xong gắp cục than hồng nhỏ xíu đó bỏ vào giữa cái tổ chim. Hai tay anh đưa cái tổ chim ấy lên vừa tầm rồi nhẹ nhẹ thổi cho lửa từ cục than bén từ từ sang cái tổ chim. Là một người ở thôn quê lâu ngày, anh gây lửa rất khéo. Thế là chỉ mười lăm phút, cái tổ chim đã thành một mồi lửa lớn. Có ánh sáng, anh Lạng đi vòng xung quanh gian bếp kiếm thêm rạ và củi khô nhưng anh cũng sợ không dám để ngọn lửa lên cao quá sợ ở ngoài đường nhìn thấy. Anh Lạng yên trí thầy trò không còn sợ chết cóng nữa.

 

Nhưng còn cái đói? Anh phải tìm ra cái gì để ăn. Anh ra phía sau. Một cái vườn nhỏ hiện ra trước mắt. Vườn trơ trụi không có gì vì đang mùa Đông.

 

Cái đói bắt anh Lạng phải mò và sờ khắp vườn xem còn cái gì nhai được. May quá, mắt anh nhìn thấy mờ mờ vài luống đất đang đào giở. Anh lại gần thì ra là luống khoai lang, giây khoai lang đó đây còn đan trên luống. Anh kiếm một cành cây chắc và nhọn đầu, dùng nó bẩy tiếp chỗ đang đào. Khoai rụng ra. Có củ bằng cổ tay, có củ nhỏ hơn. Mừng quá, anh Lạng vơ lấy dăm củ đem vào bếp. Anh vùi khoai vào tro nóng và đốt thêm rơm rạ cho khoai chín. Khoảng tiếng sau, hai thầy trò anh ung dung ngồi nhai khoai dưới ánh lửa bập bùng. Con Vàng chẳng e ngại cái mùi hôi từ người chủ toát ra mà khi chủ nằm vào cái ổ rạ thì nó đến nằm ngay dưới chân.

 

Anh Lạng chờ sáng rõ mới dám dắt chó đi. Đi quá sớm ở chỗ lạ, hai bên Pháp – Việt Minh không biết cứ thế bắn thì khốn.

 

Chủ tớ tới bến đò Cựa Gà vào lúc 12 giờ trưa. Ba, bốn chiếc phà chở khách qua lại, cả những xe của đoàn công-voa của Pháp. Ngay trên bến đò, vào sâu khoảng vài chục mét, có cái chợ họp khá đông.  Anh Lạng dắt chó vào chợ thì gặp ngay một cái chợ chó kẻ mua người bán tấp nập. Chó để trong lồng nhốt gà, chó nhốt trong cũi, chó dắt tay, chó đã bị trói bốn cẳng và mõm, chó mẹ và đàn chó con đang bú…thôi đủ hết.

 

Anh Lạng chưa kịp suy nghĩ thêm thì một anh lái chó, rồi anh nữa, anh nữa, tay cầm cái thòng lọng, túi áo cánh phồng to cài kim băng ra vẻ nhiều tiền, đến hất hàm hỏi:

“Bao nhiêu?”

Anh Lạng đều lắc đầu. Một anh lái tức quá nhìn trừng trừng vào mặt anh Lạng như muốn nuốt sống ăn tươi:

“Không bán thì mang chó đến đây làm gì ? Hả?”

Tiếng “hả” hắn quát thật to cho anh Lạng sợ, nhưng anh không sợ. Anh lủi thủi dắt chó đi.

 

Bỗng có một ông lão mặc bộ quần áo trắng, đi giầy da. đeo kính trắng, dáng điệu ung dung, chững chạc, lịch sự, rảo bước theo anh mà nói:

“Anh kia ơi, anh dắt con chó Vàng ơi, đứng lại cho tôi hỏi đã.”

Anh Lạng đứng dừng, quay đầu nhìn lại. Giáp mặt, ông lão hỏi:

“Này, tôi xin lỗi, anh đem chó đến đây nhưng không bán, vậy định làm gì? Có thể cho lão này biết được không?”

“Thưa cụ, cháu không định bán cho người ta giết thịt. Cháu chỉ cho nó cho người nào biết thương chó, quí chó vì con chó này rất khôn, đem giết uổng lắm.”

 

Ông lão nhìn qua nhìn lại con Vàng lấy làm ưng ý. Quả là con chó thật khôn lại giúp chủ nhiều việc. Ông bảo anh Lạng:

“Lão coi hai chủ tớ anh đã có vẻ mệt và khát. Vào cái quán kia lão đãi bát bún riêu, ăn rồi nói chuyện.”

 

Thấy ông lão tử tế, anh Lạng dắt chó đi theo. Chó được một bát cơm lớn; còn anh Lạng, hai bát chiết yêu (tô) bún riêu, rau sống, rau thơm. Ông lão cũng ăn một bát.

 

Ăn xong, anh Lạng nói cho ông lão rõ ý định. Ông cười khà khà:

“Nếu vậy thì cháu gõ đúng cửa rồi. Lão bảo đảm lão sẽ nuôi con chó này cho đến khi nó chết. Lão không phải người tham tiền đâu. Về nhà lão gần đây ngủ một đêm, sáng mai hãy trở về làng.”

 

Anh Lạng dắt chó đi theo. Quả ông lão là người khá giả, có nhà cao cửa rộng. Ông đã có hai con chó khá đẹp nhưng ông ưng con Vàng hơn.

 

Vậy là con Vàng nhập bọn với hai con bạn mới, một đực, một cái, nhỏ tuổi và nhỏ con hơn Vàng. Mới gặp mà ba con chó đã trửng giỡn với nhau như đã quen lâu ngày. Ông lão gọi con giết gà làm cơm, lại kiếm một bộ quần áo còn khá tốt của người con trai ông cho anh Lạng, bảo con dắt anh ra bến sông tắm rửa sạch sẽ. Ông lão giữ anh Lạng ở chơi thêm một ngày sau đó mới cho về.

 

Sáng kế tiếp, anh Lạng từ giã ông lão và gia đình ông. Khi anh bước ra ngõ, con Vàng theo chân anh nhưng anh quay lại, ngồi xuống ôm cổ nó bảo:

“Mày phải ở đây hầu hạ, trông nhà cho cụ. Mày không thể về làng được. Người ta giết mày, nghe không?”

 

Sau câu nói, nó không theo anh Lạng nữa nhưng đứng thừ người nhìn anh cho đến khi anh đi khuất.

 

Ông lão đưa ra một số tiền tương đương giá con chó ở ngoài chợ, nói là để trả anh Lạng nhưng anh không lấy mà chỉ xin một nắm cơm đem theo ăn đường. Lẽ dĩ nhiên ông lão thỏa mãn hết và còn gửi hai chục tấm bánh đa đường (thứ chưa nướng), một chục bánh gai Vĩnh Bảo, một kí bột sắn và một hũ mắm rươi cho anh đưa về làm quà cho gia đình. Ông lão bảo vùng ông về mùa giáp Tết, rươi nhiều lắm và mắm rươi là thứ đặc sản có tiếng thường đem lên Nam định và Hà Nội bán cho những người sành ăn.

 

Lượt về, vì không có chó, anh Lạng đi nhanh hơn nhưng qua ngày rưỡi đầu cực khổ, đói khát, lạnh lẽo, tinh thần căng thẳng vì mất chó, vì chiến trận dọc đường, anh quị ngay khi vừa về đến nhà.

 

Mẹ tôi và chúng tôi nghe anh kể lại lúc anh chới với dưới hố phân, cười đau cả ruột. Thỉnh thoảng, mấy ngày sau, chị Lạng lại cầm lấy cánh tay áo của anh đưa vào mũi hít hít:

“Coi xem, còn có mùi hôi không?” làm mẹ con tôi lại phá lên cười. Còn anh Lạng thì có vẻ xấu hổ vì đã sơ ý tệ hại như thế.

 

                                    ***

 

Chỉ còn đúng một tuần là Tết. Bố tôi đi biền biệt chưa về. Có người bạn của bố về báo cho mẹ hay rằng, bố đang ở một vùng nào đó giữa biên giới Trung Hoa-Việt Nam thuộc vùng Cao bằng, hay Lạng Sơn gì đó. Mẹ ở nhà cứ lo cho bố héo hắt cả người.

 

Dù sao những sinh hoạt của con cháu không thể bỏ. Mẹ tôi định chiều hôm đó sắp sẵn cỗ bàn cúng gia tiên rồi cho con cháu ăn uống vì tất cả đều đã sẵn sàng. Sáng sớm, khi cả nhà còn đang ngủ, bỗng nghe tiếng đạn xé gió trên không rồi những tiếng nổ “đoàng” đinh tai nhức óc làm như nó nổ ngay trong làng chúng tôi.  Mọi người đều nhốn nháo cả lên trong khi đạn cứ “véo, véo” trên đầu.

 

Chú Hội là em họ mẹ tôi, nhà ở ngay sau nhà tôi, từ ngoài ngõ băng qua sân vào bảo mẹ tôi và chúng tôi, vừa thở vừa nói:

“Nghe nói quân Pháp đổ bộ lên bến đò Sa Cao, sẽ tiến về làng mình và mấy làng lân cận. Chị và các cháu lo gom góp quần áo mà tản cư thôi!”

Mẹ tôi níu tay chú:

“Chú bảo bây giờ đi đâu?”

“Em tính chạy xuống phía Ngô Đồng cho xa chỗ quân Pháp đóng. Ngô Đồng có nhà bác Bội, tạm trú ở đó rồi tính sau.”

 

Nói xong, chú Hội chạy biến về nhà. Mẹ tôi hỏi hai anh Tuyến và Lạng, các anh nói chẳng còn chỗ nào tốt hơn. Mình phải ra khỏi trận địa tức là đi xuống phía biển, chứ đi ngược lại là gặp Tây.

 

Thế là ai vào việc nấy. Mẹ tôi đã may sẵn những cái tay nải (một loại túi dài bằng vải kaki Nam định rất bền rất chắc để đựng bất cứ thứ gì, đeo trên vai), ruột tượng để thắt vào lưng và thêm vài đôi quang gánh, thúng hai bên chất đầy đồ đạc cho một người khoẻ sức gánh. Quần áo quan trọng nhất, thứ đến là thực phẩm. Bánh chưng luộc xong, mẹ tôi đã sai các chị đi biếu đâu vào đấy hết, những ông chú, bà dì của bố mẹ tôi, những ông bà thông gia v.v… Còn lại hơn chục chiếc, anh Lạng bỏ vào thúng cho các chị đội. Gạo bỏ vào tay nải vác trên vai, cũng như quần áo. Còn tiền bạc thì mẹ tôi bỏ vào ruột tượng thắt vào lưng.

 

Chúng tôi khép cổng ngõ lại và ra khỏi nhà lúc chín giờ sáng, khi nghe tiếng chú Hội la ầm ầm ở bên ngoài:

“Chị Biểu ơi, mẹ con chị xong chưa? Lúng túng ở đó mãi chết hết bây giờ!”

 

Chúng tôi đã cuống, nghe chú giục càng cuống hơn, bước theo chú mà chân ríu lại, tay và hàm thì run vì lạnh và sợ.

 

Cũng may khi chúng tôi đi, đám du kích xã đi đâu hết nên không gặp trở ngại mà cũng không bị đạn bích kích pháo sà xuống hỏi thăm. Dọc đường, người đi tản cư đông quá, gánh, đội, mang xách đủ hết. Có người bỏ hai đứa con vào hai cái thúng hai bên quang gánh, gánh đi, lôi thôi, lếch thếch, vô cùng khổ sở.

 

Vì có chiếc máy bay bà già (Morane) trên đầu làm hiệu cho tầu chiến đậu ngoài sông bắn vào khi máy bay nghi là có bộ đội VM, chúng tôi vừa đi vừa phải kiếm chỗ núp, lại không dám mặc những thứ quần áo có mầu lộ liễu như trắng, xanh, đỏ. Những mầu này, người ta nói, trên máy bay dễ nhìn thấy nên chỉ mặc đồ đen hoặc nâu, lẫn lộn với mầu đất. Hơn nữa, phải tránh ba mầu cờ tam tài của Pháp vì vô tình có thể bị du kích kết tội và xử phạt ngay.

 

Khi gia đình tôi và gia đình chú Hội xuống đến Ngô Đồng  thì bác Bội và vợ con đã đi khỏi, chẳng biết đi đâu. Ngủ trọ một đêm tại đó, sáng hôm sau chúng tôi theo đoàn người tản cư sang vùng Đống Năm, Thái Bình rồi từ đó bắt đầu một cuộc đời tản cư vô định.

Chuyện tản cư còn rất dài nhưng câu chuyện phải mang chó đi cho đã kết thúc.

 

Từ một đất nước của tôi có quá nhiều biến loạn này, tôi nghiệm ra, trừ miền thượng du Bắc Việt, vì chiến cuộc, tôi đã đặt chân hầu hết các tỉnh vùng đồng bằng sông Nhị Hà. Trong 4 năm sau cùng của miền Nam từ 1971-1975, tôi cũng đã đi gần khắp từ Bến Hải đến Cà Mau ra cả Hà tiên, Phú Quốc. Tôi không nghĩ một công dân ở một nước may mắn không có chiến tranh như đất nước Việt Nam của tôi, thí dụ Thụy Sĩ, Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy, Hà Lan v.v… lại  bôn ba, xuôi ngược khắp nơi như tôi, già trước tuổi trong những lần tản cư chạy giặc thập tử nhất sinh. Nhiều lúc ngồi nghĩ lại, tự hỏi sao mình có thể sống sót được trong những hoàn cảnh hiểm nguy và nghiệt ngã đến thế!        

 

Bút Xuân  TRẦN ĐÌNH NGỌC

 http://www.hon-viet.co.uk/TranDinhNgoc_TetTanCu.htm

Một phản hồi to “TẾT TẢN CƯ”

  1. […] TẾT TẢN CƯ […]

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: