Tudodanchu's Weblog

Freedom, Democracy, Human Rights, No Communism For Vietnam

Sự thật về nhà đấu tranh cho dân chủ Hoàng Minh Chính (1/2)

Posted by tudodanchu trên Tháng Tám 4, 2008

Sự thật về nhà đấu tranh cho dân chủ Hoàng Minh Chính

 

Việt Thường

 

 

Từ lễ Vu Lan đến Trung Thu của năm Ất Dậu (2005), biết bao nhiêu chuyện xảy ra ở cả trong nước Việt Nam và trong cộng đồng người Việt tỵ nạn (cộng sản), nhất là ở bên Mỹ!

 

 

Chuyện thứ nhất

 

   Phan văn Khải, thủ tướng tập đoàn Việt gian Pắc-Bó, cùng lâu la lếch thếch sang Mỹ. Hắn đã tận mắt nhìn thấy rừng quốc kỳ Việt Nam Công hòa chói chang trước Nhà Trắng, hoàn toàn ngược với những gì tên đặc công đỏ Bùi Tín đã viết nơi trang 95 trong cuốn “Mây mù thế kỷ”, rằng:

 

   “… Có người tuy biết rõ sự thật, hiểu tình hình đất nước, nếu phải lựa chọn, họ vẫn lựa chọn những người “cộng sản” hơn là người “quốc gia””.

 

   Cho dù trên Người Việt Online, ngày thứ sáu, 2-9-2005, họ cố tình tô son cho tên đặc công đỏ Bùi Tín, qua bài “Ông Bùi Tín có mặt tại Nam California”, kẻ đưa tin đã rất bất lương khi trắng trợn hạ bút:

 

   “Nhà báo Bùi Tín, người đã rời bỏ hàng ngũ CSVN vào năm 1979, được báo chí thế giới rất chú tâm về công cuộc vận động dân chủ tại Việt Nam hiện nay, đang có mặt tại Little Saigon, Hoa Kỳ để tham dự một số các buổi họp vận động dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam và cũng là dịp để gặp gỡ lại với ông Hoàng minh Chính vừa tới Hoa Kỳ chữa bệnh.”

 

   Hai cái đại bất lương của Người Việt Online là:

 

Thứ nhất: Năm 1979, Bùi Tín trong cuốn “Hoa xuyên tuyết” còn cho in tấm ảnh đứng ở Chùa Tháp Angkor Thom (Căm-bốt) (tháng 11-1979), theo bước chân lũ Việt gian ngụy quân sang xâm lược “nước bạn Căm-bốt”. Và, thời kỳ đó Bùi Tín vẫn còn khoác áo lính ngụy cộng sản, chưa về tờ báo cuội đỏ “Nhân dân” nữa kia. Và, Bùi Tín cũng chưa dám lấy lại cái họ Bùi mà Bùi Tín từ bỏ từ cái gọi là “cải cách ruộng đất”, để chứng tỏ một lòng một dạ trung thành với cộng sản Việt Nam, cắt bỏ cái đuôi giòng dõi quan lại, phong kiến. Năm 1990 ra đến hải ngoại, tận “Hoa xuyên tuyết” còn giữ tên Thành Tín, chưa dám nhận họ Bùi.

 

Thứ hai: Khi còn ở trong nước, Bùi Tín là một bút nô đỏ được tin cẩn, đệ tử ruột của Nguyễn chí Thanh, một tên Mao-ít chính tông, làm sao lại gặp hoặc dám gặp Hoàng minh Chính, tên Việt gian thờ Nga-xô, để bây giờ “gặp gỡ lại” như Người Việt Online đưa tin???!!!

 

   Đây là kiểu đưa tin theo “phong cách” Thông luận. Nghĩa là theo kiểu Bùi Tín, Vũ thư Hiên, mà trong cuốn “Những tên đặc công đỏ trong phong trào đòi hỏi dân chủ cho Việt Nam” chúng tôi đã trưng dẫn bằng cớ.

 

Chuyện thứ hai

 

   Những anh chị làm nghề báo chí, truyền thông, theo môn phái “thày bói sờ voi”, hệ “thổi ống đu đủ” ở hải ngoại, bị ê mặt qua việc nhà văn “không nổi tiếng về văn chương” là Hoàng Tiến, viết bài “bóc mẽ Nguyễn thanh Giang”, người đã được nhóm “thổi ống đu đủ” nâng lên là… “đại trí tuệ”, là “đại trí sỹ”, là “nhà trí thức hàng đầu” vân vân và vân vân, mới dzô tù cộng sản có chưa đầy hai tháng đã… đầu hàng thành…  viện sỹ, tiến sỹ đại hèn!!!

 

   Nguyễn thanh Giang đáp lại cũng chẳng vừa. Chứng minh rằng Hoàng minh Chính là kẻ độc tài, tự ý chỉ định tác giả “chủ nghĩa Hồ chí Minh” và cụm từ “đức thánh Hồ”, là Trần Khuê, làm người phát ngôn của nhóm… “dân chủ cuội”. Nghĩa là một thứ người… kế vị Hoàng minh Chính; giống kiểu Lê khả Phiêu kế vị Đỗ Mười vậy.

 

   Hai chú cuội dân chủ đỏ, đấu nhau như trâu trọi ở lễ hội Đồ Sơn, mặc dù đều ở tuổi “cổ lai hi”, đã cưa sừng làm nghé, để dùng “uy tín” của “Ma-đam” Dương thu Hương, chứng minh xem ai là “dân chủ cuội” và ai là “dân chửi thiệt”!!! Trò này “hơi” bị yếu!!!

 

   Mấy anh thày bàn tào lao, sau cú sốc – như kiểu Quốc Hưng ở Đàn Chim Việt thú nhận – vội lu loa rằng… thì… là… mà… như thế là dân chủ, công khai, dấu hiệu trưởng thành. Và, một thành viên trong cái tiểu đội cuội đó, là Tiêu dao Bảo Cự, vội viết bài… ca ngợi cả đôi bên, theo điệu kèn đu đủ. Nào là, Hoàng Tiến thì… “chừng mực, khúc chiết nhưng kiên quyết, khí phách”. Còn Nguyễn thanh Giang thì… “uyên bác, sắc sảo và mạnh mẽ”. Và, kết luận thật là… tiêu dao: “Các bài viết của hai ông thể hiện trí tuệ, nhân cách, bản lĩnh…” Nghĩa là, Tiêu dao Bảo Cự cũng thủ võ, chỉ nhận xét rằng bài viết của Hoàng Tiến, Nguyễn thanh Giang thì tỏ ra là “trí tuệ, nhân cách, bản lĩnh”, còn khi hành động thì “đếch” (như chữ Hoàng Tiến dùng) trí tuệ, đếch nhân cách, đếch bản lĩnh tý teo nào cả!

 

   Và đây là kết quả:

1) Người phát ngôn của tiểu đội dân chủ cuội, do chỉ định, là Trần Khuê thì cùng vợ, mặt mũi hơn hớn, qua tấm ảnh trên Việt Báo Online, thì thấy ngả đầu bên phải khi được chụp với viên lãnh sự Mỹ ở Sài-gòn, và ngả đầu bên trái khi chụp với… một lãnh sự nước khác. Và, ngực thì đeo cả cờ Mỹ lẫn cờ Việt gian, nền đỏ sao vàng!!!

 

2) Còn Hoàng minh Chính được visa qua Mỹ chữa bệnh ung thư tuyến tiền liệt, kể lể bị tù đày tra tấn nhiều năm. Nhưng chắc chắn tù đày và tra tấn không phải là nguyên nhân bị ung thư tuyến tiền liệt.

 

   Cái bản lãnh của nhà “đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam”, Hoàng minh Chính, bộc lộ rõ nhất qua giọng nói vui sướng khi đặt chân lên nước Mỹ, mà nhiều năm về trước Chính vẫn chửi Mỹ là “tên đế quốc tàn bạo nhất, tên sen đầm quốc tế, kẻ thù lớn nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới”, ở cái thời huy hoàng khi còn đứng trên bục giảng khóa chính trị trung cấp tại cái trường có tên Nguyễn ái Quốc, rằng: “chờ đợi cái ngày này cả 20 năm nay”!!!

 

   Thì ra là thế! Nếu không, ở cái tuổi đã “quá cổ lai hi” rồi, lại bệnh tật, thính lực bị giảm 40%, Hoàng minh Chính, tỏ ra có tý ty bản lãnh thì, nên nhường chuyến đi này cho Lê chí Quang, một người tuổi còn rất trẻ, rất can đảm dấn thân thực sự cho quyền lợi của nhân dân và Tổ quốc Việt Nam.

 

   Tóm lại, cuội Hoàng minh Chính cũng không vượt qua được cái bã danh và lợi. Và, tuy làm nghề chính trị từ cái thuở đeo lon thiếu tá ngụy quân cộng sản, phụ trách chính ủy trung đoàn, với thành tích cổ vũ, cưỡng ép một số thanh niên ngụy quân cộng sản bị lừa vì cái bánh vẽ “chống thực dân Pháp”, để sẵn sàng hy sinh trong trận đánh cảm tử vào sân bay Bạch Mai, nên được lên lon trung tá. Rồi, nhờ là một đảng viên cộng sản cuồng tín, nên được tập đoàn Hồ Việt gian trao cho nhiệm vụ tẩy não thế hệ thanh niên Việt Nam, cũng như được cài vào lòng đảng Dân chủ với cái chức Tổng thư ký, phá từ trong ra, từ trên xuống cho toàn Đảng Dân chủ Việt Nam thành… bù nhìn thứ thiệt.

 

   Được cho qua Nga-xô học về triết học Marx-Lénine. Tuy chẳng đoạt được học vị nào, nhưng về lại Việt Nam vẫn được giữ cái ghế Viện trưởng Viện triết học Marx-Lénine, kiêm phó hiệu trưởng trường đảng (cộng sản) Nguyễn ái Quốc; giảng viên các khóa chính trị tập trung ngắn hạn (loại 3 tháng hoặc 6 tháng) cho cán bộ trung cấp của guồng máy Việt gian đang cai trị phía Bắc Việt Nam.

 

   Với cái gốc gác như thế, nên đương nhiên Hoàng minh Chính một lòng một da ïtrung thành với mẫu quốc đỏ là Nga-xô.

 

   Là cán bộ lý luận Marx-Lénine, chưa phải diện trung ương, nên Hoàng minh Chính còn là một thứ “thư ký lý luận” của Trường Chinh. Nghĩa là, một quân cờ trong tay Trường Chinh dùng đối phó lại với những bộ mặt lý luận có nanh có mỏ, trong trung ương như Nguyễn khánh Toàn, Bùi công Trừng, Dương bạch Mai v.v… và ngoài trung ương như Trần văn Giàu, Nguyễn văn Trấn, Trần đức Thảo… Nhưng, Hoàng minh Chính vẫn giữ nguyên căn cốt của kẻ “cuồng tín” và “rất cận thị về cả lý luận lẫn hành động”. Đó là một con vẹt trong lốt người.

 

   Tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh dựa vào sự thành công của Mao ở Tàu lục địa, nhanh chóng ra mặt tay sai của thực dân đỏ Nga-xô – Tàu cộng. Chúng vẫn giữ ngọn cờ “tự do cho dân tộc và độc lập cho Tổ quốc” để che đậy bộ mặt bán nước. Nhưng thực chất cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp đã bị tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh lèo lái thành cuộc chiến bành trướng chủ nghĩa thực dân đỏ Nga-xô – Tàu cộng dùng xương máu Việt Nam chống thực dân Pháp, nhằm biến 3 nước Đông dương thành thuộc địa đỏ, như Bộ thuộc địa Nga-xô (núp dưới cái tên Quốc tế 3) đã trao nhiệm vụ cho Hồ và cái gọi là đảng cộng sản Đông dương, từ 1930!

 

   Mẹ đẻ Nga-xô thì ở xa, mẹ ghẻ Tàu cộng thì “núi liền núi, sông liền sông”, nên tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh, trong nội bộ bị phân hóa làm hai. Một bộ phận thờ Nga-xô, bộ phận khác thì thờ Tàu cộng. Còn tên cáo già, trong bản chất hắn thờ Nga-xô, nhưng mẹ ghẻ Tàu cộng lại ở gần và “vĩ đại” nên hắn phải mềm mỏng, sao cho không mếch lòng mẹ nào, không bị ảnh hưởng đến quyền lực. Vì thế Hồ đã lèo lái hai bộ phận đối lập nhau đó, trong tổ chức Việt gian của hắn, để đu giây giữa mẹ đẻ và mẹ ghẻ. Tất nhiên mẹ đẻ vẫn phải hơn mẹ ghẻ!

 

   Cuộc đấu đá giữa hai tên thực dân đỏ Nga-xô – Tàu cộng ra công khai thì đương nhiên từng phe trong các đảng tay sai cũng ra công khai triệt phá nhau, tiêu diệt nhau không khoan nhượng, như phe Lénine và phe Trosky của Nga-xô xưa vậy.

   Phe theo Tàu cộng gọi phe Nga-xô là xét lại hiện đại.

 

   Phe theo Nga-xô gọi phe Tàu cộng là giáo điều.

 

   Các cụm từ “xét lại hiện đại” và “giáo điều” không mang nghĩa đen cũng như nghĩa bóng khác nhau. Hệt như hai tên lưu manh chửi nhau:

 

   – Mày là thằng ăn cắp!

   – Mày là thằng ăn trộm!

 

   Dù bị chụp mũ là giáo điều hay xét lại hiện đại, thì, thực tế bằng chứng lịch sử cho thấy: cả Nga-xô và Tàu cộng đều là những tên thực dân đỏ, hay thực dân mới, để phân biệt với thực dân Pháp, Anh, Bồ đào nha… là thực dân cũ.

 

   Sợ thế giới lật mặt nạ nên cả Nga-xô và Tàu cộng đều đi võ “vừa đánh trống vừa ăn cướp”, vu vạ Mỹ là thực dân mới!!!(?)

 

   Còn trong nội bộ tập đoàn Hồ chí Minh, hai phe thờ Nga-xô (hay xét lại hiện đại) và thơ Tàu cộng (hay giáo điều) trên thực tế, đối với người dân Việt Nam không là đảng viên cộng sản, cả hai bọn đều là Việt gian. Chưa ai trong bọn chúng nghĩ đến thôi, chứ chưa nói đến là có hành động cụ thể, là trả lại quyền làm chủ đất nước Việt Nam cho nhân dân Việt Nam. Bọn chúng tranh luận nhau xem phải theo Nga-xô 100% hay Tàu cộng 100%, chưa bọn nào nghĩ đến nền độc lập của Tổ quốc Việt Nam; tự do hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam; bảo toàn bầu trời, vùng biển và lãnh thổ của Việt Nam.

 

   Xin được dẫn chứng:

1) Ung văn Khiêm, ủy viên trung ương chính thức cộng đảng, bộ trưởng ngoại giao của ngụy quyền Hồ chí Minh, là kẻ đầu tiên “hồ hởi” thay mặt ngụy quyền Hồ chí Minh gửi thư hoan nghênh Tàu cộng đã chiếm… đất và biển của Việt Nam. Nên nhớ Ung văn Khiêm là đồng bọn với tụi Hoàng minh Chính, Vũ đình Huỳnh v.v… Đến nay Chính và Hiên vẫn ca ngợi Khiêm!!!

 

   Ung văn Khiêm không hề phản đối vụ dâng đất dâng biển đó mà còn đồng lõa.

 

   Bọn Hoàng minh Chính, Vũ đình Huỳnh, Dương bạch Mai, Lê Liêm, Bùi công Trừng, Nguyễn văn Trấn… cũng vậy. Chưa bao giờ chúng dám phê phán hành động Việt gian đó. Chúng vẫn tự hào là đảng viên của cái đảng Việt gian đó; vẫn thổi phồng công lao phịa của cái đảng Việt gian đó. Cho dù sau này một số trong bọn chúng như Nguyễn văn Trấn, Trần Độ, cho đến Hoàng minh Chính, nhất là Bùi Tín và Vũ thư Hiên… viết sách, hồi ký nhưng nội dung chỉ là trả thù những kẻ đã thắng bọn chúng trong cuộc đấu đá giành cái ghế làm chủ dân và độc quyền bán nước cho Nga-xô mà thôi!

 

   Qua cuộc phỏng vấn của Đàn Chim Việt, Vũ thư Hiên còn kể rằng, mới điện thoại cho tên đặc công đỏ Nguyễn thanh Giang, ở trong nước. Và, cả hai đứa đều đau lòng khi thấy một số người Việt (ở hải ngoại) đã phủ nhận sạch trơn công của đảng cộng sản Việt Nam!!!

 

   Chúng kể lể công ơn của đảng cộng sản Việt Nam (nghĩa là có cha con bọn chúng) đã làm nên Cách mạng Tháng Tám 1945; đã đánh thắng thực dân Pháp tạo nên trận Điện-biên lẫy lừng; đã đánh cho “Mỹ cút, Ngụy nhào”, và chiến dịch Hồ chí Minh đã đưa đến “giải phóng” cả nước và đất nước được thống nhất!!!(?)

 

   Ngay khi bị đá đít về vườn, Trần Độ vẫn còn tự hào là đệ tử trung thành của tên đại Việt gian Hồ chí Minh; tự hào về các hành động giết dân, bán nước đó. Còn tên đầu hàng, phản bội Nguyễn thanh Giang (như Hoàng Tiến bóc mẽ) thì phong cho Trần Độ 2 lần anh hùng, nghĩa là việc giết nhân dân Việt Nam Cộng hòa là anh hùng! Và, một nhóm gọi là “trí thức trẻ” ở Canada, trong đó có bác sĩ Lâm thu Vân, đã làm lễ tưởng niệm, khóc than khi Trần Độ chết, và tiếc là không được đi theo “Cụ Trần Độ” trên con đường… Việt gian. Vì thế, được anh chàng cơ hội Nguyễn minh Cần ca ngợi nhóm “trí ngủ” đó là tiên tiến! Tổ tiên ta đã dạy: “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” là như vậy!

 

   2) ở trong nước Việt Nam hiện nay, cái nhóm tự nhận là “đấu tranh cho dân chủ”, lèo tèo độ hơn chục mống mà sinh hoạt với nhau, vào cái lúc chẳng có chút quyền hành nào, còn không có dân chủ – như thư của Nguyễn thanh Giang trả lời Hoàng Tiến – thì hỏi rằng bọn chúng nhặt “dân chủ” ở xó nào mang đến cho… nhân dân Việt Nam???

 

   Hoàng minh Chính cũng tự cho mình cái quyền chỉ định Trần Khuê là người phát ngôn của nhóm “dân chủ” cuội.

 

   Tuy không quyền, nhưng tên nào cũng nhăm nhe danh và lợi. Tên nào cũng muốn được giàn kèn đu đủ ở hải ngoại “bốc thơm”, được quốc tế biết đến; được những Việt kiều tỵ nạn cộng sản do thiếu thông tin, bị lũ truyền thông hải ngoại bất lương sản xuất tin giả, khiến động lòng giúp đỡ tiền bạc. Bọn chúng cũng hy vọng được những giải quốc tế qui thành đô-la Mỹ và v.v… Đấy mới đích thực là động cơ để chúng trở thành đối lập cuội.

 

   Lấy Trần Khuê ra làm một thí dụ:

 

   Trần Khuê chưa hề có nổi một cái bằng tương đương tú tài 1, bỗng dưng được lũ truyền thông bất lương dán cho cái nhãn giáo sư, có lúc còn nâng lên thành viện trưởng (viện hán nôm) để gây ấn tượng với người Việt ở hải ngoại và quốc tế.

   Trần Khuê cũng hỗn láo theo cung cách của Hồ chí Minh. Hắn đã nâng Hồ lên thành “thánh Hồ”, xếp ngang với “Đức Thánh Trần Hưng Đạo”. Hắn đã xếp Hồ còn trên cả tổ Hùng Vương, khi hắn hạ bút trên giấy trắng mực đen rằng:

 

   “Đức tổ Hùng Vương có công lớn khai sáng nên nhà nước đầu tiên và đó là nhà nước của giai cấp quý tộc”

 

   “Còn Đức thánh Hồ chí Minh khai sáng ra một nhà nước của nhân dân, do nhân dân làm chủ và có một hiến pháp dân chủ sánh ngang được với bản hiến pháp trên thế giới.” (Trích trong Đối thoại, phần Dân chủ: vần đề của dân tộc và thời đại (a), (trang 2) – Trần Khuê)

 

   Trần Khuê lớn lên và già đi trong lòng chế độ nô lệ đỏ của tập đoàn cộng sản Việt gian Hồ chí Minh. Hắn không là nông dân, cũng không là công nhân mà là một cán bộ nghiên cứu, cho nên khi hắn cố tình mù, điếc để không biết đến cái nhà nước mà Hồ khai sáng là của dân, do nhân dân làm chủ hay là của tập đoàn Hồ chí Minh, do Nga-xô và Tàu cộng làm chủ. Nếu hắn thực tình không biết thì là đồ ngu, chẳng cần ngó tới. Còn nếu hắn cố tình mù không biết thì tự thân việc đó đã bóc cái mặt nạ “đấu tranh” cho “dân chủ” của hắn xuống rồi.

 

   “Đức thánh” Hồ, của Trần Khuê, còn dùng cái nhà nước mà hắn “khai sáng” đó để lèo lái biến Quân đội Quốc gia với tôn chỉ “Trung với nước, hiếu với dân” thành Quân đội Nhân dân (hoặc bộ đội cụ Hồ) và tôn chỉ là “trung với đảng (cộng sản), hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù (của cộng sản) nào cũng đánh thắng!” Và, “Đức Thánh” Hồ của Trần Khuê đã dùng cái quân đội ngụy cộng sản đó vào việc tranh giành thuộc địa cho Nga-xô – Tàu cộng trên bán đảo Đông dương. Hắn cũng sử dụng cái nhà nước đó để đập tan truyền thống văn hóa của nhân dân Việt Nam, đập tan cơ cấu tổ chức gia đình, xã hội v.v… để nhân dân Việt Nam thành nô lệ đỏ trên mọi bình diện, cả chính trị, kinh tế, văn hóa và sinh hoạt xã hội. Nô lệ đỏ tức là nô lệ cho Nga-xô và Tàu cộng. Cái thân phận nô lệ đỏ của người Việt Nam còn thảm hại gấp cả triệu lần dưới sự cai trị tàn bạo của thực dân Pháp!!!

 

   Cũng “Đức thánh” Hồ của Trần Khuê dùng cái nhà nước mà hắn khai sáng để tiêu diệt mọi thành phần người Việt Nam yêu nước qua cái gọi là: cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, cách mạng văn hóa tư tưởng và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, cũng như công khai dâng đất, dâng biển, dâng lao động, dâng tài nguyên, hải cảng… của Việt Nam cho Nga-xô và Tàu cộng!

 

   Trần Khuê cố tình bỏ qua những tội ác Việt gian bán nước, giết dân đó của tập đoàn Việt gian cộng sản Hồ chí Minh để bịa ra cái gọi là “Chủ nghĩa Hồ chí Minh” như hắn viết trong Đối thoại, phần nhận diện chủ nghĩa xã hội, rằng:

 

   “Trong sự hiểu biết thiển cận của chúng tôi thì chúng ta chỉ có thể theo chủ nghĩa xã hội của Hồ chí Minh” (trang 7). Và ở trang 12, Trần Khuê viết:

   “Chúng tôi xin được phép nói thẳng thắn rằng những ai không hiểu hoặc không muốn công nhân học thuyết duy vật lịch sử của Marx, cụ thể là không chấp nhận 5 phương thức sản xuất trong quá trình phát triển lịch sử nhân loại thì xin miễn đối thoại.”

 

   Có thể có người, ngoài PGS-Ts Phạm duy Nghĩa, cho rằng hiến Pháp 1946 chưa kịp thực thi thì xảy ra chiến tranh!!!(?)

 

   Xin quý bạn đọc nhớ lại rằng, cuối năm 1954 khi hòa bình đã được thiết lập trên cả hai miền Nam-Bắc Việt Nam thì tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh chẳng những không thực thi Hiến pháp 1946, những điều trong Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945, mà chúng còn ném tất cả vào thùng rác, không thèm trưng cầu dân ý như quy định trong Hiến pháp 1946. Và cái nhà nước mà Trần Khuê viết rằng do “Đức thánh” Hồ khai sáng là “nhà nước của dân do nhân dân làm chủ” đó đã tự ý nặn ra Hiến pháp 1959, cai trị bằng sắc lệnh vì đã hủy bỏ bộ tư pháp và khoa luật ở trường đại học Hà-nội. Cái nhà nước mà Trần Khuê ca ngợi là “của dân và do nhân dân làm chủ” đó đã đẻ ra đủ sắc lệnh ăn cướp của dân, trong đó có Nghị quyết 49/NQ/TVQH, ngày 20-6-1961, cho phép Hồ đưa… các ông bà chủ nhà nước (tức nhân dân) đi cải tạo (tức tù khổ sai) không thời hạn!!!

 

   Sau này, khi Hồ bị đưa đi hỏa ngục ở âm ty, thì những đệ tử trung thành của Hồ cũng vẫn dùng cái nhà nước mà Trần Khuê ca ngợi là do “Đức thánh” Hồ khai sáng để mở rộng nhà tù bằng cách biến nhà tư của nhân dân cũng thành nhà tù, dựa vào Nghị định 31/CP do tên Việt gian đại dâm ô, đại tham nhũng là Võ văn Kiệt ký và tên Việt gian cũng nổi tiếng ăn cắp của công là Phan văn Khải bổ sung cho hoàn chỉnh hơn, để cho nhân dân vào tù dài dài.

 

   Chính là những tên bất lương làm truyền thông ở hải ngoại và một vài tên cơ hội, có căn cốt “theo voi ăn bã mía” như tổ tiên ta đã cảnh giác, bỏ qua những phần phản dân chủ, xuyên tạc lịch sử theo lối tô hồng của bút nô Việt gian cộng sản, thổi Trần Khuê thành “Sao Khuê” (Nguyễn thanh Giang thì thành “dòng sông xanh”), rồi “giáo sư”, rồi “viện trưởng”, rồi “nhà đấu tranh nổi tiếng cho dân chủ hóa Việt Nam, v.v… và v.v… lừa đảo lòng chân thật của quốc tế và cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại.

 

   Không chỉ ở trường hợp với Trần Khuê mà cả đối với Bùi Tín, Vũ thư Hiên cũng vậy.

    Phan văn Khải qua Mỹ vừa xong, không thấy mặt Bùi Tín, Vũ thư Hiên, Nguyễn chí Thiện, Nguyễn gia Kiểng và v.v… ở đâu hết. Còn Hoàng minh Chính chưa tới Mỹ thì cả đám đã từ các hang cua dân chủ cuội chui ra đàn đúm bàn những chuyện… buôn vịt trời, bán da gấu!!!

 

   Vũ thư Hiên kêu gọi hải ngoại chữa giúp cái bệnh ung thư tuyến tiền liệt của Hoàng minh Chính, nhưng chưa hề có một chữ vì anh hùng Lý Tống, chưa hề kêu gọi nhóm gọi là “dân chủ” ở trong nước ủng hộ vụ án của anh hùng Lý Tống, hoặc kêu gọi giúp đỡ thương phế binh QLVNCH còn ở trong nước!!!

 

   Anh hùng Lý Tống là một sỹ quan Quân lực VNCH. Trong chiến đấu bảo vệ đất đai và đời sống cho nhân dân VNCH, anh đã bị ngụy quân cộng sản Việt Nam, tay sai của thực dân đỏ, xâm lược VNCH bắt làm tù binh. Anh đã vượt ngục tù và đi bộ xuyên qua Lào, Thái lan… để tiếp tục nhiệm vụ bảo vệ đất nước VNCH. Anh hùng Lý Tống đã hai lần dùng máy bay rải truyền đơn ở miền Nam Việt Nam là đất của VNCH mà cả hiệp định Genève 1954 về Việt Nam lẫn Hiệp ước Paris 1973 về Việt Nam đều thừa nhận.

 

   Do tình hình quốc tế có nhiều biến chuyển, trong người Việt chúng ta có thể có những người không tán thành phương pháp phục quốc của anh hùng Lý Tống; cũng có thể có người tán thành nhưng không đủ can đảm hoặc có khó khăn này khác. Tuy nhiên, dù tán thành hay không thì một điều hiển nhiên là anh hùng Lý Tống đã thực thi đúng lời thề của người quân nhân là bảo vệ Tổ quốc. Anh không vi phạm và rải truyền đơn ở phía Bắc vĩ tuyến 17 của Việt Nam. Cho nên nếu để cho tập đoàn Việt gian cộng sản Pắc-bó kết tội anh, thì có lẽ đến một lúc nào đó sẽ có cây bút, như kiểu Nguyễn gia Kiểng, sẽ kết tội Phan đình Phùng, Nguyễn thiện Thuật, Hoàng hoa Thám v.v… chăng?

 

   Đây là dịp để đồng bào hải ngoại nhận diện Bùi Tín, Vũ thư Hiên… và lũ theo đóm ăn tàn ở hải ngoại, cũng như sự hợp đồng đấu tranh của nhóm gọi là “dân chủ” ở trong nước với những người tỵ nạn cộng sản ở hải ngoại như thế nào?

 

   Bảo vệ Tổ quốc là bước đầu tiên không thể thiếu được trong quá trình đấu tranh cho dân chủ. Anh hùng Lý Tống đã và đang làm điều đó. Chúng ta hãy chờ xem hành động của những người tự đeo nhãn “đấu tranh cho dân chủ”, từ trước tới nay chỉ thích phối hợp một chiều với hải ngoại!!!???

 

3) Như trên chúng tôi đã trình bày, rằng đặc thù địa lý của Việt Nam nên Việt Nam dưới chế độ nô lệ đỏ có hai mẫu quốc là Nga-xô và Tàu cộng.

 

   Nội bộ Việt gian cộng sản Việt Nam chia làm hai phe. Bọn thờ mẫu quốc Nga-xô và bọn thờ Tàu cộng. Dù nhìn dưới góc độ nào thì cả hai bọn đều là Việt gian 100%.

   Ngay từ 1930, Bộ thuộc địa của Nga-xô (núp dưới cái tên Quốc tế 3) đã có kế hoạch nhuộm đỏ Đông dương, nghĩa là chiếm Đông dương thuộc địa trong tay thực dân Pháp. Cho nên Hồ đã tuân lệnh để đổi tên đảng cộng sản Việt Nam thành đảng cộng sản Đông dương, mà lúc đó trong đảng cộng sản Đông dương chưa hề có một người Lào và Căm bốt nào.

 

   Thông qua Bộ thuộc địa (tức Quốc tế 3), Nga-xô đã tuyển dụng nhân sự người Việt, đào tạo thành chuyên viên lật đổ, cướp chính quyền bằng bạo lực, cung cấp tiền, mọi phương tiện cần thiết và hoạch định cả đường lối ngắn hạn lẫn dài hạn. Đấy là những sự thật đã và đang tồn tại.

 

   Thời Nga hoàng, nước Nga cũng là thực dân, nhưng chậm chân hơn các nước thực dân khác như Anh, Pháp, Ý, Tây-ban-nha, Hà lan, Bồ-đào-nha, Đức và thuộc loại yếu. Nước Nga trong tay Lénine, dù núp dưới đủ các thứ danh xưng cách mạng nổ như bắp rang, thì sự thưc vẫn tiếp bước chân thực dân của Nga hoàng, có điều theo một mánh khóe tinh vi như núp dưới những cái bánh vẽ thế giới đại đồng, cách mạng vô sản v.v… và triệt để hơn vì nó có tham vọng làm mẫu quốc của toàn thế giới, biến nhân dân mọi tầng lớp trên toàn thế giới thành nô lệ cho Kremlin.

 

   Thời đại nào, xã hội nào, đất nước nào cũng vẫn có những loại người hoang tưởng, nhẹ dạ hàm hồ; có những loại lưu manh, du đãng đầy dục vọng; có những kẻ vì danh vì lợi sẵn sàng bán cả cha mẹ, vợ con, bàn bè và ngay cả tổ quốc. Lại có loại chỉ thích được làm lãnh tụ dù to, dù nhỏ bằng bất kể giá nào, cho nên phải có loại cộng sinh đi theo, chỉ thích được cầm cờ, vác quạt, thổi loa, bợ đỡ nịnh hót. Một sự thật tưởng như đùa, là loại thứ hai này thường xuất hiện ở hạng người có bằng cấp, quì lưng uốn gối làm một thứ thư lại. (Cứ nhìn vào các nước Đức thời Hitler; Nga thời Stalin; Tàu thời Mao, Việt Nam thời Hồ, Cuba trong tay Fidel Castro; Bắc hàn trong tay cha con Kim chính Nhất; I-rắc dưới thời Saddam Hussein v.v…)

 

   Có thể nói rằng, chế độ độc tài nào cũng đào tạo ra lũ trí thức hèn. Và, lũ trí thức hèn là công cụ đắc lực giúp những tên độc tài trưởng thành, tác yêu tác quái và tồn tại đến mức vô lý. (Xin lưu ý rằng đa số là thế chứ không phải toàn bộ trí thức đều như vậy).

 

   Vì thế, chế độ thực dân đỏ, độc tài toàn chế ở Nga-xô cũng như ở các nước thuộc địa đỏ, đều cho ra đời hàng loạt trí thức hèn họ nhà vẹt. Bọn này hầu hết nằm trong cái gọi là các cơ quan lý luận về chủ nghĩa bánh vẽ hoang tưởng Marx-Lénine-Stalin. Chúng sản xuất ra một khối lượng công trình nghiên cứu đồ sộ về cái chủ nghĩa hoang tưởng đó, khiến những người quen cái gọi là nghiên cứu theo kiểu “hàn lâm”, vừa xa thực tế, vừa không có gan nhìn vào sự thật cuộc sống, đã tốn bao thời gian, tiền của để phân tích, thày bàn về cái thứ “không không vô ảnh” đó, trong lúc chủ nghĩa thực dân đỏ, tích cực lợi dụng thời gian hoang mang của nhân loại, để tỏa ra khắp thế giới cái vòi bạch tuộc đỏ, có sự tiếp sức của lũ tay sai bản địa, xì xụp uống máu nhân loại. Và, nực cười nhất là chính nhân dân lao động (tức công nhân và nông dân) là hai giai cấp xã hội được thực dân đỏ cho đi tàu bay giấy lại là những người bị hút máu, bóc lột tàn bạo nhất. Xin cứ nhìn vào xã hội hiện nay ở các nước Việt Nam, Tàu cộng, Bắc hàn, Cuba thì rõ trắng đen.

 

   Hoàng minh Chính là một trong những tên đảng viên cộng sản được tập đoàn Việt gian độc tài toàn trị Hồ chí Minh cho qua mẫu quốc đỏ Nga-xô để đào tạo thành “trí thức hèn” trở về làm tay sai cho bọn thống trị, giúp chúng tẩy não hàng ngũ cán bộ, đảng viên cộng sản, phải hoàn toàn thành nô lệ đỏ 100% với đúng nghĩa nô lệ về mặt tư tưởng.

 

   Bản chất là một con vẹt trong lốt người, vừa cuồng tín thần phục mẫu quốc đỏ Nga-sô, vừa đầy tham vọng về danh lợi và quyền lực, nên Chính đã quên mất thân phận tay sai của mấy đầu nậu Việt gian trong tập đoàn Hồ chí Minh.

 

   Khi cuộc đấu khẩu giữa Nga-xô và Tàu cộng ra công khai, có nghĩa là con bò đực Tàu cộng nay đã cường tráng, nó không chấp nhận vị thế đầu đàn của con bò đực Nga-xô, đã đẩy lũ bò Việt gian Hồ chí Minh vào thế khó xử. Một mặt Hồ luôn ghi nhớ hắn được đào tạo, được hỗ trợ mọi mặt từ kinh tế đến chính trị, tổ chức… để làm nhiệm vụ xây dựng các tổ chức tay sai bản xứ trong vùng Đông-Nam-á nhằm bao vây đảng Tàu cộng. Vì trong con mắt Kremlin, trong tương lai Tàu cộng sẽ là đối thủ đáng gờm nhất của ngôi vị mẫu quốc đỏ trên toàn thế giới của Nga-xô. Thêm nữa, Hồ còn có nhiệm vụ làm cái gạch nối giữa Bộ thuộc địa Nga-xô (Quốc tế 3) với đảng Việt gian, để đôn đốc việc nhuộm đỏ Đông dương với cái mặt mạ chống thực dân Pháp. Nghĩa là để hoàn toàn trở thành thuộc địa của Nga-xô.

 

   Cuộc đảo chánh cung đình ở Nga-xô đã đưa Khrút-xốp lên cầm quyền và chủ trương chung sống hòa bình. Cái chủ trương chung sống hòa bình chỉ là một lối nói trong lúc bị hụt hơi vì lực bất tòng tâm trong tham vọng làm mẫu quốc toàn thế giới. Những quan điểm chính như chuyên chính vô sản; bạo lực cách mạng; phát triển hệ thống XHCN hãy còn đó thì làm sao có thể chung sống hòa bình lâu dài được. Đó chỉ là thay đổi chiến lược trong điều kiện cụ thể của Nga-xô trong thực thi chính sách bành trướng đỏ ra toàn thế giới mà thôi.

 

   Lợi dụng thời cơ đó, con bò đực Tàu cộng lao ra giành ngôi vị đầu đàn.

 

   Còn Hồ, một tên gián điệp chuyên nghiệp của Bộ thuộc địa Nga-xô, một tên KGB chính hiệu, cố lèo lái để tránh cơn điên của con bò đực Tàu cộng mà vẫn không lệch mục tiêu nhiệm vụ mà mẫu quốc Nga-xô đã lệnh cho hắn toàn quyền hành động từ năm 1930.

   Cho nên, trong điều lệ đảng Việt gian cộng sản của khóa 2 (năm 1951), hoàn toàn phải dựa vào sự trợ giúp của Tàu cộng, nên Hồ cho ghi như sau:

 

   “Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác-ăngghen-Lênin-Xtalin và tư tưởng Mao trạch Đông kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của đảng.” (Văn kiện đảng toàn tập – Tập 12 – Trang 444)

 

   Và:

   “Đảng Lao động Việt Nam nhận định cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của phong trào hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa thế giới do Liên-xô lãnh đạo.” (Sách đã dẫn – Trang 445)

 

   Về đảng viên, Hồ cho ghi như sau:

   “… đ) Luôn luôn cố gắng nâng cao trình độ chính trị, trau dồi tư tưởng của mình bằng cách học tập chủ nghĩa Mác-ăngghen-Lênin-Stalin và tư tưởng Mao trạch Đông.” (Sách đã dẫn – Trang 447)

 

   Khi đã đặt xong ách nô lệ đỏ lên toàn phía Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở ra, và khi bên cạnh phủ chủ tịch của Hồ là phủ toàn quyền Nga-xô, núp dưới tên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền, có viên toàn quyền là thiếu tướng an ninh Nga-xô mang tên Serbakốp, thì trong cương lĩnh chung của đại hội kỳ 3 (1960), Hồ cho viết lại như sau:

 

   “Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Đảng rất coi trọng việc giáo dục những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin trong Đảng, trong nhân dân một cách rộng rãi và thường xuyên, coi đó là điểm mấu chốt đầu tiên trong công tác xây dựng Đảng và là một trong những điều kiện quyết định mọi thắng lợi của cách mạng.” (Văn kiện đảng toàn tập – Tập 21 – Trang 777)

 

   Như vậy là Hồ đã quăng cái gọi là tư tưởng Mao vào sọt rác.

 

   Hồ còn cho rõ hơn trong đoạn văn:

 

   “Đảng áp dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam một cách đứng đắn và sáng tạo, chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa kinh nghiệm và của chủ nghĩa giáo điều. Đảng bảo vệ những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, chống mọi luận điệu của chủ nghĩa xét lại.” (Sách đã dẫn – Trang 777-778).

 

   Đoạn văn này biểu lộ Hồ muốn đứng giữa cuộc tranh luận của giáo điều (tức Mao) và xét lại (tức Khờ-rút-xốp), vì cuộc vũ trang bành trướng chủ nghĩa thực dân đỏ vào VNCH, Lào và Căm-bốt, nên không thể thẳng thừng chống Mao, mà cũng không thể tạo sự sơ hở để bị xuyên tạc là phản bội mẫu quốc đỏ Nga-xô, nên Hồ cho thong vào một câu rất ma giáo của kỹ thuật đu dây, rằng:

 

   “… nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một thành viên của phe XHCN hùng mạnh do Liên-xô vĩ đại đứng đầu.” (Sách đã dẫn – Trang 780).

 

   Chính vì bản chất là một con vẹt, nên Hoàng minh Chính, khi được Trường Chinh giao nhiệm vụ soạn thảo đề cương cho hội nghị trung ương lần 9 (khóa 3), thì cứ bê nguyên si cái tinh thần nô lệ cho Nga-xô đó vào đề cương, tấn công vào quan điểm thân Mao, làm gì có cái gọi là “đòi hỏi dân chủ” như Hoàng minh Chính và Vũ thư Hiên sau này bịa ra, để tô lại bộ mặt Việt gian, tay sai của Nga-xô, cho đỡ nhơ nhớp!!!

 

   Dựa vào đề cương đó, Trường Chinh báo cáo cho Hồ. Sau khi được Hồ chỉ cho nước cờ phải đu dây để vừa lòng cả hai mẫu quốc, cũng như cho thấy tính ngu xuẩn và óc cơ hội của Hoàng minh Chính, Trường Chinh quăng cái “tác phẩm” con vẹt đó vào sọt rác và Hoàng minh Chính tất nhiên làm sao còn giữ được cái ghế Viện trưởng Marx-Lénine và hiệu phó trường Nguyễn ái Quốc. Ngỡ rằng mẫu quốc có thể dựa được để giữ ghế, Hoàng minh Chính đã nhờ người quen ở sứ quán Nga-xô in ra nhiều phiên bản cái dự thảo đề cương đó (một lối báo cáo khéo cho Nga-xô) và chẳng biết ai xui hay tự ý, đã đem phân phối cho những tên có gốc gác thờ Nga-xô, như Dương bạch Mai, Bùi cộng Trừng, Nguyễn văn Trấn, Lê Liêm, Trần văn Giàu v.v… hy vọng họ sẽ hậu thuẫn cho.

 

   Cũng xin lưu ý rằng, thời kỳ đó, ở Hà-nội, những người thạo tin đều biết Vụ trưởng Vụ lễ tân Bộ ngoại giao là Vũ đình Huỳnh bất mãnh vì bị coi là thua chị kém em trong bậc thang quan lại đỏ. Con trai Vũ đình Huỳnh là Vũ thư Hiên, ỷ y vào cái quá khứ của thời kỳ 1945-1946, rằng cha được làm trong ban thư ký của Hồ; mẹ thì được Hồ “đặc biệt” tặng ảnh cá nhân có bút tích và chữ ký, và theo như Hiên khoe là Hiên đã được ngủ chung với Hồ, nên khi được qua Nga-xô học cũng như khi về nước, luôn luôn bắng nhắng ra vẻ quan trọng.

 

   Hiên hay thì thọt với sứ quán Nga-xô và như chính Hiên cũng tự thú, là hay đi theo tên phó đại sứ của Nga-xô. Không biết từ cha đẻ hay từ sứ quán Nga-xô, hay do cả hai mà Vũ thư Hiên biến thành “liên lạc viên” – cái gạch nối – giữa những tên Việt gian trung thành với Nga-xô.

 

   Trong “Đêm giữa ban ngày”, Vũ thư Hiên tự cho mình là “không làm chính trị”, nhưng lại lòi đuôi khi kể lể về sự thậm thụt với những Trần huy Liệu, Đặng kim Giang, Lê Liêm v.v… Và, những tên đó đều bộc lộ sự bất mãn hoặc nội dung những cuộc họp mà chúng được tham dự. Tại sao lại lạ vậy?  Tại sao họ phải kể cho chú “nhí con” 30 tuổi cái thứ nguy hiểm đó?

 

   Người viết những dòng này xin nhận là “nhân chứng” về nhiệm vụ của Vũ thư Hiên, là móc nối những người có chút tiếng tăm vào cái nhóm thân Nga-xô. Đó là một lần chúng tôi lại thăm cố nhạc sỹ Văn Cao thì gặp Vũ thư Hiên từ trên gác nhà Văn Cao hấp tấp chạy xuống. Tuy ở cùng phố và hai nhà chỉ cách nhau một đầu đường, tức là độ hơn 100 mét, nhưng tôi và Hiên hoàn toàn không muốn quen biết, dù cùng sinh hoạt chung trong một Hội nhà báo.

 

   Vào đến nhà, thấy trên bàn có một chai rượu tây, cố nhạc sỹ Văn Cao, vẻ mặt quan trọng, bảo tôi: “Thằng Hiên đem chai rượu của Huỳnh (tức Vũ đình Huỳnh) đến biếu. Bao nhiêu năm nay mình và Huỳnh chẳng có quan hệ gì.”

 

   Tôi cảnh giác Văn Cao: “Anh cẩn thận” “thằng tây con” đấy. Nó bắng nhắng và hay khoe khoang ra vẻ ta đây quan trọng, lại còn cái miệng ba hoa nữa. Tay Trần Hỗ, tổ trưởng của nó ở Báo ảnh, quen tôi, thường cười rằng lúc nào nó cũng hoang tưởng tự cho là con ông cháu cha và quan hệ toàn với cấp trung ương nên coi thường tổ chức.”

 

   Văn Cao nói: “Nó đi thay Huỳnh thôi, vì “lủy” (lui) muốn quan hệ với mình.”

 

   Tôi khuyên Văn Cao: “Anh đang bị bao vây đừng có dại mà cầm cờ cho bọn chúng. Ẩn mình mà xem khỉ vặt lông khỉ là hơn.”

 

   Sau này khi nhóm cha con Vũ thư Hiên bị đi tù, cố nhạc sỹ Văn Cao vẫn luôn luôn cảm ơn tôi về “một lời khuyên sáng suốt” như chữ của Văn Cao dùng.

 

   Cho đến bây giờ, ở hải ngoại, Vũ thư Hiên có làm chính trị hay không thì quá rõ ràng. Chẳng những Hiên làm chính trị mà còn say mê làm chính trị và có tài tổ chức là đằng khác. Chẳng thế đã có những kẻ cúi đầu nghe Hiên, moi tiền gửi về dâng các bạn của Hiên. Tiền đó đáng ra nên giúp cho phế binh QLVNCH còn bị đày đọa ở trong nước, vì đó là đồng đội và là đồng bào. Kẻ khác thì cúc cung theo hầu Hiên cho ra đời “chi nhánh của Mặt trận tổ quốc” nhằm gom người hải ngoại vào tổ chức. Đó là “văn phòng Hội chống tham nhũng” ở hải ngoại, có “lãnh tụ” là Trần Khuê và Phạm quế Dương.

 

   So với Bùi Tín thì Vũ thư Hiên cao hơn một cái đầu. Hiên láu cá hơn và cũng qua kinh nghiệm khi bị tù nên cẩn thận hơn và ẩn náu kỹ hơn. Và, về thông tin trong lòng Việt gian cộng sản, cũng hơn Bùi Tín hàng chục lần. Cái sơ hở của Hiên là bệnh ba hoa còn nặng nên giấu đầu hở đuôi. Hơn nữa, đã nói láo, viết láo, nghĩa là với động cơ xấu, thì thời gian cũng làm cho bộ mặt thật lòi ra, như chúng tôi đã đưa bằng chứng trong cuốn “Những tên đặc công đỏ…”

 

   Trong cuốn “Những tên đặc công đỏ trong phong trào đòi hỏi dân chủ cho Việt Nam”, chúng tôi đã giành nhiều trang “bóc mẽ” Vũ thư Hiên, là tên trước khi đi tù vì làm Việt gian cho Nga-xô, được mệnh danh là “tây con bắng nhắng” và hay “nói phét như cuội”.

 

   Từ khi “Đêm giữa ban ngày” của Vũ thư Hiên ra lò, thì mới có trò đánh tráo là tụi Việt gian thờ Nga-xô bị tập đoàn Hồ chí Minh kết tội là “xét lại, làm gián điệp cho nước ngoài” biến thành “những người đấu tranh cho dân chủ của Việt Nam”.

 

   Xin đưa một dẫn chứng nữa để xem bọn chúng đấu tranh kiểu gì?

 

   Cuối năm 1987, ngụy quyền cộng sản Pắc-bó cho tôi ra tù. Chẳng biết ai cho địa chỉ, Vũ thư Hiên đến làm quen với tôi, cũng tâm sự này nọ. (Sau này nghe nói là do Văn Cao, Dương Tường và Đỗ Hải (tức Hải béo) giới thiệu). Hiên mang tặng tôi cuốn hồi ký “Miền thơ ấu”, sau ngày Dương Tường tặng tôi tập thơ in chung với Lê Đạt. Báo Nhân dân giành 1 trang đánh Dương Tường. Sợ quá, Dương Tường chạy lại hỏi tôi: “Ông ơi! Làm sao bây giờ?”. Tôi bảo Dương Tường: “Sợ cái đ… gì! Ông trên răng dưới dế. Cùng lắm là đi tù như tôi, càng đỡ phải “nuôi vợ nuôi con”, đỡ phải bán máu. Cụ Phan Khôi đã dạy rồi:

“Làm sao thì mặc làm sao

Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi…”

 

   Dương Tường hoàn hồn, ngồi một lúc bảo tôi: “Thằng Hiên (Vũ thư Hiên) sắp ra Hà-nội cùng Hoàng minh Chính được Lê đức Thọ cho gặp. Nó muốn lại hỏi ý kiến của ông, nhưng nó hơi ngại vì thấy ông… làm sao ấy.”

 

   Tôi nói: “Xưa tôi vốn ghét cái bắng nhắng ra cái điều ta đây lá cốt cán cách mạng của nó. Nhưng nay nó thất thế ai còn chấp nhất làm gì.”

 

   Mấy ngày sau, Vũ thư Hiên đến cho tôi biết là phải ra Hà-nội gặp Lê đức Thọ, mặt hớn hở có vẻ hy vọng lắm. Hiên nói: “Chính (Hoàng minh Chính) nhắn vào là kỳ này chắc chắn Thọ (Lê đức Thọ) phục hồi cho bọn mình, kể cả đảng tịch.” Tôi cười: “Ông cả tin thế, còn Chính, già rồi mà cũng ngây thơ!” Hiên lại gặng hỏi: “Ông cho một lời khuyên.” Tôi bảo Hiên: “Tôi hiện không biết ông đang làm gì, cùng Chính âm mưu gì, và cũng không muốn biết. Ông thân tình hỏi thì xin gợi ý với ông thôi chứ đâu dám khuyên, nghe nó quan trọng quá đi. Tôi chỉ xin lưu ý với ông rằng, cả nhóm của ông xưa kia cộng lại, gồm Dương bạch Mai, Lê Liêm, Ung văn khiêm, Bùi công Trừng v.v… cũng không được một phần trăm cái thủ đoạn, cao tay ấn của Lê đức Thọ. Còn Hoàng minh Chính, tay này là một tên “prosovietique” (thân Nga-xô) đến mức “fanatique” (cuồng tín) như Nguyễn khắc Viện vậy. Ông muốn yên thân chờ thời cuộc, nuôi vợ con thì nên giữ khoảng cách với Chính, nếu không sẽ mất cả chì lẫn chài.” Hiên lại hỏi: “Vậy ông bảo tôi nên cư xử với Thọ ra sao?” Tôi nói: “Ông cũng hay đọc sách lắm mà cứ làm như Lưu Bị khi ở với Tào Tháo, trong Tam quốc ấy.”

 

   Từ Hà-nội vào lại Sài-gòn, Hiên thăm tôi ngay và khoe: Thọ, lủy (lui) tiếp mình và Chính cởi mở lắm. Bọn này nghĩ hắn thành thật đấy, nếu không ở cương vị ấy hắn cần gì phải đóng kịch.” Tôi nhìn Hiên và thấy tội nghiệp cho anh ta: ngây thơ, mơ hồ, háo danh đến hết thuốc chữa. Tôi hỏi lại: “Lão ta bù đắp cho Chính và ông như thế nào?” Hiên tươi nét mặt: “Kỳ này sẽ cải tổ chính phủ. Trước hết là bỏ cái danh xưng “chủ tịch hội đồng bộ trưởng”, trở lại là thủ tướng như cũ. Vũ Oanh sẽ làm thủ tướng và Thọ có ý cho Hoàng minh Chính một trong các ghế phó thủ tướng. Thọ có hỏi mình muốn giữ bộ nào. Mình nói xin được về suy nghĩ. Khi về, Chính gợi ý mình là phải nắm lấy Bộ công an, mình nghĩ Chính nói có lý. Nhờ ông phân tích xem có được không?”

 

   Nghe Vũ thư Hiên nói, tôi không tin vào lỗ tai của mình. Nếu bỏ cái tính bắng nhắng hay khoe là đi và đứng lúc nào cũng cặp kè với mấy thằng Nga, nhất là thằng phó đại sứ, đi đường vác mặt lên như ta đây quan trọng thì quả thực Vũ thư Hiên cũng không đáng ghét. Tôi không thân với Hiên và thực lòng không muốn thân với Hiên, nhưng không thể nhìn Hiên một lần nữa đâm đầu vào đá. Tôi nói: “Chuyện Vũ Oanh có thể làm thủ tướng, bạn học và rất thân với Vũ Oanh là Thiết Vũ mới kể cho tôi nghe tuần trước. Còn Thọ mà tha cho Chính về với vợ là may lắm rồi, chắc chắn không bao giờ Thọ dùng Chính nữa đâu, đừng có nằm mơ. Còn Thọ cho ông làm bộ trưởng mà lại làm bộ công an thì chắc phải kiếp sau ông Hiên ạ. Ông vốn là kẻ bị thất sủng và Thọ là người đã làm cho gia đình ông tan nát, giả dụ lão ta có nhớ đến tình đồng chí với ông cụ nhà ông thì cao lắm là cho ông cái chức Cục trưởng cục điện ảnh hoặc Giám đốc Nhà xuất bản ngoại văn là cùng. Làm gì có chuyện lão ta trao cho ông cái công cụ chuyên chính đó, mà nhờ nó lão đã cho cả bọn ông đi “tu huyền”!!!”

 

   Nghe tôi nói, Hiên ngẩn mặt ra, rồi hỏi: “Vậy tôi phải trả lời Thọ và Chính ra sao?” Tôi nói: “Chính thì mặc kệ hắn. Hắn còn là trưởng bối của ông, sống bên cạnh trung ương mà còn ngu lâu đến mức tin tưởng rằng Thọ cho một lũ đệ tử thân cận đang là ủy viên trung ương vào tủ, cất đi, để mời Chính làm phó thủ tướng!!! Đúng là chuyện Phong thần còn dễ tin hơn. Nếu ông đã nghe mấy người cố vấn đến hỏi tôi, thì xin chân tình nói với ông là ông nên xin với Thọ là ông chỉ muốn làm kinh tế. Và vì nhu cầu con nhỏ, vợ ốm đau, ông xin Thọ tạo điều kiện để công an cho phép ông làm việc cho một công ty nước ngoài nào đó để có đồng lương khá hơn làm cho quốc doanh. Như thế ông sẽ yên thân và sau đó ra sao, phải làm gì thì ông tự lo lấy mà phải dẹp cái, ông đừng giận, háo danh thích người ta thờ mình.”

 

   Không biết có phải do tôi không, cho đến trước khi tôi ra hải ngoại, Vũ thư Hiên lại chơi cho biết đang xin, nhưng chắc được, vì không sợ công an làm khó dễ, để giúp việc cho một công ty Đài loan.

 

http://www.hon-viet.co.uk/VietThuong_SuThatVeNhaDauTranhChoDanChu_HoangminhChinh_1.htm

2 phản hồi to “Sự thật về nhà đấu tranh cho dân chủ Hoàng Minh Chính (1/2)”

  1. […] Sự thật về nhà đấu tranh cho dân chủ Hoàng Minh Chính (1/2) […]

  2. […] Sự thật về nhà đấu tranh cho dân chủ Hoàng Minh Chính (1/2) […]

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: