Tudodanchu's Weblog

Freedom, Democracy, Human Rights, No Communism For Vietnam

Archive for Tháng Tám 28th, 2008

” Khi Lê mạnh Thát đã đầu hàng CSVN”

Posted by tudodanchu trên Tháng Tám 28, 2008

“Việt Nam sẽ tổ chức Đại Lễ Phật Đản ( Tam Hợp ) Quốc tế năm 2008 ? ”
” Khi Lê mạnh Thát đã đầu hàng CSVN”

Hơn lúc nào hết, Việt Nam đang tìm cách “tự đánh bóng” trên chiến trường Ngoại Giao sau khi bị chỉ trích nặng nề về nhân quyền cũng như sự độc tài đảng trị và tham nhũng có tiếng. Do đó bằng bất cứ mọi giá, nhà cầm quyền CSVN phải ” chứng tỏ cho thế giới ” thấy là họ không còn đàn áp Tôn Giáo nhất là Phật Giáo. Họ đã cho thành lập Thiên Chúa Quốc Doanh, Hòa Hảo Quốc Doanh, Phật Giáo Quốc Doanh v.v…Cái gai lớn nhất đối với họ là Lm Nguyên văn Lý ( bên Thiên Chúa giáo), và các vị Hòa Thượng Quảng Độ và HT Huyền Quang của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Về Phật Giáo, thì có Thiền Sư Nhất Hạnh 2 lần đem đám đệ tử ngoại Quốc của mình về thăm VN ,giúp cho CSVN rêu rao khắp nơi trên thế giới là có ” tự do Tôn Giáo “.. Đám PG Quốc Doanh rất buồn bực vì mình cúii đầu cung phụng cho Đảng mà đâu có được trọng vọng đón tiếp như thế.

Về phía GHPGVN Thống Nhất thì từ mấy năm nay, chúng ta thấy sự ” rút tên của TT Tuệ Sỹ ” ra khỏi tổ chức của GHPGVN TN. Phải chăng ông đã ” đầu hàng ” Đảng CSVN vì bị chúng làm áp lực đối với gia đình ông ( vợ con ông ?, hay vì một lý do nào khác chăng ?) *

Riêng về Ông Lê mạnh Thát, thì nay đã hoàn tục rồi. Năm 2006, ông đã tham dự Ngày lễ Tam Hơp ( Phật Đản sinh, Thành Đạo, Nhập Niết Bàn ) Quốc tế của Liên Hiệp Quốc tại Bangkok ( Thái Lan) từ ngày 7 đến 10/5/2006 trong phái Đoàn CSVN. Trong phái Đoàn nầy có Thích Nhật Từ ( tu sĩ trí vận của CS) và Thích Quảng Ba nằm vùng từ Úc sang nằm trong phái đoàn VN ( vì LHQ chỉ mời các Quốc Gia mà thôi)

Đây là hình của Lê mạnh Thát ( tóc dài, áo tăng sĩ ) chụp chung với Đại Sứ CS Nguyễn duy Hưng khi ông này trao công hàm của CSVN xin đăng cai tổ chức ngày Lễ Tam Hợp Quốc tế 2008 của Liên Hiệp Quốc cho Hai vị sư trong ban Tổ chức của Liên Hiệp Quốc tại Thái Lan.Hình này đăng trên báo Giác Ngộ – Cơ quan ngôn luận của Thành hội Phật giáo (Nhànước/Quốc doanh) TP Hồ Chí Minh số 383 ra ngày 31.5.2007.

Hai vị sư trong Ban Tổ chức Đại Lễ Tam Hợp của Liên Hiệp Quốc , Đại sứ CSVN  Nguyễn duy Hưng, Lê mạnh Thát

 

Từ trái sang: Hai vị sư trong Ban Tổ chức Đại Lễ Tam Hợp của Liên Hiệp Quốc , Đại sứ CSVN Nguyễn duy Hưng, Lê mạnh Thát

Trong cuộc Hội Thảo Khoa Học về ” Phật Giáo trong thời đại mới – Cơ Hội và thách thức ” tại Hà Nội từ ngày 15 đến 17/7/2007, Ông Lê mạnh Thát đóng vai chủ chốt, thay thế Thích minh Châu điều khiển Đại Hội sau bài diễn văn của Thích Minh Châu :

Vì lý do sức khỏe, chúng tôi thật sự xin lỗi không thể tham gia đầy đủ cuộc Hội thảo quan trọng này. Thay vào đó, chúng tôi đã mời Giáo sư Tiến sĩ Lê Mạnh Thát, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, thay mặt chúng tôi và bổn Viện chủ trì cuộc Hội thảo.
Xin chân thành cảm ơn toàn thể Quý vị và kính chúc Hội thảo thành công viên mãn.
NAM MÔ CÔNG ĐỨC LÂM BỒ TÁT MA HA TÁT

Theo sơ dồ tổ chức của cuộc Hội Thảo Quốc Tế, ta thấy rỏ vai trò của Lê Mạnh Thát

A. Ban tổ chức:
1. Trưởng ban: HT.TS. Thích Minh Châu
2. Phó ban: HT.TS. Thích Trí Quảng
3. Phó ban thường trực: GSTS. Lê Mạnh Thát
4. Phó ban: TT.Ths. Thích Giác Toà B. Ban biên tập (Editors):
1. GSTS. Lê Mạnh Thát
2. ĐĐ.TS. Thích Đồng Bổn
3. ĐĐ.TS. Thích Tâm Đức
4. ĐĐ.TS. Thích Viên Trí
5. ĐĐ.TS. Thích Tâm Minh
6. ĐĐ.TS. Thích Nhật Từ

Hiện nay, Lê mạnh Thát còn đang tính đi vận động ” ĂN MÀY ” tiền của các cựu Sinh viên Đại Học Vạn Hạnh với lý do là cần có tiền để xây cất Đại Học vì CSVN cho 40 Ha đất ruộng để xây Đại Học Khuông Việt (coi như là Đại Học Vạn Hạnh ngày xưa trước 30.4.1975 )..

Đó chỉ là làm theo sự ” xúi dại của CSVN ” mà thôi. tất cả đều phải chịu sự kiểm soát của Bộ Giáo Dục CSVN. Vài câu hỏi được đặt ra : Dạy sử học theo lối nào ? Cho biết rằng VNCH là Ngụy à ? Cho tiền cho chúng nó để nó chưởi cha mình à ? Trường lcó đào tạo ký giả có không ? Để ca tụng Bác Đảng à ?

Tại Hải ngoại, trong hàng ngũ tăng ni, bao nhiêu là ” khóa dạy Phật Pháp , tuyệt đối không nói Chánh trị ” tức là không chống lại CSVN ? Các Chánh Phủ Tây Phương chấp nhận cho quý vị tăng ni sang đây vì ” Tỵ nạn CSVN ” , cấp dưỡng tiền Xã Hội cho Quý vị để sống , và nhờ tiền cúng dường của chư bá tánh Quốc gia Hải Ngoại để xây Chùa, nay quý vị lại làm ngơ, chấp nhận cho CSVN bóc lột dân lành, lấy tiền cho Gia đình con cái chúng phè phởn, còn Quý vị lại ĐI XIN TIỀN về giúp chúng à ? Chúng tôi biết rằng có rất nhiều vị chân tu, đáng kính nhưng vì dễ tin, nên bị bọn CS núp bóng trong Chùa lường gạt dễ dàng.

Mặt khác, một số cán bộ CSVN hô hào thành lập các Giáo Hội Hải Ngoại độc lập ( theo dự trù là sẽ xãy ra trong kỳ hội tháng 9.2007 tới ở Canada) với GHPGVN Thống Nhất trong nước khiến GHPGVN Thống Nhất từ từ bị CSVN ” chặt rụi nhánh rễ ” chỉ còn thân cây thôi, đẻ rồi héo mòn theo thời gian mà lịm tắt.

* Tinparis trước đây cũng đã tổ chức Mừng Lễ Sinh Nhật lần thứ 63 của Tuệ Sỹ ngày 1.4.2006 vì tin rằng ông là một bậc chân tu, một con người ” thoát tục ” không lẽ nào chịu ” đầu hàng theo CSVN ” làm ” Quốc Doanh” hay sao? Nay thì chúng tôi đã lầm và hơn lúc nào hết nguyên tắc mà chúng tôi đề ra : ” Không phải một người , trong quá khứ, đã từng chống cộng thì ngày hôm nay vẫn còn tiếp tục chống cộng ” vẫn đúng , kể luôn cho cả người tu hành.

Xin bấm vào đây để đọc ” Paris mừng Lễ sinh nhật lần thứ 63 của Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ ” :

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Nguồn Gốc Sư Quốc Doanh Vesak Thích Nhật Từ

Posted by tudodanchu trên Tháng Tám 28, 2008

Sư công an Thich Nh��t Từ

Sư công an Thích Nhật Từ

Sư công an Thich Nh��t Từ

Sư công an Thích Nhật Từ

Sư công an Thich Nh��t Từ

Sư công an Thích Nhật Từ

Vén Bức Màn Nhung : Nguồn Gốc Sư Quốc Doanh Vesak Nhật Từ

Phóng viên Z28

 

I- Quảng đời niên thiếu của cậu bé Nhật Từ:

Khi miền Nam lọt vào tay quân xâm lược CS, cậu bé Trần Ngọc Thảo, sinh tại Saigon, mới 6 tuổi. Nói rõ hơn, tên khai sanh là Trần Ngọc Thảo, sinh ngày 1 tháng 4 năm 1969 tại Saigon, Nhằm ngày Rằm tháng Hai năm Kỷ Dậu Âm Lịch.

Cha là đảng viên chuyển công tác sang Mặt Trận Tổ Quốc, Cu Thảo đã được uốn nắn để trở thành một cán bộ đặc tình tôn giáo từ thuở mới cắp sách đến trường, với khăn quàng đỏ, thường xuyên đạt danh hiệu cháu ngoan, học sinh thi đua, dũng sĩ kế hoạch nhỏ v.v….

Trần Ngọc Thảo theo học phổ thông bình thường đến năm 1982 (vừa thành lập giáo hội quốc doanh) thì quy rồi xuất gia năm 1984, pháp danh Nhật Từ, chuyển hộ khẩu sang chùa, và vẫn tiếp tục đi học trường cũ. Gia đình chọn chùa Giác Ngộ , số 92 Nguyễn Chí Thanh, P.3, Q.10, Saigon,cho gần nhà. Chùa Giác Ngộ thuộc hệ thống quốc doanh Trụ trì chùa Giác Ngộ là sư Thiện Huệ. Đến năm 1988, Nhật Từ thọ giới tỳ kheo và sư Thiện Huệ được giáo hội Phật giáo quốc doanh tấn phong hòa thượng. Bốn năm sau, với bằng cử nhân Anh Văn của trường Sư Phạm VC tại Saigon, VC điều sư Thiện Huệ về trung ương và “bổ nhiệm” Nhật Từ làm trụ trì chùa Giác Ngộ…lúc mới 23 tuổi…

Kế hoạch biến Nhật Từ thành một cán bộ đặc tình bắt đầu xúc tiến mạnh mẽ. Với tư cách trụ trì, Nhật Từ đã được gôi đi “tập huấn” nhiiều khóa huấn luyện đặc biệt. Phong trào chức vụ phải có bằng cấp, giám đốc cơ quan xí nghiệp phải có học vị từ phó tiến sĩ trở lên, đã khiến hiện tượng bằng giả lan tràn. Không thoát ra ngoài chỉ thị đảng, Nhật Từ được đưa sang Ấn Độ học cao học và tiến sĩ thần học vào năm 1994, tức 2 năm sau khi lên nắm chưc trụ trì. Trong chúng ta, hẵn ai cũng biết rằng, dối với VC, tất cả mọi “cà thể” nắm chức vụ, học vị đều phải có ” lý lịch” phù hợp. Năm 2002, Nhật Từ về nước với bằng Tiến Sĩ.

II- Dưới đây là những chức vụ mà Nhật Từ đã và đang nắm, chứng tỏ y ta là một cán bộ “tầm cở” trong ngành đặc tình Phật giáo của cộng đảng:
1- Trước khi đi học Ấn Độ:
* Trưởng Bộ môn Triết học Phật giáo, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Saigon
* Phó thư ký Hội đồng điều hành, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Saigon
* Phó thư ký Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam.
* Thành viên Ban biên tập Đại tạng Kinh Việt Nam.
* Giám đốc, hội Đạo Phật Ngày Nay.

2- Sau khi từ Ấn Độ về:
* Phó thư ký, Ban Phật giáo quốc tế TƯ, GHPGVN.
* Ủy viên Ban trị sự Thành hội Phật giáo Saigon.
* Phó ban kiêm tổng thư ký Ban hoằng pháp Thành hội Phật giáo Saigon

3- Ngay sau đó Nhật Từ lập phương án dịch Kinh Đại Tạng, thỉnh Lê Mạnh Thát và Tuệ Sỹ đứng chủ trì.
Qua sư ưng thuận của 2 “biến tướng Bát Chánh Đạo” nầy, một tổ chức mang tên “Hổ Trợ Dịch Đại Tạng Kinh” được thành hình qua sự vận động du thuyết ráo riết của sư Nguyên Siêu, trụ trì chùa Phật Đà ở San Diego, Nam Calfornia với sự tích cực yễm trợ tài chánh của Tổng Hội Cư Sĩ ( Huỳnh Tấn Lê) và chủ tịch hội cư sĩ Orange County và hội cư sĩ San Diego do hai tu xuất Nguyên Lượng và Đức hạnh chủ chốt. Các tay nầy đã liên tục gây quỹ yễm trợ suốt 3 năm liền, cho bè nhóm Trí Siêu, Tuệ Sỹ, Nhật Từ thả cửa xài phí.

III- Vươn vòi bạch tuột ra hải ngoại.
1- Năm 2002, khi sắp trở về nước phục vụ cho cộng đảng, Nhật Từ tình cờ làm quen được sư Chơn Thành, trụ trì chùa Liên Hoa đường Bixby, thành phố Garden Grove, Nam California, đang hành hương chiêm bái Phật tích tại Ấn Độ. Sư Chơn Thành sau nầy là một trợ thủ đắc lực cho Nhật Từ tung hoành khắp nước Mỹ. Sư Chơn Thành tu học tại Nhật Bổn trước 75. Nhắc đến sư Chơn Thành, Phật tử vùng Houston, Texas, hẵn không quên sư Chơn Lễ, cũng tu học tại Nhật, hiện trú xứ tại trung tâm Phật giáo chùa VN, Houston Texas, đã tiếm danh Văn Phòng 2-VHĐ, nhảy ra nhận bằng vinh danh nhị vị Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ do dân biểu Nick Lampson trao tặng hôm 10 tháng 5 năm 2008.

2- Khi về nước, với 2 tấm bằng Cao học triết học (Đại học Delhi, 1997), Tiến sĩ triết học (Đại học Allahabad, 2002), VC bố trí cho Nhật Từ đi giảng dạy các tỉnh như Bà Rịa, Vũng tàu, Cần Thơ v.v…và mở lớp giảng huấn tại chùa Giác Ngộ. Đảng đã trù tính sẵn mọi việc, cho sửa sang khang trang rộng rãi chùa Giác Ngộ trong thời gian Nhật Từ đi học Ấn Độ. Song song vào đó, đảng giới thiệu Nhật Từ cho sư Minh Châu và giáo sư thiến sĩ thiền sư Trí Siêu Lê Mạnh Thát để không bao lâu sau, sư Nhật Từ được cất nhắc lên Phó viện trưởng Phật Học Viện Nam Việt ở Phú Nhuận do sư Minh Châu làm viện trưởng và Lê Mạnh Thát làm phó viện trưởng thường trực. Vai trò của Nhật Từ nắm giữ tại đây là vai trò của đảng tức là bí thư của viện. Minh Châu và Mạnh Thát chĩ là hai con bù nhìn, thực hiện các quyết định của Nhật Từ. Điều này cũng dễ hiểu thôi vì sư Minh Châu và Lê Mạnh Thát đã từng có chân trong GHPGVNTN, trong lúc Nhật Từ ( sinh 1969) thì hoàn toàn trong sáng về lý lịch, gốc gác.

3- Lợi dụng tiếng tăm sẵn có của sư Minh Châu và Lê Mạnh Thát, Nhật Từ được đảng giao vai trò “triển khai NQ 36” tại hải ngoại. Năm 2004, do sư Chơn Thành chùa Liên Hoa đường Bixby thành phố Garden Grove, Nam Cali, bảo lảnh, Nhật Từ đặt bước chân đầu tiên qua Mỹ, trú xứ Chùa Liên Hoa. Sau đó sư Chơn Thành giới thiệu với sư Chơn Lễ để Nhật Từ qua Texas trú xứ giảng “pháp” tại Houston, Texas. Thời cụ Ngiêm Xuân Hồng còn tại thế, nhóm đạo tràng Liên Hoa không mời Nhật Từ giảng pháp thoại. Sau khi cụ Hồng mất đi, cựu trung tá pháo binh Quân Đoàn 2 QLVNCH Mật Nghiêm Đặng Nguyên Phả, với tư cách hướng dẫn đạo tràng, đã “bố trí” với sự tiếp tay của sư Chơn Thành, tổ chức pháp thoại hàng tuần tại chùa Liên Hoa. sau nầy, cư sĩ Mật Nghiêm Đặng Nguyên Phả, với sự trợ lực của Huỳnh Tấn Lê, chủ tịch điều hành tổng hội cư sĩ, vận động thành lập nhóm Phật học Đuốc Tuệ, chuyên dành cho Nhật Từ các buổi pháp thoại tại thính đường trường McGavin, đường Bishop, gàn PhướcLộc Thọ. Các buổi pháp thoại nầy được phát thanh lại trên chương trình phát thanhTiếng Nói Hương Sen của tổng hội cư sĩ. Ngoai ra, nhóm Đưốc Tuệ còn thự hiện CD và VCD của Nhật Từ để ấn tống (phát không).

4- Khi Nhật Từ manh nha ý định lên nắm chức trụ trì chùa Giác Ngộ, y ta đã vận động để “tiếp cận” với Minh Châu và Mạnh Thát. Chính hai “quái danh” nầy đã móc nối y với nhóm Thân Hữu Già Lam và Về Nguồn để yểm trợ tận lực mưu đồ chia rẽ Phãt Giáo hải ngoại hầu tiến đến việc xóa sổ GHPGVNTN một cách êm thắm, vì 32 năm qua, đảng đã thất bại trước sự chịu đựng kiên cường của hàng chư tôn Giáo Phẩm GHPGVNTN,lãnh đạo bởi nhị vị Hòa Thượng Huyền Quang và Quảng Độ. Chính Nhật Từ đã cùng sư Trí Quảng vận động đảng cho treo cờ PG thế giới mà không cần sửa đổi Hiến Chương PG quốc doanh. Nội điểm nầy thôi, cũng đủ “dụ dỗ” một số tăng ni hải ngoại, tin rằng cộng đảng cởi mở tôn giáo.

5- Thành công lớn nhất của Nhật Từ là dáng dấp thư sinh, ăn nói nềm mỏng, khiến vô số người lầm tin, về VN đọc tham luận trước hội nghị khao học do thành hội PG quốc doanh tổ chức với đề tài “Phật Giáo trong Thế Kỷ Mới: Cơ Hội và Thách Thức” vào hai ngày 15-16 tháng 7 năm 2006, tại Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam.. Với thơ mời do Lê Mạnh Thát ký, Nhật Từ đi tiếp xúc với nhiều nhân vật tăng tục khoa bảng, về Saigon cùng ngồi hội thảo dưới nình hồ mỉm cưới.
Dưới đây là nội dung thơ mời do Le Mạnh Thát ký tên, Nhật Từ mời mọc hứa hẹn

VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM
750 Nguyễn Kiệm, Quận Phú Nhuận, TP. HCM, Việt Nam
________________________________________

THƯ MỜI
HỘI THẢO “PHẬT GIÁO TRONG THỜI ĐẠI MỚI: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC”

Kính gởi: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Kính thưa: . . . . . . . . . . . . . .

Nhân loại ngày nay đang lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng về mọi phương diện. Nạn khủng bố, chiến tranh nhỏ trong nội địa của nhiều nước, chiến tranh lớn trên đa quốc gia hay toàn cầu. Tình trạng ô nhiễm môi sinh làm cho quả địa cầu tăng nhiệt độ tạo ra những trận lũ lụt khủng khiếp đã tiêu diệt hàng trăm ngàn sinh linh vô tội. Thế giới phải đối diện với một cuộc sống bất an thường trực trên nhiều mặt.

Trong niềm thao thức đi tìm một giải pháp cho những vấn nạn của thế giới hiện nay và nhất là cho chính bản thân của Phật Giáo Việt Nam, chúng tôi thỉnh cầu chư tôn đức và thiện hữu tri thức đóng góp ý kiến quý báu của mình bằng cách viết bài tham luận và tham dự hội thảo với chủ đề “Phật Giáo trong Thế Kỷ Mới: Cơ Hội và Thách Thức,” được tổ chức vào hai ngày 15-16 tháng 7 năm 2006, tại Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam.

Ban Tổ Chức sẽ đài thọ các chi phí ăn ở trong thời gian tham dự hội thảo.
Rất mong được đón tiếp.

Việt Nam, ngày 4 tháng 12 năm 2005.

Phó viện trưởng thường trực
TT. THÍCH TRÍ SIÊU – LÊ MẠNH THÁT

Với lời mời đầy hấp dẫn nầy, có gần 40 trí thức khoa bảng đã hoan hỷ gật đầu. Đi chơi, được bao trọn gói, Ngu gì không đi !!

==> xin bấm vào đây để đọc bài đã đăng trên TinParis.net : ” Khi Lê Mạnh Thát đầu hàng CSVN”

6- Các lần Nhật Từ pháp thoại tại Mỹ-Úc.

1- Lần thứ nhất (2004): Hè năm 2004. Lần nầy Nhật Từ đi tìm hiểu trình độ thính chúng để “rút kinh nghiệm”. Biết trình độ Phật Pháp của nhân sĩ Phật Giáo hải ngoại cao thâm, Nhật Từ báo cáo đảng để xin yểm trợ người dịch kinh tạng, tổ chức thuyết pháp hàng tuần tại chùa Giác Ngộ. Trí Siêu và Tuệ Sỹ âm thầm nhúng tay tối đa vào công tác nầy, do vậy, chỉ trong một năm, kinh dịch của Nhật Từ đã xuất bản hơn 6 quyển, đủ để chiếm niềm tin hải ngoại.

2- Lần thứ nhì (2005): (Chùa An Lạc, San Jose, 11, 12 June 05), (Đạo tràng Diệu Huệ, San Francisco, 16 June 05), (Đạo tràng Từ Bi Nguyện, San Jose, 17 June 05),
(Chùa Duyên Giác, San Jose, 18 June 05), (Chùa Quảng Đức, San Jose, 19 June 05), (Chùa Tuệ Viên, San Jose, Father’s Day 19 June 05), (Đạo tràng An Hạnh, San Jose, Father’s Day 20 June 05), (Chùa Quan Âm, San Jose, 21 June 05), (Đạo tràng Chúc Hảo, San Jose, 23-06-2005), (Tịnh xá Ngọc An, Sacramento, 25-06-2005), (Tu viện Viên Chiếu, Sacramento, 25-06-2005), (Chùa Linh Sơn, Dickinson, 02-7-05), (Chùa Viên Thông, Houston, 02-7-05), (Chùa Việt Nam, Houston, 03-7-05), (Chùa Hải Đức, Jacksonville, 9, 10, 11-7-05) , (Thiền Viện Minh Đăng Quang, Houston, 14-7-05), (Đạo tràng Tiếng Chuông Tỉnh Thức, Houston, ngày 16/7/2005), (Chùa Tịnh Luật, Houston, 17/7/ 05), (Chùa Phật Tổ, Long Beach, khánh thành Chùa và ngày vía Bồ-tát Quan Âm, 22, 23/7/2005), (Chùa Hương Tích, Santa Ana, ngày 30-7-05), (Đạo tràng Tâm Cát, Santa Ana, ngày 31-7-05), (Chùa Di Đà, Santa Ana, ngày 31-7-05)(Trao đổi với nhân sĩ chương trình phát thanh Đuốc Tuệ, Santa Ana, ngày 31-7-05)[CHẠY SHOW], (Chùa Liên Hoa, Las Vegas, ngày 03-8-05), (Thiền Viện Minh Đăng Quang, Houston, 7-8-05), (Đạo tràng Pháp Hoa, Santa Ana, 07-8-05), (Thính giả chương trình phát thanh Đuốc Tuệ, Santa Ana, 07-8-05) [ĐÀI PHÁT THANH ĐUỐC TUỆ LÀ CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG NÓI HƯƠNG SEN CỦA Tổng Hội Cư sĩ]

3- Lần thứ ba (2006- Úc Châu):
a- Melbourne==> ( Thứ Bảy, 18h30: 13/5/2006, Niệm Phật Đường An Lạc Hạnh, 78 Cyprus St, Labor, VIC. 3075 ), ( Chủ Nhật, 10h30: 14/5/2006, Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd., Fawkner, VIC. 3060 )
b- Adelaide ==> ( Thứ Hai 19h30: 15/5/2006, Thứ Ba, 19h30: 16/5/2006, Thứ Tư, 19h30: 17/5/2006, Chùa Pháp Hoa 20 Butler Ave Pennington, SA. 5013 )
c-. Melbourne ==> ( Thứ Sáu, 19h30: 19/5/2006, Thứ Bảy, 19h30: 20/5/2006, Chùa Quang Minh 18 Bourke Street, Braybrook, VIC. 3019 ), ( Thứ Bảy, 10h00: 20/5/2006, Chùa Phước Trí
80 St. Johns Ave, Springvale, Vic 3171 ), ( Chủ Nhật, 10h00: 21/5/2006, Chùa Hoa Nghiêm, 444-448 Springvale Rd, Springvale south, VIC. 3172 ), ( Thứ Ba, 19h30: 23/5/200, Chùa Quang Minh, 18 Bourke Street, Braybrook, VIC. 3019
d- Brisbane –> ( Thứ Sáu, 18h30: 26/5/2006, Chủ Nhật, 10h00: 28/5/2006, Chùa Phật Đà, 36 Deodar Street, Inala, Qld 4077 ), ( Thứ Bảy, 16h00: 27/5/2006, Chủ Nhật, 18h30: 28/5/2006,
Thứ Hai, 18h30: 29/5/2006, Chùa Pháp Quang , 12 Freeman Road, Durack, Qld 4077), ( Thứ Bảy, 18h00: 26/5/2006, Chùa Linh Sơn, 89 Rowe, TerraceDarra, Qld 4076 )
e- Perth ==> ( Thứ Bảy, 19h00: 3/6/2006, Chủ Nhật, 13h30: 4/6/2006, Chùa Chánh Giác, 45 Money St, Perth WA. 6000 )
f- Adelaide ==> ( Thứ Hai, 19h30: 5/6/2006, Thứ Ba, 19h30: 6/6/2006, Thứ Năm, 19h30: 8/6/2006,Chùa Pháp Hoa, 20 Butler Ave, Pennington, SA. 5013), ( Thứ Sáu, 19h30: 9/6/2006
Chùa Pháp Âm, Lot D Angle Vale Rd, Hillier, SA. 5116), ( Thứ Bảy, 19h30: 10/6/2006, Chủ Nhật, 19h30: 11/6/2006, Thứ Tư, 19h30: 14/6/2006,Chùa Pháp Hoa, 20 Butler Ave, Pennington, SA. 5013 )
g- Sydney ==> ( Thứ Bảy, 10h30: 17/6/2006, Chủ Nhật, 10h30: 18/6/2006, Thứ Bảy, 10h30: 24/6/2006, Chùa Vĩnh Nghiêm, 177 John Street, Cabramatta, NSW 2166 ), ( Thứ Bảy, 18h00: 17/6/2006, Thứ Bảy, 18h00: 24/6/2006, Chùa Thiên Ấn, 58 Cardwell St, Canley Vale, NSW 2166 ), ( Chủ Nhật, 10h30: 25/6/2006, Thiền Viện Minh Quang, 28 – 30 -32 Chadderton St, Canley Vale, N.S.W 2166 ). ( Chủ Nhật, 13h30: 25/6/2006, Ni Viện Thiện Hòa, 153 Gladstone Street, Cabramatta NSW 2166).
h- Darwin ==> ( Thứ Sáu, 19h30: 30/6/2006, Thứ Bảy, 9h30: 1/7/2006, Chủ Nhật, ngày 9h00: 2/7/2006, International Buddhist Centre, 37 Parkside Crescent, Leanyer, NT. 0812 )

4- Lần thứ tư (2007 Mỹ-Úc): Lần nầy không có pháp thoại mà chỉ dụ dỗ các su sải biến tướng Bát Chánh Đạo về Hà Nội dự Vesak 2008 với lời hứa Ban Tổ Chúc đài thọ mọi chi phí.

5- Lần thứ 5 ( Hoa Kỳ ) ==> ( 13-7-08: 11h00 Chùa An Lạc, 901 S Saticoy Ave, Ventura, CA93004 ), ( 16-7-08: 10h00 Chùa Liên Hoa, 6233 Fairbanks, Las Vegas, Naveda 89103 ), ( 18, 19-7-08: 10h00 . Chùa Phật Tổ, 905 Orange Ave, Long Beach ), ( 20-7-08 : 10h00. Chùa Linh Sơn, 16 Ruthven Ave, Worcester, MA01606, Boston.), ( 22-7-08: 18h00 Chùa Trúc Viên ), ( 26-7-08: 08h30 . Chùa Phước Hậu, 1575 W Oklahoma Ave, Milwaukee, WI 53215, Wisconsin. ), ( 26-7-08: 20h00 Đạo tràng Trí Bảo, Chicago ), ( 27-7-08: 10h00 Chùa Quang Minh, 4429 N Damen Ave, Chicago, IL60625), ( 30-7-08: 19h00 Đạo tràng Tâm Cát, Santa Ana ), ( 31-7-08 & 1/8: 19h00 , Chùa Vạn Phước, San Diego ), ( 02-8-08: 10h00 . Phước Huệ Thiền Tự, 2625 72Nd Street East, Tacoma, WA. 98404 ), ( 03, 04-8-08: 10h00 . Phước Huệ Thiền Tự, 2625 72Nd Street East, Tacoma, WA. 98404.), ( 07-8-08: 19h00 Chùa Hoa Nghiêm, 9105 Backlick Rd, Fort Belvioir, VA 22060. )…

Mọi việc đều suông sẻ cho đến ngày Nhật Từ xuất hiện tại chùa Hoa Nghiêm ở Virginia thì bị cộng đồng Việt Tị Nạn vùng Hoa Thịnh Đốn chống đối sự hiện diện của Sư quốc doanh Nhật Từ. Làn sóng chống quốc doanh lập tức lan rộng khắp thế giới, khiến các buổi pháp thoại sau đó, thay đổi liên tục.Tuy nhiên chúng tôi cũng lập lại lịch trình pháp thoại định trước để đồng bào Phật tử có thái độ dứt khoát với những ngôi chùa “ĂN CƠM QUỐC GIA, THỜ MA CS”

( 08-8-08: 19h00 . Đạo tràng Diệu Liên – Le Bledo, VA 22060.), ( 09, 10-8-08: 10h00, Tiểu Trúc Lâm Yên Tử, 3125 Riverview Drive, Triangle , Va 22172. ), ( 09-8-08: 19h00 . Chùa Hoa Nghiêm, 9105 Backlick Rd, Fort Belvioir, VA 22060.), ( 10-8-08: 15h00 . Hội trường, VA 22060.), ( 13-8-08: 17h00 Chùa Linh Quang, 821 Ridge Rd (563 HWY) Telford, PA18969, Pennsylvania.), ( 13-8-08: 18h00 Đạo tràng Minh Thanh và Diệu Ngộ, Philadelphia), ( 13-8-08: 18h00 Chùa Liên Hoa, Charlotte, NC ), ( 16, 17-8-08: 10h00 Chùa Phước Hải, Charlotte, NC )
– Về lại VN.

http://www.take2tango.com/default.aspx?display=4922

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Hội chứng công an tôn giáo sư Nhật Từ (Trần Ngọc Thảo)

Posted by tudodanchu trên Tháng Tám 28, 2008

Công an tôn giáo Thich Nh��t Từ

 

 

 

Công an tôn giáo Thích Nhật Từ

Hội chứng công an tôn giáo sư Nhật Từ (Trần Ngọc Thảo)

– Na Uy Thích Thanh Tùng

Từ “Bát Đại Huề thượng” thủ lãnh nhóm Thân hữu Già Hồ (Thích Tín Nghĩa …) đến Giáo chủ Về Nguồn sư Thích Giác Nhiên (Giác Nhôm) cho thấy nhân sự thủ lãnh lao nô Hồ tặc qua chiếc áo công an tôn giáo hải ngoại, đến nay đã “cháy” te tua không còn kiện tướng nào có “máu mặt” hay ra hồn phách chi chi, cho nên xã nghĩa mới đi nước cờ liều mạng, đẫy sư Thích Nhật Từ ra “rao hàng” nghị quyết 36 NQ cho đảng. Tiếc thay, đứng hàng chú tiểu thì đã quá lứa mà vào hàng Huề thượng thì lại quá non, cho nên, sư Nhật Từ vì quá nông nổi bèn “múa gậy vườn hoang” trên vùng đất tỵ nạn cộng sản của người Việt hải ngoại để vô hình trung, Nhật Từ trở nên đề tài cho cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản sản hải ngoại có cớ nã pháo chống lại sách lược kiều vận của đảng ta thật là thảm thương như vụ việc diễn ra gần đây.

Từ những bài viết vạch mặt, chỉ tên, bạch hóa tên công an tôn giáo Thích Nhật Từ trên diễn đàn gần đây, điển hình như: bài của http://www.tinparis.net/thoisu/2008_08_13_ThichNhatTu_TVHai.html

 

Nay nói về công an tôn giáo: sư Nhật Từ có 4 việc cần làm rõ
1. Sư Nhật Từ “đi đêm” với XHCN để lên ngôi trú trì chùa Giác Ngộ.

Theo y chỉ với Hòa thượng Thích Thiện Huệ, chùa Giác Ngộ, đường Nguyễn Chí Thanh (gần chợ An Đông, q10, TP HCM) cầu học.

Chùa Giác Ngộ, đường Nguyễn Chí Thanh (gần chợ An Đông, q10, TP HCM) Sau khi Hòa thượng Thích Thiện Huệ viên tịch, Nhật Từ chạy qua chùa Ấn Quang “ôm chân” sư Thích Trí Quảng (trưởng Ban trị sự thành hội PG TP HCM), tự nguyện làm công bộc hết mình cho thành hội, cộng thêm sự OK của công an TP HCM, nên Nhật Từ bèn được đảng ta bố trí cho lên ngôi trú trì chùa Giác Ngộ. Từ đó thầy Nhật Từ trở nên là cánh tay đắc lực của Thích Trí Quảng.

Nhiều lần sư Trí Quảng với sư Thiện Tánh (Phó thường trực Ban trị sự thành hội PG TP HCM) va chạm nhau “bằng mặt nhưng không bằng lòng” qua nhiều vụ tham nhủng trong nội bộ, qua bổ nhiệm trú trì các chùa. Điển hình là vụ sư Thiện Tánh với sư Nhật Từ choảng nhau về vụ sư Thiệt Tánh “nuốt trọn” 12 tỷ VN D trong vụ bổ nhiện trú trì chùa Đại Giác, đường Nguyễn Văn Trổi, quận Tân Bình, Sài gòn. (xem: Hòa thượng hay Quà thượng, phật giáo vì dân tộc, số 46) Rồi bên trên đã “cơm không lành, canh không ngọt” thì bên dưới đám “tay chân” 2 phe sư Trí Quảng – sư Thiện Tánh cũng so cựa nhau chỉ vì “trâu cột ghét trâu ăn” lại cứ diễn ra. Hủ mấm Thiệt Tánh – Nhật Từ cố đậy nhưng mùi mấm tôm thối cứ theo gió mà phát tán đến ngay cả tờ báo Phật giáo vì dân tộc là tờ báo VẸM mà cũng chịu hết nỗi phải đành “bứt phanh” cho nó “tuột dốc” để cớ sự lòi chành, té bứa ra như bài viết Hòa thương hay quà thương mà bàng dân thiên hạ không kịp mang khẩu trang cao cấp nữa đó. Có điều là “chú tiểu” Nhật Từ sao lại dám “so cựa” với sư ông Thiện Tánh, vốn mang hàm cấp tá 2 sao, lại có cả “giò hèo” lận trong … quần nữa. Người biết chuyện cho rằng sư Nhật Từ có cả “ô dù” trên bộ công an, thì với Thiện Tánh, chỉ là “ô dù” thành phố thì sá chi mô!

Như vậy, bằng thủ đoạn “đi đêm” với XHCN, Nhật Từ đã lên ngôi trú trì chùa Giác Ngộ, ngôi chùa đồ sộ, tại thành phố Già Hồ khi chỉ mới 25 tuổi.

2. Vụ dàn dựng cuộc “tự do biểu tình” của nhóm Sư Thiện Tánh(1994)

Sư Thích Thiện Tánh (phó thường trực Ban trị sự thành hội PG TP HCM), trú trì chùa Khánh Anh, đường 3 tháng 2, Q 10, TP HCM. Lúc bấy giờ Nhật Từ là thành viên của thành hội PG TP HCM, đang học Cao cấp Phật học Vạn Hạnh khóa III(1993-1997), năm thứ 2 (1994). Dưới sự điều động của Sư Thiện Tánh, Nhật Từ hô hào một số Tăng ni sinh trường Cao cấp Phật học Vạn Hạnh khóa III kéo nhau đi biểu tình trước trụ sở Ban tư tưởng văn hóa TP già Hồ, lấy lý do phản đối việc nhà văn Trương Quốc Dũng, xuất bản Tuyển tập Đường Tăng (gồm hơn 30 truyện ngắn), xuất bản năm 1994 http://tinhte.com/forum/showthread.php?p=667890, nội dung sách nầy phỉ báng Phật giáo. Vụ việc diễn ra, đó là chiến dịch nhà nước đánh dẹp văn hóa Phật giáo mà sách Đường Tăng lại do Ban tư tưởng văn hóa TP già Hồ cho xuất bản. Hiện tượng nầy nằm trong chiến lược kiều vận rằng khi cuộc biểu tình của Tăng Ni sinh XHCNVN diễn ra thì hiện trường sẽ được quay phim đầy đủ để làm bằng chứng gởi sứ quan các nước có trụ sở tại VN; cùng để lưu tại sứ quán XHCNVN tại các nước trong mục đích cho rằng XHCNVN có tự do biểu tình. Thế nhưng, do “đạo diễn” quá tệ mà “diển viên” (có cả Nhật Từ trong đó) cũng quá tồi, hai bên vằn co nhau, súy xảy ra ấu đả, hình ảnh xấu ghi vào ống kính, và kết quả không đạt như điều nhà nước mong đợi, cho nên họ đành phải xếp vụ nầy vào … bàn nhậu. Vì buổi tối cùng ngày, Thiện Tánh đã “khao quân” mừng thành công bằng một bửa bia chay linh đình cho đàn em đó mà. (xem hình ảnh đám công an đầu trọc Thích Bảo Nghiêm cụn ly “bia chay” thì rõ, đó là Bảo Nghiêm học theo Sư Thiện Tánh, sư Huệ Trí VP II chứ có lạ gì đâu) https://tudodanchu.wordpress.com/2008/08/10/suvc-2/

 

Học khóa III chưa mãm khóa, thế nhưng theo chiến lược 10 năm cài cấm đặc tình tôn giáo hải ngoại, Nhật Từ rồi tiếp sau đó là sư Thích Hạnh Chánh (Thư ký Ban Từ thiện – xã hội TW, Giáo hội quốc doanh) đã được Bộ cộng an (xin nói rõ là do chỉ thị từ Bộ công an chứ không là do thành phố) cấp tốc “điều công tác” qua hình thức đi du học Ấn Độ, và thông qua cửa “du học Ấn Độ” nầy, nhà nước đã xuất cảng hằng trăm Tăng ni quốc doanh ra hải ngoại để thành hình Nhóm Thân hữu Già Lam như ngày nay. Trong thời gian “tu học” tại Ấn Độ, Nhật Từ đã là chiếc cầu nối kiều vận từ trong nước ra hải ngoại và ngược lại. Có 2 việc làm bằng:

Một, Nhóm Nhật Từ cho phổ biến Băng đĩa CD của Sư Chơn Quang (Bà Rịa – Vũng Tàu) từ trong nước ra hải ngoại thông qua các sư nữ Thích nữ Liên M, Liên Đ (phái Khất sĩ) trong mỗi lần nghĩ hè về Việt nam. Đến nỗi có một lúc, có dư luận cho rằng Nhật Từ đã tự nguyện làm rễ sư Giác Nhiên rồi (sư Giác Nhiên là lãnh tụ nhóm Bát đại Huề thượng: Thích Tín Nghĩa, Thích Minh Tâm …). Băng đĩa CD của Sư Chơn Quang được phát tán cho miên phí khắp cả Tăng ni Delhi và sang tận Hoa kỳ. Hai, là Nhật Từ hợp đồng với Làng Mai –Nhất Hạnh trong công tác xóa xổ Giáo hội Phật giáo Việt nam thống nhất.

3. Hợp đồng “trọn gói” với Làng Mai – Nhất Hạnh qua quảng cáo Thiền Ôm tại Delhi

Tháng 04 Năm 2000 Nhật Từ lãnh hợp đồng “trọn gói” với Làng Mai – Nhất Hạnh qua việc phổ biến loài hình Thiền đi, thiền nằm, kiêm cả thiền ôm trong giới Tăng ni sinh du học tại vùng Delhi, Ấn Độ theo kiểu:

Sư ông cùng với sư bà
Kề vai nói nhỏ … tặng quà bằng thơ

Tích cực hơn nữa là Nhật Từ lãnh bao thầu “trọn gói” in ấn 2000 quyển kinh tụng hằng ngày theo bản in Làng mai, đây là một loại hình kinh Nhật Tụng nhưng nội dung hoàn toàn khác với kinh Nhật Tụng truyền thống có nguồn từ Đại tạng kinh, mà ở đây, kinh Nhật Tụng của Làng Mai mang nội dung bá nạp, nó nội hàm một ít giáo lý Nam tông, một ít giáo lý Bắc tông, một ít thánh ca Thiên Chúa giáo, một ít thơ ca, và dĩ nhiên cũng không thiếu một ít cặn bạ hơi hám XHCN ngụy trang loại hình kinh điển Mác – lê theo kiểu Nam mô Hồ Chí Minh Bồ tát. Một số kinh nầy phân phát tại Delhi, một số đưa về Việt nam và nó qua cửa hải quan dễ dàng không gặp trở ngạy nào.

Cũng nên nhớ rằng trong lần Nhất Hạnh – Cao Ngọc Phượng về Việt nam lần I (2005), phái đoàn làng Mai đi tiền trạm đến Thanh Minh Thiền viện để xin cái hẹn với Hòa thượng Thích Quảng Độ, trong đó có cả sư Nhật Từ xông xáo trong đó.

4. Sư Nhật Từ tên gian manh xã nghiã qua chiêu bài “hoằng pháp trong chốn lao tù”

Những năm 2006 Nhật Từ “cầm cờ chạy hiệu” trong chiến dịch nhà nước xã nghĩa mở chiến dịch tôn giáo vận chốn lao tù. Sư Nhật Từ được bố trí công tác ““hoằng pháp trong chốn lao tù”. Sư hô hào vận động tài chánh hải ngoại, thăm viếng trại tù một số tỉnh miền Tây. Nhưng thực tế quà tù của Nhật Từ chỉ dành nuôi những “đại gia cán bộ” thất thời, nằm tù chứ chưa bao giờ đến tay người tù thật sự. Sư Nhật Từ là đứa gian manh đã “móc túi” hải ngoại qua hội chứng “hoằng pháp trong chốn lao tù”.

Ngoài ra Nhật Từ với Thích Nguyên Tạng, Úc Châu là “cập sóng thần” gắn bó trong việc móc túi người Việt hải ngoại qua chiếc áo Từ thiện như cứu tế bảo lụt, mỗ mắt cho người nghèo … 2 trang nhà http://www.quangduc.com của Thích Nguyên Tạng, chùa Quảng Đức, Úc Châu cùng với trang nhà http://www.buddhismtoday.com của Thích Nhật Từ có liên hệ mật thiết qua trao đổi bài vỡ, đồng cảnh tương lân theo kiểu “mẹ hát con khen” , đó là chuyện dài XHCN nhiều tập.
Rằng không phải cho đến ngày nay 2008 Nhật Từ mới ra mặt công an tôn giáo vận mà Thầy đã có nhiệm vụ từ những năm 1993 khi còn đang ngồi ghế Tăng sinh Cao cấp Phật học Vạn Hạnh khóa 3 (1993-1997) cho đến nay. Những vụ việc chạy chọt ghế trú trì chùa Giác Ngộ; tham gia dàn dựng biểu tình tại sài gòn 1994; Hô hào Hoằng pháp trong chốn lao tù (2006); Xô sát với Thiện Tánh qua vụ 2 tỷ VND bổ nhiện trú trì chùa Đại Giác nhằm mục đích khoe trương “ô dù” … đó chỉ là một vài việc điển hình nhỏ lẻ về sư công an Nhật Từ mà thôi.

Trong “giáo lý đạo Phật không dạy nhà sư làm chính trị theo chế độ nầy hay chống chế độ kia” . Sư Nhật Từ nói đúng. Thế nhưng lại có không ít những nhà sư hàng Thầy của sư Nhật Từ như sư Trí Quảng, sư Trí Tịnh, Sư Minhn Châu … lại mang chiệc áo chính trị: Đại biểu quốc hội mà ngoảnh mặt trước khổ đau của đồng loại.

Cũng chưa bao giờ thấy trong tàng thư Phật giáo dạy người tu đạo Bồ tát quay lưng với sự khổ đau của đồng loại, nhất với với hơn 80 triệu đồng bào Việt nam hiện nay mà chỉ có nến giáo lý “Bồ tát thấy dân kêu ca do vậy gạt lệ xông vào nơi chính trị hà khắc để cứu dân khỏi nạn lầm than” (Khương Tăng Hội, Lục độ tập kinh). Và cũng “Chỉ có súc vật mới quay lưng lại với nỗi đau của đồng loại để chăm chút cho bộ lông của mình” (karl Marx). Viễn du hải ngoại rao loa thiên đường XHCNVN, Nhật Từ đang làm cái việc “chăm chút bộ lông mình” mà quay lưng với hơn 80 triệu đồng bào Việt đang gào khóc, kêu than dưới ách bạo quyền, độc tài, độc đảng, độc hại, độc ác XHCNVN.

Nhật Từ, tên trí vận cộng sản, là con bệnh đang mang mần bệnh virus xã nghĩa tàn độc, cần phải loại ông ta ra khỏi cộng đồng chúng ta. Phải đánh tan tất cả loại hình nghị quyết 36 của cộng sản là góp phẩn mau chóng giải thể cộng sản xã nghĩa

Cần phải mạnh dạn tẩy chay công an tôn giáo Nhật Từ qua mọi hình thức để trong sạch hóa cộng đồng người Việt hải ngoại chống cộng. Để hạ ngọn lửa nghị quyết 36 kiều vận XHCN tràn lan thì không nhất thiết phải “quạt” cho hạ ngọn lửa mà tốt nhất là phải triệt hết củi trong lò ra. Triệt hết cơ sở, đường đi lối về nơi mà sư Nhật Từ dừng chân, “hạ cánh”, đó là sách lược hữu hiệu triệt để nhất.

Gần đây Cộng đồng người Việt chống cộng hải ngoại nói bàn về sư công an Nhật Từ, đó không có nghĩa là rao hàng cho gã mà chỉ vì cộng đồng muốn làm rõ hiện tượng về một Nhật Từ: xú phương cũng một tiếng đồn mà thôi.

Thế nước ngày nay, Tàu cộng đang tuyên chiến với Việt cộng,
Lòng Dân ngày nay đang trông có một ngày “đổi đời” một Việt nam mới
Biển Đông ngày nay biến động từng ngày
Dân chủ hóa toàn cầu đang sang trang,

Thì hà cớ gì không ngăn chặn, xóa sạch những con virus nghị quyết 36 như sư Nhật Từ thế kia. Mỗi người xin hãy góp một bàn tay.

Thích Thanh Tùng

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

HOÀNG DUY HÙNG: BẢN CHẤT BẤT NHÂN & LƯU MANH HÀNH ÐỘNG: TÀ KHUẤT ÐI ÐÊM VỚI CSVN

Posted by tudodanchu trên Tháng Tám 28, 2008

HOÀNG DUY HÙNG: BẢN CHẤT BẤT NHÂN & LƯU MANH HÀNH ÐỘNG: TÀ KHUẤT ÐI ÐÊM VỚI CSVN

* Dưới đây là bài thơ tuyệt tác vịnh thằng gian hùng của thi sĩ Hồ Công Tâm. Bài này có giá trị bất tử trong lịch sử văn học hải ngoại. Xin tiếp tục cống hiến bạn đọc.

VỊNH THẰNG GIAN HÙNG

Miệng như ống nhổ, mắt thì gian!

Hỗn láo, ba hoa, bịp thả giàn!

Bán đảng, bán cha còn bán chú

Mua danh mua lợi lại mua quan!

Trước mặt dạ thưa con cháu bác,

Sau lưng lút cán khỏi khuyên can!

Quân này phản phúc không xài được

Chính trị đời em đã hạ màn!

July 25, 2007

Hồ Công Tâm

Lời nói đầu: Chuyện Hoàng Duy Hùng không ngờ đã trở thành một loại truyền dài ” nhân dân tự vệ” như ngày xưa ở Sài gòn. Có người còn cất công sưu tầm và dịch sang Anh ngữ một số bài mổ xẽ về con người, bản chất và hành động của Hoàng Duy Hùng , rồi in thành sách gồm 2 ấn bản rieng rẽ: Việt ngữ và Anh Ngữ. Bản Anh Ngữ vừa phổ biến trong quần chúng vừa gửi thẳng đến biếu không cho các giới luật sư, chánh án, nghị sĩ, chánh trị gia người Mỹ ở Houston, với mmục đích giới thiệu một thứ ” đặc sản tiêu biểu ” của cộng đồng người Việt tị nạn tại vùng này…

Vấn đề Hoàng Duy Hùng dai dẳng và cứ nổi lên từng cơn dồn dập chẳng khác nào những đợt sóng ba đào cứ liên tiếp nối đuôi nhau đập vào con người HD Hùng ngày càng phũ phàng mạnh mẽ.

Đây là một hiện tượng độc nhất vô nhị.Nó chưa từng bao giờ diễn ra bất cứ nơi nào, từ xưa đến nay trong xa hội VN. Vậy, trước hiện tượng quái đản này , ta chỉ có 2 mặt để suy diễn tương phản: một , HD Hùng là tay thánh chúa hơn cả Jésus , như anh ta đã dám kiêu căng viết lếu láo trong quyển hồi ký. Hai, quả thật HD Hùng là một tên gian hùng non nớt, một tên móc túi chưa lành nghề, chưa trổ ngón lưu manh đã bị thiên hạ hè nhau hô hoán tưng bừng, báo động ầm ĩ…

Bài này của tác giả Lâm Anh Kiệt chính là một lời cảnh báo có giá trị, chúng tôi mạn phép được vô tư giới thiệu đến các giới độc giả. Mong quí vị sẽ tránh được hậu họa của sự bất tri! (DVN)

(LÂM ANH KIỆT)

Khi mới xuất hiện ồn ào trên chính trường, Luật sư Hoàng Duy Hùng, chủ tịch Phong Trào Quốc Dân Việt Nam Hành Ðộng, được coi như một lãnh tu trẻ đầy triển vọng! Nhưng sự thật như thế nào? Tại sao hành động của Hoàng Duy Hùng (HDH) chứa chất nhiều nghi vấn đáng ngại? Tại sao một số người trí thức (tiêu biểu như Luật sư Nguyễn Văn Chức, ký giả lão Thành Hồ Văn Ðồng, Luật Sư Nguyễn Ngọc Hải vv) mới đầu tràn đầy tin tưởng nơi HDH và sau đó thất vọng não nề? Tại sao đồng bào tỵ nạn tại Nam Bắc Cali có lần dành nhiều cảm mến, trong đó có người suy tôn HDH như một Tổng Thống Việt Nam tương lai (? !) mà nay, đã hoàn toàn xa lánh, bỏ rơi HDH? Tất nhiên phải có nguyên do. Nhưng nguyên do đó là gì? Phải chăng như người ta nói: “Dưới ánh sáng mặt trời không có gì bí mật cả, chỉ là vấn đề thời gian!”

Gần đây, người viết nhân đọc lá thư của Nguyễn Tam Phong đại diện Phong Trào Việt Nam Quốc Dân Hành Ðộng do Hoàng Duy Hùng làm chủ tịch gửi cho Hồng Vinh một Ủy Viên Trung Ương Ðảng CSVN với chủ trương đi đêm với CSVN ! (Lá thư do Anh Phạm Văn Thành công bố trên Diễn Ðàn Nước Việt ) rồi lại đọc lá thư quanh co chối tội của Hoàng Duy Hùng ) Trong lá thư thanh minh thanh nga của Hoàng Duy Hùng nào là HDH bí danh là Nguyễn Nhất Phong chứ không phải Nguyễn Tam Phong! (Dấu đầu lòi đuôi !) Nguyễn Tam Phong là một người khác! Nguyễn Tam Phong được HDH ủy quyền thay mặt Phong Trào viết thư trả lời Hồng Vinh chứ có phải HDH viết đâu!

Nên HDH không chịu trách nhiệm gì cả! HDH còn khoe trong lá thư HDH lên án CSVN vv. Chính cái thái độ hèn mạt chối quanh đầy tà khuất ÐI ÐÊM với CSVN khiến người viết, bất đắc dĩ phải vạch mặt HDH một lần cho tất cả!

I- HOÀNG DUY HÙNG ÔNG LÀ AI?

HDH là người con thư 6 trong gia đình 10 ngươi con. HDH sinh ngày 19 tháng 5 năm 1962 tại Phan Rang, Ninh Thuận con Ông Hoàng Văn Ðại và bà Nguyễn Thị Nhung. Cha mẹ của HDH quê quán tại Nghệ An cùng quê với Hồ Chí Minh. Năm 1975 HDH theo gia đình tị nạn tại Hoa Ky À Houston Texas . Năm 1978 HDH gia nhập chi Dòng Ðồng Công ở Carthage Missouri nhưng chỉ tu được ít năm thì bị đuổi khỏi dòng (ta hay gọi la tu xuất) vì lý do kỷ luật và thiếu Ðức Vâng Lời một đức tính căn bản của người tu sĩ là phải biết quên mình. HDH theo học ngành luật và đậu Tiến Sĩ Luật năm 1996.Về quá trình hoạt động chính trị: 1987 HDH là thành viên của Mặt Trận Việt Nam Tự Do (Tổ chức ngoại vi của Ðảng Ðại Việt của Ông Hà Thúc Ký và ông Nguyễn Văn Kim) 1990 HDH về Việt Nam hoạt động theo lệnh của ông Nguyễn Văn Kim ,1992 Hùng về nước hoạt động lần thứ 3, thì bị bắt ngay tại sân bay Tân Sơn Nhất và bị cầm tù 15 tháng. Theo ông Hoàng Ðức Khâm một đảng viên kỳ cựu của Ðảng Ðại Việt sở dĩ HDH được Cộng sản tha vì đã thành thực khai báo khiến cho CSVN bắt đến 320 đồng chí đảng Ðại Việt kẻ bị tra tấn dã man đến chết, kẻ bị tù với những bản án nặng nề từ 10. 25 và 35 năm! (trích tài liệu về “Tội ác của HDH do Ông Hoàng Ðức Khâm tố cáo) Lời tố cáo trên của ông Hoàng Ðức Khâm là có căn cứ vì chúng ta chỉ cần đọc bản quyết định, đình chỉ đều tra và xét tha HDH của Viện Kiểm Sát Nhân Dân CSVN là đủ rõ:

” Hành vi của Hoàng Duy Hùng đã phạm vào tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân “theo Ðiều 73/TG luật hình sư.. Nhưng vì xét thấy Hùng thấy được lỗi lầm của mình, biết hối cải và đã có đơn xin Nhà nước khoan hồng để được đoàn tụ với gia đình và đã được khai báo rõ ràng về tổ chức của Hùng ở trong nước và ngoài nước. Căn cứ vào khoản 1 Ðiều 48 Bộ Luật Hình Sự và chính sách nhân đạo của Nhà nước Việt Nam , xét thấy không cần thiết phải truy tố Hoàng Duy Hùng trước pháp luật”

I I- BẢ N CHẤT BẤT NHÂN, BẤT NGHĨA, LƯU MANH, HOẠT ÐẦU CHÍNH TRỊ CỦA HOÀNG DUY HÙNG:

1-HDH con người Tham Vọng Lãnh Tụ nhưng không co một chút gan dạ bản lĩnh nào cả. Không những thế HDH sẵn sàng phản bội lý tưởng Cách Mạng, phản Ðảng và anh em đồng chí chỉ vì lợi ích cá nhân.

Như trong phần lai lịch của HDH, chúng ta đã biết HDH sinh ngày 19 tháng 5 năm 1962 tại Phan Rang Ninh Thuận, còn ông bà thân sinh ra HDH quê tại Nghệ An cùng quê với Hồ Chí Minh và ngày sinh của HDH lại trùng với ngày sinh của Hồ Chí Minh cho dù khác năm và không cùng thời (tất nhiên!) nên HDH rất đắc chí là mình cũng có dòng máu huyết thống của quê hương xứ Nghệ! Từ đó HDH cũng đã nuôi mộng trở thành lãnh tụ theo gương Hồ Chí Minh từ năm 9 tuổi (Xem Hồi Ký Việt Nam Trong Trái Tim Tôi của HDH) Chúng ta lưu ý điều này, trước khi chết Hồ Chí Minh ước gì được đi thăm lại đồng bào miền Nam và có nói câu đầy tính cách mỵ dân “Miền Nam Trong Trái Tim Tôi” nay HDH cũng từ sự gợi ý của Hồ Chí Minh để viết cuốn Hồi Ký “Việt Nam Trong Trái Tim Tôi” (như vậy HDH vừa học đòi Hồ Chí Minh vừa muốn chơi bảnh hơn Hồ Chí Minh !). Trong cuốn hồi ký ly kỳ này HDH vừa chủ ý khoe khoang những cái hay cái giỏi của mình, vừa nói lên những thói hư tất xấu với dụng ý cho độc giả thấy rằng “HDH là con người “ngay thẳng, bộc trực,(không che dấu những khuyết điểm của mình) nhưng là con người dấn thân, gan da, không khuất phục trước nghịch cảnh, sẵn sàng hy sinh đời mình cho đại cuộc cách mạng! Mánh lới hay xảo thuật này, đã được Hùng khéo léo che đậy, trong đoạn văn HDH viết cho đứa con sắp chào đời, nơi trang x cuốn hồi ký như sau :

“Sau khi con đọc cuốn hồi ký này, con sẽ thấy tâm nguyện cả cuộc đời của bố, ngay khi còn thuở bé mới 9 tuổi thì muốn cống hiến toàn công sức cho quê hương Việt Nam .Ðó cũng chính là lý do tại sao Bố muốn gọi cuốn Hồi ký này là : “Việt Nam trong trái tim tôi”

“Khi con đọc cuốn hồi ký này có thể bố còn sống, có thể bố đã mất, lúc ấy có thể là 5 năm, 10 năm hay 20 năm, nhưng những dòng chữ này vẫn nguyên vẹn, không thay đổi, nóng hổi, xuất phát từ tận đáy con tim của bố, xuất phát từ tâm nguyện tôn trọng sự thật để thăng hoa con người từ đó quyết tâm làm một cuộc cách mạng chân chính cho Dân Tộc” Qua những dòng chữ đó ai mà không cho rằng HDH là con người nhiệt huyết? có lòng yêu nước, yêu công lý, một con người có chí khí ? có quyết tâm làm cách mạng thứ thiệt cứu nước cứu dân? Nhưng qua Bản Quyết định tha tội cho HDH của CSVN chúng ta thấy sự thật trái ngược lại hoàn toàn:

Năm 9 tuổi HDH đã nuôi mộng làm Lãnh Tụ: hiến toàn công sức cho quê hương! “Việt Nam Trong Trái Tim Tôi” Ðược lắm, ngon lành lắm! Mới có 9 tuổi mà đã có hoài bão trùm đời như thế thì dẫu cho Danh Nhân như Trần Quốc Toản có lẽ cũng còn kém xa!

Năm 1990 HDH bị CSVN bắt khi về tới phi trường về tội lật đổ chính quyền nhân dân có bằng chứng hẳn hòi (Năm đó HDH đã 28 tuổi tức là đã đã trải qua 21 năm rèn luyện hay ôm mộng trở thành lãnh tụ cỡ lớn) HDH lại không bị CSVN tra tấn gì cả (có chăng là bị CS hăm dọa,và chỉ bị CSVN tống giam trong khám Chí Hòa thời gian chưa đầy 15 tháng HDH đã ngoan ngoãn đầu hàng CSVN bằng cách thành khẩn hối cải tội lỗi của mình! Và đã có đơn xin nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khoan hồng … Vẫn chưa hết HDH còn khai báo rõ ràng về tổ chức của Hùng ở trong nước và ở ngoài nước ! (Xem bản xét tha của Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao CSVN đã dẫn ở trên) Hậu quả của việc khai báo rõ ràng của HDH là 320 đồng chí của HDH trong đảng Ðại Việt đã bị tra tấn thừa sống thiếu chết và bị tù mút chỉ! Như Ông Hoàng Ðức Khâm đã tố cáo. Sau này HDH có chống chế là HDH không có ông bác nào là Hoàng Ðứa Khâm cả. Ðây cũng lại là một gian ý chạy tội của HDH vì Ông Hoàng Ðức Khâm chỉ nói ông quen rất thân với người bác của HDH chứ ông có nhận mình là bác ruột hay bác họ của HDH đâu và ông Hoàng Ðức Khâm chính là Ðảng viên kỳ cựu của Ðảng Dại Việt. Ðiều này cũng đã được kiểm chứng rõ ràng.

Trong bản xét tha HDH cộng an Hà Nội dĩ nhiên không nói đến việc HDH cam kết làm công cụ làm chó săn cho CS khi được CS VN phóng thích, nhưng chúng ta biết chắc là có, vì cứ căn cứ vào lề lối làm việc của Cộng An, và của cục phản gián CS VN cũng như căn cứ vào hành vi của HDH sau khi được cộng sản tha cho về đoàn tụ với gia đình tại hải ngoại Ðiều này chúng tôi sẽ chứng minh ở phần sau.

2- HDH Bản Chất Bất Nhân Bất Nghĩa, Hoạt Ðầu Chính Trị và Lưu Manh:

A/ HDH Bất Nhân Bất Nghĩa:

* Tâm Ðịa Bất Nhân của HDH cũng đã được bộc lộ ngay trong cuốn Hồi Ký “Việt Nam Trong Trái Tim Tội” của y:

” Vài ngày trước khi tôi bỏ chuyến công tác về Việt Nam ông Kim gặp riêng tôi và nói: “Hùng em theo Anh hay theo Ông Ký?” Tôi sửng sốt không hiểu ý của ông Kim. Ông Kim nói: “Anh cả (Tức ông Ký ) càng ngày già rồi lẩm cẩm, anh ấy ganh tức khi thấy báo chí nói về anh nhiều. Khi anh ấy lẫn, anh ấy nói nhiều chuyện bất lợi cho việc chung. Ở trên Ban Chấp Hành Trung Ương không làm việc được vì sự lẩn thẩn này của anh Ký”…. Tôi Nói “Nếu Anh Ký thật sự lẩm cẩm, tính phá nát đoàn thể vì quyền lợi chung, vì những anh em ở trong nước, em (tức HDH) sẵn sàng là người mà anh sai lên Maryland tìm cách hạ sát anh ấy hầu có thể bảo vệ sự đoàn kết và thống nhất của tổ chức” – ông Kim nói: “Chuyện đó không cần thiết bây giờ , thủng thẳng để coi sức khỏe anh Ký như thế nào đã .” (Trích Hồi Ký VNTTTT của HDH trang 97) Chính vì tâm địa Bất Nhân này, nên sau này HDH trong chuyến bị CS bắt đã sẵn sàng Phản Bội lại Ðảng Ðại Việt, sẵn sàng khai báo rõ ràng để CS bắt 320 đồng chí của Ðảng Ðại Việt tại quốc nội, chúng ta không lấy gì làm lạ… vì điều này đã là bản chất của HDH.

* Bản Chất Bất Nghĩa của HDH:

Cũng trong cuốn Hồi Ký kể trên, bản chất bất nghĩa của HDH khi đối xử với người vợ cưới lần đầu là Phạm Thị Ðức Dung và gia đình nhà vợ , rồi cung cách đối xử với bà mẹ vợ cưới lần thứ hai tức mẹ của cô Bích Trâm bây giờ. Trong trang 204 cuốn Hồi Ky Hùng tự thuật: ” Trước ngày đám hỏi một tuần, tôi với Mẹ của Trâm cãi nhau. Hôm đó hai người đang nói chuyện chính trị, tôi thấy Mẹ của Trâm nói khá ngang, tôi cứ giữ lập trường của tôi: “Sao cô nói ngang quá à”! Mẹ của trâm giận lên: “cái anh này hay nhỉ, sắp làm đám hỏi đám cưới với con gái của tôi mà cứ cãi với tôi, không biết trên dưới gì hết” Tôi trả lời: “Tôi lấy là lấy con gái của cô, chớ đâu phải lấy cô! Tôi ăn đời ở kiếp là ăn đời ở kiếp với con gái của cô, chớ đâu phải với cô!..Me. của Trâm nóng lên quăng bể ly nước: “Vậy thì khỏi phải cưới và hỏi gì hết, tôi chưa bao giờ thấy một người kỳ cục như anh không biết nể nang mẹ vợ tương lai… Nhờ ông Vũ Cộng dàn xếp nên mọi việc êm xuôi và Hùng lấy được vợ như ý muốn. Hùng còn thuật thêm: “Sau ngày đám cưới, tôi vẫn hay cãi nhau với Mẹ của Trâm” (HK Tr.206)

B/ Bản Chất Hoạt Ðầu Chính Trị, Lưu Manh của HDH

(1) Với bất cứ tổ chức Ðảng Phái, Chính Trị, Văn Hóa nào HDH cũng tìm cách tham gia cho bằng được, nhưng sau đó tìm cách ngoi lên để giữ chức vụ Chu ? Tịch hay Phó Chu ? Tịch (ngôi vị thứ nhất hay thứ hai ) nếu không được như vậy là HDH tìm mọi cách ly gián, thao túng để nói xấu, chia bè kết cánh, đánh phá cá nhân lãnh tụ hay tổ chức đó hoặc tách ra kéo theo các đảng viên, đoàn viên bất mãn để thành lập tổ chức mới, do chính HDH cầm đầu.Thủ đoạn này HDH đã áp dụng trước nhất đối với Ðảng Ðại Việt và Mặt Trận Việt Nam Tự Do do Cụ Hà Thúc Ký và ông cựu Dân Biểu Nguyễn Văn Kim là những người sáng lập và lãnh đạo. Chính 2 vị này là nạn nhân đầu tiên của HDH.

(2) Lợi dụng sự bất đồng chính kiến và mâu thuẫn giữa cụ Hà Thúc Ký và ông nguyễn Văn Kim HDH tách ra lập Tổ Chức Thanh Niên Dân Chu ? Việt Nam và sau này là Phong Trào Quốc Dân Việt Nam Hành Ðộng, khiến Cụ Hà Thúc Ký phải ký văn thư khai trừ HDH, ra khỏi Ðảng Ðại Việt vì lý do kỷ luật, ( Ðó là chưa kể đến việc HDH có hành động phản Ðảng để CSVN bắt bỏ tù và hãm hại các Ðảng Viên Ðại Việt ở quốc nội như đã nói trên! Chính cụ Hà Thúc Ký và ông Nguyễn Văn Kim đều không ngờ được chuyến về Việt Nam đi công tác Ðảng vụ của HDH đã gây ra sự thiệt hại lớn lao đến như vậy đối với tổ chức Ðiảng và 2 vị này đều không ngờ được bản chất gian manh xảo quyệt của HDH!)

(3) Bắt đầu từ 1999 sau khi liên lạc được với Phạm Văn Thành biết tin Ðề Ðốc Hoàng Cơ Minh đã tử trận trong chiến dịch Ðông Tiến I I, HDH mở ngay chiến dịch đánh phá ác liệt Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam mà chúng ta quen gọi là Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, nào là mở Diễn Ðàn Cộng Luận thách thức Mặt Trận tranh luận cộng khai! Lúc đó HDH đã dùng những ngôn từ vừa hạ cấp vừa ngạo mạn đề đánh phá Mặt Trận như :Nếu không dám nhận lời tham dự Diễn Ðàn Cộng Luận do HDH tổ chức là “Chó sủa trong hàng rào” “Chó sủa Trăng” vv .Năm đó Mặt Trận ở trong thế kẹt nên không dám nhận lời thách đấu của HDH, dù bị HDH đánh phá ác độc và miệt thị một cách cay đắng đau đớn tủi nhục vô cùng! Bên Mặt Trận quả tình đau đớn lắm! Vì ngay người dân thường không là thành viên của Mặt Trận còn cảm thất bất nhẫn !Sau khi tổ chức Diễn Ðàn Cộng Luận HDH ra cả một cuốn Bạch Thư “Lột Mặt Nạ Mặt Trận” Trong các Ðảng phái tổ chức Quốc Gia tại hải ngoại chưa bao giờ có một chiến dịch đánh phá nhau một cách quy mô, ác liệt và tàn độc như HDH đã xuống tay với Mặt Trận Hoàng Cơ Minh!

(4) Tiếp theo HDH cộng tác với Phạm Văn Thành và Phạm Anh Dũng với sự tiếp tay đắc lực của bà Ðoan Trang Bắc Cali về mặt truyền thông đứng ra quên góp được 100 ngàn U.SÐ để tổ chức một Thiên An Môn thứ hai, lăn Bánh Xe Lịch Sử .. Ðồng bào chờ mãi không thấy bánh xe Lịch Sử, nhúc nhích một ly nào… Cuối cùng HDH đổ lỗi hết cho Phạm Va (n Thành, còn mình thì lên đài phát thanh thông báo một cách kẻ cả “Ai đóng góp bao nhiêu xin cứ gửi về cho HDH, sẽ xin thanh toán hết cả vốn lẫn lời 10%” Ngon chưa ? Nhưng mặt trái của HDH mới thật là ly kỳ!

(5) Sau khi đánh phá ác liệt Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, năm 2001 HDH thừa thắng xông lên, mở chiến dịch thứ hai ác liệt và dai dẳng hơn chiến dịch trước để nhằm khai tử Chính Phủ Việt Nam Tự Do và Ðảng Dân Tộc Việt Nam đồng thời nhằm giết chết “sinh mạng chính trị” của ông Nguyễn Hữu Chánh ! HDH lợi dụng nhóm 7 người ly khai tổ chức Chính Phủ Việt Nam Tự Do (Goi là nhóm ly khai HDH đặt tên là nhóm sự thật ) đứng ra tố cáo ông Nguyễn Hữu Chánh về rất nhiều tội quy về 4 tội danh chính:

1/ Lường gạt tiền của ông Châu Trương

2/ Lường gạt Tình bà Teresa Nguyễn

3/ Tội Bán Bon

4/ Tố cáo ông Nguyễn Hữu Chánh là gián điệp CS ! HDH cứ tưởng bở quen thách thức “Ðối Phương” đối chất công khai tai Diễn Ðàn Cộng Luận! HDH tưởng là phía bên Ông Nguyễn Hữu Chánh cũng tránh né, không dám nhận lời như kiểu Mặt Trận Hoàng Cơ Minh.! Nào ngờ bên Ông Nguyễn Hữu Chánh không những không tránh né, mà còn thách thức ngược lại, mời HDH và Nhóm Sự Thật đến dự Diễn Dàn Cộng Luận vào ngày 24-6-2001 tại Nam Cali để đôi bên đối chất công khai cho rõ trắng đen. Kết quả trong buổi Diễn Ðàn Cộng Luận bên HDH đã không đưa ra được một nhân chứng vật chứng nào vì các nhân chứng mà bên HDH và nhóm Sự Thật nêu tên lại hoàn toàn đứng về phía ông Chánh thì còn tranh luận, chứng minh nỗi gì ?!Phe HDH và Nhóm Sự Thật lúc này hoàn toàn ú ơ! . Riêng việc tố cáo ông Nguyễn Hữu Chánh là tay sai CS chỉ căn cứ vào một bài báo của một thiếu tá tên Mark A. Smith trên mục góp ý của tờ Bangkoch Post Thái Lan mà HDH quả quyết là một nhân vật rất quan trọng trong ngành tình báo Hoa Kỳ, thì ông NHC đã lên phản bác lại là Mark A. Smith một tên thiếu tá “bá vơ nào đó” (Chữ dùng của Ông NHC) Ông NHC hỏi HDH và Hội Trường: Có khi nào người làm Tình Báo của CIA Hoa Kỳ mà lại nhận mình làm tình báo và nói cho HDH biết mình là tình báo bao giờ?? Ngay một nguyên tắc căn bản đó mà HDH cũng không biết, thì còn đi tố cáo ai? Cả Hội trường cười ồ và vỗ tay không ngớt! Và Sự tố cáo đó có giá trị gì? Sau cùng HDH chỉ vin vào sự xô xát nhẹ tranh giành Micro để hô hoán lên là bên Ông NHC chủ trương “bạo động” để lấy cớ “chém vè chạy làng rút lui cho đỡ nhục!”

(6) Trở lại Việc HDH hợp tác với Phạm Văn Thành Phạm Anh Dũng quyên góp 100 ngàn đồng để đẩy bánh xe lịch sử .Việc chi tiêu tài chánh ra sao tới nay, lỗi phải về ai đồng bào vẫn mù tịt ! Chỉ biết rằng HDH đã vu cáo Phạm Văn Thành và Nhóm Tiên Long là hợp tác với Việt Cộng ! Phạm Văn Thành đã bị vu cáo trắng trợn ! Tệ hơn nữa là HDH đã chơi đòn bẩn là trong khi PVT sang Hoa Kỳ hoạt động thân thiết với HDH , thì HDH đã nói với bà xã PVT trong khi bà này đang “có bầu” là ” PVT sang Hoa Kỳ để chuẩn bị cưới con gái Bà Ðoan Trang nhằm lập gia đình thứ hai bên Mỹ!” Trời ơi là trời! Ðạo Ðức của người Làm Cách Mạng của Lãnh Tụ HDH một người tình nguyện hiến dâng công sức mình cho Quê Hương là như thế đó! Ông Lý Phán Sự đã Phê một câu chí lý : ” cuốn Hồi Ký của HDH phải đổi lại là “Việt Nam Ngoài Trái Tim Tôi” HDH luôn luôn đâm sau lưng chiến sĩ! HDH không từ nan một thủ đoạn lưu manh, bỉ ổi và độc ác nào để đánh phá bạn bè và các tổ chức Quốc Gia chống Cộng để cho HDH được lợi và nổi tiếng! Và đây cũng mới chỉ là một mục tiêu của HDH muốn đạt tới mà thôi.

(7) Tới đây chúng ta có thể nhìn lại toàn bộ những việc làm của HDH từ việc đánh phá, phản bội Ðảng Ðại Việt, phản bội Lãnh Tụ của HDH là Cụ Hà Thúc Ký, Ông Nguyễn Văn Kim, đến việc đánh phá Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, Tổ Chức Chính Phủ VNTD. Ðảng Dân Tộc Việt Nam của ông Nguyễn Hữu Chánh đến việc vu cáo Phạm Văn Thành và Nhóm Tiên Long ! Tất cả các việc làm ác độc ấy của HDH nhằm các mục đích gì? Sau khi ôn lại như vậy tuy hơi mất thì giờ nhưng chúng ta đã nhận rõ 4 mục đích sau đây của HDH:
Một Là: Ðánh Phá Người Khác, Tổ Chức khác để HDH được nổi tiếng là gan dạ là Anh Hùng.

Hai Là: Có Ðánh Phá các cá nhân và các tổ chức chống Cộng nói trên, HDH mới Lập cộng được với CSVN như lời HDH đã cam kết với Công An CS khi HDH được chúng thả ra khỏi Khám Chí Hòa Sài Gòn.

Ba Là: Mỗi lần đánh phá các cá nhân và các tổ chức chống Cộng, HDH đều nhận được tiền của CSVN. Chúng ta nên nhớ trong năm 2000 HDH đã tuyên bố đóng cửa văn phòng luật sư để có toàn thời đi làm cách mạng, làm lãnh tụ! Vậy HDH lấy tiền đâu để mở các chiến dịch quy mô trên báo chí, trên các đài phát thanh tại Nam Bắc Cali, nhất là Nam Cali, mở diễn đàn công luận và ra liên tiếp ra 2 cuốn bạch thư đánh Mặt Trận Hoàng Cơ Minh và Tổ Chức Chính Phủ Việt Nam Tự Do của Nguyễn Hữu Chánh? Vậy HDH lấy tiền đâu ra để làm các cộng việc này? Hỏi tức là trả lời rồi vậy!

Bốn là: Sau khi đánh phá khắp mặt các cá nhân và tổ chức có thực lực chống cộng tại hải ngoại, HDH còn nhằm một mục đích quan trọng nhất là triệt tiêu tất cả các lực lượng chống cộng hải ngoại để chỉ còn Phong Trào Quốc Dân Việt Nam Hành Ðộng của HDH có khả năng “thống nhất quần hùng”, “đi đêm” và đóng vai “Ðối lập Cuội” với CSVN. Ðây mới là chiến lược nham hiểm nhất, gian manh nhất của HDH mà ít người đề cập tới hay nhận ra.

I I I- HÀNH ÐỘNG TÀ KHUẤT ÐI ÐÊM VỚI CSVN CỦA HOÀNG DUY HÙNG:

Gần đây nhất Ông Phạm văn Thành đã cho công bố lá thư của Nguyễn Tam Phong đại diện Phong Trào Quốc Dân Việt Nam Hành Ðộng mà HDH là Chủ Tịch Phong Trào, gửi cho Hồng Vinh cán bộ Trung Ương gộc của CSVN với chủ trương đi đêm với CSVN. Chúng tôi đánh giá rất cao tầm quan trọng của việc cộng bố lá thư này của ông Phạm Văn Thành trên mạng lưới truyền thông toàn cầu! Việc công bố lá thư này tuy muộn, nhưng nó phơi bầy bộ mặt thực ‘ÐI ÐÊM VỚI CS CỦA HOÀNG DUY HÙNG” mà bấy lâu HDH cứ nhân danh chống cộng, để hết chụp mũ cá nhân, tổ chức này, đến các cá nhân và tổ chức khác là tay sai CS là “Hòa Hợp Hòa giải” với CS Nay chính lá thư này, đã là một bằng cớ hùng hồn chứng minh HDH luôn chủ trương đi đêm với CSVN. Trước việc “Bật mí” trên của ông Phạm Văn Thành, HDH đã tỏ ra rất bối rối, vì hắn không ngờ là do đâu mà PVT lại có nguyên văn lá thư nói trên!

HDH đã ra sức biện minh là bí danh HDH là Nguyễn Nhất Phong, còn Nguyễn Tam Phong là một người khác được Phong Trào Quốc Dân Việt Nam Hành Ðộng ủy quyền viết thư giao dịch Hồng Vinh, đại diện bên Ðảng CSVN! Nên HDH không chịu trách nhiệm! Thật là lối lý luận ngớ ngẩn, hèn nhát, nếu không muốn nói là ấu trĩ! HDH không thể nào chối trách nhiệm về lá thư đi đêm với CSVN được, vì chính HDH là chủ tịch Phong Trào Quốc Dân Việt Nam Hành Ðộng cơ mà! Cho dù chính HDH là tác giả bức thư, rồi ký tên dưới bí danh Nguyễn Tam Phong (Ai biết được chuyện ma ăn cỗ ! còn ai trồng khoai đất này?) hay người viết lá thư quả thực là Nguyễn Tam Phong hoặc bất cứ người nào khác chăng nữa, HDH vẫn phải chịu hoàn toàn trách nhiệm như thường!

Theo Nguyễn Tam Phong thì sở dĩ có lá thư hồi âm này là vì Hồng Vinh, ỦyViên Trung Ương Ðảng CSVN, người đứng đầu cơ quan tuyên truyền của Ðảng là Trưởng Ban Biện Tập Báo Nhân Dân đã gửi 1 tấm thiệp cho HDH qua một người trung gian ở Dallas Texas , nguyên văn như sau: ” Chúng tôi mong Anh (Tức HDH) và gia đình về thăm quê hương ta đổi mới. Tôi là Hồng Vinh”. Vấn đề đặt ra là: Ai là người trung gian tại Dallas Texas nhận thiệp của Hồng Vinh trao đến tay HDH? Và tại sao tại hải ngoại có bao nhiêu Cộng Ðồng, Hội Ðoàn Ðoàn Thể Ðảng Phái, cùng bao nhiêu cơ quan truyền thông, mà không ai nhận được thiếp mời của CS cả ngoại trừ HDH và Phong Trào Quốc Dân Việt Nam Hành Ðộng là tại sao??? nguyên do tại sao Hồng Vinh một tên cán bộ gộc CS lại gửi thiệp cho HDH “mời Anh và gia đình về thăm quê hương ta đổi mới”?

Trong đoạn cuối bức thư trả lời Hồng Vinh của Nguyễn Tam Phong có nói “Trong cuộc chiến nào cũng có sứ giả, nếu chế độ không thành thực sắp xếp một chương trình gặp Ông Nhất Phong (Tức HDH) ở Hải Ngoại thì việc trở về nước của ông Nhất Phong chỉ là hà hơi tiếp sức cho chế độ độc tài mà thôi”!

Tóm lại bên CSVN qua tấm Thiệp của Hồng Vinh đích danh mời HDH (tức Nguyễn Nhất Phong ) về gặp nhau tại trong nước dưới “ngụy thức về thăm quê hương ta đổi mới”. Còn Bên Hoàng Duy Hùng thì yêu cầu CSVN cử một sứ giả ra nước ngoài gặp gỡ HDH để đôi bên cùng bàn bạc giải quyết vấn đề Việt Nam một cách êm thấm ? ít tốn kém nhất? Dù gặp nhau tại trong nước hay ngoài nước thì cũng đều là hình thức đi đêm với Cộng Sản cả! Chính đây là chân tướng của HDH! Ðiều này HDH còn chối cãi được không? Nếu đã là như vậy, thì HDH lấy danh nghĩa gì, để lên án người này người kia là Hòa Hợp Hòa Giải với CS?? Việc đi đêm với CSVN của HDH đại diện Phong Trào Quốc Dân Việt Nam Hành Ðộng có phải là một hình thức thỏa hiệp, hòa hợp hòa giải với CSVN hay không?? Người trong cuộc còn cho biết thêm thời gian này HDH tức Nhất Phong hồ hởi lắm!

IV HOÀNG DUY HÙNG BON CHEN VÀO TRUNG TÂM VĂN BÚT HẢI NGOẠI LÀM CHỦ TỊCH VIỄN CƯ TRUNG TÂM VĂN BÚT GEORGIA VỚI Ý ÐỒ GÌ ÐÂY?

Tục ngữ Việt Nam có câu: “làm gái 8 phương cũng chừa một phương lấy chồng” ! Ðằng này HDH chơi với ai rồi cũng phản bội người ấy, tham gia vào tổ chức nào là thao túng tổ chúc ấy, để tranh giành địa vị lãnh đạo! Nếu không đạt được mục đích là trở mặt “quấy hôi bôi nhọ, và phá nát tổ chức đó ngay! Ngoài ra HDH còn âm mưu đánh phá khắp lượt các tổ chúc có thực lực chống cộng tại Hải Ngoại để lập công Dâng Ðảng để độc quyền đóng vai “Ðối lập Cuội” với CSVN sau này. Có điều thiên bất dung gian, khi HDH ra sức đánh phá, khai tử các tổ chức kia, mà kết quả họ không chết lại mạnh hơn trước nhiều còn HDH thì thân bại danh liệt ! Phong Trào Quốc Dân Việt Nam Hành Ðộng nay 3/4 đoàn viên đã thấy rõ bộ mặt của lãnh tụ HDH nên đã công khai hoặc âm thầm rút tên ra khỏi tổ chúc! Phong Trào của HDH nay teo lại như tấm da lừa! Và chỉ còn là “Phong Trào Quốc Dân Việt Nam Không Hành Ðộng” hay nói đúng hơn là bại xụi chờ chết, âm thầm chết! HDH tới nay không còn chỗ đứng nào trong các tổ chúc chính trị Hải Ngoại. Ðể gỡ thế bí và đỡ mất mặt với bà con, HDH nhờ vợ chồng Nguyễn Hữu Nghĩa – Nguyên Hương cũng như nhờ cố vấn của ông chú vợ một cựu Dân Biểu nay đã qua đời vận động cho HDH được làm Chủ Tịch “Viễn Cư”TTVB Georgia! Thật là ly kỳ và cũng thật là khôi hài HDH định cư tại Houston Texas mà lại làm Chủ Tịch Văn Bút Trung Tâm Georgia ! và đưa ra danh xưng kỳ khôi nhất chưa từng có trong lịch sử Văn Bút Việt Nam và có lẽ cả thế giới nữa! là chức “chủ tịch Viễn Cư” ! Cứ hàng tháng hay 3 tháng một, ông Chủ Tịch đi máy bay đến Geogia để chủ tọa phiên họp rồi về “đến hẹn lại lên”! hay là ta đổi lại là ” Chủ Tịch Remote- Control” cho tiện việc sổ sách! Ðã có ” Chủ Tịch Viễn Cư ” thì cũng có ” Chủ Tịch Viễn Khiễn” chứ sao ! (Vui thiệt) – Không lẽ Trung Tâm Văn Bút Geogia hết nhân tài rồi sao? lại bầu HDH một người có cuốn hồi ký bất hủ “Việt Nam Ngoài Trái Tim Tôi” làm ” Chủ Tịch Viễn Cư” của trung tâm? Với tác phẩm đó thì làm Chủ Tịch Viễn Cư của TTVB Geogia là nhất rồi! Vinh danh cho cả hai! Cả hai Xinh cùng xinh!

Nhưng có điều chắc chắn là HDH không dừng lại ở đây! Với hoài bão làm lãnh tụ noi gương theo Hồ Chí Minh và còn nuôi mộng hơn cả Hồ Chí Minh nữa thì chức chủ tịch viễn cư của TTVB Geogia xem ra còn bé nhỏ lắm, có thấm vào đâu với tài trí của HDH?! Con đường danh vọng của lãnh tụ HDH tất nhiên còn phải thênh thang và lên cao hơn nữa, hơn nhiều nữa kia! Ðây chẳng qua chỉ là mượn đỡ thuyền để qua sông đó thôi! Ðiều HDH nhắm tới phải là chức Chu ? Tịch Văn Bút Hải Ngoại liên tiếp 2.3 nhiệm kỳ mới thỏa sức cho HDH đi đêm với CSVN.!

Xem Nhân biết Quả, xét quá khứ thì đoán được tương lai! Với Bản chất bất nhân phản phúc lưu manh nham hiểm của HDH thì việc lưu HDH trong chức chủ tịch Viễn Cư TTVB Georgia là “nuôi ong tay áo” “dưỡng hổ di họa” đó !Người viết cũng rất tin vào sự sáng suốt của các Hội Viên Văn Bút Hải Ngoại không mấy ai tín nhiệm bỏ phiếu cho HDH chiếm chức Chủ Tịch Văn Bút Hải Ngoại đâu! Nhưng khi tham vọng của HDH không đạt được, tất nhiên HDH có thừa thủ đoạn để lôi kéo một số Hội Viên Văn Bút Hải Ngoại tạo tình trạng phân hóa Văn Hút Hải Ngoại một lần thứ 2, như đã có lần xẩy ra trong quá khứ ! Ðó là điều người viết xin cảnh giác với tất cả những ai còn lưu tâm đến tiền đồ của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại! “Của Tin còn một chút này! Chẳng cầm cho vững lại dày cho tan” (Kiều) Hơn nữa một người có âm mưu đánh phá các cá nhân và các Hội Ðoàn Chống Cộng Hải Ngoại, lại chủ trương đi đêm bắt tay với CSVN như HDH thì người đó có xứng đáng là một “thành viên thường” trong Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại hay không? chứ đừng nói đến chức vị Chủ Tịch của một Trung Tâm hay Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại?

Tạm Kết Luận:

Trong cuộc đấu tranh giải thể chế độ CSVN hiện nay, chúng ta phải chấp nhận nhiều ý kiến dị biệt, nhiều phương thức chống cộng khác nhau, miễn là thuộc các Hội Ðoàn Quốc Gia Dân Tộc chân chính để có sự bao dung đoàn kết, phải đối xử với nhau cho tử tế, không thể cực đoan quá khích một chiều .Tuy nhiên chúng ta phải hết sức cảnh giác và có thái độ vạch mặt chỉ tên những thành phần bất nhân bất nghĩa lưu manh không đem công sức mình ra chống cộng mà chỉ âm mưu chống- Cộng- Ðồng và Chống- Người- Chống- Cộng, chuyên đâm sau lưng chiến sĩ như Hoàng Duy Hùng, làm công cụ cho Cộng Sản hay chủ trương đi đêm bắt tay với CSVN mà HDH là con chiên ghẻ điển hình, tiêu biểu nhất./.

LÂM ANH KIỆT

http://www.hon-viet.co.uk/LamAnhKiet_BanChatHanhDongCuaHoangDuyHung.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Thảm sát Mậu Thân: Ai là kẻ chủ mưu gây tội ác

Posted by tudodanchu trên Tháng Tám 28, 2008

Hồ tặc là kẻ chủ mưu gây thảm sát M��u Thân 1968

 

Hồ tặc là kẻ chủ mưu gây thảm sát Mậu Thân 1968

Thảm sát Mậu Thân: Ai là kẻ chủ mưu gây tội ác

» Tác giả: Hoàng Sơn

Kẻ cướp có luật lệ của kẻ cướp và chiến tranh cũng thế, tuy nó là bữa tiệc xương máu tàn khốc, nhưng nó cũng đặt ra một thứ luật lệ riêng của nó. Chẳng hạn như trong thế chiến thứ nhất, người ta qui định sau mỗi trận đánh, tổ chức hồng thập tự sẽ giương cờ trắng yêu cầu hai bên ngừng bắn, để họ thu dọn chiến trường, cứu chữa cho những người bị thương, đó là luật lệ của chiến tranh thể hiện tính nhân đạo thuần tuý.

Luật lệ chiến tranh còn qui định các bên tham chiến, tránh giao tranh ở nơi có đông dân cư sinh sống, cấm được giết hại thường dân trong mọi trường hợp. Cấm huy động phụ nữ có thai tham gia quân đội hoặc trực tiếp cầm súng.Cấm huy động trẻ em dưới 16 tuổi tham gia chiến tranh. Tôn trọng ngừng bắn khi có sự thoả thuận ngừng bắn giữa hai bên tham chiến vv…

Nhưng khi nói đến chiến tranh Việt Nam, người ta liên tưởng đến sự tàn bạo không khoan nhượng, một mất một còn giữa hai kẻ đối địch nhau, không có một thứ luật lệ nào được áp dụng cho cuộc chiến ? không có hai chữ “nhân đạo” dành cho phía bên kia trong chiến tranh, mà họ tìm mọi cách mọi thủ đoạn để giành chiến thắng. Đó là suy nghĩ và học thuyết của những kẻ bạo tàn mất hết tính người trong việc tiến hành cuộc chiến tranh bẩn thỉu tại Việt Nam cách đây hơn 40 năm về trước.

Những kẻ chủ mưu trong cuộc chiến tranh đã tận dụng mọi thủ đoạn và cơ hội bẩn thỉu nhất, đê tiện nhất để đoạt được phần thắng. Mà điển hình là biến cố Mậu Thân cách đây tròn 40 năm, còn theo cách tuyên truyền của kẻ gây chiến, thủ phạm gây lên tội ác đó mà chúng đặt cho cái tên mỹ miều là cuộc “Tổng tiến công tết Mậu Thân lịch sử”.

Phải, sự kiện tết Mậu Thân sẽ đi vào lịch sử dân tộc không phải là niềm tự hào chống quân xâm lược như CSVN đã từng rêu rao, mà nó như một vết nhơ, một nỗi đau không thể xoá nhoà về tội ác giết hại chính đồng bào mình mà thủ phạm không ai khác chính là đảng CSVN gây ra. Không những vậy rồi đây CSVN sẽ phải trả lời trước toà án LaHay về tội ác đã gây lên tại Huế năm 1968, như một tội ác chống lại loài người.

Bốn mươi năm đã qua đi. Nhưng dấu tích của tội ác thì lịch sử không thể nào xoá lấp được, kí ức hãi hùng về những vụ thảm sát, những bức ảnh, những nhân chứng là một bằng chứng không thể chối cãi.

Hình ảnh những người dân vô tội bị hành quyết một cách man rợ đã cho ta thấy bộ mặt ghê tởm của loài ác thú đội lốt cộng sản. Những trẻ em vô tội, những ngưòi già, phụ nữ bị giết hại maĩ mãi là một bằng chứng không thể chối cãi cho một tội ác trời không dung đất không tha. Chúng đã không từ thủ đoạn dã man nào để gíêt hại những người dân tay không tấc sắt, bằng những hình thức giết người dã man nhất, trói họ bằng dây kẽm gai, giết họ bằng cách dùng cuốc, báng súng đập vào đầu vỡ so nạn nhân, dí sát súng bắn vào đầu nạn nhân để hành quyết dã cho thấy mức độ ghê tởm của cuộc thảm sát đó vv.. .

Mười chín (19) hố chôn tập thể…Hố ít nhất năm bảy người, hố nhiều nhất lên tới gần ngàn người. Tất cả là 5.800 bộ hài cốt được tìm thấy với đủ các chứng tích về nhân thân, từ bộ quần áo cho tới những dụng cụ cá nhân, từ bức thư của cha cố cho tới những kỷ vật lứa đôi, những cặp sách, những đôi dép…của cụ già cho tới những em bé. Từ những người phụ nữ(chắc chắn có những người có thai) cho đén những em học sinh, sinh viên tuổi đời con trong trắng đã là nạn nhân trong ngày mùng 1 tết bi thương đen tối đó.

Cho đến nay con số những người bị chết và mất tích là bao nhiêu? Chưa có ai chính thức công bố.

Với những lời kể của các nhân chứng sau 40 năm, đã tái hiện cho chúng ta thấy một bức tranh khủng khiếp nhất về tội ác.Máu lửa ngập tràn… bầu không khí tang thương giết chóc bao trùm lên cố đô trong 26 ngày nằm trong tay những kẻ mệnh danh “cứu nước”! Ra thế họ cứu nước là thế này đây! Từng bầy từng đoàn người được phân tách do danh sách của những cán bộ “cứu nước”nằm vùng lập lên để phân loại. Ai là Việt gian phản động có nợ máu với cách mạng, sẽ được đưa ra xét xử và được cách mạng cách cho cái mạng luôn tại nơi xét xử. Ai là kẻ có quan hệ làm việc với nguỵ quyền được tập trung để nghe huấn thị, rồi đưa đi học tập cải tạo rồi đi luôn …mãi không về.

Cái thảm trạng và không khí khủng bố bắt bớ bao trùm lên một cố đô nghiêm tráng.Những tiếng la hét… những tiếng van xin kêu cứu..như cứa vào lòng chúng ta. Những tiếng nổ chát chúa vang lên từng ngõ xóm, từng nhà thờ chua chiền vv..Đâu đâu cũng ngập tràn sinh khí chết chóc.

Nhất là những cha đạo và tầng lớp giáo dân, thành phần “thuốc phiện” mà chúng ghét nhất, là nạn nhân chính chiếm số lượng nhiều nhất của vụ thảm sát Huế năm xưa. Tuy là lớp hậu sinh, còn nhỏ khi xảy ra biến cố Mậu Thân, nhưng người viết bài này đã từng được nghe những dũng sĩ “diệt Mỹ” khi đó kể lại thành tích của bộ đội mình (trong đó có mặt người kể) trong cuộc tổng tiến công tết Mậu Thân. Sau khi chiếm được thành phố và thực hiện việc bắt bớ bắn giết tàn sát dân lành, chúng xông vào các nhà thờ chùa chiền, nơi những người dân đang chạy trốn trong đó. Chúng đã dã man hãm hiếp tập thể một phụ nữ trong nhà thờ Phú Cam, Phú Bài gì đó. Chúng hãm hiếp chị cho đến chết, chưa dừng lại ở đó hắn còn say sưa kể đã dùng lưỡi lê đâm và khoét cửa mình chị, xẻo đầu vú chị một cách lạnh lùng ghê rợn…. Trước khi rút đi chúng còn không quên gài một quả “mỏ vịt” đã tháo chốt rồi găm dưới bụng chị, với âm mưu ghê tởm nhằm xoá sách dấu vết tội ác chúng gây ra .Thật là khủng khiếp! Tội ác chất chồng tội ác! Chính một số người đi bộ đội thời đó đã kể cho tôi, họ được lệnh cấp trên hạ sát triệt hạ cả một thôn ấp, khi người dân không chịu đi theo bộ đội bắc Việt, mà còn có ý định chạy theo quân “nguỵ”.

Vậy ai! Ai là kẻ chịu trách nhiệm chính về tội ác này??? Có những người do không suy xét nhìn nhận thấu đáo, hay vô tình bào chưã cho tội ác, cho rằng đây không phải là lỗi cố ý, không phải là chủ trương của bọn đầu sỏ Hà Nội, rằng do tình thế bức bách phải giữ bí mật lên cấp dưới đã tự ý gây ra thảm trạng này!vv và vv.

Xin thưa! Không có một lời biện minh nào cho thủ phạm khi mà chúng ta đi sâu vào xem xét caí nguồn gốc tội ác nó bắt nguồn từ đâu!

Chúng ta, những người Việt Nam ai cũng biết, sự thiêng liêng trang trọng của mọi người, mọi gia đình VN đối với ngày tết cổ truyền dân tộc. Trong những ngày đó, mọi người dù đi đâu làm gì?dù vất vả giàu nghèo, dù còn nhiều bất đồng mâu thuẫn, không bằng lòng nhau trong cuộc sống hàng ngày, thậm chí trong các cuộc chiến tranh dẫu cho có khốc liệt đến bao nhiêu, chưa một kẻ bạo tàn nào cho dù đó là ai. Hitle cũng còn phải ngưng chiến (để nhân dân và quân sĩ hai bên tận hưởng ngày lễ Noen trong trận chiến vòng cung Kuoc-So- Stalingrát)

Vượt lên trên tất cả mọi vấn đề còn đang tạm thời ngổn ngang bề bộn, để hướng về ngày tết cổ truyền thiêng liêng đó cho dù là ai đi chăng nữa, cũng không nỡ nói nặng lời với nhau trong ba ngày tết, nhất là ngày mùng một đầu năm mới thiêng liêng. Vậy mà có một người cùng với một nhóm cộng sự của ông ta, dã bất chấp tất cả đạo lý, bất chấp tất cả tính người và luật lệ của chiến tranh, để dắt tay nhau đi vào lịch sử của dân tộc như những tên tội đồ dã man nhất! Người đó chính là ông Hồ Chí Minh!

Có ai ngờ lời chúc đầu năm mới của ông ta gửi tới đồng bào cả nước (trong đó có đồng bào MN), lại là hiệu lệnh của tên đồ tể ra lệnh khai hoả… bắn ..giết….dã man chính những người ông ta vừa chúc tết xong… những người mà trước đó chưa đầy năm phút ông ta còn gọi là ĐỒNG BÀO*. Có ai ngờ sau đó hàng ngàn đồng bào trong “traí tim” ông ta, đã bị ông ta cướp đi mạng sống một cách oan khuất, đau thương nhất.

Bất kỳ kẻ nào cho dù không trực tiếp nhúng tay vào tội ác, nhưng tội ác gây ra vào thời kẻ đó đang đứng đầu bộ máy chiến tranh thì kẻ đó phải chịu trách nhiệm. Huống hồ ông ta là người trực tiếp phát lệnh, thì không có lời biện minh nào cho tội ác mà ông ta đã gây lên. Kẻ chịu trách nhiệm chính trong vu thảm sát Mậu Thân ở Huế năm 1968 không ai khác chính là ông ta. Tên của ông ta sẽ được nêu đích danh và đứng đầu trong danh sách những tên đồ tể đã giết hại gần 6 nghìn đồng bào Huế.

Những chứng lý và suy cho cùng nguồn gốc nảy sinh ra thảm hoạ đó, là do chính ông ta là người phát động và phải chịu trách nhiệm. Ông ta không xứng đáng với tên gọi Nguyễn Ái Quốc mà lịch sử phải cải tên cho ông ta là Nguyễn Sát Quốc, cho đúng với tội danh của ông ta thì đúng hơn.

Cho đến nay con số những người bị chết và mất tích trong vụ thảm sát Mậu Thân là bao nhiêu? Chưa có ai chính thức công bố? Cho đến nay, sau tròn 40 năm vụ thảm sát kinh hoàng, vẫn chỉ là những bức ảnh, vẫn chỉ là những bài báo lên án hành động tội ác đó. Chỉ còn lại rất ít nhân chứng sống bằng da bằng thịt, chứng kiến sự kiện Mậu Thân bi thảm. Thử hỏi sau mười mười lăm năm nữa, những nhân chứng mất đi sẽ ra sao nếu chúng ta đưa lũ khát máu ra ánh sáng nhân loại.

Cho đến nay những nạn nhân của tội ác đó vẫn đang phải ngậm ngùi nơi chín suối. Chưa một ai, chưa một tổ chức nào kể cả chính phủ Việt nam cộng hoà xưa kia, phải có trách nhiệm tố cáo tội ác này trước toàn thế giới, phải có trách nhiệm đưa vụ thảm sát này ra trước toà án LaHay, nhưng họ đã không làm được việc đó và ngày nay, những người Việt có lương tri, những tổ chức đân chủ hải ngoại và những người thân của họ cũng không làm được việc đó! Những việc đáng ra họ phải làm, họ phải thay mặt những người dân vô tội bị chết oan khuất nói lên tiếng nói đau thương, gióng lên hồi chuông kêu gọi toàn thể nhân loại biết đến sự kiện đau lòng đó như một tội ác không thể tha thứ!

Táng tận lương tâm và bỉ ổi hơn nữa, những kẻ gây lên vụ thảm sát Mậu Thân năm xưa đã không hề tỏ ra ăn năn hối lỗi, không hề thấy lương tâm cắn dứt. Nay vẫn khua chiêng gõ trống rầm rĩ, dựng dậy cái kỷ niệm dã man năm xưa, như một chiến công oai hùng nhằm lấp liếm xóa nhoà tội ác. Chúng đã xúc phạm những nạn nhân đã bị giết hại, chúng đã xúc phạm thân nhân họ, những người đang sống và lương tri tiến bộ trên thế giới.

Chúng đã cố tình che giấu sự thật nghiệt ngã đó. Nhưng còn những người lính bắc Việt năm xưa đã theo lệnh của chỉ huy, sả súng bắn vào những người dân vô tội họ nghĩ gì đây? Họ không ân hận và đau xót, lương tâm họ không day dứt hay sao?

Tội ác không thể nào bôi xoá, mong các anh hãy tỉnh ngộ, dũng cảm nhận lỗi trước lịch sử, trước nhân dân, cho lòng mình thanh thản. Suy cho cùng các anh cũng chỉ là nạn nhân cho một cuộc chiến huyng đệ tương tàn bẩn thỉu do những cái đầu bệnh hoạn hiếu chiến ở Ba Đình là chủ mưu gây ra. Đồng thời trong mỗi chúng ta phải ghi xương khắc cốt tôị ác này, cũng như có trách nhiệm tố cáo tội ác này trước dư luận thế giới bằng những hành động cụ thể. Nhắc nhở con cháu chúng ta không quên tội ác này, coi nó như dấu tích của tội ác, để mãi mãi tránh không bao giờ tội ác được diễn ra trên mảnh đất Việt Nam thân yêu của chúng ta.

Nhân đây tôi được biết nhân kỳ niệm 40 năm cuộc thảm sát Mậu Thân, đồng bào hải ngoại ở nhiều nơi trên thế giới đã tổ chức kỷ niệm, lên án tội ác dã man của đảng CSVN. Cộng đồng hải ngoại ở Huston đã thành lập một uỷ ban để tổ chức kỷ niệm. Nhưng việc lập lên một uỷ ban không phải chỉ để duy nhất mục đích tổ chức kỳ niệm, mà phải làm sao phải lập lên một uỷ ban có chức năng và nhiệm vụ rộng hơn là thu thập và điều tra tội ác thảm sát Mậu Thân nhằm mục đích đưa vụ án ra trước toà án LaHay để kiện CSVN tội ác diệt chủng chống lại loài người, như Satdan Hutsein đã từng phạm tội thảm sát người Kuts ở miền bắc I Rắc, bị toà án xét xử cách đây hơn 1 năm.

Hôm nay! Nhân sự kiện 40 năm, xảy cuộc thảm sát Mậu Thân! Trước giờ phút giao thừa thiêng liêng, tôi xin đề nghị mọi người Việt Nam đang sống ở bất kỳ đâu trên thế giới, không phân biệt thành phần, giai cấp, không hận thù, hãy cùng nhau thắp một nén nhang tưởng nhớ vong linh những người đã khuất! Xin hãy dành một phút mặc niệm để tưởng nhớ đến những người xấu số, những người dân vô tội, nhưng cụ già, trẻ em, phụ nữ và những người bạn không may của chúng ta trong vụ thảm sát tết Mậu Thân…….!!

Việt Nam – Ngày 3/2/2008

*Có lẽ đây là trường hợp duy nhất trên thế giới cho tới nay về sự tráo trở lật lọng và bạo tàn như vậy! Xin hãy ghi lại sự kiện hy hữu này làm đề tài độc nhất vô nhi này vào cuốn Ghi-né!.

2008-02-08 11:58:14

http://www.vantuyen.net/index.php?view=story&subjectid=20912

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

VĂN-HOÁ-LỪA-GẠT CỦA TRUNG-CỘNG

Posted by tudodanchu trên Tháng Tám 28, 2008

Cờ Trung Cộng lộn ngược

Cờ Trung Cộng lộn ngược

Cờ Trung Cộng lộn ngược

Cờ Trung Cộng lộn ngược

Cờ Trung Cộng lộn ngược

 

Cờ Trung Cộng lộn ngược

VĂN-HOÁ-LỪA-GẠT CỦA TRUNG-CỘNG

» Tác giả: Thủy Triều

Trong buổi lễ khai mạc Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008 người đi dẫn đầu đoàn lực sĩ Trung Quốc là cầu thủ bóng rổ nổi tiếng Trung Quốc tên Yao Ming với hai tay cầm cán giơ cao một lá cờ Trung Cộng có kích thước lón. Người đi bên cạnh Yao Ming là một em bé trai Trung Quốc, đuợc biết em này là một nạn nhân may mắn còn sống sót trong trận động đất kinh hoàng đã xảy ra tại Tứ Xuyên vào tháng Năm vừa qua. Tay trái của em cầm một lá cờ Thế Vận Hội và tay phải của em cầm một lá cờ Trung Cộng; cả hai lá cờ này đều là cở nhỏ. Nét mặt của em bé rất hân hoan, và hai tay của em luôn luôn đưa lên để vẩy vẩy hai lá cờ này. Rất rõ ràng là em đang đưa tay vẩy vẩy một lá cờ Trung Cộng đã bị lộn ngược trước hàng triệu cặp mắt của khán giả trên khán đài và trên toàn thế giới.

Chế độ Trung Cộng đã rất tài giỏi trong việc tạo dựng và bảo vệ Một-Nền-Văn-Hoá-Lừa-Gạt-Tại-Trung-Quốc và họ còn lớn tiếng để nói cho tất cả nhân dân thế giới biết về điều đó một cách rất mạnh dạn tự nhiên như thể Tình-Trạng-Lừa-Gạt-Ở-Trong-Nước-Trung-Quốc-Là-Một-Lối-Cạnh-Tranh-Để-Sống-Của-Người-Dân-Trung-Quốc.

Có một số giáo sư ngoại quốc đã đang sống tại Trung Quốc để dạy Anh Ngữ cho các học viên người Trung Quốc thuộc mọi hạng tuổi và các cấp lớp từ vỡ lòng tới đại học đều có chung một nhận định là đa số học sinh sinh viên và học viên người lớn đã thường xuyên có những hành động gian dối trong các kỳ thi kiểm tra học lực. Trong những lần các giáo sư dạy Anh Ngữ này tổ chức các cuộc thảo luận trong lớp nói về Tính Lừa Gạt để cho những học viên đã khá và giỏi Anh Ngữ tự do phát biểu cảm tưởng của họ, thì họ luôn luôn cho biết rằng họ sẽ có hành động lường gạt tương tự với một mức độ nhất định nào đó nếu sự lường gạt này giúp cho họ chiếm được ưu thế trong đời sống hiện tại ở Trung Quốc.

Chỉ có chính người Trung Quốc mới có thể tin rằng cả ba người nữ vận động viên thể dục nhịp điệu tên Yang Yilin, He Kexin và Jian Yuyuan là có đủ mười sáu tuổi để được dự thi thế vận hội và phải chiếm được huy chương vàng cho người Trung Quốc. Còn lại cả thế giới này đều nghi ngờ rằng các tập đoàn cầm quyền Trung Cộng ở các cấp đã âm mưu với nhau sửa đổi các chi tiết hộ tịch để nâng tuổi cho các em vận động viên này tới hạng tuổi quy định của thế vận hội.

Dùng mọi thủ đoạn lừa gạt để đạt mục đích là bản chất của thuyết “bí danh” của đảng Trung Cộng và Việt Cộng. Thuyết “bí danh” của đảng cộng sản hoàn toàn trái ngược với thuyết “chánh danh” của đạo Khổng-Mạnh, và một cách chắc chắn là tất cả đảng viên Trung Cộng và Việt Cộng mỗi người ngoài một cái tên cúng cơm và một cái tên gắn liền với chức vụ, lại có thêm hai ba cái bí danh khác nhau để dễ dàng làm chuyện mờ ám cho tổ chức cộng sản.

Bản chất gian trá và thiếu sự minh bạch đã từ lâu ngấm vào đầu óc của tất cả đảng viên Trung Cộng và Việt Cộng được thể hiện rõ ràng qua những cái “bí danh”. Nhân dịp có thế vận hội ở Trung Quốc trong mùa hè này cái bản chất gian trá và thiếu sự minh bạch càng bị lộ rõ qua các màn trình diễn của một ca sĩ nhi đồng hát nhép, những trẻ em Hán tộc giả dạng làm những trẻ em dân tộc thiểu số, những cảnh bắn pháo bông đã thu hình sẵn từ trước nay được phát hình lại để biến quang cảnh buổi lễ quá rực rỡ làm hoa mắt khán giả ở tại chỗ cũng như khán giả ở màn ảnh truyền hình trên khắp thế giới, và nhất là ba nữ vận động viên thể dục nhịp điệu được nâng lên tuổi mười sáu để dự thi.

Có rất nhiều chứng từ lưu trữ ở những hồ sơ của các vận động viên tranh tài ở địa phương cũng như các bài báo tường thuật và bình luận thể thao bằng tiếng Trung Quốc ở những năm 2004, 2005, 2006, và 2007 đã cho thấy rõ ba nữ vận động viên thể dục nhịp điệu tên Yang Yilin, He Kexin và Jian Yuyuan là không có đủ mười sáu tuổi để dự thi thế vận hội trong năm nay. Hơn nữa mọi người đều công nhận rằng hình vóc và diện mạo bên ngoài của ba nữ vận động viên này hiển nhiên là trông rất còn nhỏ tuổi.

Vào lúc Thế Vận Hội Mùa Hè Athens Hy Lạp năm 2004 nữ vận động viên thể dục nhịp điệu người Mỹ tên Nastia Liukin, đã hai lần chiếm giải vô địch thiếu niên Mỹ nhưng lúc đó Nastia Liukin chỉ có 14 tuổi nên còn quá nhỏ để tham dự trong đội tuyển thế vận hội của nước Mỹ. Cô đã phải chờ tới bốn năm sau để được tranh tài trong Thế Vận Hội Mùa Hè Bắc Kinh năm 2008.

Nếu các cuộc điều tra chứng minh được là ba nữ vận động viên thể dục nhịp điệu của Trung Quốc thực sự còn quá nhỏ để được tham dự tranh tài trong Thế Vận Hội Mùa Hè 2008 thì Uỷ Ban Thế Vận Hội Quốc Tế và các tập đoàn cầm quyền đảng Trung Cộng ở các cấp phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự lừa gạt này.

Ở trong nước Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của đảng Trung Cộng hầu như mọi người đều không cảm thấy ngại ngùng xấu hổ mà nghĩ rằng sự lường gạt là một việc làm vô đạo đức. Một thí dụ cụ thể là kỷ nghệ làm thuốc lá giả của tập đoàn kinh doanh thuốc lá Trung Cộng. Thuốc lá đã là độc hại cho sức khoẻ của con người, mà tập đoàn kinh doanh thuốc lá Trung Cộng lại còn làm giả để thu vào nhiều lợi nhuận, như vậy tội ác của sự lường gạt này phải tăng gấp đôi.

Ở trong nước Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của đảng Trung Cộng sự lường gạt xảo trá tráo trở để trục tư lợi đã đang là một cơn bệnh dịch truyền nhiễm khủng khiếp.

Sự lường gạt xảo trá tráo trở đó đã bắt nguồn từ các tập đoàn cầm quyền đảng Trung Cộng ở các cấp. Gần đây nhất là họ đã không giữ lời cam kết cởi mở thông tin báo chí và cải thiện hồ sơ nhân quyền trong thời gian có thế vận hội đang diễn ra tại Bắc Kinh:

Họ vẫn cứ cản trở hoặc ngăn cấm các phóng viên ngoại quốc muốn tìm hiểu tình hình sinh sống hiện tại của người dân Trung Quốc ở trong nước. Hai tuần lễ trước ngày khai mạc thế vận hội họ đã cho lệnh bắt tập trung hàng ngàn tu sĩ Tây Tạng và quản thúc nghiêm ngặt. Họ đã giả bộ thực thi tự do dân chủ trong lúc có thế vận hội bằng cách để ra những khu vực công viên cho người dân Trung Quốc được biểu tình phản đối chính phủ nếu có xin phép trước. Kết quả là tất cả những người nhẹ dạ cả tin Trung Cộng thay đổi cởi mở, nên nộp đơn xin phép biểu tình, đều bị bắt đem ra giam ở ngoại ô cách xa thành phố Bắc Kinh.

Trong khi có một số người ngoại quốc tới Bắc Kinh căng biểu ngữ biểu tình ủng hộ Tây Tạng chỉ được một thời gian ngắn thì bị bắt đưa lên xe chở ngay ra phi trường để trục xuất khỏi Trung Quốc, thì lại có một người Anh, một người Đức và tám công dân Mỹ đã tổ chức biểu tình ủng hộ Tây Tạng trong một thời gian ngắn trước khi bị bắt ở gần Sân Vận Động Thế Vận Hội tại Bắc Kinh.

Còn đối với tám người Mỹ, mặc dù đại sứ Mỹ có lời yêu cầu phải lập tức thả họ, nhưng tập đoàn cầm quyền Trung Cộng tại Bắc Kinh vẫn cứ tạm giam họ trong suốt 17 ngày cho tới khi bế mạc thế vận hội mới thả ra và liền sau đó trục xuất họ về nước Mỹ.

Các tập đoàn cầm quyền đảng Trung Cộng ở các cấp đã bộc lộ rõ ý muốn tạo dựng, bảo vệ, và sử dụng Thế Vận Hội Bắc Kinh như là một thành tích hoàn toàn hoàn hảo để chứng tỏ với cộng đồng quốc tế là Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của họ đang sẵn sàng là một nước có vũ lực, tiên tiến và rất hiện đại ngay cả trong lãnh vực thể dục thể thao. Tuy nhiên, có một chi tiết rất nhỏ cũng đủ chứng minh rằng các tập đoàn cầm quyền đảng Trung Cộng ở các cấp luôn luôn không thể nào hoàn toàn hoàn hảo được khi họ còn tiếp tục cưỡng đoạt tiếng nói trung thực của nhân dân Trung Quốc: đó là một lá cờ Trung Cộng đã bị lộn ngược trên tay của một em bé Trung Quốc đang giơ cao vẩy gọi tất cả thế giới hãy nhìn cho rõ một lá cờ Trung Cộng đã bị lộn ngược.

Điều này có một ý nghĩa rõ ràng là Nhân Dân Trung Quốc bao gồm mọi chủng tộc không cho phép các tập đoàn cầm quyền đảng Trung Cộng ở các cấp tiếp tục lợi dụng tiếm danh nhân dân Trung Quốc để lừa gạt người dân trong nước cũng như người dân của các nước trên thế giới.

Các vấn đề của người chủng tộc Hồi và quyền tự do tín ngưỡng Hồi Giáo ở Tân Cương. Các vấn đề của các nhà sư Tây Tạng cùng với người dân Tây Tạng đang thực sự lâm cảnh diệt chủng toàn diện ở Tây Tạng. Các vấn đề của người chủng tộc Mông Cổ ở lãnh thổ Nội Mông dưới sự cai trị hà khắc của Trung Cộng, họ vẫn luôn luôn mong muốn được thống nhất với quốc gia độc lập Mông Cổ, còn gọi là lãnh thổ Ngoại Mông của họ; toàn thể Nhân Dân Mông Cổ luôn luôn nhớ rằng chính Liên Sô và Trung Cộng đã chia cắt tổ quốc của họ và gây ra thảm cảnh chia lìa cho tới ngày nay. Và đặc biệt là các vấn đề của người chủng tộc Hán đang thực hành Pháp Luân Công hoặc thực hành đạo Tin Lành hay Công Giáo đang bị trấn áp tàn bạo ở trong nước Trung Quốc. Như vậy, cái hình ảnh 56 nam nữ thiếu niên nhi đồng với trang phục của người thiểu số đủ màu sắc rực rỡ thuộc 56 chủng tộc gồm có người Hồi, Tây Tạng và Mông Cổ vân vân, họ hân hoan diễn hành chào mừng quan khách trong buổi lễ khai mạc thế vận hội để mô tả tình trạng sinh sống hài hoà của xã hội Trung Quốc, là hoàn toàn nguỵ tạo tuyên truyền gian xảo.

Từ năm 1990 sử gia Jonathan Spence đã có một nhận định sâu sắc như sau, “Nếu Trung Quốc có mục đích phát triển trở thành một quốc gia hiện đại . . . . . . Người dân Trung Quốc phải có được những người đại diện chân chính cho họ trong các quyết định chính trị. . . . . . Sẽ không có một Trung Quốc thực sự hiện đại cho tới khi nào người dân Trung Quốc được trả lại tiếng nói của họ”.

Thế Vận Hội Bắc Kinh đã bế mạc, nhưng lại chính là lúc bắt đầu cuộc đấu tranh gay gắt nhất giữa các tập đoàn cầm quyền đảng Trung Cộng ở các cấp và toàn thể nhân dân Trung Quốc gồm đủ mọi chủng tộc đang đòi lại quyền làm người của họ./.

Thuỷ-Triều
25/08/2008

Người gửi: Dr. Tristan Nguyễn, San Francisco, US

2008-08-27 19:48:24

http://www.vantuyen.net/index.php?view=story&subjectid=25495&chapter=1

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Bức tường của các huyễn tưởng

Posted by tudodanchu trên Tháng Tám 28, 2008

Dương Thu Hương

 

 

 

 

Dương Thu Hương

Bức tường của các huyễn tưởng

» Tác giả: Dương Thu Hương

Giữa hai cá thể luôn luôn tồn tại một bức tường vô hình.

Ấy là sự nhầm tưởng. Sự nhầm tưởng nảy sinh trên những khác biệt về văn hóa, cách cảm thụ và nhận thức đời sống, thiên hướng và ảo tưởng (bởi các ảo tưởng là một bộ phận quan trọng trong cuộc sống của con người). Khi bức tường ngăn cách hai cá thể không đủ cao để che khuất tầm mắt, người ta còn có thể hiểu nhau. Nếu bức tường che chắn đường chân trời, sự cảm thông là bất khả.

Hiện thực này cũng thấy rõ trong quan hệ giữa dân tộc, hai quốc gia, giữa phương tây và phương đông. Xu thế phóng chiếu bản thân lên phần còn lại của thế giới là đặc tính chung của con người, từ kẻ mù chữ đến bậc hiền triết. Càng học rộng tài cao, nhu cầu thống trị tinh thần càng mãnh liệt. Chính từ sự đam mê mãnh liệt ấy, những ảo ảnh nảy sinh. Những ảo ảnh này tới lượt chúng tạo nên bức tường của sự huyễn tưởng. Một vật cản ngăn cách con người với hiện thực và chân lý.

Nếu quý vị đã quên, xin cho phép tôi nhắc lại sự kiện này: vào những năm 60 – 70, những bộ óc vĩ đại nhất nước Pháp đã quay cuồng vì hình ảnh Mao Trạch Đông, những cái đầu mẫn tiệp nhất của nước Pháp đã ngẩng lên nhìn “người cầm lái vĩ đại Trung Hoa” như nhìn một thiên tài xuất chúng, vị thần tái sinh cứu rỗi loài người.

Dưới ảnh hưởng của các ông thầy danh tiếng, sinh viên Pháp ào ạt đổ xuống đường biểu tình, tung hô Mao Trạch Đông với sự say mê rồ dại như xưa kia, tiền nhân của họ từng tung hô Napoléon. (Thật bất công với Napoléon khi dùng so sánh kiểu này. Tôi xin được thứ lỗi vì chưa tìm ra cách diễn đạt nào khác). Như thế đó, cơn si cuồng tập thể kéo dài khá lâu. Phải có một độ lùi đáng kể của thời gian để các bậc học giả Pháp nhìn rõ chân dung thật sự của Mao: một trong những tên đao phủ kinh tởm nhất lịch sử nhân loại, không thua kém một ly Staline hoặc Hitler nếu cần so sánh.

Gần như cùng thời gian đó, Jean – Paul Sartre đã lập tòa án Nuremberg để bênh vực những người cộng sản Hà Nội trong cuộc chiến tranh Mỹ – Việt. Cũng phải chờ năm tháng trôi qua, tới khi xác các thuyền nhân trôi dạt khắp bốn biển để nhà văn này nhận ra sai lầm của mình. Ông hối tiếc là đã biện hộ cho những tên sát nhân, những kẻ hành quyết chính nhân dân của chúng.

Không riêng Jean – Paul Sartre mà rất nhiều văn nghệ sĩ trên thế giới đã có chung một hối tiếc. Trong số ấy phải kể tên Jane Fonda, người đặt tên con trai là “Trỗi” và đã cất công bay sang tận Hà Nội để chụp ảnh chung với bông hoa mỹ miều nhất của chính phủ cộng sản Bắc Việt – nữ diễn viên đại biểu Quốc hội Trà Giang.

Giờ đây, quay lại nhìn bức tường huyễn tưởng dựng lên giữa hai thế giới, tôi thấy nó vẫn còn nguyên ở đó, che khuất mọi tầm mắt. Dù có thiện chí, phương Tây vẫn gần như bất khả khi muốn tìm kiếm hiện thực cuối cùng, thứ hiện thực đáng tin cẩn trong giới hạn của thời gian và không gian. Ở đây, họ vấp phải một thứ mánh khóe, tôi tạm đặt tên là “phương thức châu Á”.

Vậy, thế nào là “phương thức châu Á”?

Đó là cách hành động riêng biệt của những người cộng sản châu Á, hoàn toàn tương thích với thể chế chính trị. Thể chế này là món nộm hòa trộn ba đặc tính: phong kiến, độc tài và mafia.

Vì nghi ngờ khả năng biện hộ non yểu của mình, tôi xin tạm chứng minh bằng một sự kiện cụ thể: Cách đây chừng một thập kỷ đã xảy ra vụ nổi loạn của nông dân Thái Bình. Những người dân cày đói ăn biểu tình yêu cầu bọn quan chức địa phương hoàn lại những món tiền bị cưỡng đoạt trái phép. Cuộc khởi loạn thoạt tiên xảy ra trên bảy huyện trong tỉnh, trước hết là Quỳnh Phụ, sau đó lan ra các tỉnh lân cận như Hải Hưng, Vĩnh Phú, Quảng Ninh…

Phóng viên nước ngoài rầm rộ đổ đến Hà Nội. Đương nhiên đây là bộ phận đáng e ngại nhất đối với nhà cầm quyền Hà Nội vì ở Việt Nam chưa có báo chí theo đúng nghĩa. Đối với đảng Cộng sản, phóng viên là con cháu trong nhà, bảo gì phải nghe nấy, nếu hỗn hào sẽ đuổi ra khỏi cửa, bẻ gẫn cần câu cơm… Cho dù vẫn dương dương tự đắc là độc lập, quan lại Việt Nam chỉ e ngại mấy ông mắt xanh mũi lõ, vì chỉ mấy ông này mới có khả năng gia tăng hoặc làm hao hụt hầu bao của các bậc lãnh đạo dân chúng. (Những chiếc vé xanh là quốc hồn quốc túy bây giờ). Vậy thì họ sẽ phản ứng ra sao với đám phóng viên ngoại quốc?

Họ đón tiếp niềm nở, nụ cười thường trực gắn trên môi: trà ngon, gà vườn, quà tặng rẻ tiền nhưng lạ mắt… Kèm theo đó là sự hứa hẹn mềm mỏng: “chúng tôi sẽ để các ông các bà xuống tỉnh Thái Bình trong thời gian ngắn nhất, với điều kiện đảm bảo được sự an toàn của quý vị”. Sự trì hoãn đó có hiệu lực. Một tuần, hai tuần, ba tuần trôi qua. Các ông tây bà đầm không còn đủ kiên nhẫn để chờ đợi. Quỹ thời gian có hạn. Hà Nội chỉ là một quán trọ xoàng. Hành tinh mênh mông còn có biết bao nơi chốn mời gọi… Họ lần lượt ra đi.

Khi phóng viên nước ngoài cuối cùng lên máy bay và các ống kính đã chĩa về hướng khác là lúc cuộc đàn áp bắt đầu. Trong một đêm, hàng nghìn cựu chiến binh đã bị bắt. Không một tờ lệnh. Hoàn toàn là lệnh mồm. Ở Việt Nam, lệnh mồm là thứ hiệu lực nhất. Lực lượng đàn áp là bộ phận được trả lương hậu hĩnh nhất trong guồng máy này. Trên 40% kinh phí quốc dân dành để nuôi họ. Vì thế, cuộc vây bắt diễn ra êm nhẹ. Hoàn toàn trong bóng đêm. Sót lại là tiếng kêu khóc của đám dân quê đói khổ, thất học, thân nhân của những người bị cùm trói và tống vào xe thùng sắt.

Các cựu chiến binh Thái Bình, những người đã hiến dâng toàn bộ tuổi thanh xuân trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, những thương bệnh binh nạn nhân của chất độc da cam, những người thường được ca ngợi véo von là anh hùng cứu nước. Họ sẽ được đảng Cộng sản thân yêu đối xử ra sao?

Họ bị phân tán vào khắp các trại tù, sống trà trộn giữa đám tội phạm thật sự. Ở đó, họ sẽ chết trong một thời gian rất ngắn bởi chính các bạn tù này. Bọn tội phạm được lệnh thủ tiêu họ. Đương nhiên, “lệnh mồm” và ban bố một cách thì thầm đến tận từng cá nhân.

Đây chính là “phương thức châu Á”, nhóm danh từ tôi tạm mượn ông Karl Marx tôn kính ở phương Tây. Bọn tội phạm được hứa hẹn giảm án theo thành tích: giết một người án 20 năm giảm xuống 18 năm. Giết hai người, 18 năm còn lại 16… Cứ thế mà thực thi.

Khởi sự là các cuộc khiêu khích, gây hấn. Sau đấy là cuộc tàn sát bằng các hình thức khác biệt, trong đó một hình thức đặc biệt hiệu nghiệm và rất ấn tượng: giết người bằng đũa ăn. Người châu Á ăn cơm bằng đũa. Dụng cụ ẩm thực biến thành vũ khí sát nhân là sự ứng biến tuyệt vời. Người ta vót những chiếc đũa bằng gốc tre đực, thứ tre cứng như sắt, một đầu đũa được chuốt nhọn như kim đan. Khi các cựu chiến binh Thái Bình đang ngủ, bọn tội phạm bất thình lình đóng chiếc đũa này vào lỗ tai của họ. Với độ dài 25cm, đũa xuyên suốt từ tai nọ sang tai kia. Nạn nhân chết tức khắc không kịp bật một tiếng kêu.

Như thế, trong bóng đêm và trong sự im lặng, những người cầm đầu cuộc biểu tình của dân cày Thái Bình đã chết theo kiểu ấy. Chính quyền Việt Nam thực sự là kẻ sáng tạo lỗi lạc. Với nguyên tắc: hiệu quả tuyệt đối trong sự an toàn tuyệt đối, họ đã thực hiện một Thiên An Môn nhung lụa mà sự thành công ở mức tối đa. Hiệu quả tuyệt đối vì số người bị giết nhiều gấp bội số người chết bởi xe tăng và súng liên thanh trên quảng trường Thiên An Môn Trung Quốc. An toàn tuyệt đối vì không một nhà báo nước ngoài nào nhòm ngó nổi nhà ngục Việt Nam, không một ống kính nào ghi lại được, dù một hình ảnh nhù nhòa, tội ác của họ. Đó, “phương thức châu Á”. Nói một cách văn vẻ hơn, cách thức hành xử của loài rắn rết hay ác thú chốn rừng già.

Về đời sống chính trị ở các xứ hậu cộng sản đã có nhiều người phân tích. Tôi chỉ xin đơn cử một nghiệm sinh. Khi dấn thân vào cuộc đấu tranh cho nền dân chủ, tôi cũng như nhiều anh em khác xác định nhiệm vụ của mình là vạch trần sự thật. Nói đúng hơn là duy danh định nghĩa những sự thật hiển nhiên mà dân chúng chỉ dám thì thầm trong xó bếp hoặc góc tường. Tuy nhiên, trước khi thật sự bắt tay vào việc này, có hai điều tối cần thiết phải thực thi tức khắc:

Thứ nhất, tôi phải tự thiến mình bằng cách sử dụng thứ thuốc gọi là thuốc “triệt kinh”. Thuốc “triệt kinh” nhằm phá hủy oestrogène, loại hormones xui khiến các góa phụ thời xưa khôn ba năm dại một giờ. Hẳn các bách khoa toàn thư ở phương Tây không đưa vào danh mục loại thuốc này vì nó là một trong các bí truyền nảy sinh từ các hậu cung của triều đình phong kiến phương đông, trước hết là Trung Quốc.

Một ông vua da vàng thường có vô số vợ, được phân hạng bằng các phẩm tước khác nhau: hoàng, phi, mỹ nữ, cung tần… Thời thịnh vượng con số này có thể kể đến vài trăm. Trong số vài trăm ấy, rất nhiều người có thể vẫn còn là gái trinh cho đến lúc chết vì bị vua quên dùng. Một số khác trải qua thời sủng ái rồi rơi vào thân phận thất sủng. Đám người đẹp thất sủng chính là duyên cớ gây ra những vụ mưu sát tàn độc, xúi bẩy đám cấm quân hoặc kiêu binh khởi loạn, gây sóng gió cho triều đình và đôi phen ngai vàng sụp đổ. Vì hiểu rõ căn nguyên cuối cùng của những sự khởi loạn này là sự thiếu hụt tình dục: “cung không đáp ứng được cầu”, nói cách khác là cuộc cạnh tranh khốc liệt và tuyệt vọng giữa 300 con gà mái trước một con gà trống, các bậc lương đống triều đình phải tìm phương thuốc triệt kinh. Thuốc triệt kinh là biện pháp hóa giải cuộc nổi loạn của đám quần hồng, một thứ thuốc độc dài hạn khiến người đàn bà suy tàn nhanh chóng: tóc bạc và rụng, lưng đau, xương giòn, răng hư hoại, bàn tay bàn chân lạnh và nhu cầu tình dục cạn kiệt. Bản sắc châu Á đậm đà ở chỗ nó dành quyền dâm dục tối đa cho một số tối thiểu và khuyến khích tuyệt đại đa số con người thực thi một cuộc sống khổ hạnh với một mớ giáo lý nhằm khống chế và phỉ báng phụ nữ. Trong xã hội kiểu ấy, cái đũng quần của người đàn bà là mục đích tối thượng cho những cuộc thanh trừng cũng như tấn công chính trị. Tự xét rằng cái đũng quần là nơi xung yếu nhất, là con mồi dễ ngoạm nhất của đảng Cộng sản Việt Nam nên tôi tự hoạn để được an toàn.

Việc thứ hai cũng quan trọng không kém, ấy là việc từ bỏ mọi người thân. Phật đã dạy con cái là những sợi xích bằng vàng. Nhưng không chỉ con cái mà cha mẹ và anh em cũng có thể trở thành vũ khí tấn công những người tranh đấu. Đã dấn thân vào trận tuyến thì phải chấp nhận cuộc sống đơn độc để tránh mảnh đạn bắn vào những người xung quanh và giữ cho được tinh thần tự chủ.

Cách hành xử như vậy hẳn là xa lạ với các chính khách Mỹ cũng như phương Tây. Muốn hiểu rõ hiện thực này cần phải làm đổ sập bức tường huyễn tưởng. Giờ đây, tại Việt Nam những đồng đội của tôi vẫn đang tiếp tục chịu sự hành hạ của bộ máy cầm quyền. Vì là đàn ông, họ chẳng cần tự thiến nhưng họ bị tra tấn và khống chế qua phương tiện trung gian: gia đình. Những liên hệ hình cảm trở thành một thứ vũ khí cột trói chân tay và ngôn từ của họ.

Sự đổi thay ngoại diện ở Việt Nam dễ tác động lên giác quan của người phương Tây nhưng dưới vẻ tưng bừng náo nhiệt của Sài Gòn và Hà Nội vẫn tồn tại dai dẳng một hiện thực tàn khốc. Hiện thực ấy được tóm tắt như sau: bóng đêm, rắn rết và nước mắt.

Paris, tháng 4/2007

2007-12-13 08:13:48

http://www.vantuyen.net/index.php?view=story&subjectid=18604

Posted in Uncategorized | Tagged: | 3 Comments »

Từ Thân Hữu Già Lam Đến Thân Hữu Già Hồ, chiến lược Cộng sản: âm mưu mượn tay giáo gian xoá tên Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất

Posted by tudodanchu trên Tháng Tám 28, 2008

Từ Thân Hữu Già Lam Đến Thân Hữu Già Hồ, chiến lược Cộng sản: âm mưu mượn tay giáo gian xoá tên Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất – * Thích Chánh Hạnh (Canada)


TinParis . Từ trước năm 1975, CSVN đã cho cán bộ nội tuyến rất nhiều trong hàng ngũ tăng ni Phật Giáo VN ( Việt Nam Quốc Tự của HT Thích Tâm Châu và Viện Hóa Đạo của GH Phật Giáo VN Thống Nhất ). Đó cũng là vũ khí chiến lược để chống lại thế giới Tây Phương ( theo Thiên Chúa Giáo) khi Tây Phương cũng dùng vũ khí nầy để chống lại chủ nghĩa Cộng Sản vô thần. Và Tổ Quốc của Thế Giới CS ( Liên Xô) trớ trêu thay, lại sa lầy tại Afghanistan cũng vì Đạo Hồi Giáo.
Sau hơn 32 năm chiếm được Miền Nam, CSVN đã có những lớp cán bộ ” Tôn Giáo Vận ” được trui luyện kỹ, có học thức ( toàn là Đại Đức Tiến Sĩ ) để nắm lấy việc điều hành Giáo Hội Phật Giáo y như là ở Trung Cộng. Huống chi , theo khuynh hướng của Thời Đại mới, các tu sĩ Phật Giáo hay Thiên Chúa Giáo có lập gia đình cũng là chuyện thường tình. Do đó, làm cán bộ ” Tôn Giáo Vận ” không còn ” khó khăn ” như lúc trước nữa phải ” ân ái trộm lén “. Chúng ta hãy coi gương của Nhấ Hạnh, Tuệ Sỹ , TMT , TNĐ,v.v…Bên Thiên Chúa thì có Nguyện ngọc Lan, Chân Tín.. Nếu chúng ta đi xa hơn nữa trong lịch sử của Giáo Hội Thiên Chúa thì các Giáo Hoàng có quyền lập gia đình.

TinParis chấp nhận các vị tu hành có quyền có vợ nhưng phải ” Treo Bảng đàng hoàng ” để cho các tín đồ chọn lựa.

Đến ngày hôm nay, CSVN đã ra lệnh ” Tổng tấn công ” Giáo Hội Phật Giáo VN ở Hải Ngoại cũng như ở trong nước, vì Mỹ đẵ bỏ chế độ Viẹt Nam ra khỏi danh sách ” CPC ” ( Quốc Gia đàn áp tôn giáo).

Ở Hải Ngoại, chúng tung chiêu bài ” Tu Học Phật Pháp – Không làm chánh trị” thuần túy để GHPGVN Thông Nhất mất sự ủng hộ của Hải Ngoại . Đại Diện phe nầy là HT Thích Minh Tâm , Chùa Khánh Anh bên Pháp, và TT Thích Nguyên Siêu bên MỸ ( chẳng qua là bị VC nắm tẩy thôi) v.v. Tội nghiệp cho các Phật Tử VN tỵ nạn đã đóng góp công lao, tiền bạc cho Chùa để một sớm mai thấy kể thù của mình chễm chệ ngồi quản trị Chùa ( Từ lâu rồi, các Chùa và vài Nhà Thờ đâu có cho treo cờ Quốc Gia nữa nhưng tiền của người Tỵ nạn thì các Thầy, các Linh Mục vẫn hoan hỉ nhận). Trong nước, thì chúng ” Đội Mũ cho GHPGVN Thống Nhất làm chánh trị ” và cấu kết với các phong trào ” Chống Đối cuội kháng chiến ma ” như Việt Tân, v.v… để lấy cớ đán áp . Từ Báo Quân Đội Nhân dân , đến Báo Công An hiện nay đều mở chiến dịch tố cáo…GHPGVN Thống Nhất.

TinParis cho đăng bài viết dưới đây của một vị tăng của GHPGVNTN , nhưng dưới một tên khác trên các diễn đàn vì sự an nguy đến tính mạng.

Từ “Thân Hữu Già Lam” Đến “Nhóm Tăng Ni Hải ngoại” và “Tăng Ni Việt Nam hải ngoại”, ba sản phẩm chung một lò do nhóm “tư quái”: Ba-Minh-Sĩ-Thát lãnh đạo, đại bản danh đặt tại chùa Già Lam, Gò Vấp, Sài Gòn; cơ sở ban đầu cũng có mặt tại một vài nước như Hoa Kỳ, Canada, Úc, Pháp, Đức, v.v…

Mục đích ban đầu của nhóm là qui tụ những Tăng Ni Việt Nam sống tha hương nơi hải ngoại để cùng chia sẽ tương trợ nhau trong tu học hay nói thông thoáng hơn là thể hiện tinh thần chúc ngôn Già Lam-Thích Trí Thủ: “Nói như Phật nói, Làm như Phật làm, Nghĩ như Phật nghĩ”. Thế nhưng tông chỉ ban đầu của Thân hữu Già Lam đã bị nhóm “tứ quái” khuynh đảo, lừa đảo Tăng Ni theo đường Thân Cộng Già Hồ, phục vụ chiến lược cộng sản âm mưu mượn tay giáo gian xoá tên GHPGVNTN.

Thân Hữu Già Lam. Nhóm Thân Hữu Già Lam (thành lập 03-2004)
CHXHCNVN đẻ ra Thân Hữu Già Lam nằm trong chiến lược ly khai-tiếm danh-xoá sổ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN). Thân hữu Già Lam Sáng lập 2004, bản doanh “mạng không dây” đặt tại Tu viện Già Lam, Gò vấp Gia Định do Thích Tuệ sĩ bảo trợ. Có phân bộ ở một vài nước như Hoa Kỳ, Úc, Pháp, Đức, Thuỵ Sỹ, Canada … Để mở rộng lộ đồ bay, Nhóm Thân Hữu Già Lam mở thêm nhóm mới có tên là Nhóm Tăng Ni Hải ngoại (2005). Rồi tiếp theo là Nhóm Tăng Ni Việt Nam hải ngoại (2007) lại chào hàng cùng trên dưới trong ngoài theo kiểu: Kính thưa các loại.

CHXHCNVN đánh phá tôn giáo có muôn ngàn cách, có ba loại hình tiêu biểu rõ nét cần biết đó là:

Trường lớp đào tạo giáo gian: A 25;
Phương thức biến chất con người trở nên giáo gian;
Và những loại hình giáo gian để phục vụ cho guồng máy đảng trị nhằm thống trị con người.
Trường Lớp đào tạo Giáo Gian XHCN
Ngân sách quốc phòng dành chi cho ngành công an thật là khủng khiếp! Điều đáng nói là guồng máy công an trị kia lập ra là để phục vụ cho Đảng chứ không phải để lo cho Dân. Có cả cơ quan A 25 là Cục Bảo vệ An ninh – Văn hóa – Tư tưởng mà cũng là trường đào tạo Sư giả (đọc thêm Dương Thu Hương, Tôi là Phật tử theo cách của riêng tôi)

Những Loại Hình Giáo Gian XHCNVN

Thời-Thế-Lực cộng sản nay đã hết. Cho nên họ không dạy gì trực diện đánh phá tôn giáo như cái thưở kiêu binh sau 1975 nữa, chiến lược “dùng con đại bàng nầy khống chế con đại bàng khác” được Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (XHCNVN) áp dụng triệt để trong đánh phá tôn giáo. Rằng có bao nhiêu cột đèn đường trên khắp phố thị là cũng có bấy nhiêu loại hình công an, “ăn teng” công an, để áp chế người dân; Cũng như có bao nhiêu loại hình đói nghèo, bệnh hoạn trong sinh hoạt XHCN đều được cộng sản tận dụng để làm công cụ, đặc tình tôn giáo vận đánh phá tôn giáo. Từ xe ôm đến em bé bán vé số đến quán nước lề đường đến bán dạo, đến xin xâm, bói quẻ, đến ông từ dâng hương đình chùa, đền miếu, đến cán bộ về hưu thậm chí cho đến thành phần “đầu trôm, đuôi cướp” cũng đều là “ăng ten”: chỉ điểm công an. Công an cùng với chỉ điểm công an được rãi dầy đặc khắp quán trọ, nhà ga, sân bay, bến tàu, trường học, bệnh viện. Nói chung mạng lưới công an trị của XHCNVN thì có đến 1001 loại hình giáo gian đánh phá tôn giáo.

Phương thức biến chất con người trở nên giáo gian
Có mấy Phương thức biến chất con người trở nên giáo gian, đơn cử một vài phương thức tiêu biểu:

1. Dùng người tù trị người tù (Dĩ tù trị tù).
2. Dùng người tù giết người tù (Dĩ tù diệt tù).
3. Dùng tuổi tù giảm án tù.
4. “Mưa dầm thấm đất”
5. “Sa bẫy-vào tròng”…

nói chung là tất cả loại hình trên đây đều nằm trong “mạng không dây” do nhà nước sai sử.

Thế thường không ai dại gì “đưa cổ vào tròng”, nhất là vào tròng cộng sản. Cho nên người cộng sản vốn thâm độc, tinh vi, họ có trăm ngàn cách biến chất con người trở nên cầm thú: khỉ-vượn đến mất hết tính người theo sự chỉ đạo của họ. Theo đây

– Dùng người tù trị người tù (Đọc hồi ký 26 năm lưu đày của Thượng toạ Thích Thiện Minh).
– Dùng người tù giết người tù. Tiêu biểu là vụ án dân cày Thái Bình đòi đất năm 1997 (Đọc bài: Dương Thu Hương, Bức tường của các huyển tượng) http://www.danchimviet.com/php/banners.php?op=click&bid=18
– Dùng tuổi tù giảm án tù. Với loại hình nầy, hãy nghe Sư Thanh Tứ, chùa Quán Sứ, Hà Nội “rao hàng”: “1 năm làm đặc tình tôn giáo thì xoá án 5 năm quản chế” cho bất cứ ai mà không phân biệt lý lịch, bản thân, giới tín, trình độ, tôn giáo gì gì cả.
– “Mưa dầm thấm đất”. Với loại hình nầy, hãy đọc bài: TS Nguyễn Bá Long,“Các vấn đề đối với Phật giáo và con đường của Phật tử Việt Nam”.
“Sa bẫy-vào tròng”. Có nhiều loại hình “sa bẫy-vào tròng” như bị mua chuộc, bị áp lực, sa kế mỹ nhân, hám lợi cộng tác, cao vọng làm lãnh tụ …

Bằng những loại hình như thế họ đã tuyển mộ giáo gian phục vụ cho đảng. Đó là lý do để giải thích rằng vì sao ngay cả một số nhà sư đã từng tuyên bố thí mạng với cộng sản, đã từng lãnh án chung thân, tử hình v.v… ấy thế mà một khi “lọt vào tròng” cộng sản hay rơi vào “mạng không dây” XHCN thì vẫn cứ làm đặc tình cho cộng sản.

Những Bộ Mặt Giáo Gian XHCNVN
Cùng với làn sóng người vượt biên (bao gồm cả trên biển và đất liền) tìm tự do trên vùng đất mới, cộng sản Việt Nam đã cài người theo chân dân tị nạn, len lõi đánh phá các đoàn thể, tổ chức, cộng đồng kiều bào hải ngoại nhằm thực hiện chiến lược đường dài củng cố XHCNVN muôn năm. Đặc biệt với Tôn giáo, đó là đối tượng được đặc tình tôn giáo đánh phá nhiệt tình hơn cả.

Ngay từ buổi đầu thành lập Hội Đồng lãnh đạo GHPGVNTN tại Hoa Kỳ 1988, trong số 14 thành viên buổi đầu thì đã có mặt Thượng toạ Thích Tín Nghĩa (1988) trong chức danh Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh Niên và GĐPT, Thích Pháp Châu (1988) trong chức danh Tổng Thư ký, Bùi Ngọc Đường – (1992); Trần Quang Thuận (1992), họ vốn là đặc tình tôn giáo vận Hà Nội nay đã lộ rõ ra rồi. Để khi đủ mạnh, phát triển thành tổ chức rộng rãi như Hội Thân Hữu Già Lam, Tổ chức Tăng Ni hải ngoại; Tổ chức Tăng Ni Việt Nam hải ngoại, họ đứng lên Xoá Sổ GHPGVNTN theo ba bước: ly khai, tiếm danh, xoá sổ GHPGVNTN theo hướng phục vụ đảng cộng sản.

Chiến Lược Cộng Sản Âm Mưu Mượn Tay Giáo Gian Xoá Tên GHPGVNTN
Vận dụng cả guồng máy nhà nước với nhân sự, tiền của không giới hạn vào việc đánh phá GHPGVNTN, diễn biến nầy thật muôn vẻ, muôn màu mà trong số đó, chiến lược: mượn tay Giáo gian Thân Hữu Già Lam tổng tấn công GHPGVNTN theo chiến lược ba bước Ly Khai GHPGVNTN; Tiếm Danh GHPGVNTN; Xoá Tên GHPGVNTN, đây là chiến lược mới trong sách lược đánh phá GHPGVNTN của cộng sản trong giai kỳ mới 2007, việc Thiếu Tướng Trần Tư cùng với phái đoàn Bộ công an ra Tu Viện Nguyên Thiều gặp Đức Tăng thống Thích Huyên Quang hôm 28-08-2007 vừa qua cũng là năm trong ÂM MƯU như thế.

Ly Khai Giáo Hội Thống Nhất, con đường Phục vụ cộng sản.
Hiện tượng ly khai GHPGVNTN đã nhen nhúm từ những năm 2001 do những cá nhân chủ nghĩa, bè phái, địa phương nhất là những cái đầu địa phương Hoàng triều cương thổ. Cho đến những năm 2003 nhận thấy đủ mạnh, nắm chắc Thế: trong ngoài, Lực: nhân sự áp đảo đối với hai Thầy Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ, họ bèn chủ quan tiến hành ly khai GHPGVNTN do Thích Tuệ Sĩ làm chủ soái.

Tiếm Danh Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất
Chánh nghĩa Phật giáo Thống Nhất luôn sáng ngời cùng đạo pháp-dân tộc trong suốt hơn 30 năm qua, được cả thế giới, kiều bào, tín đồ trong ngoài nước ủng hộ. Ngay đến những kẻ đánh phá GHPGVNTN cũng phải giả xưng Giáo hội Phật giáo Thống Nhất, tiếm danh Giáo hội Phật giáo Thống Nhất để lừa người. Từ nhiều năm qua cho đến nay, có không ít người tiếm danh Thống Nhất qua nhiều loại hình phi pháp mà điển hình gần đây là tiếm danh GHPGVNTN quyên góp tiền bạc từ các cá nhân, tổ chức để xây dựng Viện Đại học Khuông Việt tại Saigon cũng như lạm xưng thành viên GHPGVNTN tham gia Ban tổ chức Đại lễ Phật Đản 2008 tại Hà Nội. Từ tiếm danh Thống Nhất họ tạo nên một thế và lực khác với tên gọi Thân Hữu Già Lam. Để khi con chim sẻ Thân Hữu Già Lam đủ lông cánh khả dĩ lướt gió tung mây thì bước tiếp theo là Xoá tên GHPGVNTN để thỏa hiệp và đầu thú cộng sản.

Âm mưu Xoá tên GHPGVNTN của cộng sản
Chiến dịch xoá tên GHPGVNTN do CHXHCNVN phát động từ nhiều năm nay qua chiêu bài, nào là:

a. Thống Nhất mà không Thống Nhất,
b. theo mô hình Thống Nhất không Huyền Quang không Quảng Độ;
c. Rồi nào là bỏ danh xưng Thống Nhất, v.v…

Rồi Từ “Hội thảo Phật giáo trong thời đại mới, cơ hội và thử thách” năm 2006 của Lê Mạnh Thát-Tuệ Sỹ đến Phãt giáo Nhà nước sang dự tổ chức quốc tế Phật đản 2007 tại Thái Lan đến dự kiến Tổ chức quốc tế Phật Đản 2008 tại Việt Nam…, những diễn trạng điển hình trên đây đều là nằm trong mô hình dùng con chim sẻ Giáo hội Phật giáo Nhà nước khống chế con đại bàng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) của cộng sản. Nói cho cùng, đây cũng là sách lược mượn danh hoà hợp XHCN để xoá tên Thống Nhất mà thôi.

Ôn Già Lam Hoà thượng Thích Trí Thủ đã từng gởi gấm Thông Điệp cho thế hệ sau, tâm huyết Ngài biểu tỏ qua câu nói: Hãy “Nói như Phật nói, Làm như Phật làm, Nghĩ như Phật nghĩ”.
Thế nhưng Thân hữu Già Lam do Tuệ Sỹ cầm đầu lại “Nói như cộng sản nói, Làm như cộng sản làm, Nghĩ như cộng sản nghĩ” theo con bài đánh đồng Phật giáo theo định hướng XHCN là mong kéo dài sự thống trị 80 triệu đồng bào dưới ách bạo quyền cộng sản như thế. Từ những dẫn chứng điển hình trên cho chúng ta cái nhìn: từ “Thân hữu Già Lam đến Thân hữu già Hô”̀, âm mưu mượn tay giáo gian xoá tên GHPGVNTN của cộng sản hiện nay quả là quá đúng rồi, thật đâu còn gì để mà phân bua cùng dư luận nữa chứ.

Họ dàn ra thế trận Ba Bước như thế để củng cố chế độ XHCNVN muôn năm nhằm thống trị con người theo hướng phi nhân vô đạo. Người cộng sản nghĩ rằng, có sức mạnh trong tay sẽ làm nên tất cả, điều nầy quả thật sai lầm. Bởi lẽ Tần Thuỷ Hoàng, Mông Cổ, Hít Le, Pon Pốt có tồn tại mãi với thời gian đâu. Họ luôn to mồm, rộng miệng rằng: đảng cộng sản Việt Nam muôn năm. Thế nhưng có triều đại nào muôn năm đâu? XHCNVN cũng không ra ngoài qui luật tất yều như thế.

Vạch mặt Tứ quái cầm đầu hải ngoại : Tâm – Ba – Siêu – Đạt
Nối giáo cho giặc ở nước ngoài chừng vài mươi tên trong cộng đồng Phật giáo. Nhưng xuất đầu lộ diện là bốn tên cầm cờ chạy hiệu : Minh Tâm, Quảng Ba, Nguyên Siêu, Bổn Đạt. Đứng trong bóng tối là bọn thủ túc Bộ Công an mang bí danh Giao Điểm chỉ huy tên đặc tình Bùi Ngọc Đường cầm đầu đám Tăng hủ hóa. ( TinParis chú thích. Bùi ngọc Đường lá bà con ruột thịt với Thích minh Tâm, – Chùa Khánh Anh).

Thích Minh Tâm là ai ?

Ni cô Diệu Trạm  - Thich minh Tâm-  Bây giờ thì Thich minh Tâm đã trở cờ theo Tuệ Sỹ , và mới đây chứa chấp và cổ động cho Lê mạnh Thát  trong chuyến âu du vừa qua của đương sự để v��n động quyên tiền cho ĐH Khuông Việt và Ph��t Đản 2008 tại Hà Nội.

 

 

 

 

 

Hình chụp trong dịp tranh đấu chống CSVN năm 1988 Paris – Từ trái sang :Ni cô Diệu Trạm – Thích minh Tâm- Bây giờ thì Thích minh Tâm đã trở cờ theo Tuệ Sỹ , và mới đây chứa chấp và cổ động cho Lê mạnh Thát trong chuyến âu du vừa qua của đương sự để vận động quyên tiền cho ĐH Khuông Việt và Phật Đản 2008 tại Hà Nội.

Bề ngoài là Hòa thượng chủ ngôi chùa Khánh Anh xây sắp xong với số tiền 40 triệu tiền Pháp. Ngôi chùa lớn nhất Châu Âu. Tiền từ đâu ra ? Đố ai biết. ( TinParis. Có thể Chánh Quyền Pháp trong tương lai sẽ lưu ý về vấn đề nầy vi họ cần tời gian điều tra thế thôi). Thích Minh Tâm không thọ đại giới nhưng sống lâu lên Hòa thượng. Hòa thượng Minh Tâm tha hồ thăng cấp cho một lô hòa thượng con con không cần thỉnh ý Viện Tăng thống. Tự tay y ban chức cho những kẻ háo danh chịu tôn y làm chủ soái, tu chưa đủ tuổi, thọ giới chưa đủ năm như Tín Nghĩa, Nguyên An, Nguyên Trí, v.v…
Minh Tâm du học Nhật, bỏ học qua Pháp phục vụ Nhất Hạnh – Cao Ngọc Phượng. ( TinParis. Nhiều lần TMT có vấn đề với Ban Trị sự do Ô. L.Đ.H quản trị ) , và nhiều lần …. ( TinParis xin tự ý không đang những dòng sau…) Hủ hóa như Minh Tâm lại dám đứng ra chấn chỉnh Tăng Ni Hải ngoại trong cái Ngày về Nguồn sắp tổ chức trong ngôi chùa ở Canada có những tên sư Bộ đội, Công an như Nguyên Lạc nằm vùng giựt dây ?

Thích Quảng Ba là ai ?
Bề ngoài giữ đủ thứ chức, có chức cuội, có chức thổi phồng. Mấy mươi năm hoạt động chưa xây xong ngôi chùa, chỉ hoàn thành dảy phòng cho thuê như khách sạn, mở bốn, năm chương mục quyên tiền cứu trợ bỏ túi. Hành tung ám muội nên bị Hòa thượng Thích Phước Huệ đuổi ra khỏi chùa bên Úc mấy mươi năm trước. Y là thủ túc của Tuệ Sỹ nên móc nối với Lê Mạnh Thát tại Bang kok để nhận chỉ thị phá rối GHPGVNTN Hải ngoại và vận động cho Cộng sản tổ chức Phật Đản 2008. Được Thứ trưởng Công an Nguyễn Văn Hưởng thị thực khi làm việc với TT Thích Không Tánh, Quảng Ba hốt hoảng sợ lộ diên nằm vùng nên viết thư Internet bằng tiếng Anh ăn đong, hay tiếng Việt ba hoa đính chính. Ai tin được kẻ sớm đầu tối đánh như y ?

Thích Nguyên Siêu là ai ?
Là đệ tử của Tuệ Sỹ, tên thật Thích Chơn Trí trụ trì Chùa Vạn Phước vùng Virginia ( xin cáo lỗi cùng quý đọc giả : trước đây viết là Chùa Vạn Hạnh vùng Washington vì sơ xuất khi đánh máy) , ( TinParis xin đục bỏ …. ) lôi thôi bị Ban Trị sự chùa bắt quả tang làm khó dễ, bị phơi phong trên các báo Việt ngữ vùng Hoa Thịnh Đốn, các đài thì cho phát cuốn băng ghi âm …………….sang California đổi tên thành Thích Nguyên Siêu. Hầu hết đệ tử của Tuệ Sỹ đều học Thầy nhưng khác Thầy không dám ra đời lấy vợ như Tuệ Sỹ cuối thập niên 70. …..TinParis tự ý đục bỏ..

Thích Bổn Đạt là ai ?
Là đương kim Chủ tịch Giáo hội Phật giáo Canada đứng làm bình phong che chắn cho Nguyên Lạc – Tâm Hòa – Nguyên Siêu – Bùi Ngọc Đường gây thanh thế phục vụ Nhóm Thân hữu Già Lam – Thân hữu Già Hồ. Là tay chân của Tuệ Sỹ ở Già Lam, nhưng Bổn Đạt theo thầy ra đời lấy vợ năm 1975. Do đồng tính luyến ái, nên gia thất không yên. ……( TinParis ..) Gặp bước đường cùng, cạo đầu tu lại, ai cũng mừng Bổn Đạt hối cải. Phật tử ở Canada bảo lãnh cho Bổn Đạt qua làm Phật sự. Nhưng khi trụ trì chùa Từ Ân, chứng nào tật nấy, ( TinParis tự đục bỏ )………nên Ban Trị sự đuổi ra khỏi chùa. Con người như thế lại được cầm đầu một “Giáo hội” gồm những tên Tăng đặc tình như Nguyên Lạc xuất thân Bộ đội và Công an trước khi đột nhập vào hàng ngũ Giáo hội nằm vùng phá hoại Phật giáo. Tên Tăng Bộ đội Nguyên Lạc …. vùng Mississauga – Toronto, bị đuổi ra khỏi chùa, nhưng lại được Tâm Hòa cất nhắc cạo đầu tu lại phục vụ cho nhóm Thân hữu Già Lam – Thân hữu Già Hồ.

Hạng người trên đây có đáng cho thiện nam tín nữ quỳ lạy nơi ngôi Tăng Bảo không ? Có xứng đáng vào ngôi Giáo Chủ Về Nguồn che chở cho “Tăng Ni Việt Nam Hải ngoại” không ?

Lịch sử làm nên con người mà con người cũng xoay chiều lịch sử đó mới là điều tất yếu hơn cả. Cho nên hơn bao giờ hết, lịch sử đang mời gọi chúng ta giải trừ Pháp nạn với Quốc nạn cộng sản, góp phần làm nên trang sử quang huy Phật-Việt cho mai sau.

http://tinparis.net/vn_index.html


Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

THIỀN SƯ THÍCH- NHẤT- VẸM, GIÁO CHỦ GIÁO PHÁI” TU ÔM”

Posted by tudodanchu trên Tháng Tám 28, 2008

THIỀN SƯ THÍCH- NHẤT- VẸM, GIÁO CHỦ GIÁO PHÁI” TU ÔM”.- TRƯƠNG MINH HÒA

“NGU TỒI, tâm động, giả NGỒI TU.
NGÁO BỊP chân tu, NGHIỆP BÁO từ.

TIỀN THU, thuyết pháp, TU THIỀN dạy.
CỘNG NGHIỆP dẫy đầy, KỊP NGỌNG ư?
NHÂN LÀNH, chân lý, NHANH LẦN đến.
CẢ QUÁI ma kia, CÁI QUẢ bù.
BAO DUNG phòng kẻ BUNG DAO giết.
BỊP NGHIỆT tạo đà, BIỆT NGHIỆP như”

Người Việt Nam hai phía Quốc gia, Cộng Sản và ngay cả một số người ngoại quốc, nhất là thành phần, thành phẩn:” phản chiến khuynh tả” trong cuộc chiến tranh chống lại đại họa” khủng bố” Cộng Sản toàn cầu, mà điểm nóng khủng bố là tại miền nam Việt Nam, không lạ gì nhân vật mang tên THÍCH NHẤT VẸM.

Một người có nhiều huyền thoại từ ngày mới đi tu đến nay, nghe đâu đang được một số người, không loại trừ Việt Cộng, hay chính trong cơ sở tu học LÀNG-MÔN, không nên nói lái là:”LỒN-MANG”, làm mất hay giảm đi ý nghĩa” đứng-đái” ( hay còn gọi là đứng đắn) của một tông phái tu” hiện đại”, được nâng cấp từ thiền sư đến Phật Sống một cách” không người lái”, đang được Việt Cộng dùng làm con bài” ba lá Phật Giáo” lần nữa sau khi chiếm được miền Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, thì cái” danh hiệu Phật Sống” là Bồ Tát tại thế như Đức Đa Lai Đa Ma, vị lãnh đạo tinh thần của nhân dân Tây Tạng, dành cho thiền sư Thích Nhất Vẹm, được coi là” quân hàm Phật Sống”, sự tấn phong” quân hàm” nầy được nhìn thấy qua nhân vật lừng danh Việt Nam là Dũng Lò Vôi, một trong những đứa con nuôi có tầm vóc” chiến lược” của Sáu Dân ( Võ Văn Kẹt), đứa con nuôi rất là” trung với bác, hiếu với đảng” nầy, chính người có công xây dựng một” cơ sở KINH DOANH PHẬT GIÁO ” với ngôi chùa Đại Nam Quốc Tự” hoành tráng” chiếm một diện tích hơn 500 mẫu tây ở tỉnh Bình Dương, có tấm vóc quốc tế không xa, như các tụ điểm du hý, du lịch ở nước” kẽ thù số một” như Disney land vậy; sau nầy Đai Nam Quốc Tự cũng dám dây dựng thêm khách sạn 5 sao, sân đánh golf, nhà hàng bán đủ thứ thứ ăn” đại đồng” là hổng phân biệt chay-mặn ( tức là làn ranh CHAY-MẶN bị xóa bỏ) và nếu muốn hướng dẫn” Đạo Phật Ngày nay” đi theo con đường” hòa hợp hòa giải” giữa Phật và Ma quái, thì cũng nên thành lập thêm” đội ngũ gái gọi” để phục vụ khách thập phương, nhất là các du khách nước ngoài, muốn tới nước Việt tìm hiểu đạo, có cái nhìn” cỡi mở” với lối thực hành, qua ngôi chùa Phật được” định hướng và gắng liền theo xã hội chủ nghĩa.

Dũng Lò Vôi là người thay mặt đảng để thực hiện” chính sách tấn phong quân hàm Phật” cho tên” Đại Ác Quỷ Vương” Hồ Chí Minh, nên cái chánh điện ngôi chùa lắm bạc nhiều tiền với tượng Phật, Hùng Vương và Hồ Chí Minh, nơi nầy luôn túc trực đội ngũ công an trong lớp áo” nâu sòng” canh coi” như” mắt khóm tai bèo”, sẵn sàng báo cáo với các cơ sở công an khi” phát hiện” ra những Phật tử thuần thành nào có ý đồ chống đảng và nhà nước, có âm mưu lật đổ chế độ mà ra tay triệt hạ để” bảo vệ đạo pháp theo định hướng xã hội chủ nghĩa”; công an mặc áo sư, chính là” giai cấp tu hành ưu việt, đỉnh cao trí tệ tu học, tu hành, tu đạo lẫn đạo tu”, đang dắt tay những Phật Tử thuần thành, tu theo Tam Tạng lúc chưa thỉnh được kinh, cùng” dắt tay nhau đi theo tấm bản chỉ đường của đảng”.

Ngài Thiền sư, sau nầy thu tiền trường kỳ, thu tiền không ngừng nghỉ và trở thành nhà triệu phú Mỹ Kim đáng được lên chức TIỀN-SƯ, nghe đâu sinh năm 1926 tại làng Minh Hương, quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Từ năm 1942 đi tu ở chùa Bảo Quốc ( Huế). Sự nghiệp tu hành trong” quá trình đạo tu” của Thích Nhất Vẹm cũng có nhiều huyền thoại, bí mật, chưa ai” bật mí”, không ai biết Ngài đi tu, thọ giáo với sư nào? Cũng giống như huyền thoại nhân vật Tôn Ngộ Không trong Tây Du Ký, vị thầy bí mật đã truyền dạy cho 72 phép thần thông, để sau nầy làm loạn thiên đình, khiến Phật Bà Quan Âm phải dùng mẹo để nhốt dưới Ngũ Hành Sơn suốt mấy trăm năm. Ảnh hưởng của thiên sư, trước đây là đại đức Thích Nhất Vẹm khá lớn tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975, đặc biệt là trong giới Phật Tử trẻ thời ấy, say mê những quyển sách do Ngài viết ra như quyển” TÃ HỒNG CÀI HÁNG” nghe nói là viết trong rừng, mật khu ở Tây Ninh vào năm 1961, cũng là cảm hứng của các nhạc sĩ, văn sĩ, thi sĩ” động não ra âm” và sau nầy nghe nói đến quyển” Đường Xưa Mây Tắng”….

Đại đức Thích Nhất Vẹm là phát ngôn viên hải ngoại của khối Phật Giáo Ấn Quang, do thượng tọa Thích Trí Quang lãnh đạo, Ngài nầy có” quá trình tu hành chất lượng cao” lắm, tục danh là Phạm Văn Bồng, tự là Kiều Tuấn Cương, gia nhập đảng Cộng Sản Việt Nam từ năm 1957 tại Sơn Tịnh, Quảng Ngải….. Thích Nhất Vẹm được Khối Phật Giáo Ấn Quang gởi ra hải ngoại hoạt động khuynh tả và đồng thời cũng tránh vụ Ngài Nhất Vẹm, một sư trẻ, có dạy vài giờ ở viện đại học Vạn Hạnh, đã có mối quan hệ HỮU CƠ khi mà nhiều phen HỞ-CU với một tín nữ trẻ đẹp có cái tên Tây là” Fleurette” tức là” Đóa Hoa Nhỏ”. Chắc chắc cái” CƠ DUYÊN” mà hai người đã cùng” dắt tay nhau tìm động hoa vàng” để cùng nhau tìm vào”cõi non bồng nước nhược” tại thế, trở thành nguồn” triết lý” để sau nầy Thích Nhất Vẹm lấy làm” cơ sơ tu đạo, đạo tu” (đừng nói lái mà sai ý nghĩa đạo tu) mà sáng tạo lẫn tối tạo ra một thiền tông hiện đại, sau nầy ai cũng biết là THIỀN TIẾP HIỆN, một trong những tông phái tu học HIỆN ĐẠI, vì tu theo lối nầy, khi mà hai người khác phái cùng nhau ngồi thiền trong bóng tối là mau đạt” chất lượng” và” công quả”, nên khi tu là phải” tắt hết đèn” thế là không HẠI ĐIỆN, rất phù hạp với cao trào bảo vệ môi sinh toàn cầu mà thế giới đang quan ngại cái” tình huống” trái đất nóng dần cho lượng khí thải nhà kính” quá tải”.

Tại hải ngoại, với chính sách do các sư khối Ấn Quang thời đó chỉ đạo, nhằm liên kết chặc chẻ với Phong Trào Phản Chiến khuynh tả, gây ồn ào, công tác” khẩn trương thời thượng” là nhằm ủng hộ cho phái đoàn Việt Cộng ở hội đàm Paris từ năm 1968 đến khi đại tướng ngố Văn Tiến Dũng giựt mình tưởng như nằm mơ về cái gọi là” đại thắng mùa xuân 1975″ mà bản nhạc mang tên” Mùa Xuân trên thành phố Hồ Chí Minh” diễn tả đúng tâm trạng chiến thắng bất ngờ, chó ngáp phải ruồi qua câu:” tuổi lớn rồi mà như ngây thơ, ba mươi năm ta mới gặp nhau, vui sao nước mắt lại trào?”, Ngài Nhất Vẹm có cùng chí hướng với nữ tà tử Jane Fonda ( người có huy chương Hồ Chí Minh, có biệt danh là Hà Nội Jane), với mục tiêu hàng đầu” chống Mỹ cứu nước” và” đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào”, rất hồ hởi nghe theo lời dạy Hồ Chủ Địt” tiến lên chiến sĩ đồng bào”….

Ngài được coi là” trí thức Phật Giáo” nặng ký như ngày nay các thứ trí thức Phật Giáo thuộc” Tứ Quái Già Lam, Về nguồn, về hang PÁC PÓ” vậy, được những người đồng hành”yêu chuộng hòa bình một chiều, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” biết đến; năm 1967, quyển sách mang tựa đề là” Lotus in the sea of fire” ( Hoa Sen trong biển lửa) nhằm xuyên tạc chính quyền miền Nam đàn áp tôn giáo, nhất là thời đệ nhất Cộng Hòa, chụp mũ tổng thống Ngô Đình Diệm và cả” Buddha child” Cẩu Cao Cầy sau vụ bạo loạn năm 1966; với cái chết do sự tự thiêu của huề thượng Thích Quảng Đức, cho Hồ Chí Minh là anh hùng dân tộc….. theo tổ chức ACRP (Asia Conference on Religion and peace) thì quyển nầy được dịch ra nhiều ngôn ngữ, chắc chắn là tài liệu” cực kỳ quí giá và chất lượng cao” của phong trào phản chiến và Cộng Sản sử dụng trong công tác tuyên truyền xuyên tạc, cô lập chính phủ miền Nam tự do, gây áp lực đến các nước có mang quân sang giúp Việt Nam chống lại làn sóng đỏ, chủ nghĩa vô thần Cộng Sản đang đe dọa sự an bình trong khu vực….một điểm cần lưu ý là: nếu miền Nam không có tự do tôn giáo, thì làm gì các sư, sải, ni…Phật Tử biểu tình thoải mái từ đệ nhất sang đệ nhị Cộng Hòa?

Những hoạt động của Thích Nhất Vẹm thật ồn ào, được coi là” núp bóng từ bi đâm sau lưng chiến sĩ” hay là” mượn áo cà sa, thờ ma Cộng Sản” từ lâu nhưng vì cái bình phong đạo giáo làm mờ mắt một số người có tập quán” trọng Phật Kính Tăng” một cách máy móc nên Thích Nhất Vẹm mới có môi trường, đám đông ủng hộ, núp bóng để tiếp tục làm lợi cho bọn quỷ đỏ vô thần Việt Cộng, nổi bật là tháng 10 năm 1972, tại Hội Nghị Phật Giáo ở Tokyo ( Nhật Bản), Thích Nhất Vẹm lợi dụng diễn đàn để đòi Mỹ rút quân, thôi giúp miền Nam chống Cộng hầu miền Bắc dể thôn tín.

Sau ngày 30-4-1975, lửa cháy nhà lòi ra mặt chuột, Khối Phật Giáo Ấn Quang huy động hơn 500 Phật Tử để nghinh đón” những đoàn quân rừng rú” về thành phố” nối vòng tay lớn…có lông lá và móng nhọn” tay cầm súng A.K, mã tấu và một số chức sắc các tôn giáo đã xuất đầu lộ diện là tay chân của quỷ, khỏi cần dùng kiếng chiếu yêu cũng lộ diện hẳn từ đầu đến chân, họ rất ư” hồ hởi phấn khởi” nhập bọn; nên từ năm 1981, những chức sắc nầy hợp cùng Mặt Trận Tổ Quốc lập ra Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tại chùa Quán Sứ ( Hà Nội). Thích Nhất Vẹm cũng thôi không làm phát ngôn viên hải ngoại của Phật Giáo, vì” nhiệm vụ đã hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, nên khối Phật Giáo chân chính do huề thượng Quảng Độ, Huyền Quang giao cho ông Võ Văn Ái làm phát ngôn viên, mãi đến nay. Thích Nhất Vẹm trở thành” tịnh khẩu” trước sự đàn áp tôn giáo dã man của đảng Cộng Sản trong nước với các đồng đạo và Phật Tử của mình. Ngài đã từ bỏ chức sắc đại đức, thượng tọa, xưng Thiền Sư, và dạy Thiền, thu phục đệ tử, phát triển Business cho đến ngày nay, cơ nghiệp có phần vững chắc, thu nhập cao, là nghề không vốn và có thể khỏi đóng thuế qua những số tiền cúng dường của các đệ tử Việt, Tây hậu hỷ:

” Nhất Vẹm thật thật, lúc hư hư.
Khi thì thượng tọa, lúc thiền sư.
Áo giấy cà sa đi với quỷ.
Xa rời chánh đạo, lẫn Chân Như”

Trong thời gian bị giam cầm, trù dập, huề thượng Quảng Độ đã gởi tất cả 300 bài thơ cho đồng đạo” thân thương” là Thích Nhất Vẹm ở Pháp để hổ trợ cho công cuộc đấu tranh bảo vệ đạo pháp, thế mà Nhất Vẹm nở lòng nào ém nhẹm, sau nầy mới biết, đúng là” giao trứng cho ác”. Sự im lặng” có ý nghĩa” của Nhất Vẹm thật có lợi cho đảng, vì nếu Nhất Vẹm nêu lên sự đàn áp tôn giáo tại Việt Nam, thì chắc chắn có nhiều người ngoại quốc, Phật Tử gốc Việt thức tỉnh ủng hộ, gây khó khăn cho đảng. Ngài tạm” lùi một bước để chuẩn bị ba bước tiến” trong tương lai, là điều có thể nhìn thấy sau nầy. Cũng giống như tất cả cả THẦY, ai cũng muốn có nơi tu hành ổn định là CHÙA, nên mới có tên gọi” THẦY CHÙA” tức là thầy là có chùa để ở và tu, thờ… ngạn ngữ có câu:” đi tu mà lựa ngôi chùa lớn cho đỡ tấm thân” ai đi tu mà lựa chùa Bà Đanh là buồn lắm, khó đạt tới giác ngộ lắm! Nên Làng-Môn ra đời. Vì muốn phát huy đạo pháp lẫn cơ sở tôn giáo cho lớn, có nhiều người tới lui” còn đời, còn đạo, còn tăng, ta phát triển cơ sở gấp mười lần qua”, trong tinh thần THAY MƯỢN thiền môn làm THƯƠNG MẠI:

” Tiền thu như nước sông Đà.
Tiền chi như thể giọt cà phê phin”

Nên sư nào cũng thành lập Chùa ở hải ngoại là điều dễ hiểu, ở Úc Châu ( tiểu bang N.S.W) có huề thượng Thích Phước Huệ là vị chức sắc cao cấp, nhưng không nằm trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trong nước do huề thượng Quảng Độ, Huyền Quang lãnh đạo; Ngài Phước Huệ được huề thượng thượng thủ Thích Tâm Châu ghi trong quyển Bạch Thư, phát hành từ chùa Phật Quang năm, Victoria, Australia 1994, trang 41 có đoạn ghi sau đây:

” Chùa Phước Huệ của Giáo Hội, nhưng sau Hòa Thượng Tắc Phước (Phước Huệ) ngầm sang tên riêng cá nhân mình. Theo bản tường trình của thầy Thích Quảng Ba, viện chủ Tu Viện Vạn Hạnh tại thủ đô Úc, đề ngày 5-6-1993, gửi về Hòa Thượng Huyền Quang tại Việt Nam như sau: đế nghiệp Thích Tắc Phước đã vững chắc, vì chùa Phước Huệ xây xong, giá 3 triệu, đã lén-vì cả Giáo Hội không ai biết gì cả-đổi xong tên chủ quyền chùa từ của Giáo Hội qua cá nhân Thích Tắc Phước và đệ tử ruột đứng tên”.

Được biết chùa Phước Huệ là nơi xuất phát từ thiện nhộn nhịp ở Úc Châu, có đài SBS dành nhiều thời giờ để quảng bá khắp nước Úc với quỷ cứu tế Phật Giáo VABAT, có thể nói là phái đoàn bác sĩ Mắt Cườm là do nơi nầy chủ xướng, nên người cầm đầu phái đoàn thường là các Thầy, chứ không phải là bác sĩ. Từ nhiều năm qua, phái đoàn mổ mắt cườm về nước thoải mái, hợp cùng các viên chức nhà nước đi làm công tác từ thiện, đi đứng tự do nhiều nơi để đem ánh sáng cho những người bất hạnh với công thức:” tiền do dân tỵ nạn đóng góp, bác sĩ thực hiện, dưới sự hướng dẫn và phối hợp của viên chức nhà nước”. Hy vọng phái đoàn nầy nên ra tận Hà Nội, mổ mắt CƯỜM ĐỎ cho mấy chục tên cán bộ trung ương đảng, để chúng sáng mắt, trả tất cả quyền sống cho người dân Việt Nam, thì đồng bào Việt Nam rất mang ơn phái đoàn.

Làng Môn qui tụ một số Phật Tử Việt, nhưng đa số là người Tây Phương, tỏ ra giác ngộ với lối Tu THIỀN TIẾP HIỆP, được Nhất Vẹm” sáng tạo lẫn tối tạo”, coi là” cuộc cách mạng Phật Giáo thời thượng” mà Làng Môn cũng giống như các Cult ( giáo phái) ở Mỹ, Nhật…với giáo chủ là thần thánh, có quyền ép môn đệ làm theo bất cứ những gì mà mình muốn. Thiền Tiếp Hiện theo lối tu của Cult Làng Môn không phải mới lạ gì trong nhân loại, nhưng Phật Thích Ca đã bỏ hết tất cả để tìm con đường giải thoát, tuy nhiên những người ở các thế hệ sau nầy dù có người đã” chọn con đường của đức Phật” mà tâm vẫn còn vướng nợ phàm trần, họ tìm ra con đường khác để” tu đạo”, làm cho những vị tu hành chân chính chán ngán. Đó là những vị CHÂN TU, nhưng sau nầy lại CHÁN TU mà đi theo con đường” đạo tu” để thường xuyên” tu đạo”.

Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, ở đàng trong do chúa Nguyễn Phước Chu thống lãnh, có một vị sư ở Trung Hoa tên là Thích Đai Sán, mang một thuyền lớn sang, không phải để hoằng hóa đạo pháp, nhưng Ngài Đại Sán dâng cho chúa Nguyễn một tập” Đồ hình Tố Nữ” với những hình vẽ sống động như hình 36 kiểu, đây là đề tài được các hãng phim ở Holliwood” động não” làm ra những cuốn phim R, để hướng dẫn con người” tìm đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần sầu”. Chúa Nguyễn rất tâm đắc, nên cúng dường cho Ngài 5 ngàn lạng vàng và kêu gọi dân đóng góp những sản phẩm địa phương để cho sư màng về Tàu; có thể nói Thích Đại Sán là người đi trước, mở đường cho thiền Tiếp Hiện đấy!.

Ở Úc Châu, vài năm trước đây, có vài ngôi chùa, dường như bị ảnh hưởng thiền Tiếp Hiện nên trong hội chợ Tết có tổ chức cuộc thi Hoa Hậu Áo Dài ngay trong khuôn viên chùa, để cho các vị chân tu nhìn mà cảm thấy” thanh tâm trường an lạc” hầu dể tiến tới” bến giác”. Như chuyện bên Nhật, có vị thiền sư nọ tu mấy mươi năm, ngồi bên khung cửa sổ với cành đào như năm nào, một hôm ông nhìn thấy” cành hoa đào nở, bổng nghe lòng giác ngộ”. Cũng ở Úc Châu, tiểu bang NSW mấy năm trước có một vị sư ngoài tứ tuần, hình như cũng có” điều nghiên” môn thiền Tiếp Hiện rất kỷ và đã đạt tới” giác ngộ” cao, nên hôm nọ ông giả dạng” người phàm” đón một nàng tiên áo trắng đang mời khách ở bên đường để mời về để” tu đạo” có trả tiền thù lao” bán trôn”, nào ngờ nàng tiên áo trắng ấy chính là một nữ cảnh sát Úc giả dạng, thế là vị sư nọ đành ra hầu tòa, báo đăng; nghe đâu vị sư nầy cũng được các thiện nam tín nữ góp tiền xây cho một ngôi chùa, tiếp tục” tu đạo” cho mau” đắc quả”…

Thiền Tiếp Hiện của Làng Môn do thiền sư Thích Nhất Vẹm sáng tạo, cũng không ngoài mục đích cho tâm, thân” trường an lạc lẫn khoái lạc” để mau đắc quả đấy! Ngày nay thiền Tiếp Hiện trở thành một” tông phái thời mạt pháp thời thượng” được phổ biến rất là rộng rải, lan như” dịch cúm gia cầm”, nên giới xem cõi đời là cõi tạm cũng biết thế nào là” đường vào thiền môn có trăm lần vui có vạn lần sầu”, thế là phải tìm cách thoát khỏi vòng” khổ ải”. Theo quan niệm của đức Phật với tứ diệu đế thì ai cũng thầm nhuần” ĐỜI LÀ BỀ KHỔ” nhưng tông phái Tiếp Hiện của giáo chủ Thích Nhất Vẹm khai sáng lẫn khai tối, nhằm hướng dẫn và biến”ĐỜI LÀ BỂ SƯỚNG”, mới là tài. Thế nên các sư gốc công an trong nước cũng đã tạo ra” cái bề sướng” ngay trong chùa để mau đạt đạo; ở hải ngoại cũng có nhiều vị cao tăng đã âm thầm gia nhập và thực hành thiền Tiếp Hiện, như huề thượng Thích Giác Nhôm, biệt danh ẤT CÁI VỒN, là người từng thực hành theo Tiếp Hiện ở Mỹ và cũng bị sư đệ là Thích Giác Ngỡi” phát hiện” lúc đang cùng với một người khác phái” thực hành thiền tiếp hiện” trong tịnh thất riêng ở chùa; được biết Ất Cái Vồn, là người cùng tỉnh với Sáu Dân ( Võ Văn Kẹt), nổi tiếng là người biết quí trọng Trời, Phật, nên cái gì có dính tới tờ giấy in câu” THE GOD WE TRUST” là ngài quí lắm; năm nọ, trong cuốn lịch phát hành, Ngài có đề hai câu thật” chất lượng” như sau:

” Thiện nam tín nữ nơi nơi.
TIỀN mà nhận được, thầy MEO tới liền”.

Huề Thượng Thích Giác Nhôm ( hiện đang chờ về chầu Diêm Vương vì bệnh nặng, bác sĩ chê , hao tổn quá sức khi đi dự Lể VESAK ở Việt Nam mới đây) bôn ba để” thu tiền” trong ta bà thế giái đại đồng, Ngài bôn ba từ nhiều nơi trên đất Mỹ, sang tận Úc Châu để thành lập những cơ sở, thay mượn thiền môn làm thương mại. Nghe đâu Ngài đang phối hợp với cánh Phật Giáo Việt Nam THỨC NHỐNG Phước Huệ Công Đức Tùm Lum, Tà La…với sư Minh Hiếu ( từ Việt Nam sang tu, vào năm 1997, có lần đi chu du cùng với ca sĩ Minh Hiếu, là phu nhân trung tướng Vĩnh Lộc, có qua Úc Châu, mở đường sang thế giới Tây Phương Cực Lạc), huy động Phật Tử” cúng dường theo lối đóng hụi chết” mà không bao giờ hốt hụi, là hình thức” CÔNG ĐỨC HIỆN ĐẠI”; theo đó, Phật tử nào đi chùa, ghi tên và được mời đóng tiền hàng tháng để cho ngôi chùa” mãi mãi xinh tươi, đời đòi bền vững”.

Thiền Tiếp Hiện là tông phái dễ tu, dễ học, dễ” giác ngộ”, là môn tu” ĐẠI CHÚNG” khi gặp phải người khác phái, lúc mà cái” coup de foudre” tác động mạnh là giác ngộ” con đường tình ta đi”, thì đưa đến ” ĐỤNG CHÁY”, và CHÚNG SANH khi thành đạt cái quả trở thành” CHÚNG ĐẺ” là cái quả đạt tới đỉnh cao, do thiền ông cùng với thiền bà, cùng nhau” tu đạo” ra thiền con”.

“Tu đạo, đạo tu, tông phái dòng.
Tiếp Hiện Cao Tu nhập đít mông.
Đá bèo Nhất Vẹm, tu tu đạo.
“Mù mù đợi đợi thích chân không”.

Với lối tu” nhập thiền Tiếp Hiện” nầy, nên Làng Môn thu hút nhiều môn đệ Tây Phương gia nhập, do họ có tinh thần thực tiển hơn người Á Châu, rất phù hợp với môn tu nầy. Tu có đôi có cặp, cùng nhau” ngồi thiền” cũng dể đắc đạo lắm, nên Thiền sư Tiếp Hiện cũng phải biết” động viên” người tương đắc để ngồi thiền. Do đó người viết có bài thơ nầy nhằm” ca tụng công đức” của Ngài Nhất Vẹm, bài nầy chỉ dành riêng cho Làng Môn và môn thiền Tiếp Hiện mà thôi, thành thật xin lổi những vị chân tu, có cái tâm đạo quyết lòng đi theo bổn sư Mâu Ni Thích Ca Mâu Ni, nên không dám” ĐÙA CHI” đạo pháp giới” ĐI CHÙA”. ( bài thơ nầy đã đăng trên tuần báo Thời Báo trước đây trong mục thơ Cà Chua)

Thiền sư bảo vợ ngồi thiền.
Cho tâm khoái lạc, an miền Bồng Lai.
Nhập Thiền Tiếp Hiện ngồi dai.
Đêm ba, ngày bảy, lai rai ngồi hoài.
Ngồi Thiền bất kể đêm ngày.
Cùng nhau tu học miệt mài đạo tu.
Thiền nầy tạm bỏ phiền ưu.
Cho tâm xuất-nhập chu du non Bồng.
Đã là thân phận má hồng.
Ngồi thiền cho nhuyễn, thì chồng mến yêu.

Thời đại văn minh, điện tử, phi thuyền không gian, bom nguyên tử…sinh hoạt xã hội cũng biến đổi, tốt xấu lẫn lộn, sắc sắc, không không, nên tu cũng biến đổi theo thời gian cho phù hợp. Thời trước 1975 ở miền Nam, nghề bán Bar, gọi là Bia Ôm bị người đời chê trách, nhất là bán bar cho quân đội đồng Minh; ngay cả Việt Cộng, khi vào tiếp thu sau ngày 30-4-1975, cũng dành nhiều từ ngũ mạt sát” lối sống đồi trụy” là” tàn dư chế độ Mỹ Ngụy để lại”. Sau hơn 30 năm đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc theo lời Bác dạy, nên con đường BÁC ĐI thành BI ĐÁT, cuối cùng, họ phải gắng thêm cái đầu tàu của ĐẾ QUỐC TƯ BẢN CỰC KỲ PHẢN ĐỘNG, để kéo cái đuôi” tàn dư cua thây ma Marx Lenin”, nhưng cứu đảng chậm sụp đổ theo quan thầy Nga Sô” kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Ngày nay, xã hội Việt Nam phát triển kinh tế là nhờ cái đầu tàu kinh tế thị trường, kéo theo cái đuôi xã hội chủ nghĩa nặng nề là tập đoàn đảng ăn bám, ngồi mát ăn bát vàng, họ không còn” BỐC LỘT” như thời địa chủ, phong kiến, thực dân phản động nữa, nhưng đảng ra tay ĐẬP LỘT dân, mới nguy to. Đảng và nhà nước có nhiều cơ sở khách sạn, giải trí khắp nơi, họ rất chuộng khách Mỹ chiếu cố, nên ngày nay có câu” lạy Mỹ cứu đảng”; do đó mà tình trạng buôn bán phụ nữ, mại dâm lan tràn hơn cả bịnh dịch cúm gà, do vậy mà năm 2005, tổng thống Hoa Kỳ George.W.Bush” đăng ký” tên nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vào danh sách các nước cần giúp đỡ chống bịnh Aids, được coi là nước Á Châu đầu tiên được cái ” chế độ” nầy, qua mặt luôn Trung Cộng. Từ” sự cố thời thượng” ấy, trong nước đang phát triển nhiều ngành nghề nào có chữ ÔM gắng liền, như: bia ôm, cà phê ôm, tắm ôm, nhậu ôm, internet ôm….ngay cả con cháu của đảng viên, cán bộ, thuộc cậu ấm thời đại cũng mướn gái về nhà Ôm trong lúc đang trao dồi kinh sử, hầu thi đổ cao và du học nước ngoài. Theo một bài viết của thượng tọa Thích H. Tôn, ở Melbourne, trả lời thư mời của Nhất Vẹm về nước trai đàng giải oan vào tháng 3 năm 2007, đăng trên tờ Nam Úc Tuần Báo, thì mới biết thiền Tiếp Hiện quả” cao siêu” lắm! phù hợp với thời đại và xã hội Tây Phương, có tập quán” Nịnh đầm” hay Anh có lối” Lady First”.

” L…. MANG tu học LÀNG MÔN như
CU TIẾP tung hoàng, phỉ KIẾP TU
TU ĐẬM dục tình, bà TÂM- Đ….
CÁI GIẢ sư Ông, CẢ-D…. lù.
TU MÔN Tiếp Hiện, TÔN MU chắc!
NHƯ SẮC, không là….khéo NHẮC SƯ.
NIẾT NÀN hỏa ngục, sao NÀNG BIẾT?
GIÁC ĐẠO kiểu nầy, GIÁO ĐẠT ư?

Thiền tông là một trong những pháp môn của Phật Giáo, là phương pháp hướng dẫn người tu tập tìm về” bến giác” để sau nầy khi viên tịch, hy vọng được nhập” Niết Bàn”. Thiền không phải là phép thần thông, là chìa khóa mở cửa” thượng giới” hay thiền sư là người cầm trong tay tấm bản đồ lên thiên thai… đương nhiên không giúp người ta thoát khỏi cảnh” lão, bịnh, tử”. Người học thiền, kể cả thiền sư cũng khó thoát khỏi cảnh” trở về với cát bụi”. Thiền thường được người dạy thiền quan trọng hóa, thành huyền thoại. Cộng Sản lợi dụng Thiền để làm công tác tôn giáo vận, vì họ biết cái tâm lý của những người Việt tỵ nạn, nay đã thành” tư bản” ở các nước tiên tiến, hùng mạnh nhất hoàn vũ. Người ta no đủ về mặt vật chất, thì muốn sống lâu để hưởng, trẻ mãi không già, ít bịnh tật….và lỡ sau nầy có giã từ gác trọ, cũng hy vọng được gần gũi tòa sen….

Từ nhiều năm qua, Việt Cộng gởi một số tu sĩ quốc doanh, lợi dụng tình đồng đạo của các sư ở hải ngoại mà mượn chùa, huy động Phật tử để thuyết pháp, dạy thiền, ru ngủ, từ thiện, giám điệp, cài người…. điễn hình là Việt Cộng cử huề thượng, kiêm thiền sư Thích Thanh Từ sang hạ cờ vàng ba sọc đỏ, kinh tài ( thu tiền qui y, như ở Western australia, ai muốn qui y với thầy, phải nộp 300 Úc Kim), gây phân hóa, giải độc cho đảng….Thanh Từ mang theo cả băng Video dạy Thiền, được một số Phật Tử sao chép làm phước, nên bang thiền được phổ biến rộng rải. Theo một số người tin tưởng Thiền, họ chỉ cần bỏ ra một số thời gian, ngồi hít thở cho nhuyễn theo đúng phương pháp, đến khi khi làm cho Nắp Nhạo ở đỉnh đầu mỏng dần, cuối cùng nổ nghe cái” Bóc” là hồn về Niết Bàn, thành Phật, dễ dàng như đi siêu thị mua đồ, chết là di chuyển từ cõi thế sang thượng giới dễ như chuyện đổi vùng từ Post Code nầy sang Post code khác trong hệ thống Bưu điện. Như vậy thì những tên giết người, cướp của như Hồ Chí Minh, Đổ Mười, Lê Khả Phiêu, Phan Văn Khải, Võ Văn Kiệt, Nông Đức Mạnh…khỏi cần tu, hàng ngày chỉ cần ngồi thiền do các sư quốc doanh hết lòng chỉ dạy, thì cũng thành chánh quả hết cả hay sao?

Huề Thượng. H. Tôn còn cho biết là sư” Đóa Hoa Nhỏ” đã chửi một bà lão trên 70 tuổi vì bà nầy quá kính tăng mà niệm Phật, do Làng Môn không chủ trương gọi Phật như truyền thống Phật Giáo ngàn năm nay, dù họ vẫn mặc áo cà sa, dùng bình phong của Phật để hành nghề” bán Phật”. Họ không chấp tay niệm Phật chào nhau như thói quen, nhưng các tín đồ có tác phong” đạo hạnh” khác là ÔM NHAU lúc gặp nhau, đây là lối sáng tạo, rập khuôn theo kiểu Liên Sô thời Cộng Sản, khi các” đồng chí thân thương, bầu bạn năm châu” gặp nhau, họ không bắt tay như lối cư xử cực kỳ lạc hậu, lổi thời của” bọn đế quốc phản động” mà ôm nhau cho chắc, thì lúc nghịch cũng đâm cho mạnh tay hơn. Hình ảnh các tu sĩ Làng Môn ôm nhau lúc chào hỏi, không khác gì cảnh chủ ĐỊT Hồ Chí Minh ôm hôn đồng chí Stalin hay Mao Chủ Chí khi hai bên gặp nhau để ký kết tình hữu nghị đời đời bền vững, môi hở răng lạnh;

“HAY ÔN tu tập, mãi HÔN AI?
ĐỂ TU đủ cặp, ĐỦ TÊ hoài.
CÁI TU Nhất Vẹm, nên C…TÁI….
LÀ BỔN chân không L…BẢ bày!
RỒNG LỘN không không L…RỘNG đấy.
BẮT CỌP sắc sắc BÓP C…ngay.
TU THIỀN Tiếp Hiện TIÊN THÙ Phật.
TỰ TẠI tà tâm tại TẠI TỤ…Mai.”

Sau cuộc khủng bố 11 tháng 9 năm 2001, Hoa Kỳ lãnh đạo các nước đồng minh mở cuộc tấn công vào sào huyệt của tổ chức Al Qaeda, dưới sự che chở của tập đoàn Taliban ở Afghanistan. Được biết, Việt Cộng là một trong số nước hiếm hoi ủng hộ Taliban, chống đối Hoa Kỳ. Lúc đó Nhất Vẹm hành động nhịp nhàng, ăn khớp như thời chiến tranh Việt Nam: từ Làng Môn bay sang Hoa Kỳ, chọn thành phố New York, nơi vừa xảy ra cuộc khủng bố để” thuyết pháp” Thiền Sư cho đăng trên báo chí, dám chi ra số tiền lớn đến 45.000 Dollars trên tờ New York Times, viết nhiều kỳ, với nguyên trang A 5 và A 22, trong đó Ngài tấn công Mỹ một cách có chiến lược qua việc: liên đới lúc Mỹ dội bom ở tỉnh Bến Tre, dội bom trên đầu 300 ngàn căn nhà, mà bên dưới có 7 du kích”. Trên trang web của Ngài Thích Nhất Vẹm có bài phỏng vấn của Anne A Simpkinson, có tựa đề là:” what I would say to Osama Bin Laden?”, được sư ông trả lời như sau:” When we learned of the bombing of the Ben Tre village in Vietnam. Where 300.000 homes were destroy, and the pilots told Journalists that they had destroyed the village in order ta save it. I was shoked, and (racked) with anger and grief”.

( Người viết bài nầy tình cờ gặp một nhà báo thâm niên người Anh chánh hiệu, là ông Norman, hơn 40 năm là ký giả, phó chủ bút tờ The Western Australia, có số đọc giả hàng ngày lên đến 1 triệu; ông là người có đọc qua nhiều tác phẩm bằng tiếng Anh của tác giả” Tã Hồng Cài Háng” về thiền, sau khi đưa bản văn nầy, trích từ tờ Dân Văn, số 113, Quốc Dân Đảng Âu Châu, thì ông giựt mình, khi so sánh với lối hành văn trong các quyển sách trước và đoạn văn nêu trên, ông cho biết là: LỐI VIẾT NẦY SAI VÀ KHÔNG ĐÚNG THEO LỐI HÀNH VĂN CỦA NGƯỜI ANH. Được biết thiền sư nầy là” trí thức Phật Giáo” đấy, từng học đại học Mỹ, từ năm 1967 đến nay, viết nhiều sách bằng tiếng Anh, rất là đúng điệu, nên không ai thắc mắc. Năm 2001, với đoạn văn ngắn nêu trên, hình như đây là cái” chân như của Ngài” như cây kim để trong bọc lâu ngày bị lòi ra. Nên có nghi ngờ là những quyển sách từ trước đến nay của Ngài thiền sư LÀNG MÔN do ai đó sửa chửa, hay viết dùm gì đó…cũng như quyển” Đóa Hồng Gai” cũng do ai đó viết dùm thôi”)

Ai cũng biết tập đoàn Taliban là thủ phạm phá hủy tượng Phật ngàn năm, thế mà Nhất Vẹm lại ủng hộ bọn nầy. Vì bị dư luận phản đối nên Ngài đành chạy sang Cali, mở cuộc hợp ngày 14-10-2001, cũng luận điệu nầy. Hành vi của Nhất Vẹm bị tuyệt đại đa số dân phản tỵ nạn phản ứng, nhưng một số người Mỹ lại bị Ngài cho uống thuốc mê, nên trúc căm giận trong vụ khủng bố trên đầu người Việt, vì họ lầm tưởng Nhất Vẹm cũng là người Việt tỵ nạn; áp dụng câu” con sâu làm sầu nồi canh” nhằm đánh tan những thế lực chống Cộng hải ngoại một cách êm thấm, mượn tay người ngoại quốc để triệt hạ, như Ngài đã từng dùng phong trào phản chiến khuynh tả để tấn kích chính phủ miền Nam trước 1975. Ý đồ của Nhất Vẹm quá lớn, xuýt làm tan hết uy tín, cảm tình của dân Mỹ là kẻ” thừa nước đụt thả câu”, luôn tìm đủ mọi cách để đâm sau lưng những nạn nhân Cộng Sản và cũng là nạn nhân của hắn, sống tha hương, thế mà vẫn bị theo đuổi để làm hại mãi; Thích Nhất Vẹm thù dai như Việt Cộng vậy. Nhất Vẹm đi tới đâu là làm lợi cho Việt Cộng đến đó, ngay cả xuất hiện trên băng nhạc Paris By Night 40 do trung tâm THÚI NGHE với Mc Nguyễn Nọc Nạn ( nhà văn Ngã Ba Ông Tạ) và đám chủ nhân” văn nghệ quốc gia, thờ ma Cộng Sản” thực hiện, hình ảnh Nhất Vẹm giống cái chuông kiểu Nhật Bản, mở đầu cho những bản kinh cầu ru ngủ thân Cộng, sau đó là cảnh bôi nhọ quân lực VNCH trong pha dội bom, rồi bà mẹ chiến sĩ, bông lúa đỏ….một thời gây chấn động dư luận.

Do đó sau thời gian” khổ nhục kế” với lý do đảng không cho về nước, năm 2005, Nhất Vẹm cùng với hơn 200 tăng ni Làng Môn, đa số là Tây về nước nhằm giải độc cho đảng qua những cuộc đàn áp tôn giáo dã man, chuẩn bị du luận quốc tế để đảng gia nhập WTO….và tháng 3 năm 2007, được đảng bố trí để làm trai đàng, cầu siêu rần rội, nhằm đánh bóng đảng, cổ động chiêu bài” hòa hợp hòa giải theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Cho nên người ta không lạ gì thiền sư Nhất Vẹm, là cơ sở tôn giáo hải ngoại, có tầm vóc, ảnh hưởng một số người Tây Phương, nên người ta có thể cho là:

“Đảng cần, Nhất Vẹm có.
Đảng khó, có Nhất Vẹm”.

Cũng giống như Hồ Chí Minh, dù đã từng là tay” dân chơi đại đồng” thưởng thức gái Pháp, Nga, Tàu,Việt, thiểu số…mà vẫn được nhiều cán ngố tin là” bác vẫn còn Trinh”, thế mới đúng như Nguyễn Du nói về nàng Kiều:” chữ trinh còn ở chỗ nầy”. Đảng Cộng Sản tuyên truyền là:” một đời bác lo cho dân, cho nước, không nghĩ đến gia đình”. Nhưng nếu Bác làm hôn thú như người dân bình thường, thì phải tốn rất nhiều” thủ tục hành chánh” để hoàn thành và văn phòng của Bác cũng không đủ chỗ để treo các” giấy hôn thú” ( Marriage Certifcate). Thiền sư, tức là sư ông Thích Nhất Vẹm cũng thế, Ngài hết lòng lo cho tu đạo, lẫn đạo tu với sư bà ” Đóa Hoa Nhỏ” nên cũng hổng có thời giờ để đi đến tòa án làm giấy hôn thú.

Bây giờ thì có một chuyện nữa là tác giả của hồi ký” ĐÓA HỒNG GAI” đang là một” chuyện giả nhưng viết y như thật”, được các cơ sở đảng chống Cộng Dỏm Vịt Tiềm quảng bá, ra mắt sách nhiều nơi, sang tận Úc Châu….tác giả nghe đâu có ăn học, đậu bằng” tú tài hưa”, thật là” chi lọa rứa, chu choa nó ơi!”, nhưng giọng văn là Bắc, mới LỌA; tác giả được cả trung tâm THÚI NGHE mời” phỏng giái thu hình” và nghe qua thì tội nghiệp cho” nhà văn”, kiêm chiến sĩ phục quốc trong mặt trợn Hoàng Cơ Manh, hoạt động ngay tại Việt Nam trước khi xuất ngoại, cũng là nhân viên cao cấp trong kế hoạch Phượng Hoàng, tức là” Điệp viên KHÔNG, KHÔNG CÓ” là người hết lòng lo cho đất nước mà:” không có cơ hội lập gia đình”.

Chắc là nhà văn nầy dù có học cao, nhưng chưa theo kịp đà văn minh nhân loại, ngày nay, người ta lên cung trăng lâu rồi ( 1963) và năm 2005, Trung Cộng mới bay vài vòng quỷ đạo, chưa gặp Hằng Nga, thua Đường Minh Hoàng thời nhà Đường…Mỹ lên tới Hỏa Tinh, nên cái chuyện” vá, ghép, thay” cơ phận cơ thể là chuyện nhỏ; nếu tác giả” đóa hoa hồng gai” muốn tìm tu đạo theo” thiền Tiếp Hiện” thì trước tiên là đi tìm các bác sĩ giải phẫu thẫm mỹ, họ sẽ tân trang mặt mày, bom vú, độn mông, hút mở bụng, chẻ cằm….và bên trong là” hiện đại CỬA MÌNH”, nếu cầu cũng” vá màng trinh như con gái” mười tém”, thì các ông lé cả mắt, dám bỏ vợ lớn để cưới lắm chớ bộ ( chuyện gái đẻ 5 con mà vẫn còn màng trinh, không cò là chuyện LỌA nữa). Đóa Hồng Gai nầy hổng phải là hồng có gai, mà là THÀI- LÀI được cặm bải CỨT CHÓ là thứ Vịt Tiềm, nên sau thời gia” nở gai” như kế” thiết trụ khai hoa” trong tam thập lục kế, thì THÀI-LÀI cũng trổ mã, như là thứ cây tạp nhạp trong cái:” Một Vườn Hoa có nhiều hương sắc” của tác giả Nông Quốc Chấn ( có thời là bộ trưởng Văn Hóa trong nước).

Đảng Cộng Sản có sách lược dùng tôn giáo để giữ đảng, tuyên truyền…vì ngày nay không ai nghe đảng cướp Việt Cộng nói, nên họ cần những vị lãnh đạo tinh thần để nói dùm đảng, tiếp tục tuyên truyền láo khóet. Do đó vai trò của các tu sĩ quốc doanh, nhất là các sư, linh mục thân Cộng hải ngoại là công cụ đắc lực, có khả năng đắc dụng lắm. Vì thế mà Làng Môn và Thích Nhất Vẹm là mũi nhọn xung kích trong mặt trận tôn giáo, kinh tài, ngoại vận. Từ trước, ở trong nước đảng từng” phong quân hàm Phật Sống” cho Thích Thanh Từ. Ngày nay nghe đâu Thích Nhất Vẹm cũng trở thành” Phật sống” như đức Đai Lai Đa Ma Tây Tạng. Đây là vấn đề nguy hiểm, khi kẻ phá đạo được thành Phật qua thủ đoạn chứ không phải do tu hành, gian khổ, công phu, làm hoen ố đạo Pháp, ảnh hưởng không nhỏ cho uy tín Đức Phật.

Cho nên sự kiện trùng hợp về việc một nhà tỷ phú Ấn Độ đã” tâm đắc” trước quyển sách của thiền sư Nhất Vẹm, nghe đâu mới viết cách đây không lâu, tựa là” Đường Xưa Mây Tắng”, theo đài phát thanh ẾCH BỊ ẾCH, do chính trưởng đài, dành khá nhiều phút để ca vấn đề nầy, đại ý đây là tin” cực kỳ hồ hởi phấn khởi” có tác dụng làm” rẻ rang rân Riệt” lắm! Vì một thiền sư Việt Nam mà được như vậy, quả là hiếm hoi, xứng đáng là” Phật Sống” lắm, đây là hợp đồng kỳ lạ, khi vị tỷ phú mang phim qua Holliwood đóng, các tài tử qua Làng Môn học một khóa thiền” Tiếp Hiện” để nhập vai cho linh hoạt. Thích Nhất Vẹm không lấy thù lao bản quyền cả bạc triệu. Tin nầy thật hấp dẫn, không biết cuốn phim đi tới đâu ( tin nầy diễn ra trong thời gian Ngài chuẩn bị những đợt về Việt Nam).

Theo lịch sử, thì cuộc đời của Đức Phật hơn 2700 năm, tại Ấn Độ, Trung Hoa…và các nước theo Phật Giáo như Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan, Nam Hàn, Nhật….con số tín đồ hàng tỷ, có biết bao vị cao tăng, học giả Phật Giáo…..từ hàng ngàn năm, chả lẽ không ai viết về cuộc đời của đức Phật hay bằng Thích Nhất Vẹm? Nhất là vị tỷ phú Ấn Độ nầy chỉ đọc qua bản dịch từ tiếng Việt mà đã” giác ngộ” đến thế? Tuy nhiên cái quyển sách mang tựa đề” đường xưa mây tắng” của Nhất Vẹm ít thấy xuất hiện trong” các tàng kinh các” tại các tự viện hải ngoại, cũng không ai biết, chỉ trừ khi nghe vài cơ quan truyền thông như đài phát thanh quảng bá.

Qua những sự kiện nêu trên, thiền sư Nhất Vẹm đã làm gì cho đạo pháp, dân tộc? Nhưng dù sao thì Ngài là người khai” tiên phong” lập ra môn phái Thiền Tiếp Hiện, không niệm Phật mà vẫn dùng bình phong của Phật để phát huy môn phái, quả xứng đáng là GIÁO CHỦ GIÁO PHÁI TU ÔM; cũng như Việt Cộng đàn áp nhân dân, nhưng nhiều thứ được gắng liền với nhân dân như: quân đội nhân dân ( không phục vụ quyền lợi nhân dân, chỉ làm công cụ ngoại bang và bảo vệ đảng cướp Cộng Sản), Công An Nhân Dân ( công cụ đàn áp nhân dân), Ủy Ban Nhân Dân ( cơ quan áp bức nhân dân)….Do đó, những người đã biết mình lầm” kính tăng” mà tin tưởng Nhất Vẹm thì đã sáng mắt sau năm 1975, còn những ai chưa qua khỏi giấc ngủ Tam Tạng, tiếp tục quỳ lạy ma quái giả thành Phật thì nên tỉnh giấc càng sớm càng tốt,, bằng không là có ngày bị ma quái xơi tái, hay lạc lối tìm về chánh đạo./.

Trương Minh Hòa

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: | 3 Comments »

Tôi Vượt Biển Cùng Với Tác Giả « Đóa Hồng Gai »

Posted by tudodanchu trên Tháng Tám 28, 2008

Tôi Vượt Biển Cùng Với Tác Giả « Đóa Hồng Gai ». – Ngô Đông Cường –

Vừa qua, tôi đã đọc thật kỹ về bài viết : Huyền Thoại « Hoạt Động Tình Báo Phượng Hoàng » của Nguyễn Thanh Nga tác giả « Đóa Hồng Gai » của Nhà bình luận Mai Vĩnh Thăng.
Tôi cũng như ông Mai Vĩnh Thăng, đã từ lâu tôi không muốn viết lên sự thật ; bởi nghĩ rằng : Dưới ánh sáng mặt trời thì mọi sự không sớm thì chầy nó cũng sẽ được phơi bày một cách rõ ràng, nên không muốn nhắc lại chuyện xưa.

Nhưng, đến nay thì tôi tự thấy rằng mình cần phải nói tất cả sự thật, để ông Mai Vĩnh Thăng và đồng bào hiểu thêm về tác giả « Đóa Hồng Gai » là bà Nguyễn Thị Sáu, tức Nguyễn Thị Liên và bây giờ là Nguyễn Thanh Nga.
Sau khi đọc cuốn « Hồi Ký Đóa Hồng Gai » ; tôi bỗng giật mình, bởi tôi nhớ lại những chương và những điều đã có ghi trong tập « Tài Liệu Tuyệt Mật » của Việt Tân ( bản photocopie ) gồm 19 trang, đủ cả hai bản, một bản thảo viết tay và một bản đánh máy. Tôi vội vàng đem ra đọc lại ; và bất ngờ tôi đã tìm ra đâu là sự thật.

Trước khi nói đến tập « Tài Liệu Tuyệt Mật » ấy. Trước hết, tôi xin tường thuật thật rõ ràng về chuyến vượt biển của tôi cùng bà Nguyễn Thị Sáu-Liên-Thanh Nga, tác giả « Đóa Hồng Gai » như sau :

Chúng tôi bước lên tàu và rời Việt Nam vào lúc 23 giờ đêm 07/09/1977, tại bãi Khánh Dương, Vĩnh Lộc, Thừa Thiên- Huế.

Chủ chiếc tàu này là ông Mai Văn Trúc, nhưng ông không đi vượt biển trong chuyến này, mà đã bán cho một người thân của gia đình ông, và là một người bạn thân của tôi. Chúng tôi đã đóng góp vàng để mua chiếc tàu này, đồng thời chúng tôi cũng đã mời ông Mai Văn Tre là em ruột của ông Mai Văn Trúc làm tài công và cùng đi với chúng tôi. Hiện nay ông bà Mai Văn Trúc và ông bà Mai Văn Tre đang có mặt tại Cali, Hoa Kỳ.

Trở lại với chuyến vượt biển trên. Sau khi rời bãi Khánh Dương, tàu bị lạc hướng và tấp vào đảo Trường Sa lúc 01 giờ sáng ngày 10/09/1977. Sau khi tát nước chúng tôi liền rời khỏi Trường Sa, định chạy về hướng HongKong ; nhưng một lần nữa lại bị lạc vào đảo Hoàng Sa vào lúc 03 giờ sáng ngày 11/09/1977. Chúng tôi đã bị quân đội Trung Quốc bắt giữ cho đến ngày 15/09/1977, lúc 16 giờ chiều, chúng tôi mới được cho đi. Chúng tôi liền rời Hoàng Sa để đi đến Hải Nam. Nhưng vì gặp bão quá lớn nên tàu đã bị trôi dạt và tấp vào bãi Thừa Lưu, Lang Cô, Thừa Thiên-Huế, ; và đã bị Công an Biên phòng Thừa Lưu bắt vào lúc 02 giờ sáng ngày 20/09/1977, tất cả những người đi trên tàu đều bị đưa về giam tại đồn công an biên phòng Thừa Lưu.

Đêm 22/09/1977, lúc 20 giờ, tất cả bị đưa về giam tại Lao Thừa Phủ, Huế. Ngày 30/09/1977, tất cả bị giải giao về Đà Nẵng. Trong số này bị chia ra và bị giam hai nơi, một số giam ở « Đồn Công An Thành Phố Đà Nẵng » ở số 47, đường Trần Quốc Toản Đà Nẵng. Một số giam ở nhà giam Kho đạn, chợ Cồn ở số 15, đường Đào Duy Từ Đà Nẵng.

Sau khi kết cung, tất cả lần lượt bị đưa vào các nhà giam : Hội An-Tam Kỳ và cuối cùng là Trại cải tạo Tiên Lãnh, Tiên Phước, Quảng Nam.

Trên chuyến tàu vượt biển này gồm có tất cả là 26 ( hai mươi sáu người). Trong đó có :

Ông Nguyễn Văn Nhứt : Thuyền trưởng.
Ông Mai Văn Tre : Tài công ( Hiện gia đình ông Mai Văn Tre đang có mặt cùng gia đình người anh ruột là Mai Văn Trúc tại Cali, Hoa Kỳ, như đã nói ở trên).
Ông Nguyễn Văn Bé : Thợ máy
Và các vị : Nguyễn Quang Mỹ cùng con trai là Nguyễn Quang Vui ( Sinh viên)
Ngô Đông Cường- Giáo sư Trần Công Ngạn- Giáo sư Đào Nguyên Dương là Giáo sư Trường Trung Học Sao Mai, Đà Nẵng.
Hồ Minh Trung và con trai tên Hồ Minh Trực 11 ( mười một tuổi) Nguyễn Văn Tùng( Hiện đã định cư tại Cali, Hoa Kỳ- Nguyễn Văn Cẩm, Hạ sĩ quan Hải Quân…..
Trong số này, phía người Hoa có hai thiếu nữ và bốn người nam, ông Lưu Khánh Trường làm thông ngôn Hoa-Việt . Phía nữ người Việt, có hai người là cô Quỳnh Nga ( tức Café Nga) và người anh tên Dũng (sinh viên) và một thiếu phụ, đó là bà Nguyễn Thị Sáu tức Nguyễn Thị Liên, bà này là vợ bé của bạn tôi là ông thuyền trưởng ; và bây giờ bỗng dưng trở thành Nguyễn Thanh Nga tác giả « Đóa Hồng Gai ». Nên biết, trong gia đình của bà Nguyễn Thị Sáu-Liên-Thanh Nga, trừ hai người con đầu đã chết, chúng tôi không biết tên ; còn tất cả đều mang tên theo thứ tự như : Nguyễn Thị Ba- Nguyễn Thị Bốn- Nguyễn Văn Năm và Nguyễn Thị Sáu.

Phía gia đình của bà Nguyễn Thị Sáu-Liên-Thanh Nga gồm có năm người cùng đi trên chiếc tàu vượt biển này…
Có một điều nữa, nhân đây, tôi cũng xin minh xác để ông bà Mai Văn Trúc và ông bà Mai Văn Tre hiện đang có mặt tại Cali, Hoa Kỳ, hiểu được về số vàng 10 (mười) lượng đã không được trọn vẹn trước khi vượt biển. Số vàng ấy do chúng tôi đóng góp và chính tôi đã trao mười lượng vàng này cho bà Nguyễn Thị Sáu- Liên-Thanh Nga, và hai ngày sau cũng chính tôi đã cùng đi với bà Sáu-Liên-Thanh Nga đến gặp bà Mai Văn Trúc và người em chồng là ông ông Mai vănTre tại điểm hẹn. Và chính bà Nguyễn Thị Sáu-Liên- Thanh Nga đã cầm trên tay số vàng mười lượng này để tao tận tay của bà Mai Văn Trúc. Tôi tin tưởng bà Sáu-Liên-Thanh Nga, bà là vợ bé của bạn tôi. Tôi cũng hiểu bà Mai Văn Trúc cũng đã tin tưởng bà Sáu-Liên-Thanh nga, vì bà này là vợ bé của người thân của gia đình họ Mai, nên bà đã không cần kiểm tra trước. Còn một ân tình nữa mà chúng tôi không bao giờ quên được ; là ông bà Mai Văn Trúc chỉ lấy tượng trưng có mười lượng vàng, rồi giao tàu cho chúng tôi vượt biển ; chứ thực ra chiếc tàu ấy nếu bán cho đúng giá thì ít nhất cũng phải gấp đôi hay gấp ba. Tuy nhiên, vì biết chúng tôi không làm sao có đủ số vàng đó, nhưng lại muốn thoát thân, nên ông bà Mai Văn Trúc cảm thông mà giúp đỡ cho chúng tôi có được phương tiện để vượt biển, mà không tính toán gì cả. Nhưng chẳng may, chúng tôi cùng ông Mai Văn Tre và bà Sáu-Liên Thanh Nga và tất cả đều bị bắt và ở tù.

Sau khi ra tù, tôi được biết bà Mai Văn Trúc có gặp vợ chồng bạn tôi. Theo bà Mai Văn Trúc kể, thì sau khi chúng tôi vượt biển, bà đã đến một người bạn là thợ kim hoàn để kiểm tra số vàng mà do chính tay của bà Sáu-Liên-Thanh Nga đã trao tận tay cho bà Mai Văn Trúc. Nhưng sau khi kiểm tra, thì người bạn của bà Mai Văn Trúc cho biết là trong số mười lượng vàng đó, có hai lượng là vàng giả. Chúng tôi cũng biết mục đích của bà Mai Văn Trúc đến gặp bạn tôi, không phải để đòi chúng tôi phải trả thêm hai lượng vàng nữa, để cho đủ mười lượng ; mà ý của bà Mai Văn Trúc là chỉ muốn cho chúng tôi biết là bà chỉ nhận có tám lượng vàng mà thôi.

Nhân đây, chúng tôi những người đã gom góp số vàng trên. Trước hết, chúng tôi chân thành xin gửi đến ông bà Mai Văn Trúc và ông bà Mai Văn Tre với tất cả lòng biết ơn sâu xa nhất. Chúng tôi cũng hiểu rằng, hiện nay hai gia đình họ Mai đã định cư tại Hoa Kỳ rồi, thì cả hai gia đình ông bà Mai Văn Trúc và ông bà Mai Văn Tre cũng không cần đòi chúng tôi phải trả tiếp hai lượng vàng đó. Song ngoài sự biết ơn, chúng tôi cũng muốn nói với bà Mai Văn Trúc là chúng tôi đều là những người chân thật, chúng tôi không bao giờ đem vàng giả để trao cho bà ; bởi như thế là bất lương, là lường gạt. Nhưng chúng tôi có lỗi, vì trong thời gian ấy, chúng tôi là những người đang sống trong lo sợ nên không dám giữ vàng trong người, ; song chúng tôi vì thiếu suy xét, nên đem lòng tin cậy mà đã dại dột đem trao mười lượng vàng ấy cho bà Nguyễn Thị Sáu-Liên-Thanh Nga cất giữ cho đến ba ngày. Bởi vậy, chúng tôi không hiểu bà Sáu-Liên-Thanh Nga đã làm những điều gì, mà từ mười lượng vàng thật sau đó nó chỉ còn tám lượng với hai lượng vàng giả.

Và vì thế, chúng tôi những kẻ đã thọ ân của hai gia đình họ Mai. Chúng tôi xin thành thật xin lỗi ông bà Mai Văn Trúc và ông bà Mai Văn Tre. Mong hai gia đình cảm thông những điều thiếu sót đã qua.

Khi nhắc lại những điều này. Chúng tôi muốn nhắc nhở cho bà Sáu-Liên-Thanh Nga rằng bà đã từng đã gây nên những sóng gió. Trong đó có chuyện trước khi vượt biển, giữa lúc mưa bão mà bà đã dựng chuyện rằng :
« Thằng Nguyễn VănTrường nó bị công an bắt rồi, nó đã khai hết tên họ của những người cùng đi với nó ».
Nên biết, suốt trong thời gian trước khi vượt biển, chúng tôi lúc nào cũng lo sợ sẽ bị công an đến bắt đi vào tù, nên không dám đi lại như những người bình thường. Chỉ có bà Sáu-Liên-Thanh Nga ở trong khách sạn Tao Nhã và khách sạn Đông Kinh tại Đà Nẵng. Chủ của hai khách sạn này là bạn của bạn tôi. Bà là đàn bà con gái nên chúng tôi đã tin cậy mà giao hết mọi việc cho bà. Đến khi nghe bà Sáu-Liên-Thanh Nga nói như thế, chúng tôi hoảng hốt ai cũng đòi xuống tàu đi ngay. Ông Nguyễn Quang Mỹ còn nói :
« Thà chết dưới biển còn hơn là bị công an bắt bỏ tù ».

Sau đó, đa số đã đồng tình đòi xuống tàu vì sợ công an đến bắt. Khi chiếc tàu rời bãi Khánh Dương thì gặp bão, và khi thấy mạng sống của mọi người vô cùng mong manh, lúc ấy, bà Sáu-Liên-Thanh Nga mới nói thật với bạn tôi rằng :
« Em xin lỗi anh, vì nôn nóng muốn rời Việt Nam, nên em đã nói dối là thằng Trường nó đã bị công an bắt và đã khai hết những người cùng đi ; chứ sự thật thì thằng Trường nó không có bị bắt. Bây giờ, chắc chúng ta sẽ chết dưới đáy biển, nên em muốn nói thật với anh để xin lỗi anh và mong anh tha thứ ».

Sau khi nghe những lời này, bạn tôi và chúng tôi nữa đã vô cùng hối hận vì đã dại dột đặt lòng tin cậy vào bà Sáu-Liên-Thanh Nga, để xãy ra nông nỗi ấy. Để rồi tất cả phải vào tù của cộng sản.

1. Những ngày lênh đênh trên biển :

Chúng tôi không bao giờ quên được những ngày lênh đênh với sóng bão ; khi tàu bị ngập nước bà Nguyễn Thị Sáu tức Liên-Thanh Nga đã ỷ lại là vợ bé của bạn tôi, là người mà nhiều người trên tàu rất quý mến, bà đã nói mọi người phải tát nước, riêng mấy đứa cháu của bà là không tát nước. Nghe bà Sáu-Liên-Thanh Nga nói như vậy, Giáo sư Trần Công Ngạn đã lên tiếng phân giải rằng :

« Nước đã tràn vào tàu nhiều quá, ai cũng phải góp một bàn tay tát nước, thì nước mới cạn, chứ không thì nếu chết thì phải chết tất cả ».

Giáo sư Trần Công Ngạn chỉ nói chừng đó thôi, như thế mà bà Sáu-Liên-Thanh Nga đã nỗi Tam bành- Lục tặc lên bà la hét mọi người , bà còn mắng nhiếc cả Giáo sư Trần Công Ngạn ; nhưng ông vốn là người tu hành nên ông chỉ chép miệng thở dài chứ không hề nói một lời nào cả. Giờ này, chúng tôi biết Giáo sư Trần Công Ngạn Ông đang ở đâu đó nơi hải ngoại, chắc một lần nữa ông cũng chỉ biết thở dài mà thôi.

Ấy vậy mà trên sân khấu Thúy Nga ông Nguyễn Ngọc Ngạn đã ca « CÔ »Nguyễn Thị Thanh Nga » tức bà Nguyễn Thị Sáu-Liên-Thanh Nga như là một nữ thánh. Bà Nguyễn Thị Sáu-Liên-Thanh Nga còn nói là bà « …không có cơ hội để lập gia đình… »( bà còn con gái). Mà kể cũng lạ, Bởi trước đây cũng trên sân khấu Thúy Nga, ông Nguyễn Ngọc ngạn trong trái phá B.40, ông từng tuyên bố :
« Cuộc chiến cũ đã đi vào tiền kiếp ».
Trong chúng ta, có ai là người nhớ đến « Tiền kiếp » của mình. Như thế, tại sao ông Ngạn còn nhớ và nhắc đến cái « Tiền kiếp » vọng ngữ của bà Sáu-Liên-Thanh Nga. Hay quả đúng như lời của cụ Gàn Bát Sách trước đây đã viết trên Văn Nghệ Tiền Phong :
« Cái Tiền kiếp của Nguyễn Ngọc Ngạn, Tiền kiếp nghĩa là Kiếp làm tiền ».
Nếu chằng phải như thế, thì hà cớ ông Ngạn phải cải danh, từ cái Ruột Làng Hồng đỏ loét, trở thành cái vỏ Làng Mai ?

Nên biết, trong những cuốn « Niên giám » và tài liệu cũ mà nhiều người còn lưu giữ, thì cái vỏ Làng Mai bây giờ nó đều ghi rõ ràng là Làng Hồng. Song cho dù có thay đổi cách gì chăng nữa, thì cái ruột của nó đời đời nó vẫn Đỏ loét. Hay Nguyễn Ngọc Ngạn cũng như Trịnh Công Sơn : « Ta thấy em trong tiền kiếp với mặt trời lẽ loi… »

Trên đây, là những chuyện ông Nguyễn Ngọc Ngạn đã tững gắn bó với những người trong « Tiền kiếp ». Còn ở kiếp này, thì ngoài công việc đứng trên sân khấu Nguyễn Ngọc Ngạn cũng là người đứng trên đài « Tiếng Nước Tôi » mà nếu ai muốn biết thì xin hãy vào Diễn Đàn Mẫu Tâm ( http://www.mautam.net ). Mục « Tin Tức Văn Nghệ Sĩ Hải Ngoại » ; sẽ thấy có người đưa lên diễn đàn cho biết « Nguyễn Ngọc Ngạn trên đài Tiếng Nước Tôi ». Nhiều người bạn của tôi, khi thấy hình ảnh Nguyễn Ngọc Ngạn trên cái « đài » này họ đã nói : Tưởng là ai chứ Nguyễn Ngọc Ngạn, thì bất kể thứ nước nào cha Ngạn này cũng chơi hết, chứ chẳng riêng gì cái nước tôi.

Mà ai muốn nói đến Nguyễn Ngọc Ngạn thì « Đánh chó cũng phải ngó chủ nhà »; Nghĩa là phải xem chừng đến « ông » Thầy của Nguyễn Ngọc Ngạn là Nhất Hạnh. Trong trái phá B.40, Nguyễn Ngọc Ngạn đã cung kính gọi Nhất Hạnh là Thầy, và xưng Con. ; Nhất Hạnh là Thầy cũng là Sư Phụ của Nguyễn Ngọc Ngạn. Vì vậy, Nguyễn Ngọc Ngạn cũng có bà Sư Mẫu là Cao Ngọc Phượng, nên ai muốn « Đánh »… Nguyễn Ngọc Ngạn, thì « cũng phải ngó chủ nhà » là sư phụ và sư mẫu Nhất Hạnh-Cao Ngọc Phượng.

Còn một điều nữa là bà Nguyễn Thị Sáu – Liên-Thanh Nga đã viết trong cuốn tạp nhạp « Đóa Hồng Gai » cũng như từng nói trên sân khấu Thúy Nga và nhà báo Vi Anh trên đài SBTN rằng « Công an Đà Nẵng đã vào Hố Nai bắt tôi vào năm 1976». Trong khi sự thực thì bà và chúng tôi đã bị Công an Biên Phòng Thùa Lưu bắt vào lúc 02 giờ sáng ngày 20-9-1977, như đã nói ở trên. Điều này, chỉ đúng độc nhất là việc liên quan đến đứa con trai tên Dương của bà Sáu-Liên-Thanh Nga tại Hố Nai mà thôi. Chuyện liên quan này rất dài dòng nên khó kể hết ; chúng tôi có thể kể ở những bài sau..

Chúng tôi không biết những kẻ nào đã đạo diễn và viết cho bà những điều bịa đặt ngu xuẩn ấy. Vì một khi đã bị công an Việt Nam bắt giam thì bất kể là ai, cũng đều phải tự tay viết và ký « Bản Tường Thuật – Bản Sơ Yếu Lý Lịch- Bản Kiểm Điểm…; và đều phải chụp hình với hai tay nâng cái tấm bảng màu đen, có số tù màu trắng trước ngực. Bà Nguyễn Thị Sáu –Liên-Thanh Nga cũng không ngoại lệ. Hiện nay, tất cả các tư liệu do chính tay bà Sáu-Liên-Thanh Nga viết và ký, cũng như những tấm hình chụp có mang số tù, chắc chắn đều còn lưu giữ trong « Hồ sơ phạm nhân » tại các cơ quan công an Thừa Lưu- Lang Cô, Thừa Thiên- Lao Thừa Phủ, Huế, Đà Nẵng, Tam Kỳ, Hội An – Ty công an Quảng Nam-Đà Nẵng và trại cải tạo Tiên Lãnh, Tiên Phước, Quảng Nam, cũng như tất cả những tù nhân khác.

Một lần nữa, chúng tôi khẳng định rằng bà Nguyễn Thị Sáu, tức Nguyễn Thị Liên, tức Nguyễn Thanh Nga, tác giả « Đóa Hồng Gai » đã cùng đi với người chồng mà bà là vợ bé và cùng chúng tôi trên chuyến tàu vượt biển, trong đó có các vị mà tôi đã nói ở trên, đã rời Việt Nam vào lúc 23 giờ đêm tại bãi Khánh Dương, Vĩnh Lộc, Thừa Thiên-Huế. Đã bị Công an Biên phòng Thừa Lưu bắt giam . Sau đó bị giam tại lao Thừa Phủ, Huế, rồi bị giải giao về Đà Nẵng. Cưối cùng là Trại Cải Tạo Tiên Lãnh như đã kể ở trên. Chứ không hề có chuyện công an Đà Nẵng đã đi vào tận Hố Nai để bắt bà như những lời bịa đặt, dối trá của bà Sáu-Liên-Thanh Nga.

Ngoài những chuyện đối trá đó, bà Sáu-Liên-Thanh Nga không bao giờ dám nhắc đến chuyến vượt biển cùng chúng tôi ngày nào. Bà cố tìm cách để giấu kỹ, vì bà sợ mọi người sẽ biết là bà đã từng làm vợ bé. Nhưng tai hại thay, là chúng tôi những người cùng vượt biển, cùng bị công an biên phòng Thừa Lưu bắt , tất cả hiện vẫn còn sống. Chúng tôi là những người bạn của người mà đã lấy bà làm vợ bé ; đa số đang có mặt tại hải ngoại ; đông nhất là tại Hoa Kỳ. Chúng tôi có dự tính sẽ tổ chức một ngày họp mặt thân hữu, để cùng chia xẻ những buồn vui vượt biển. Lúc ấy, trên mạng lưới toàn cầu, chúng tôi sẽ mời tất cả những người cùng đi trên chuyến tàu vượt biên ngày ấy, chúng tôi còn nhớ tên, còn liên lạc với nhau. Bây giờ biết được tin tức của bà Sáu-Liên-Thanh Nga ; chúng tôi cũng sẽ mời bà để cùng nhau ôn lại những ngày lênh đênh trên biển cả, cũng như những năm thàng bị đưa vào các nhà giam và tù cải tạo. Và chúng tôi cũng sẽ mời nhiều người đã cùng đi trên chuyến tàu vượt biển, đã rời Việt Nam vào lúc 23 giờ đêm tại bãi Khánh Dương, Họ sẽ viết lại những gì đã xãy ra trên chuyến đi đầy sóng gió này. Sau đó sẽ cùng chọn tên để in thành Tuyển Tập Vượt Biển. Tôi biết bà Sáu-Liên-Thanh Nga suốt đời sẽ không bao giờ quên được những gì đã xãy ra trên chiếc tàu vượt biển năm xưa, cũng như vẫn khó quên được cái tên Ngô Đông Cường này.

Trở lại với cuốn « Hồi Ký » Đóa Hồng Gai ». Sỡ dĩ tôi quả quyết là có những kẻ đạo diễn và đã viết theo lời kể dối trá của bà Nguyễn Thị Sáu-Liên-Thanh Nga, vì tôi biết một cách chắc chắn là bà này không hề bước vào cái thềm của bậc Trung Học, chứ đừng nói đến Đệ Nhất Cấp hay Tú Tài. Tôi cam đoan, nếu bất ngờ, không có đạo diễn trước, mà có ai chỉ cần đọc cho bà Nguyễn Thị Sáu-Liên-Thanh Nga một đoản văn nào đó và bảo bà chép lại, thì chắc chắn bà sẽ viết sai chính tả ít nhất cũng quá năm lỗi . Hoặc có ai bất ngờ hỏi bà về một môn nào đó của chương trình Trung học, thì tôi biết chắc bà sẽ kêu nhức đầu rồi xỉu cho qua ải.

Còn một điều khác là trong cuốn « Đóa Hồng Gai » tác giả là người Quảng Nam, nói tiếng Quảng Nam đặc như mọi người đã nghe thấy. Như vậy mà những từ ngữ trong cuốn « Hồi Ký » thì lại viết những từ rất Bắc như dùng từ « buồng giam », trong khi người Quảng Nam đều gọi là phòng giam. ; về chế độ ăn uống của tù nhân bà đã viết : « …gồm một ít khoai, sắn, hay ngô… Nên nhớ, là người Quảng Nam không bao giờ gọi là ngô mà gọi là bắp. Từ ngô là của người Bắc. Và trong cuốn « Hồi ký » này cũng đã viết từ Bố của người Bắc nhiều lần, trong khi người Quảng Nam ai cũng đều gọi đấng sinh thành của mình là Cha hoặc Ba chứ không bao giờ gọi bằng Bố.

Chúng tôi vẫn nhớ rõ ràng lúc đi thẩm cung ở lao Thừa Phủ, Huế. Bà Nguyễn Thị Sáu tức Nguyễn Thị Liên tức Thanh Nga khi một « Cán bộ Chấp pháp » hỏi đến phần trình độ học vấn bà đã nói nguyên văn là : « Dạ tui đã đậu Tú Từa Hưa ». ( Tôi đã đậu Tú Tài hai). Nhưng đến khi nộp « Bản tường thuật » thì « Cán Bộ Chấp Pháp » tay cầm « Bản tường thuật » miệng la lớn tiếng với bà mà ai cũng nghe cả, nguyên văn như sau :
« Chị tưởng cộng sản là ai cũng dốt hết phải không ? Chị có biết tôi là ai không ? Chị khai là đã đậu Tú tài 2, mà chị viết một bản tường thuật chỉ ba trang giấy mà đã sai chính tả hết hơn hai chục lỗi à. Chị nói đã đậu Tú tài 2, thì tôi yêu cầu chị cho tôi biết là chị đã học ở Trường Trung Học nào, ban nào và các niên khóa, tên những ông Giáo sư chị đã học ? Chị cũng phải khai rõ chị thi Tú tài ngày tháng nào và ở đâu ?
Tôi cho chị biết tôi đã từng sống và đã dạy ở nhiều trường Trung Học tại Đà Nẵng, Chị không biết tôi, nhưng nhiều học sinh Trung Học ở Đà Nẵng biết tôi đấy. Tôi cho chị biết, chị sẽ ở tù vì cái tội phét lác của chị, chị hãy ghi nhớ lấy lời của tôi nói hôm nay đấy nhé ».

Mà quả đúng như vậy, Không phải chỉ với « Công an Chấp pháp » mà ngay cả bây giờ bà Sáu-Liên-Thanh Nga cũng không trả lời được những câu hỏi ấy.

Bà Nguyễn Thị Sáu-Liên-Thanh Nga đã kể rằng, nhờ bà có tiền đưa cho công an Đà Nẵng, nên bà đã sao lục lại được các giấy tờ, thì bà cũng phải biết, người khác, nếu họ có tiền, thì họ cũng sao lục được những tư liệu của bà ở các cơ quan công an vậy. Song theo tôi nghĩ không cần phải có tiền, nhưng nếu có ai đó họ muốn làm sáng tỏ mọi việc, họ nêu ra những điều hợp lý, thì công an Việt Nam cũng sẽ cho họ những bản photocopie của những gì mà họ cần.

Tất cả những điều tôi đã viết ra đây, không phải chỉ những người trên chuyến tàu vượt biển ngày nào, mà cả trại cải tạo Tiên Lãnh ai cũng biết bà Sáu-Liên-Thanh Nga đã từng làm vợ bé.
…Bà Sáu-Liên-Thanh Nga có muốn chúng tôi viết lên những gì đã xãy ra tại Hố Nai và đứa con trai tên Dương của bà hay không ?

Tôi vẫn nhớ, có một lần trong trại cải tạo, khi đội nhà 10 do Thiếu tá Trương Quang Dõng làm đội trưởng khi đi lao động ngang qua trại nữ, lúc đó bà Sáu-Liên-Thanh Nga đang nhóm rác ở tổ vệ sinh trước trại ; và Thiếu tá Trương Quang Dõng đã bị bà Sáu-Liên-Thanh Nga chửi mắng và đòi tát vào mặt vì cái « tội » nói bà là vợ bé của bạn tôi đến nỗi « cán bộ dẫn giải » phải đứng ra can thiệp. Anh Trương Quang Dõng và vợ là chị Tuyết cùng các con hiện đang có mặt tại Hoa Kỳ.

Tôi hiểu được tâm trạng đau khổ, hối hận của bạn tôi vì đã trót lầm lỡ lấy bà Nguyễn Thị Sáu-Liên-Thanh Nga đến có con . Bây giờ bạn tôi đã sống ấm êm bên vợ và một đàn con cháu. Vì thế, nên bạn tôi không muốn các con của ông biết đến chuyện sai lầm của cha mình. Nhưng tôi nghĩ rằng các con của bạn tôi nay đã trưởng thành, có trình độ Đại Học, thì các cháu ấy sẽ không có sự trách móc gì đến chuyện sai lầm của cha mình trong quá khứ. Về phần người vợ của bạn tôi là một người rất rộng lượng, cảm thông. Nên tôi nghĩ rằng, đến một ngày nào đó, bạn tôi sẽ lên tiếng để nói lên mọi sự thật. Tôi đang chờ ngày ấy.

Trong trại cải tạo ai cũng biết bà Sáu-Liên-Thanh Nga có biệt danh là « Con Liên Bẹc » « Bẹc » là một tiếng lóng trong trại có nghĩa là láo-phét, để chỉ người hay nói phét. Chính trong cuốn « Đóa Hồng Gai » bà Sáu-Liên-Thanh Nga đã viết « : « Liên là tên thường gọi của tôi ». Và ông Phạm Hồng khi ngồi bên cạnh bà Sáu-Liên-Thanh Nga trên đài SBTN để trả lời phỏng vấn của nhà báo Vi Anh, ông Phạm Hồng cũng xác nhận là : « Đã nghe những lời của công an trại nữ nói về cái con Liên- Liên, cái con Liên-Liên đó ».
Bà Sáu-Liên-Thanh Nga chắc không bao giờ quên được cái tên Nguyễn Thị Liên từ đâu mà có chứ ???
Cũng trong cuộc phỏng vấn này bà Sáu-Liên-Thanh Nga đã nói với nhà báo Vi Anh :

Tôi làm cả Tham Mưu và cả Hành Chánh. Tôi có quyền quyết định tất cả mọi việc… »

Nghe những lời nói trên đây của bà Sáu-Liên-Thanh Nga, có nhiều người bạn của tôi đã nói là chắc bà này hoặc là điên, hay là « Điếc không sợ súng ». Bởi bà không biết một điều sơ đẳng nào cả, không biết Tham Mưu và Hành Chánh là như thế nào nên mới nói càn, nói ẩu, hoặc phát cơn điên, nỗi cơn hứng mới dám phát biểu một cách đại ngôn như vậy.
Chẳng những Đại ngôn đâu, mà bà Sáu-Liên-Thanh Nga còn lòi đến tận cùng của cái dốt khi lập đi, lâp lại với nhà báo Vi Anh rằng :« Tôi muốn cuốn hồi ký ( Đóa Hồng Gai) được quay thành PHIN… ». Tôi nhớ hôm đó, có mấy người bạn tôi ngồi xem, đến khi bà cứ nói PHIN…PHIN …PHIN thì ai cũng cười hết..

2. Những hành vi của Nguyễn Thị Sáu-Liên-Thanh Nga trong trại “cải tạo” :
.
Lúc còn ở trong trại cải tạo, có lần tôi bị bệnh được đưa về nằm tại bệnh xá Trại 1. Tôi có quen biết nhiều nữ tù ; trong đó có cô Hoàng Thị Ký An, là Ái nữ của Trung Tá Hoàng Em Nguyên Chỉ huy trưởng Quân lao Quân Khu 1, ông cũng ở cùng trại tù với con gái ruột là cô Ký An ; và tôi cũng thường gặp cô Ký An và nhiều nữ tù khác, mỗi lần họ vào bệnh xá trại nam để nhổ răng hay khám bệnh, vì trại nữ không có Bác sĩ. Vì vậy, nên tôi đã biết nhiều về những việc làm bất nhân của bà Sáu-Liên-Thanh Nga, kể ra thì nhiều lắm nhưng tôi chỉ nói qua một số ít như sau :

Phải nói cho đúng là trong thời gian đầu kể từ ngày bị bắt vào lúc 02 giờ sáng ngày 20/09/1977, tại đồn công an biên phòng Thừa Lưu cho đến tháng 05 năm 1981,ở trong trại cải tạo bà Sáu-Liên-Thanh Nga vẫn được nhiều người trong trại thương mến.
Tại trại cải tạo hàng năm « Ban Giám Thị » đã nói có ba đợt tha tù đó là : « Sinh nhật Bác Hồ- Lễ Độc Lập 2-9 và tết Nguyên Đán, nếu ai học tập cải tạo tốt thì sẽ được tha ».

Bà Sáu-Liên-Thanh Nga, đã được tha vào dịp 19/05/1981. Bà đã vào hội trường trại nam cùng một số người khác học tập nội quy lần cuối, đã làm « Tờ kiểm điểm » để xuất trại. Nhưng bất ngờ đến buổi sáng ngày ra trại khi bà cùng một số nữ tù ra cổng để báo cáo xuất trại thì đã bị nghe đọc « Lệnh Câu Lưu Của Ban Giám Thị » .

Thực ra bà không có tội gì lớn mà phải bị câu lưu, mà đã vì cái tội nói phét. Bà Sáu đã bị bà Nguyễn Thị Ngân một cán bộ can tội « Tham ô » hại bà. Bởi trong thời gian ở trại giam Tam Kỳ lúc đó Bà Sáu-Liên-Thanh Nga còn được gia đình thăm nuôi, còn bà Ngân thì không có ai thăm nuôi cả. Vì thế, bà Ngân vì thiếu thốn nên hàng ngày phải múc nước cầu thay cho bà Sáu mỗi phiên vệ sinh , ngoài ra phải rữa chén, giặt áo quần cho bà Sáu-Liên-Thanh Nga. Bà Sáu-Liên-Thanh nga cũng cần một người như vậy, nên đồng ý cho bà Ngân ăn chung. Tại các trại tạm giam như Đà Nẵng-Hội An- Tam Kỳ thì các « Phạm nhân » đều bị giam chung một phòng. Nhưng khi bị giải giao lên trại cải tạo Tiên Lãnh, thì các tù nhân đều bị chia ra. Vì thế, bà Sáu-Liên-Thanh Nga không ở chung phòng với bà Ngân . Tại trại cải tạo ai cũng phải biết một trong « 35 điều nội quy » của trại là : « Điều 27 : Nghiêm cấm mọi trại viên không được bắt người khác phục vụ cho mình ».
Biết « Nội quy » là như vậy, Mặc dù hai người ở riêng hai nhà , nhưng hàng ngày bà Ngân cứ đến xin thức ăn của bà Sáu-Liên-Thanh Nga . Lúc bấy giờ, thấy không thể bắt bà Ngân phục vụ cho mình như trước nữa, vì sợ « Vi phạm Nội quy » nên bà Sáu không chịu giúp đỡ bà Ngân. Chính vì thế, bà Ngân đã làm một « Tờ trình » nghĩa là tố cáo bà Sáu-Liên-Thanh Nga lúc ở dưới trại tạm giam ở chung với nhau bà Sáu-Liên-Thanh Nga đã nói với bà rằng :
« Ngày xưa tui làm lớn lắm, mỗi lần chính quyền ở quê tui mà bắt được Việt Cộng thì họ phải trói lại để dưới gốc cây đa, rồi cho người mời tui về nhìn mặt rồi mới đem ra xử bắn ».

Những lời bà Ngân tố cáo này tôi nghĩ cho đến nay cũng còn lưu giữ tại trại cải tạo Tiên Lãnh. Theo tôi, thì bà Sáu-Liên-Thanh Nga chỉ nói phét, chứ không bao giờ có cái chuyện chính quyền nào mà có những việc làm như vậy. Vả lại, bà Sáu-Liên-Thanh Nga là cái thá gì mà quyền hành ghê gớm như thế ?
.
Chính vì vậy, mà bà bị « câu lưu » để điều tra. Cái miệng nó hại cái thân, bà bị đi thẩm cung nhiều lần. Nhưng không hề bị cùm giờ nào cả. Nên biết, nhà cùm biệt giam ở bên trại nam, trại nữ không có nhà cùm, nhà cùm này nằm ngay cạnh nhà 12, góc Hội trường của trại, gần cổng trại nam nhìn xuống nhà cấp dưỡng ( nhà bếp). Trừ những người cựu tù trong trại cải tạo này đã và đang là đồng Đảng với bà Sáu-Liên-Thanh Nga, còn tất cả các vị khác đều công nhận những điều tôi nói là hoàn toàn đúng với sự thật. Cũng nên biết, mỗi lần đi thẩm cung, mọi người đều thấy bà Sáu-Liên-Thanh Nga, luôn luôn ngồi giữa thanh thiên bạch nhật trên chiếc ghế cạnh chiếc bàn được « Trật tự » trại đem kê sẵn ở ngay Hội trường, để bà Sáu-Liên-Thanh Nga ngối viết « Tường thuật ». Nên biết là Hội trường trống trơn không có vách, nên ai cũng nhìn thấy cả. Mà chính vì nói phét nên bà viết « Tường Thuật » hoài mà « Cán bộ An ninh » chẳng hiểu một điều gì ; bởi vậy, nên bà cứ phải viết nhiều lần, chứ không có bị công an tra tấn, đánh đập gì cả. Nên biết, những « Cán bộ An ninh » này đều có « Trình độ nghiệp vụ » hẳn hoi, nên không dễ gì khai gian, nói dối. Khi tôi viết những điều trung thực này tôi biết rằng sẽ có người chụp mũ tôi là cộng sản hoặc bênh vực công an trại. Nhưng tôi không sợ, vì cộng sản mà biết nói những lời trung thực hay sao ? Và tại trại cải tạo này, tôi thấy chỉ có « Cán bộ dẫn giải » tức công an vũ trang là có quyền đánh tù nhân, có khi đánh đến trọng thương, nếu « Vi phạm Nội quy » như : Trốn trại, không chịu lao động… còn « Cán bộ Quản giáo » và « Cán bộ Trực trại »thì không bao giờ đánh tù ; nhưng lại có quyền lập biên bản mỗi lần tù nhân có những lời nói khinh thường « Các cán bộ » hay « Nói xấu chế độ » … những « Tội » này một khi bị lập biên bản và đưa lên « Ban Giám Thị » thì chắc chắn sẽ bị vào nhà cùm hoặc bị « Câu lưu ». Thời gian « câu lưu » tùy theo mức độ « Vi phạm ».

Sau một thời gian bị thẩm cung, có một lần bà Sáu-Liên-Thanh Nga bị cúp thăm nuôi. Và từ đó, suốt thời gian bị câu lưu từ tháng 5 năm 1981, cho đến ngày bà rời trại cải tạo, không có ai đi thăm nuôi bà một lần nào nữa cả. Trong thời gian này, phải nói là bà sống trong cảnh rất thiếu thốn. Hàng ngày với phần ăn của tất cả tù cải tạo đều chỉ được chia cho một chén sắn độn cơm ( loại chén nhôm mà ngày xưa bộ đội miền Bắc thường dùng, nó lớn bằng cái bát uống nước loại nhỏ) và một tô canh rau muống hoặc đậu, bí, bầu… do tù sản xuất. Chỉ đến các ngày lễ như : Lễ Độc Lập 2-9, hay Tết Nguyên Đán… thì tù cải tạo mới được ăn « Bồi dưỡng » bằng cơm trắng và mấy lát thịt heo.

Và cũng chính vì những sự thiếu thốn, gia đình không thăm nuôi vì bà chị đi buôn Sài Gòn bị tai nạn gãy tay. Cộng thêm với tánh tình và lời nói khiếm nhã, nên đã khiến các bạn tù mà từ lúc đầu mới nhập trại họ từng thương mến, nhưng sau đó họ bắt đầu xa lánh. Nên biết, có nhiều người trong trại không bao giờ có thăm nuôi, vì gia đình nghèo hoặc vợ đã bỏ đi lấy người khác, song họ vẫn được các bạn tù chia xẻ nên không quá thiếu thốn.

Riêng bà Sáu-Liên-Thanh Nga, từ lúc bị câu lưu có thể vì quá sợ nên quẩn trí, tinh thần của bà mỗi ngày càng khác lạ. Rồi đến một ngày bà nỗi điên, bà không làm ăng-ten lén lút, mà bà công khai trước mắt mọi người, hễ thấy trong trại có chuyện gì được cho là « Vi phạm Nội quy » là bà công khai gọi « cán bộ trực trại » đến để trình ; dù là chuyện nhỏ nhặt như đổi áo quần lấy quà thăm nuôi… bà trình tuốt luốt. Trình đến nỗi có những lần « Cán bộ trực trại » chán quá nên khi bà gọi : « Thưa cán bộ …Thưa cán bộ… » là « Cán bộ trực trại » đã giã vờ không thèm nghe và bỏ đi không quay nhìn lại. Bởi thế, nên suốt ngày, đêm ; suốt những tháng năm cuối trong trại, bà Sáu-Liên-Thanh Nga đã bị các tù nhân đồng lòng cô lập ; không một ai nói chuyên với bà, dù chỉ một lời thôi. Tôi còn được các bạn trong trại đã kể nhiều chuyện lắm, như chuyện bà đã đem lòng yêu say mê các Sĩ quan như anh Mai Chiến Hạ, Giáo sư Nguyễn Văn Phùng, anh Đỗ Phạm Hiển…trong khi họ chỉ xem bà như là bạn tù, chuyện đó dễ hiểu, bởi họ đều biết bà là vợ bé của bạn tôi và cũng là bạn tù của họ. Có lẽ sau khi đọc bài viết của tác giả Mai Vĩnh Thăng, tôi nghĩ rồi sẽ có nhiều bài viết của nhiều người cùng trại nữa, để mọi việc sẽ được rõ ràng hơn.

Nhưng tôi biết chắc có một nạn nhân của bà Nguyễn Thị Sáu-Liên-Thanh Nga đã bị « Kỷ luật » nặng nhất đó là bà Nguyễn Thị Cương, bà là vợ của ông Đặng Chua ; nhà ở Phường Thanh Bồ, Đà Nẵng. Bà can tội đưa người vượt biển, vì bà đã đưa người em gái ruột cùng ba đứa con nhỏ đi vượt biển, để đoàn tụ với người chồng là một thông dịch viên ở trong quân đội Hoa Kỳ ; ông đã di tản trước khi đất nước rơi vào tay của cộng sản. Vì vậy, mà bà đã bị kết án ba năm tù ở, khi vào trại bà Nguyễn Thị Cương cho bà Sáu-Liên-Thanh Nga ăn chung một thời gian. Nhưng không hiểu tại sao sau đó bà Cương không cho bà Sáu-Liên-Thanh Nga ăn chung nữa. Có người nói : Lý do là vì bà Sáu-Liên-Thanh Nga không có thăm nuôi, cũng có người cho rằng cái tánh tình của bà Sáu « Ưa làm bà nội người ta » nên bà Cương không chịu nỗi, nên không cho ăn chung.

Song, dù vì lý do nào đi nữa, thì bà Sáu-Liên-Thanh Nga cũng đã làm bà Cương phải bị câu lưu ba tháng. Đó là nhân ngày lễ giảm án hàng năm tại hội trường trại nam, vào tháng 5/1984. Bà Nguyễn Thị Cương đã được đọc tên là trại viên được giảm án sáu tháng. Nhưng đến ngày mãn án, bà Cương chuẩn bị để ra trại, thì bà Sáu-Liên-Thanh Nga đã làm « Tờ trình » với « Ban Giám Thị » nội dung nói bà Cương đã kể với bà Sáu-Liên-Thanh Nga là do chồng bà Cương chạy vàng cho tòa án nên bà được giảm án sáu tháng. Chuyện này hư thực ra sao, chồng bà Cương là ông Đặng Chua có chạy vàng hay không thì chẳng ai biết. Nhưng « Ban giám thị » đã gọi cả hai người, cả bà Cương lẫn bà Sáu-Liên-Thanh Nga đều phải vào Hội trường trại nam để viết « Bản Tường Thuật ».. Phần bà Cương đã viết là không hề nói chuyện đó với bà Sáu-Liên-Thanh nga ; còn phía bà Sáu-Liên-Thanh Nga thì lại khai là chính bà Cương đã kể chuyện đó. Nhưng ai cũng hiểu, cho dù ông Đặng Chua có chạy vàng cho vợ được giảm sáu tháng tù thì cũng vì lòng thương vợ. Riêng về phía « Ban Giám Thị » cho dù có biết chuyện chạy vàng có thật, thì cũng ở dưới Tòa Án Thành Phố Đà nẵng, chứ công an tại trại cải tạo chắc chẳng có xơ múi gì. Nhưng « Ban Giám Thị » trại đã tuyên bố :

« Trại viên Nguyễn Thị Cương đã bôi bác chế độ, chứ nhà nước XHCN luôn luôn trong sạch không bao giờ nhận tiền, vàng hối lộ. Vì vậy, chúng tôi quyết định câu lưu trại viên Nguyễn Thị Cương ba tháng và chịu phạt lao động công ích một tháng ».

« Lao động công ích » , nghĩa là phải lao đông 12 giờ một ngày, không được nghĩ trưa ; và bà Nguyễn Thị Cương đã phải chịu đủ hình phạt ấy trước khi rời trại.
Sau khi ra tù vì quen biết với ông Đặng Chua, tôi đã đến thăm viếng gia đình ông bà ; đến lúc tôi định chào ông bà xin cáo từ, thì bỗng đâu có hai cháu, là con gái của ông bà xuất hiên trước mặt tôi, đó là cháu Đặng Thị Vinh và cháu Đặng Thị Hiển. Hai cháu đều nói với tôi : « Tụi con nghe nói bác cùng đi vượt biển với bà Liên, vậy tụi cháu xin bác chỉ cho tụi con biết cái mặt của bà Liên( tức Sáu- Thanh Nga) để tụi con coi thử cái mặt bả ra làm sao mà bả ác quá vậy ? ».
Tôi chưa kịp trả lời hai cháu Vinh- Hiển, thì bà Nguyễn Thị Cương liền kéo tay tôi ra hiên nhà nói nhỏ :
« Tui xin ông, ông đừng có chỉ cho hai đứa nó biết mặt con Liên, Vì tui sợ hai đứa nó tức giận, lỡ tụi nó đánh hay nó thuê người đánh con Liên là tui khổ lắm đó ».
Tôi hỏi : Sao chị lại khổ ?
Bà Cương trả lời : « Vì nếu như vậy, công an mà bắt ra họ khai thác, họ sẽ biết hai đứa này là con gái của tui, thì họ sẽ bắt tui, họ sẽ nói tui thù con Liên, nên tui trả thù, mà tui sợ ở tù lắm ông ơi ! Một lần tui tởn tới chết. Vậy, tui xin ông đừng bao giờ chỉ cho tụi nó biết mặt con Liên nghe ông ».

Nghe những lời bà Cương nói như vậy, tôi đã hứa là không cho hai cháu Vinh-Hiển biết mặt bà Sáu-Liên-Thanh Nga ; mặc dù lúc đó tôi cũng như nhiều người từng ở trong trại cải tạo Tiên Lãnh, đang sống tại Đà Nẵng, đều biết hàng ngày bà Sáu-Liên-Thanh Nga vẫn đạp xe đạp đi đến ngồi bán thuốc lá lẽ ở ngã tư Chợ Cồn, Đà Nẵng.

Sau một thời gian, tôi lại nghe những người cựu tù nói lại là bà Sáu-Liên-Thanh Nga đã bị mấy người phụ nữ lạ mặt đánh cho một trận đòn chí tử, đi không nỗi, phải bò, đến nỗi phải bỏ đất Đà Nẵng ra đi. Không ai biết người nào đã đứng đàng sau mấy người phụ nữ lạ mặt đã đánh bà Sáu-Liên-Thanh Nga. Bởi lúc ở trong tù, bà đã gây thù chuốc oán quá nhiều.

Trong lần thăm viếng này tôi có hỏi lại chuyện chạy vàng cho tòa án ; thì ông Đặng Chua trả lời : « Tôi chẳng có chạy vàng, tiền gì cả. Chỉ vì bà vợ tôi, vì thương em ruột của bả nên đã đưa mẹ con nó đi vượt biển, để cho vợ chồng con cái đoàn tụ, còn vợ tôi không có vượt biển mà phải ở tù, trong khi các con tôi gồm năm đứa, chỉ có cháu Vinh và Hiển là lớn, còn ba đứa sau còn nhỏ, từ bốn tuổi, năm tuổi và bảy tuổi, mà thiếu mẹ ; nên tôi đã làm đơn xin cứu xét gửi đến Tòa Phúc Thẩm Đà Nẵng. Vì thế, họ đã cứu xét và giảm án sáu tháng ».
Đó là chuyện thiên hạ sự. Hư thực như thế nào tôi cũng không cần biết. Chỉ thấy tội bà Cương phải bị câu lưu ba tháng tù, mà còn bị phạt « Lao đông công ích » nữa.

Về những « Bản Tường Thuật » và những lời tố qua, tố lại do chính tay của hai người là bà Nguyễn Thị Cương và Nguyễn Thị Sáu-Liên-Thanh Nga đã viết và đã ký, tôi chắc hiện vẫn còn lưu giữ tại trại cải tạo Tiên Lãnh.

3.Những Hoạt động trong Mặt Trận Hoàng Cơ Minh của tác giả « Đóa Hồng Gai » :

Từ trang số 216, bà Nguyễn Thị Sáu-Liên-Thanh Nga, đã kể rất nhiều về những hoạt động của bà và đã nhận tiền của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh ( tức Đảng Việt Tân) khi còn ở trong nước vào tháng 4 năm 1991 ; nhưng vì quá dài dòng nên tôi không thể trích hết vào đây. Tuy nhiên, tôi cũng phải trích vài đoạn ngắn như sau :

« Về Sài Gòn được ít lâu, anh Nuôi đến tận Bàu Nai gặp tôi và hẹn tôi tới một tiệm ăn ở gần chợ Hòa Hưng, để gặp một đại diện của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh mới ở Mỹ về.
Trước đây, tôi đã nghe tên Mặt Trận Hoàng Cơ Minh khi đài BBC và báo chí trong nước tường thuật về cái chết của Tướng Hoàng Cơ Minh… Tôi nghĩ rằng đây là một tổ chức dám làm nên rất phấn khới ( từ phấn khởi này sao nghe giống Việt Cộng quá vậy ?) khi được gặp đại diện của Mặt Trận….Anh Nuôi giới thiệu với tôi người lạ mặt đó là ông Phạm Trung Bửu, (Bí danh) Tổng Vụ Phó Quốc Nội của Mặt Trận…
Trong cuộc gặp gỡ lần thứ hai này, ngoài tôi, anh Nuôi và ông Bửu, còn có thêm anh Trung tá Tấn ( hiện cũng đang ở Mỹ). Trong buổi cơm chiều hôm đó, ông Bửu đã trình bày cho tôi biết sơ qua về tổ chức của Mặt Trận và mục tiêu mà Mặt Trận muốn đạt tới. Ông nói ông có nhiệm vụ thiết lập thêm nhiều cơ sở hoạt động ở trong nước và hướng dẫn tôi về các phương thức xây dựng các cơ sở hạ tầng tại địa phương. Sau đó ông trình bày về các công tác mà Mặt Trận muốn giao cho tôi thực hiện. Ông hỏi tôi có thể đảm nhận những công tác đó không. Tôi bảo đảm với ông tôi thừa can đảm và kinh nghiệm để làm những chuyện đó. Ông liền giao cho tôi một số công tác để thử. Tôi đã hoàn thành không có gì khó khăn.
Một thời gian sau, Mặt Trận có giao cho tôi những công tác khác và gởi cho tôi một số tiền để thực hiện các công tác đó. Tôi cũng đã hoàn thành một cách tốt đẹp….

Đến trang 232, chương Chân Trời Mới- Ra Hải Ngoại.

« Khi tôi báo tin cho đại diện của Mặt Trận biết tôi được phái đoàn phỏng vấn… ông Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Quốc Nội đã yêu cầu tôi ở lại Việt Nam và hứa sẽ giúp tôi đầy đủ phương tiện để sinh sống và hoạt động, nhưng tôi từ chối, vì muốn đến Hoa Kỳ để chữa bệnh… Tôi có hứa tôi sẽ hoạt động trở lại sau khi chữa bệnh xong.
… Mặt Trận cũng quan tâm đến tôi. Tôi mới đến Detroit mấy ngày đã nhận được thiệp chúc mừng của Vụ Tổ Chức và Huấn Luyện. Đại diện của các cơ sở Mặt Trận ở Canda và Chicago cũng đến thăm tôi. Cơ sở Chicago mua vé máy bay cho tôi đi Chicago ăn Tết. Tại đây, tôi được đón tiếp rất niềm nở. Cơ sở đã tổ chức một buổi tiệc tân niên lớn, có đông đủ đoàn viên đến tham dự. Trong buổi tiệc này, tôi được giới thiệu đứng lên kể lại cuộc sống trong trại tù cộng sản…Sau đó, Bác sĩ Trần Xuân Ninh, Tổng Vụ Phó Tổng Vụ Hải Ngoại, và phu nhân mời tôi dùng cơm riêng tại tư thất của ông bà…..Sau đó, Giáo sư Vũ Quý Kỳ, Tổng Vụ Phó Tổng Vụ Hải Ngoại, và phu nhân đã mời tôi ăn cơm thân mật tại tư thất của ông bà…
Tôi rời Michigan để về Cali vào ngày 10.3.1993, khi đang có những trận bão tuyết dữ dội. Trên đường đi, máy bay phải đổi giờ bay hai ba lần. Mãi đến hai giờ sáng, tôi mới tới phi trường Los Angeles. Người đón tôi tại phi trường là anh Đỗ Hoàng Điềm, Xứ Bộ Trưởng Nam Cali. Anh đưa tôi về nhà anh nghĩ qua đêm. Sáng hôm sau, anh Bùi Huy, Chi Bộ Trưởng, đến đưa tôi tới một căn phòng ở trên đường Kedge mà họ đã thuê sẵn của một gia đình người Việt Nam cho tôi ở, đông thời hướng dẫn tôi về cách sinh sống và di chuyển trong vùng. Tôi rất mừng vì được sống trong một gia đình Việt Nam…
Sau khi nơi cư trú của tôi tạm ổn định, những anh em trong Mặt Trận đưa tôi đến sinh hoạt với Tổ Chức Liên Minh Tự Do. Hàng tháng Mặt Trận có trợ cấp cho tôi một số tiền để mua sắm những vật dụng cần thiết… »

Như tôi đã nói ở trên, bà Nguyễn Thị Sáu tức Nguyễn Thị Liên tức Nguyễn Thanh Nga, đã kể lê thê về những hoạt đông của bà với Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, ( Việt Tân) nếu phải trích, phải đọc cho hết, thì chắc các con cháu tôi phải kêu xe cấp cứu của bệnh viện, vì tưởng tôi bị bệnh thổ tả.

Vì vậy, tôi xin dừng lại nơi đây ; để trích qua đôi điều trong cái tập « Tài Liệu Tuyệt Mật » gồm 19 trang ấy. Trong đó, có đầy đủ các phương thức trong toàn bộ sách lược hoạt động. Để mọi người thấy được phần nào về cái mặt thật của Tổ chức này và cũng từ đó cứ « Lấy trong ý tứ mà suy… » để hiểu thêm tại sao trong tổ chức này lại có vô số cái giả .

Tài liệu này cũng đã có ghi nhiều tên đảng viên cộng sản thuộc hàng cao cấp nhưng tôi chỉ nêu lên một số ít như sau :

Nguyễn Hộ- Hồ Hiếu-Dương Thu Hương…….

Đến đây, chúng tôi lại xin phép được ngưng trích, và xin nói thêm là cái tên của một người, mà tôi đành phải để ba chấm ở trên mà không thể nêu đích danh ; mặc dù trong tập « Tài Liệu Tuyệt Mật » đã có ghi rõ họ tên. Chúng ta hãy chờ xem. Hỡi những kẻ bất nhân trong môt băng đảng gian manh, tàn ác, chắc các ngươi không thể nào ngờ được « 19 trang của cái gọi là « Tài Liệu Tuyệt Mật » cùng toàn bộ sách lược đã nằm gọn trong tay của một người xa lạ ???.

Chúng tôi cũng thừa hiểu, khi biết chúng tôi đã có trong tay những tài liệu này, thì những tên đầu đảng phải tìm hướng đi cho khác với những gì đã ghi trong cái « Tài Liệu Tuyệt Mật ».

Nhưng cho dù có thay đổi bằng cách nào đi nữa, thì những nhân sự đã ghi đầy đủ ấy, không sao thay đổi được. Chúng tôi cũng tiên liệu được mọi điều. Vì thế, chúng tôi không công bố sớm, vì làm như vậy, chúng tôi xét thấy không có lợi. Nên cho đến bây giờ mới đem ra công bố một phần rất nhỏ để cho đồng bào được biết .

Và bây giờ, tôi xin trở lại với tác giả « Đóa Hồng Gai ». Trong thời gian qua bà Nguyễn Thị Sáu tức Nguyễn Thị Liên tức Nguyễn Thanh Nga, đã được băng đảng này đưa đi diễn lắm trò, từ Mỹ, đến Úc, rồi sẽ đến Pháp và còn nhiều nơi nữa … Trước đây, tại Nam Cali bà ta đã lập ra cái gọi là « Hội Của Những Người Vợ Của Cựu Tù Trại Cải Tạo Tiên Lãnh ». Bây giờ lại lòi thêm ra một màn « Đoàn ngũ hóa nhân dân ». Mà có điều thật khôi hài, lố bịch là khi kéo nhau đi sinh hoạt, cho đến lúc đứng chụp hình chung với các bà trong cái hội này lại có « ông Nhạc sĩ » Hồ Văn Sinh. Và suốt trong buổi sinh hoạt đó Hồ Văn Sinh luôn có mặt bên cạnh bà Sáu-Liên-Thanh Nga tác giả « Đoá Hồng Gai ». Sao lạ vậy ? Hội của các bà mà lại có « ông » Hồ văn Sinh ? Sao không dám nói Hồ Văn Sinh là cố vấn hay đạo diễn.

Tôi biết đa số các bạn cựu tù của trại cải tạo Tiên Lãnh đang có mặt ở hải ngoại. Tôi nghĩ dù không nhớ hết, nhưng ít ra cũng biết và nhớ đôi câu trong một bản nhạc do » Nhạc sĩ » Hồ Văn Sinh sáng tác. Tôi còn nhớ khi mới nhập trại, tôi gặp Hồ Văn Sinh làm « Kỹ thuật ».

Nên biết, Hồ Vãn Sinh làm kỹ thuật tại trại cải tạo ; nhưng không phải là làm kỹ thuật máy móc, điện tử… mà làm kỹ thuật lao động. Nghĩa là ngày đêm phải « nghiên cứu » tức là phải nghĩ ra những cách nào để bắt tù cải tạo phải « lao động cho đúng kỹ thuật ».

Thí dụ, khi nam tù nhân thay trâu cày, cuốc cho nữ cấy thì phải đúng « kỹ thuât » là cày sâu, cuốc bẩm ; còn nữ cấy thì phải thẳng hàng, với kỹ thuật là 4×4. Nghĩa là cây mạ nầy cách cây mạ kia phải đều nhau 4 cm và phải « đạt chỉ tiêu ba người 500 m2 ( năm trăm mét vuông) một ngày. Khi nam đốn củi cho nữ tù vác xuống chất thành mét khối, thì phải « đạt chỉ tiêu chung bốn người 6m3 ( sáu mét khối) trong ngày…. Còn nhiều thứ « kỹ thuật lao động » lắm mà chẳng làm sao kể cho hết được. Ngoài ra, Hồ Văn Sinh còn kiêm chức « Thường Trực Thi Đua » của Trại 1.
« Thường Trực Thi Đua ». Nghĩa là phải « khuyến khích » đội này « Thi đua » với đội khác. Đội nào kém hơn thì khi họp đội phải bị ghi trong biên bản là « Lao động chầy lười » ; Mà trong những lần họp toàn trại « Ban giám thị » của trại luôn nói với tù cải tạo rằng :. « Lao động là thước đo của thời gian cải tạo », thì mọi người đã hiểu « Lao động chầy lười » thì cái thước đo ấy nó sẽ dài đến bao nhiêu ? Sau đó, Hồ Vãn Sinh được chuyễn lên phân trại Thôn 5 để phụ trách đội văn nghệ ; thì tôi cũng được chuyển lên phân trại Thôn 5 cùng trại với Hồ Văn Sinh.

Ngay thời gian đầu mới phụ trách phần văn nghệ của trại ; Hồ Văn Sinh đã sáng tác ra liền được một bản nhạc để ca tụng Đảng-Bác- Ca tụng trại cải tạo và để khuyên tù cải tạo đừng trốn trại. Bản nhạc này đã được lệnh của « Ban Giám Thị Trại » bắt buộc tù cải tạo mỗi lần sinh hoạt đội, hoặc sinh hoạt toàn trại, tất cả tù nhân nam, nữ đều phải vừa vỗ tay vừa hát. Nếu ai không vỗ tay, không hát sẽ bị vào nhà cùm kỹ luật. Dù thay đổi bao nhiêu lần « Giám Thị Trưởng » cũng như cả « Ban Giám Thị » Nhưng lệnh này vẫn không thay đổi. Nhân đây, tôi xin chép lại để mọi người thấy « ông nhạc sỉ » Hồ Văn Sinh này còn vô liêm sĩ hơn cả Trịnh Công Sơn.

Trong cuốn « Hồi ký Đóa Hồng Gai » ở trang số 131, tác giả có kể :
« Sau những giờ lao động, tù nhân còn bị bắt buộc phải học tập chính trị, nghe đọc báo, tập hát… »

Vậy, tôi xin chép lại nguyên văn bản nhạc mà tất cả các tù nhân ở trại 1 cũng như các phân trại khác thuộc trại tù Tiên Lãnh ai cũng bị bắt buộc « chấp hành mệnh lệnh của Ban Giám Thị » phải vừa vỗ tay, vừa hát, lời nhạc như sau đây :

« Tiên Lãnh hôm nay sao mà đẹp thay, từng đồng lúa chín thơm ngát vầng trời mây…Ai tham gia lao động trên đất nầy…Ôi vinh quang thay …người lao động hôm nay… Ai… đến nơi đây mà lòng không thấy ngất ngây…Những cánh đồng thẳng cánh cò bay… những hương thơm cỏ cây ngan ngát… Nghe như chừng có Bác về đây… Ai biết chăng ai …ta hãy cùng nắm lấy bàn tay… quyết một lòng thi đua xây đắp… trên vùng đất này… để ta cùng dâng lên Đảng- Bác… những tấm lòng son sắt hôm nay .
………………………………………………………………………………………………….Tiên Lãnh mê say Thiên Đường là đây, từng đàn bướm trắng bay khắp từng ngàn cây…Ôi như mơ như mộng bao tháng ngày…Ta không ra đi… ta ở lại nơi đây… Ta … ngắm mây bay mà lòng mê đắm ngất say… Những sớm chiều mây lững lờ bay… những nương khoai vườn rau xanh mát… Ôi bao đời mới có hôm nay…Mây biết chăng mây…ta đã tìm đến chốn nào đây… biết một lần muôn sau ôm ấp… trong lòng rất đầy…để ta về đêm đêm tỉnh giấc… vẫn nhớ hoài năm tháng hôm nay ».

Đó là những lời nhạc của « Nhạc sĩ » Hồ Văn Sinh người đã ở trong trại cải tạo vì tội Vượt Biển và là người phụ trách « Kỹ Thuât kiêm Thường Trực Thi Đua » và là « Trưởng Ban Văn Nghệ » của trại tù Tiên Lãnh.

Ngoài những điều đã nói ở trên, Hồ Văn Sinh còn là một đệ tử thân cận của ông Võ Đại Tôn ; mà trước đây từng tham gia trong cái gọi là « Hội Nghị Liên Kết Trong Ngoài ». Tôi vẫn thuộc lòng bốn câu thơ của cụ Gàn Bát Sách đã viết tặng cái « Hội Nghị » này, và một lần nữa tôi xin phép Cụ để trích lại bốn câu thơ đó để mọi người đọc cho vui lời thơ như sau :

« Chẳng thà nó nhỏ nó thong,
Còn hơn nó lớn, nữa trong nữa ngoài.
Chẳng thà nó nhỏ nó dài,
Còn hơn nó lớn, nữa ngoài nữa trong ».

Rồi cụ viết tiếp : « …Đã vào thì phải vào tuốt ở trong, thì mới đã. Bằng không thì ở hẳn bên ngoài chứ cứ ở nữa trong nữa ngoài thì đâu có sướng ». Đó là những lời của cụ Gàn Bát Sách, cụ còn viết nhiều lắm, mỗi khi có thì giờ tôi lại lục tủ báo Văn Nghệ Tiền Phong, để đọc lại những bài viết vô cùng giá trị, của những cây bút đã từng nỗi tiếng mấy chục năm qua.

Cuối cùng, để thấy được mọi việc một cách rõ ràng hơn nữa. Chúng tôi xin gửi đến quý vị đồng hương một đoạn ở trong tập « Nội San Việt Tân » nơi trang 9, số 38, tháng 7-8/1999, nguyên văn như sau :

« Việt Tân xác nhận tính toàn dân của cuộc cách mạng tháng 8-1945 và tính tự chủ của chính quyền được hình thành vào tháng 9-1945 ;-Hai đặc tính Cách Mạng và Dân Chủ của Đảng Việt Tân ».

Đến đây, tôi thấy không cần phải viết thêm một điều gì nữa. Bởi, chừng ấy thôi. Ngoại trừ những kẻ đang theo đuổi bả Lợi-Danh. Còn đối với những người dân lương thiện, cho dù chỉ là một người dân quê ít học, với bộ óc bình thường nhất, họ cũng thấy rõ ràng cái bộ mặt thật của băng đảng này rồi. Chẳng có cách nào để biện minh cho những việc làm của đảng Việt Tân.

Cuối cùng, với bài viết này , chúng tôi xin đề nghị quý vị cựu tù tại Trại cải tạo Tiên Lãnh ; cả hai trại Nam và Nữ, ai còn nhớ về những bản nhạc của « ông Nhạc sĩ » Hồ Văn Sinh ; cũng như những hành vi của hai Nhân-Vật nầy ; nếu hiện nay không là Đồng Đảng với Hồ Văn Sinh và bà Nguyễn Thị Sáu, tức Nguyễn Thị Liên, tức Nguyễn Thanh Nga, tác giả « Đóa Hồng Gai » thì xin hãy vui lòng liên lạc với Tin Paris để bổ sung thêm những gì còn thiếu sót mà chúng tôi chưa ghi chép đầy đủ.

Ngô Đông Cường.

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: , , | 2 Comments »