Tudodanchu's Weblog

Freedom, Democracy, Human Rights, No Communism For Vietnam

Archive for Tháng Chín, 2008

Biểu tình chống Phạm Gia Khiêm trước LHQ – 25/9/08 từ 11 AM đến 2 PM

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 30, 2008

Phóng sự bằng hình

 

Biểu tình chống Phạm Gia Khiêm trước LHQ – 25/9/08 từ 11 AM đến 2 PM. Gồm phái đoàn Wash. DC, Connecticut, Massachusetts, Phila, New Jersey, New York. Tố cáo VC đàn áp tôn giáo, tước đoạt tự do và nhân quyền của 80 triệu dân VN cùng các nhóm Tây Tạng, Pháp Luân Công, Tin Lành, Do Thái, Ðài Loan v.v

 
 

 

 

 

 

 

 

THÔNG CÁO BÁO CHÍ

 

Trong tháng vừa qua, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã gia tăng đàn áp tôn giáo, họ đập phá toà khâm sứ tạI Hà nộI để làm công viên, họ cưỡng chiếm đất đai thuộc cơ sở Giáo phận Thái Hà cũng tại thành phố Hà Nội Việt Nam.

 

Các Cơ sở của Thiên Chúa Giáo kể trên là tài sản của giáo phận Hà Nội từ nhiều thế kỷ . Giáo Dân cầu nguyện phản đối ôn hoà bị bắt và đánh đập dã man .

 

Từ Khi Cộng Sản cai tri Việt nam trong nửa thế kỷ vừa qua, cộng sản cho rằng tôn giáo là kẻ thù cần phải tiêu diệt . Do đó cộng sản Việt Nam đã bóp nghẹt mọi sinh hoạt tôn giáo, cấm đoán tu sĩ hành đạo không cho giáo dân thờ phượng .

 

Trong cuộc đàn áp tại toà khâm sứ, Thái Hà Công an cộng sản đã đánh gây thương tích và tịch thu phim ảnh của phóng viên AP đến săn tin.

 

 

Chính sách cố hữu của Chế độ Cộng sản là đè bẹp tự do tôn giáo và tước đoạt quyền tự do căn bản của người dân .

 

Với những sự đàn áp tàn bạo tại Hà NộI vừa qua, Phạm Gia Khiêm phó thủ tướng của Cộng sản Việt Nam đang hiện diện tại Liên Hiệp quốc, một tổ chức pháp lý quốc tế để bảo vệ tự do nhân quyền là một sự lừa bịp trắng trợn.

 

Đó là lý do ngày hôm nay chúng tội Cộng đồng Người Việt Quốc gia tại hải ngọai cực lực tố cáo hành động đàn áp dã man người dân trong nước và lừa bịp cộng đồng quốc tế tại toà nhà Liên Hiệp Quốc của cộng sản Việt Nam.

 

New York Ngày 25 tháng 9 năm 2008

TM/CĐ Người Việt Quốc Gia New York

 

 

—o0o—

 

FOR IMMEDIATE RELEASE.
September 25, 2008

 

THAI HA’S A RELIGIOUS OPPRESSION

 

In the past few weeks, the Vietnam communist regime has stepped up their repressive campaign against the religious freedom in Vietnam. This time, the repression is on the Catholic church and faithfuls in Hanoi. Ha Noi city’s local government has begun to clear areas and demolish Toa Kham Su (the city’s former Papal Nunciature) for construction of a playground.

 

The government have also seized and confiscated properties and lands belonged to Thai Ha Parish in Ha Noi. Further acts of violation by the local government officials also took place when they further brutally beat and arrested numerous priests and other catholic faithfuls during peaceful protests. A reporter for the Associated Press was beaten and arrested by the police. His/Her camera and equipment were also confiscated by the local police.

 

Ever since Vietnam has become under the communist regime, religions regardless of faiths are being targeted as enemy of the government, and community practices of faiths are constantly being oppressed and harassed. By keeping such a policy of religious persecution and oppression of basic human rights and individual’s right to practice religious faith, the officials of the Vietnam Communist Regime clearly is continuing to disregard the human dignity and deepen the lack of respect for religious freedom and basic individual’s human rights. This week, the presence of Vietnam Deputy Prime Minister Pham Gia Khiem at the United Nations and his promoting messages of cooperation represents a deceiving front to the world and the Oversea Vietnamese Communities.

 

To this end, we, the NYVACA, strongly condemn and denounce the recent aggression of religious freedom violations by the Hanoi local government to the public and international communities.

 

Vietnamese-American Community ASSOCIATION OF NEW YORK
1809 Paulding Avenue * Bronx, NY 10462-3117
Tel. (646) 867-4555 * (646) 683-1555

 

http://thangtien.de/index.php?option=com_content&task=view&id=1939&Itemid=300

Posted in Uncategorized | Tagged: | 4 Comments »

NHIỀU DÂN CỬ HOA KỲ LÊN TIẾNG VỤ THÁI HÀ VÀ TÒA KHÂM SỨ

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 29, 2008

NHIỀU DÂN CỬ HOA KỲ LÊN TIẾNG VỤ THÁI HÀ VÀ TÒA KHÂM SỨ

Tin Little Saigon – Nhiều vị dân cử Hoa Kỳ, từ liên bang đến địa phương, vừa ký nhiều thư chung lên tiếng và gởi đến các viên chức cao cấp của Hoa Kỳ, Tòa Thánh Vatican cũng như nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam về hai sự kiện nhà thờ Thái Hà và Tòa Khâm Sứ xảy ra trong những ngày qua.

 

 

Một thông cáo báo chí của văn phòng Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez đưa ra cho biết bà và sáu dân biểu liên bang Zoe Lofgren, Madeleine Bordallo, Dana Rohrabacher, Dan Burton, James McGovern và Stephen Cohen đã gởi thư đến Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Minh Triết, bày tỏ mối quan tâm đến với nhà cầm quyền Việt Nam về tình trạng đàn áp nhân quyền, qua những chiến dịch đàn áp, giam giữ và kết tội không biết bao nhiêu nhà đấu tranh dân chủ và người dân biểu tình. Bảy dân biểu này cũng cho biết họ ôrất quan tâm khi được biết trên 3,000 giáo dân Thái Hà bị chính quyền Hà Nội đàn áp qua các cuộc thắp nến cầu nguyện một cách tàn bạo như bắt người, sử dụng roi điện, xịt khói cay cũng như nhiều cách đàn áp khác, và những cách thức đàn áp bạo lực đó thật sự không thể chấp nhận được.

 

Được biết lá thư của bảy dân biểu liên bang Hoa Kỳ cũng được gởi đến Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Condoleezza Rice, đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội Michael Michalak và sứ thần Tòa Thánh Vatican, Tổng Giám Mục Pietro Sambi. Trong khi đó, một thông cáo báo chí khác của Văn Phòng Liên Lạc Dân Cử đưa ra cho biết hầu hết các vị dân cử gốc Việt tại Orange County đã ký tên vào một lá thư chung gởi đến Ngoại trưởng Hoa Kỳ Condoleezza Rice để kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ, cấp tốc yêu cầu nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam ngưng ngay những hành động đàn áp đối với các giáo dân Việt Nam đang cầu nguyện đòi trả lại đất tại nhà thờ Thái Hà cũng như Tòa Khâm Sứ tại Hà Nội.

 

Lá thư chung đã giải thích rằng đây là những hành động vi phạm trắng trợn quyền tự do tín ngưỡng và gia tăng chính sách thù nghịch đối với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, những hành động này rõ ràng đã coi thường các nỗ lực đối thoại giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trên những vấn đề vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo, và đây là một bằng chứng nữa để chứng tỏ rằng chính sách đối thoại trong xây dựng của Hoa Kỳ đã thất bại hoàn toàn trong việc đem lại những tiến bộ cụ thể trong những vấn đề quan trọng trong chính sách quốc gia của Hoa Kỳ. Lá thư còn kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ hãy duyệt lại các chính sách bang giao đối với Việt Nam trong khuôn khổ của Đạo Luật Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế ban hành năm 1998, và chính sách chung của Hoa Kỳ trong nỗ lực cổ võ cho tự do tôn giáo và tôn trọng nhân quyền, tự do và dân chủ trên toàn thế giới. Hành động cấp bách và cụ thể của Hoa Kỳ vào lúc này sẽ gởi một thông điệp mạnh mẽ nhằm khuyến khích Việt Nam tôn trọng trách nhiệm của mình với tư cách là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, đối với quyền tự do tôn giáo của người dân trong nước cũng như chấp nhận tiêu chuẩn tự do tôn giáo quốc tế, ngõ hầu Việt Nam có thể tiếp tục được hưởng những lợi ích khác trong quan hệ ngoại giao và giao thương với Hoa Kỳ.

 

Những dân cử gốc Việt ký tên vào lá thư chung bao gồm Thị Trưởng Rosemead John Trần, hai nghị viên Westminster Andy Quách và Tạ Đức Trí, Nghị Viên Garden Grove Dina Nguyễn, hai ủy viên Học Khu Garden Grove Nguyễn Quốc Lân và Nguyễn Quang Trung, Ủy Viên Giáo Dục Học Khu Westminster Andrew Nguyễn và Ủy Viên Đặc Khu Vệ Sinh Midway City Diệp Miên Trường. Bản thông cáo cũng cho biết trong tuần tới, Dân Biểu Tiểu Bang Trần Thái Văn sẽ hướng dẫn một phái đoàn đại diện cho cộng đồng Việt Nam đến Hoa Thịnh Đốn để vận động trực tiếp đối với các vị lãnh đạo của chính phủ và Quốc Hội Hoa Kỳ cũng như Tòa Khâm Sứ của Tòa Thánh Vatican tại đây.

 

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: | 3 Comments »

Ủy hội tự do tôn giáo Hoa Kỳ chỉ trích CSVN không tôn trọng tự do tôn giáo

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 29, 2008

Ủy hội tự do tôn giáo Hoa Kỳ chỉ trích CSVN không tôn trọng tự do tôn giáo

Sep 25, 2008

Tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam và vụ tranh chấp tại giáo xứ Thái Hà đã chiếm phần lớn tin tức liên quan tới Việt Nam ngày hôm nay. Trong một thông cáo báo chí phổ biến ngày hôm nay, Ủy Hội Hoa Kỳ đặc trách theo dõi quyền tự do tôn giáo quốc tế cho hay Việt Nam vẫn tiếp tục coi thường những quyền căn bản của con người, qua việc cảnh sát sử dụng bạo lực đối với những giáo dân cầu nguyện bằng đường lối ôn hòa trên những miếng đất tại Hà Nội trước kia thuộc Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, việc bắt giam hoặc quản chế tại nhà những người tranh đấu cho tự do tôn giáo và việc bắt giữ một số người tranh đấu cho dân chủ trong tháng này. Ủy Hội kêu gọi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đưa Cộng sản Việt Nam quay trở lại danh sách những nước vi phạm trầm trọng nhất vào quyền tự do tôn giáo của người dân và đòi Việt Nam trả tự do vô điều kiện cho mọi tù nhân vì lương tri. Trong thông cáo báo chí, Chủ Tịch Ủy Hội Felice Gaer cho biết chuyện xảy ra quá thông thường tại Việt Nam là những ai tổ chức hoặc bày tỏ quan điểm bằng đường lối ôn hòa về quyền tự do tôn giáo hoặc nhân quyền, cùng với những quyền tự do để bênh vực cho họ, đều bị bắt giữ, giam cầm hoặc dọa nạt. Theo Ủy Hội thì Việt Nam là một thành viên của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, phải hoàn toàn tôn trọng nhân quyền và không nên coi những hành động ôn hòa nhằm thăng tiến quyền tự do tôn giáo như một mối đe dọa về an ninh.

 

 

Bản thông cáo báo chí còn nhắc tới một số sự kiện như giáo dân tại Hà Nội cầu nguyện từ tháng 12 năm ngoái để đòi nhà nước trả lại tài sản của giáo hội bị tịch thu từ thập niên 1950, một số giáo dân thuộc Dòng Chúa Cứu Thế bị bắt giữ, cảnh sát dùng bạo lực giải tán nhóm người đòi trả tự do cho những giáo dân bị bắt giữ này, Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt của giáo phận Hà Nội bị tố cáo khích động các vụ gây rối, và chuyện nhà nước đe dọa áp dụng những hành động mạnh mẽ đối với những buổi cầu nguyện của giáo dân. Bản thông cáo báo chí cũng đề cập đến trường hợp của những người tranh đấu cho dân chủ bị bắt giữ như Lê Thị Công Nhân, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Đài và nhiều người khác. Ủy Hội cho biết là không đồng ý với quan điểm của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trong việc rút Việt Nam ra khỏi danh sách các nước đáng lưu tâm đặc biệt năm 2006. Ủy Hội khuyến cáo Văn Phòng Tụ Do Tôn Giáo Quốc Tế của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ duy trì nỗ lực chấm dứt các vụ vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Ủy Hội cũng yêu cầu chính phủ Mỹ đòi chính phủ Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho các tù nhân vì lương tri, cho phép Giáo Hội Công Giáo và các tổ chức tôn giáo khác được tự do hoạt động và cho người dân được hưởng quyền tự do bày tỏ tư tưởng, kể cả quyền tự do phản kháng. Tin mới nhất chiều ngày hôm nay cho biết Hacker của Cộng sản Việt Nam đã đánh sập trang web của Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam, để ngăn chặn việc đưa tin về cuộc tranh đấu của giáo dân và các tu sĩ tại Thái Hà và Hà Nội.

 

Nhiều dân cử Hoa Kỳ lên tiếng vụ Thái Hà và tòa Khâm Sứ

 

Nhiều vị dân cử Hoa Kỳ, từ liên bang đến địa phương, vừa ký nhiều thư chung lên tiếng và gởi đến các viên chức cao cấp của Hoa Kỳ, Tòa Thánh Vatican cũng như nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam về hai sự kiện nhà thờ Thái Hà và Tòa Khâm Sứ xảy ra trong những ngày qua. Một thông cáo báo chí của văn phòng Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez đưa ra cho biết bà và sáu dân biểu liên bang Zoe Lofgren, Madeleine Bordallo, Dana Rohrabacher, Dan Burton, James McGovern và Stephen Cohen đã gởi thư đến Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Minh Triết, bày tỏ mối quan tâm đến với nhà cầm quyền Việt Nam về tình trạng đàn áp nhân quyền, qua những chiến dịch đàn áp, giam giữ và kết tội không biết bao nhiêu nhà đấu tranh dân chủ và người dân biểu tình. Bảy dân biểu này cũng cho biết họ ôrất quan tâm khi được biết trên 3,000 giáo dân Thái Hà bị chính quyền Hà Nội đàn áp qua các cuộc thắp nến cầu nguyện một cách tàn bạo như bắt người, sử dụng roi điện, xịt khói cay cũng như nhiều cách đàn áp khác, và những cách thức đàn áp bạo lực đó thật sự không thể chấp nhận được. Được biết lá thư của bảy dân biểu liên bang Hoa Kỳ cũng được gởi đến Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Condoleezza Rice, đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội Michael Michalak và sứ thần Tòa Thánh Vatican, Tổng Giám Mục Pietro Sambi.

 

Trong khi đó, một thông cáo báo chí khác của Văn Phòng Liên Lạc Dân Cử đưa ra cho biết hầu hết các vị dân cử gốc Việt tại Orange County đã ký tên vào một lá thư chung gởi đến Ngoại trưởng Hoa Kỳ Condoleezza Rice để kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ, cấp tốc yêu cầu nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam ngưng ngay những hành động đàn áp đối với các giáo dân Việt Nam đang cầu nguyện đòi trả lại đất tại nhà thờ Thái Hà cũng như Tòa Khâm Sứ tại Hà Nội.

 

Công an và đám đông đã di chuyển tượng Đức mẹ Sầu Bi ra khỏi tòa Khâm Sứ

 

Tin mới nhất từ Hà Nội hôm nay cho biết vào khoảng 4 giờ chiều, hàng trăm tên Công an, nhân viên an ninh, dân phòng và hàng ngàn đoàn viên thanh niên mặc áo xanh , những người xưng mình là cựu chiến binh, hội phụ nữ và đám người không rõ nguồn gốc đã kéo đến khu vực Tòa Khâm Sứ cũ, tập trung tại trước cổng Tòa Giám Mục Hà Nội. Khoảng 5 giờ rưỡi chiều, công an và đám người này đã di chuyển xong tượng Đức Mẹ Sầu Bi cùng với Thánh Giá ra khỏi khu vực Tòa Khâm Sứ cũ, không biết chúng mang đi đâu. Trước đó công an đã tập hợp rất nhiều lực lượng phong tỏa đường Nhà Chung, họ cho hàng rào ngăn đường từ Nhà thờ lớn. Họ cho rất nhiều bọn côn đồ hung hãn, nhóm thanh niên mặc áo xanh đánh đuổi những bà con giáo dân đang cầu nguyện ở đó. Họ hò hét, chửi rủa, thái độ hung tàn. Một số người không rõ nguồn gốc đã dùng máy cắt kim loại, xà beng, búa để hạ Thánh Giá đã được đóng rất chặt vào gốc đa, đồng thời khiêng tượng Đức Mẹ khỏi khu vực Tòa Khâm Sứ. Họ đặt tất cả tượng Đức Mẹ, Thánh giá, hoa, nến vào trong ba chiếc hòm tôn lớn và khiêng lên xe tải. Hiện trường được bảo vệ nghiêm ngặt. Đang khi đó tại khu vực trước cổng Tòa Tổng Giám mục, đám du đãng này tập trung rất đông, la hét, gây rối, còn các giáo dân còn đang cầu nguyện ở đó thị bị đám này chửi mắng, đuổi đi và cướp hết các ghế nhựa, đồ dùng cá nhân. Chúng vứt các ghế nhựa sang bên kia hàng rào thép gai nơi các nhân viên an ninh ngăn chặn. Những cựu chiến binh đầy hung hãn, với những khuôn mặt không còn chút đạo đức nào đã liên tục đạp phá yêu cầu Tòa Giám mục mở cổng, chửi mắng và đánh giáo dân đang ở trước cổng. Trước những hành động vô cùng man rợ, vô đạo đức và mất hết lương tri của bọn người này, giáo dân và các tu sĩ vẫn giữ sự bình tĩnh, hiền hòa và tiếp tục cầu nguyện. Những lời kinh hòa với tiếng khóc nghẹn ngào. Cổng Tòa Tổng Giám mục đã được đóng lại vì các cựu chiến binh xông vào đòi đập phá. Nhà nước đã huy động đông đảo bọn du đãng và cán bộ tới đây để tạo áp lực với giáo hội. Chuông nhà thờ lớn cất lên từng tiếng một để báo hiệu những giờ phút đau thương của giáo phận. Sau khoảng 30 phút liên tục gây hấn và kích động, bọn này rút bớt. Một nhóm đông các hội viên phụ nữ, đoàn viên lại tiếp tục gây sự. Tuy nhiên, chạm trán với một đoàn giáo dân hiền hòa, bình tĩnh, họ cũng nản. Đến 4 giờ 45 phút chiều, chiếc xe vận tải chở tượng Mẹ rời khỏi Tòa Khâm Sứ, hiện nay vẫn chưa biết họ chở Tượng Mẹ và Thánh Giá đi đâu. Tại Saigon, sau buổi cầu nguyện lên đến hơn 7000 người tại Dòng Chúa Cứu Thế trên đường Kỳ Đồng ngày hôm qua, nhà nước Cộng sản Việt Nam đã tỏ ra lo sợ và sở Giáo dục Đào tạo thành phố đã gửi một thông báo khẩn đến các trường học trên toàn quốc, cấm không cho các học sinh sinh viên tham dự những buổi cầu nguyện đông người, và ra lệnh cho các Hiệu trưởng phải ra tay ngăn chặn và cử cán bộ đến tận hiện trường để giải qwuyết tại chỗ. Một nhà giáo đã phê bình điều này là phi văn hóa, và đã lộ rõ sự thật là sở Giáo dục thành phố cũng đang hiện nguyên hình thành những tên Công an trong ngành giáo dục mà thôi.

 

Tình hình tại Thái Hà: máy ủi, máy xúc đất, cảnh sát, công an chìm nổi đã động thổ nơi khu đất linh địa Đức Bà

 

Do ảnh hưởng của cơn bão số 6 đang đổ bộ vào miền Bắc Việt Nam, nên trong suốt ngày hôm nay tại Hà Nội trời mưa không ngớt. Chiêu bài biến đất của Giáo Hội Công Giáo thành công viên đã được chính quyền cộng sản thực hiện cách đây một tuần tại Tòa Khâm Sứ, sáng nay lại được áp dụng rập khuôn tại mảnh đất của Tu viện-giáo xứ Thái Hà.

 

Sau cuộc họp vội vã được tổ chức tại quận để công bố công trình quy hoạch. Đến sáng sớm hôm nay từ 4 giờ sáng, máy ủi và máy xúc được huy động đến mảnh đất vẫn được gọi là linh địa Đức Bà Thái Hà. Tất cả các ngõ ngách dẫn vào linh địa bị phong tỏa nghiêm nhặt. Lực lượng cảnh sát được huy động thêm vào đêm qua. Bất kỳ phóng viên không phải của nhà nước mà bén mảng tới đây thì đều bị công an chìm theo dõi chặt chẽ và rất có nguy cơ bị hành hung hoặc bị tịch thu máy ghi hình. Công an cũng huy động lực lượng cảnh sát chìm canh gác cẩn mật bệnh viện Đông Đa ở sát cạnh linh địa. Mọi cửa sổ của bệnh viện nhìn ra linh địa đều bị bịt kín. Một dân phòng đang canh giữ khu đất quy hoạch cho biết dù đã động thổ khởi công việc xây dựng công viên tại khu đất linh địa Đức Bà Thái Hà từ 4 giờ sáng, nhưng đến chiều các máy ủi, máy xúc chưa thể hoạt động, vì trời đang mưa lớn. Nhiều người dân Hà Nội đã mỉa mai rằng chưa bao giờ thấy nhà nước lại thi công xây công viên với tốc độ nhanh như thế, chỉ mất có 6 ngày là hoàn tất khu công viên tại Tòa Khâm Sứ cũ, trong khi những công trình khác thì kéo dài ngày này qua tháng nọ đến vài năm mà vẫn còn dở dang. Nguồn tin từ Hà Nội cho hay tới chiều ngày hôm nay, khu vực đang xây dựng công viên trên đất Thái Hà hiện vẫn bị phong tỏa, với sự hiện diện của lực lượng an ninh.

http://www.calitoday.com/news/view_article.html?article_id=592a154bbb23bfdb62bbbef97fac6e9e

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Tổng trưởng quốc phòng CSVN thăm Nga, phái đoàn báo chí thăm Trung Cộng

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 29, 2008

Tổng trưởng quốc phòng CSVN thăm Nga, phái đoàn báo chí thăm Trung Cộng

Sep 29, 2008

Những tin tức bị dấu kín không thấy phổ biến trên báo chí trong nước, cho biết Tổng trưởng Quốc Phòng của Cộng sản Việt Nam là Phùng Quang Thanh đang có mặt tại Nga và đã đến thành phố Saint Petersburg vào hôm thứ sáu. Phái đoàn của quân đội Cộng sản Việt Nam đã đến thăm văn phòng thiết kế trung ương Rubin, cũng như đến thăm công xưởng Hải quân Leningrad chế tạo chiến hạm của Nga, theo lời Đại tá Yury Klyonov tuyên bố với hãng thông tấn Interfax.

 

 

Nguồn tin cho biết họ Phùng sẽ gặp gỡ Tư lệnh lực lượng quân đội Nga tại vùng Leningrad là Đại tướng Valery Gerasimov tại văn phòng của vị tướng này tại bộ Tổng tham mưu. Phía Nga đã tổ chức đón tiếp và theo chương trình dự định, phái đoàn Cộng sản Việt Nam sẽ bay sang Belarus vào ngày hôm nay. Trong khi đó có tin một phái đoàn gồm các tờ báo do nhà nước Cộng sản Việt Nam kiểm soát cũng đang có mặt tại Trung cộng. Phái đoàn do Phó trưởng ban biên tập tạp chí Cộng sản là Phạm Tất Thắng, sẽ thăm viếng Trung cộng trong vòng một tuần lễ, mà mục đích được cho là để nghiên cứu về đảng Cộng sản tại quốc gia láng giềng ở phương bắc này, nhưng ai cũng biết là để nhận lệnh của Trung cộng nhằm đàn áp những người viết muốn tranh đấu đòi lại Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam. Trong chuyến viếng thăm, phái đoàn báo chí Cộng sản đã gặp gỡ những người trong bộ Thông Tin và những nhân vật trong Chính Trị Bộ của đảng Cộng sản Trung Hoa, và sẽ đến thăm Thành Đô, Tứ Xuyên cũng như Quảng Châu, Quảng Đông trước khi về lại nước.

http://www.calitoday.com/news/view_article.html?article_id=4426b19597020ee8b4e615abf9c67512

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Từ biến cố Thái Hà-Tòa Khâm Sứ: ngày mai sẽ như thế nào?

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 29, 2008

Từ biến cố Thái Hà-Tòa Khâm Sứ: ngày mai sẽ như thế nào?

Sau một chuỗi sự kiện đáng chú ý, liên quan đến việc đòi lại Tòa Khâm Sứ của Tổng Giáo Phận Hà Nội và đòi lại đất của Dòng Chúa Cứu Thế cũng như giáo xứ Thái Hà ở Thái Hà, cuối cùng, Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam – tổ chức lãnh đạo Công Giáo Việt Nam – đã chính thức nêu quan điểm của họ: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của người dân Việt Nam cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của chúng tôi, các giám mục thuộc Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam.”

Dịp này, Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam cho rằng, cần sửa luật về đất đai và “việc sửa đổi này cần phải quan tâm đến quyền tư hữu của người dân như Tuyên Ngôn Quốc Tế của Liên Hiệp Quốc về nhân quyền đã khẳng định: ‘Mọi người đều có quyền tư hữu riêng mình hay chung với người khác… và không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán’ (số 17)”. Hội đồng này khuyến cáo: “Thay vì chỉ giải quyết theo kiểu đối phó hoặc cá biệt, giới hữu trách phải tìm giải pháp triệt để hơn, tức là phải ý thức trách nhiệm củamình đối với xã hội” và đó mới là “tiền đề cho việc giải quyết tận gốc những vụ khiếu kiện về đất đai và tài sản của người dân, đồng thời góp phần tích cực vào tự tăng trưởng kinh tế và sự phát triển vững bền của đất nước.”

Việc đòi lại đất của nhà thờ Thái Hà không còn là chuyện của Dòng Chúa Cứu thế hay Giáo Xứ Thái Hà và việc đòi lại Tòa Khâm Sứ không còn là chuyện của Tổng Giáo Phận Hà Nội, rộng hơn, đó không còn là chuyện riêng của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam mà trở thành việc đòi công bằng, công lý cho mọi người Việt. Tuy tiếp tục khẳng định Công Giáo Việt Nam không làm chính trị nhưng đây là lần đầu tiên dưới thời Cộng Sản, Công Giáo Việt Nam cho biết, điều đó không đồng nghĩa với việc chấp nhận “đứng bên lề xã hội”.

Nếu Công Giáo Việt Nam nhập cuộc trong việc đòi công bằng, công lý cho mọi người Việt, điều gì sẽ xảy ra?

Chưa ai có thể dự đoán kết quả, chỉ có thể đoán rằng, viễn cảnh Công Giáo Việt Nam đồng hành với các tôn giáo bị đán áp và những tổ chức khác để cùng đòi công bằng, công lý cho mọi người Việt đang và sẽ còn khiến chính quyền CSVN run sợ.

Theo dõi diễn biến hai vụ giáo dân Công Giáo đòi lại tài sản của Giáo Hội Công Giáo tại Hà Nội, có thể thấy rất rõ, chính quyền CSVN đã tìm mọi cách để ngăn chặn những cá nhân và những nhóm đang tranh đấu cho tự do, dân chủ tại Việt Nam, liên kết với Công Giáo Việt Nam. Giáo dân vẫn có thể đến hai khu vực đang xảy ra tranh chấp để đọc kinh, cầu nguyện song tất cả những cá nhân, thuộc các nhóm đang tranh đấu cho tự do, dân chủ tìm đến hai khu vực này để bày tỏ sự ủng hộ của mình đều bị bắt ngay lập tức. Một đợt lùng bắt, giam cầm những cá nhân thuộc các nhóm đang tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam đã được thực hiện trước khi chính quyền CSVN biến Tòa Khâm Sứ cũng như khu đất thuộc nhà thờ Thái Hà thành “công viên”.

Công việc tranh đấu cho tự do, dân chủ tại Việt Nam đã diễn ra suốt nhiều thập niên, song vì nhiều lý do, những người, những nhóm đang tranh đấu cho tự do, dân chủ tại Việt Nam luôn luôn đơn độc. Ðôi khi, những người tranh đấu cho tự do, dân chủ ở Việt Nam có thể chỉ trích, phê phán chính quyền mà không bị đối xử thô bạo quá mức nhưng cứ thử đối chiếu về thời điểm, sẽ thấy, đó là những lúc mà chính quyền CSVN đang cần bộ mặt “sạch sẽ”, ít “lấm lem”, dễ “coi” trên “sân khấu chính trị thế giới”.

Những người, những nhóm đang tranh đấu cho tự do, dân chủ tại Việt Nam chưa bao giờ có thể đi xa hơn. Chính quyền CSVN sẽ xuống tay, không hề khoan nhượng, bất chấp dư luận, nếu có những dấu hiệu cho thấy công việc tranh đấu đòi tự do, dân chủ cho Việt Nam có thể trở thành một “khối”.

Trước đây, đòi tự do, dân chủ mà liên kết với nông dân đang khiếu nại vì bị cưỡng đoạt tài sản, dứt khoát sẽ bị “nghiêm trị”. Tương tự, vào lúc này, những khuôn mặt đang tranh đấu cho tự do, dân chủ mà “mon men” đến với Công Giáo đều bị đàn áp thẳng tay.

Vì sao? Xin thưa, chỉ “đám đông” mới có sức mạnh và cũng chỉ “đám đông” mới thực sự là nguy cơ, trực tiếp đe dọa quyền uy của các thể chế độc tài nói chung và CSVN nói riêng!

Thực tế đã, đang và sẽ còn chứng minh CSVN là một tổ chức bất nhân, bất nghĩa, bất lễ, bất trí, bất tín. Thực tế tiếp tục chứng minh đó là một tổ chức bất trung. Những nhượng bộ của chính quyền CSVN trước các đòi hỏi phi lý và lối hành xử càn rỡ của Trung Quốc đã và đang là giọt nước làm tràn ly. Sự bất bình này không chỉ xuất hiện trong dân chúng mà lan sang cả lão thành cách mạng, cán bộ, đảng viên ở nhiều ngành, nhiều cấp. Với mọi người Việt, chủ quyền lãnh thổ là điều thiêng liêng, cũng vì thế mà người ta phẫn nộ. Việc ngăn chặn, đàn áp những cuộc biểu tình chống sự xâm lăng của Trung Quốc chỉ có tác dụng kích thích công chúng hoặc công khai, hoặc ngấm ngầm ủng hộ các hoạt động phản kháng. Trong nhận thức của công chúng, CSVN đã trở thành một chính quyền không còn có thể tin cậy cũng như không còn có thể chấp nhận. “Chủ quyền lãnh thổ” bị ngoại bang xâm phạm và đang bị chính quyền đương nhiệm bán rẻ đã trở thành một thứ “keo”, hứa hẹn gắn kết các giới có thể còn những khác biệt về nhận thức cũng như về lợi ích thành một “khối”.

Cũng vì vậy, sau hàng chục năm “im hơi, lặng tiếng”, không thèm đếm xỉa đến yêu cầu bạch hóa các hiệp định biên giới trên đất liền, trên biển đã từng được ký với Trung Quốc dưới… “gầm bàn” của nhiều giới, kể cả chính cán bộ, đảng viên, mới đây, ông Lê Công Phụng – Ðại sứ của chính quyền CSVN tại Hoa Kỳ chính thức tiết lộ hàng loạt thông tin về hai hiệp định này. Hành động vừa kể được thực hiện vào lúc này nhằm mục đích gì, nếu không phải là “giải độc dư luận”, hi vọng ngăn chặn kịp thời sự liên kết giữa Công Giáo Việt Nam với các tôn giáo, giữa các tôn giáo với các tổ chức tranh đấu cho tự do, dân chủ ở Việt Nam cũng như tất cả những người Việt thuộc đủ mọi giới, thực sự còn yêu giống nòi và quan tâm tới tiền đồ của xứ sở?

Rồi các bậc thức giả sẽ phân tích, bình luận về những thông tin mà ông Lê Công Phụng thay mặt chính quyền CSVN giải trình. Kẻ viết bài này chỉ xin độc giả lưu ý rằng giới cán bộ, đảng viên, công an, quân đội CSVN hiểu hơn ai hết sự thối nát, mục ruỗng của chính quyền đương nhiệm. Cũng xin đừng quên nhắc rằng, tất cả những kẻ ra lệnh thảm sát thường dân sẽ phải đối diện với công lý ở các tòa án quốc tế.

(Nguồn: Người Việt, Saturday, September 27, 2008)

Ðồng Phụng Việt

http://vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?Id=59375

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Suy tư từ vụ Thái Hà – Toà Khâm Sứ

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 29, 2008

Suy tư từ vụ Thái Hà – Toà Khâm Sứ

Là một người làm báo, hiện đang phục vụ cho cơ quan ngôn luận của nhà nước XHCN Việt Nam. Theo dõi sát sao vụ tranh chấp đất của giáo xứ Thái Hà và Toà Khâm Sứ (TH – TKS) trong thời gian qua, tôi vô cùng thất vọng trước cách hành xử của chính quyền và cơ quan ngôn luận. Vì lẽ ấy, cảm thấy đã đến lúc cần phải bày tỏ ý kiến của mình dưới khía cạnh của người làm báo, để góp phần gạn đục khơi trong sự kiện này. Như sau:

HỔ THẸN NHỮNG BỒI BÚT – BỒI HÌNH:

Người cầm bút viết báo, tiên vàn đòi hỏi phải có đức tính “trung thực”. Hơn ai hết, những đồng nghiệp báo hình ở đài truyền hình Việt Nam (VTV) và những đồng nghiệp báo viết trong nước “rất hiểu rõ” điều này. Nhất là trong thời đại dân trí vươn cao như ngày nay, khi phương tiện thông tin quá thuận lợi, dễ dàng xâm nhập đến từng ngõ ngách, từng gia đình, từng cá nhân… Thì tính “trung thực” lại càng phải được đề cao hơn nữa, bởi không thể dễ dàng lừa gạt công luận như thời bao cấp. Chỉ một cú nhấp chuột tại nhà, thì mọi diễn biến trên khắp thế giới này, người ta có thể ngay lập tức rõ tường tận dưới nhiều góc cạnh. Điều sơ đẳng ấy hà tất phải nói ra với đồng nghiệp làm gì? Đau lòng thay! Lại cần phải nói, nói nhiều hơn, nói rõ ràng nhất trong lúc này. Sở dĩ phải “ôn tập” như thế vì có những đồng nghiệp hắc lương tâm, đã bẻ cong ngòi bút, đã phỉ báng báo giới, đánh mất mình để trở thành “tay sai” hạ đẳng phục vụ cho ác tâm của một lũ người, cho bọn “cường hào ác bá” thời đại mới, những kẻ đang phá hoại đất nước, phá hoại tinh thần đại kết dân tộc “dưới lốt nhà cầm quyền”.

Ở đây, tôi muốn để cập đến hành vi xuyên tạc câu nói của TGM Ngô Quang Kiệt.

Nếu trong tay có chính nghĩa, tại sao không cho đăng “nguyên văn” bài phát biểu của TGM Kiệt hầu rộng đường dư luận? Người dân đủ trình độ hiểu biết, đủ trí óc phán đoán đúng sai trong đó, để biết nên đứng về bên nào! Ấy thế mà đồng nghiệp của tôi lại giở thủ đoạn cắt đầu, xén đuôi, biến “một đoạn thoại” thành “một câu thoại” mang ý nghĩa khác, thâm độc và nham hiểm vô cùng với cách làm này!!! Đáng hổ thẹn, hổ thẹn ngàn lần! Khi đài truyền hình trung ương, những tờ báo của một nước tự hào có bốn ngàn năm văn hiến, lại trơ trẻn vạch lưng cho thế giới thấy mình là quân “bồi bút” và “bồi hình”. Họ đang tả con voi theo cách của 5 anh mù: “rờ trúng cái đuôi, rồi kết luận con voi có khác gì cái chổi đâu!”. Ô hô! Quá khôi hài. Bản thân là một nhà báo XHCN, giờ đây chính tôi cũng cảm thấy “rất là nhục nhã khi cầm… cái thẻ nhà báo Việt Nam, vì bị đồng nghiệp làm hoen ố giá trị mất rồi” (xin đừng thiến bớt câu này của tôi nếu muốn trích).

Tôi xin kể một câu chuyện được truyền tụng trong ngành y: Ông thầy dẫn nhóm sinh viên thực tập đến giường một người bệnh. Để dạy học trò mình bài học “nhớ đời”, thầy kéo quần bệnh nhân, thọc ngón tay vào hậu môn rồi đưa lên mũi ngửi. Xong, ông yêu cầu học trò hết thảy đều làm như vậy. Ai cũng thấy ghê, nhưng chẵng lẽ thầy thị phạm cho xem mà trò lại không làm! Thế là ai cũng thọc ngón tay vào và ngửi. Đợi cho hết lượt, thầy mới hỏi: “Các anh chị nhận thấy gì?” – “Thúi lắm, ghê lắm thầy ơi!”. Nhóm sinh viên cùng rùng mình đáp lại. Thầy mỉm cười nói: “Tôi chẳng thấy thúi, chẳng thấy ghê gì cả, mặc dù tôi cũng ngửi ngón tay như các anh chị vậy! Tại sao? Vì tôi thọc ngón trỏ vào hậu môn, nhưng ngửi ngón giữa mà!”. Bấy giờ đám sinh viên mới ngẩn người ra. Thầy lại tiếp: “Các anh chị phải có mắt quan sát, phải có óc suy luận, đừng vội tin ngay, đừng hành động ngay theo những gì diễn ra trước mắt. Nhớ nhé!”. Bài học này cũng là bài học chung cho nhân dân Việt Nam trong lúc này, đừng để thông tin thủ đoạn của nhà nước đánh lừa. Kẻo không, lại như đám sinh viên “ngửi ngón tay thúi”!

MỘT NHÀ NƯỚC KHÔNG CHÂN CHÍNH:

Muốn trưng dụng hai mảnh đất TH – TKS, nhà nước phải chứng minh được những chứng từ pháp lý để người công giáo “tâm phục, khẩu phục”, tự động rút lui, thì mới đáng gọi là nhà nước chân chính. Cũng là tư cách cao cả của bậc “phụ mẫu chi dân”. Tiếc thay! Họ đã hành xử theo cách của quân đầu đường xó chợ, tự rêu rao cho thế giới biết chế độ ta “vừa ăn cướp vừa la làng” và “đã làm đĩ còn già mồm” đúng như thành ngữ Việt Nam có nói. Nhà nước đã từng răn dạy người dân: “Đất đang tranh chấp, không đối tượng nào được quyền xây dựng công trình trên đó” . Vậy mà hai miếng đất trên đang trong lúc “nước sôi lửa bỏng”, thì chính họ lại khẩn trương đêm ngày cho làm vườn hoa. Hỏi rằng ai đã đơn phương chà đạp phát luật?

Xưa nay, tất cả công trình xây dựng do nhà nước thực hiện bao giờ cũng rầm rộ hình thức, nào là lễ động thổ, nào là kêu mời báo đài đến đưa tin, nào là tiệc tùng linh đình sau đó. Lại nữa, thi công lề mề, kéo dài thời gian vốn là đặc thù cố hữu của nhà nước XHCNVN. Ngay cả những công trình quốc kế dân sinh rất bức thiết, họ cũng không hề biết “nóng đít” làm cho kịp tiến độ. Nhưng trong việc xây dựng hai vườn hoa, thì lại quá “thần tốc” và bất ngờ động thổ khi còn tăm tối, vầng thái dương chưa ló dạng chân trời. Chúng ta có câu “bóng đêm là đồng loã của cái ác” , chính quyền có nhớ không? Việc xây dựng này phải được xem là kỷ lục Việt Nam, một việc chưa có tiền lệ trước đây và có lẽ cả mai sau nữa. Một nhà nước chân chính, thực hiện một công viên ích nước lợi dân như đang rêu rao thì sợ gì mà phải lén lén, lút lút trong bóng đêm như vậy? Chẳng biết những nhà lãnh đạo TP. Hà Nội ăn phải bùa mê thuốc lú của ai, mà chỉ đạo cho bầy tôi hành động theo lối của phường trộm cắp! Cách làm này tựa hồ ngang nhiên vỗ ngực cho thiên hạ thấy “họ là kẻ chụp giật” , cố lấy cho bằng được bằng mọi giá, chẳng cần đối thoại, chẳng cần lòng dân. Rõ ràng “cướp ngày là quan” chẳng sai!

Tôi nhớ không lầm, thì ông Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống của chế độ Việt Nam Cộng Hoà đã từng nói: “Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm” . Nhiều thế hệ trẻ lớn lên sau năm 1975, chưa biết thực hư của câu ấy ra sao, nay thì đã được chính nhà nước cộng sản chứng minh “hai năm rõ mười” rồi đó. Thế là qua vụ TH – TKS, nhân dân Việt Nam, loài người tiến bộ trên thế giới đã có cơ hội thấy được bộ mặt thật của đảng CSVN. Họ mới “ngộ” ra ông Thiệu nói quá đúng. Tôi đang lăm le nộp hồ sơ xin được kết nạp đảng, nhưng giờ nhất quyết dẹp phăng ý định đó, bởi không muốn đứng trong hàng ngũ những kẻ mị dân trắng trợn.

Sau cùng, xin mượn câu chuyện người Do Thái đóng đinh ông Giêsu trên đồi Gongotha để kết thúc bài viết của mình: Quần chúng khi ấy bị nhà cầm quyền xúi dại, đã kêu gào đòi giết ông Giêsu, tha cho tên trộm cắp Baraba. Và bản án đã được thi hành. Nhưng ngay sau đó, nhân loại đã hiểu ra được chân lý này: “Dù tha Baraba, thì Baraba vẫn là tên trộm cắp. Dù đóng đinh Giêsu, thì Giêsu vẫn là Thiên Chúa”. Thế đấy! Chính nghĩa là sự bất diệt. Sự kiện TH – TKS rồi đây sẽ được xem là một vết nhơ trong Việt sử, nhưng lại là sự vinh quang trong giáo sử Việt Nam. Người công giáo hãy tin vào điều ấy.

Hà Nội, ngày 29/9/2008

Nhã Nam

http://vietcatholic.net/News/Html/59406.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

NHỮNG THỦ ĐOẠN TIẾP THEO CỘNG SẢN CÓ THỂ ÁP DỤNG VỚI CÔNG GIÁO VIỆT NAM

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 29, 2008

NHỮNG THỦ ĐOẠN TIẾP THEO CỘNG SẢN CÓ THỂ ÁP DỤNG VỚI CÔNG GIÁO VIỆT NAM

Một trong số đặc tính căn bản của chủ nghĩa cộng sản là gian trá, lật lọng. Ngay từ trong học thuyết, nó đã sử dụng thủ đoạn “Giải thích từ ngữ thay đổi theo ý riêng” để dễ bề lừa dối, lật lọng. Nhân loại đã được thấy, cộng sản nhen nhóm xây dựng các tổ chức của nó trên toàn thế giới – Một sự can thiệp xâm lăng bẩn thỉu nhất mà các dân tộc phải hứng chịu với hậu quả lớn hơn 2 cuộc đại chiến thế giới cộng lại. Đến tận ngày nay, còn chưa khám phá, thống kê hết được.

Sự kiện đòi tài sản, đòi công lý ở tổng giáo phận Hà Nội với giáo dân, cũng như người lương thiện, như giọt mưa được mong ngóng qua ngày dài hạn hán. Nhưng với cộng sản nó như một cái tát nẩy lửa của bà mẹ nhân từ bao nhiêu năm chờ đợi sự sám hối của đứa con hư đốn, chờ mãi, cuối cùng bà nhận thấy, không còn chút hy vọng nào của sự sám hối. Đứa con hư hỏng đã biến thành quỉ dữ.

Cộng sản việt nam, thoát chết qua cơn đại hồng thuỷ “Cộng sản Đông Âu” nhờ may mắn, vì thế giới lúc đó chưa chĩa mũi nhọn vào nó. Ban đầu nó có bớt đi sự dữ dằn. Nhưng nay, nó lại hiện nguyên hình, chứng minh một chân lý: Ác nhân còn mong hối cải, chứ quỉ dữ thì không bao giờ có thể hối cải. Cộng sản cũng nhận ra, nếu nó phục thiện, nó không còn là nó. Không chỉ đơn thuần là mất quyền lực, phải lại những gì cướp bóc – Mà nó sẽ phải vứt bỏ sự gian ác, phải làm người tử tế phải tự lao động để nuôi chính mình, chứ không được đi cướp bóc. Đây là điều người cộng sản không thể làm nổi – Thực tế đã chứng minh. Chính vì các lẽ trên, cộng sản Việt nam sẽ còn tiếp tục giở nhiều thủ đoạn hèn hạ, cho nên dù thuộc tôn giáo nào, là người lương thiện hãy cảnh giác:

1) Khi thương lượng trong bí mật mờ ám của cộng sản bị phá sản:

Với bản chất của kẻ lưu manh, cộng sản luôn tìm cách “thương lượng trong bóng tối” dẫu nó biết rằng thương lượng như thế phía bên kia biết được điểm yếu bao giờ cũng đòi lợi hơn – Nhưng đổi lại những việc làm gây thiệt hại cho quốc gia, cho người dân của nó được giữ kín… Trong thực tế, nhà nước cộng sản Việt Nam đã thương lượng việc bình thường hoá quan hệ với cộng sản Trung quốc đầu những năm 1990, phía Trung quốc ra hai điều kiện: 1) UVBCT Bộ trưởng ông an Mai Chí Thọ – kẻ Trung quốc cho là thực hành chính sách tiêu diệt người Hoa tàn độc nhất – phải ra đi, về vườn, không được giữ bất cứ chức vụ gì nữa, kể cả những chức vụ đoàn thể như mặt trận tổ quốc. 2) Nhà nước CS Việt nam phải trả lại, hoặc bồi thường tài sản của người Hoa bị xua đuổi khỏi Việt nam sau cuộc chiến 1979.

Điều kiện thứ nhất được đáp ứng sau một hồi BCT khẩn khoản xin Mai Chí Thọ hiểu cho tình hình vui vẻ về vườn dù mới được 1 nhiệm kỳ Bộ trưởng BCA. Điều kiện thứ 2 cộng sản xin thương lượng trong bí mật với Trung quốc rồi xin bồi thường cho nhà nước Trung quốc chứ không phải cho người Hoa. Tài sản được đem ra bồi thường là lãnh thổ, lãnh hải quốc gia chứ không phải tiền bạc. Và các hiệp định cắm mốc biên giới phía Bắc, vịnh Bắc bộ được nó ký với Trung quốc, sau đó nó không công khai cho dân biết nội dung. Đến nay Trung quốc vì được lợi bội phần mà giữ im lặng.

Vụ viêc đòi lại tài sản của Tổng giáo phận Hà Nội lúc đầu cộng sản cũng tìm cách ra dấu cho Đức TGM là nó muốn thương lượng, nhưng là thương lượng trong bí mật. Rồi nó cũng đề ra một hướng giải quyết: Cấp khu đất mới cho Toà TGM, nó lên kế hoạch giới thiệu 2 địa điểm: 1) Khu đất trường thể thao 10/10 quận Ba Đình có hai mặt tiền phố Quán Thánh và phố Hùng Vương (Hùng Vương là con phố chạy qua lăng mộ Hồ chí Minh) khu đất rộng khoảng 1,2ha và cách lăng mộ Hồ chí Minh chỉ khoảng hơn 300m đường chim bay, trên khu đất này đã có rất nhiều công trình nhà cửa mới xây năm 2005. 2) Khu đất 67 Phó Đức Chính, nguyên là nhà máy in IDEO của Pháp xưa, khu đất rộng khoảng 1ha cũng có hai mặt tiền là phố Phó Đức Chính và Đường Yên Phụ, đặc biệt các toà nhà trên khu đất này đều được người Pháp xây dựng có kiến trúc Âu châu rất đẹp. Khu nhà đất này trước đây cộng sản dùng làm trường học cho con em người Hoa (Gọi la trường Trung học Trung hoa) Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ của Trung quốc khi sang thăm Việt Nam trước khi bị giết trong cách mạng văn hoá đã đến trường này và trồng cây đa lưu niệm, hiện cây đa vẫn còn.

Nếu so sánh về mối lợi vật chất, có lẽ Toà TGM Hà Nội nhận một trong hai cơ sở này sẽ có lợi hơn là toà Khâm Sứ. Và nếu nhận, cộng sản tuy mất vật chất nhiều hơn (tài sản này là của dân tộc Việt tạo lập, chứ không phải của cộng sản làm ra), nhưng đổi lại nó sẽ tránh được “tai tiếng” là phải trả lại nhà đất cho Công Giáo, tạo tiền lệ cho các tôn giáo khác, các cộng đồng dân cư khác đòi lại nhà đất. Không những thế nó còn được tiếng là đã cấp đất “tạo điều kiện” cho HĐGM VN làm trụ sở, cho Công Giáo Việt Nam hành đạo. Tôi cam đoan rằng: 600 tờ báo viết, 50 báo hình, cùng 10.000 phóng viên bồi bút của cộng sản đã sẵn sàng, chỉ chờ lệnh là lăn xả vào làm phóng sự, loan tin cấp đất cho HĐGM Việt Nam làm trụ sở.

Đức TGM Hà Nội cũng chẳng muốn phiền toái suy luận và rơi vào tròng rối rắm như trên, Ngài chỉ đơn giản: Tài sản của chúng tôi, chúng tôi xin lại, chẳng dám phiền các vị cấp mới. Tài sản của chúng tôi mà cứ trả lại 50% các cơ sở, chúng tôi dùng cũng đủ rồi đâu cần xin cấp mới mang tiếng là tham lam. Còn nhiều chi tiết nữa về cuộc gặp gỡ “thương lượng” cộng sản bầy đặt ra với Đức TGM Hà Nội sẽ được bạch hoá. Đức TGM Công Giáo không có lệ “đi đêm” cũng không có chuyện “ngậm miệng ăn tiền” như người ta, hay như anh Trung cộng. Đức năng, nhân bản, tự thắng mưu ma chước quỉ chứ đâu phải ma lừa để thắng quỉ, hay tướng quỉ thắng quỉ như cộng sản vô luân hành xử với nhau đâu! Âm mưu của cộng sản bị phá sản bởi nó đem áp dụng nhầm đối tượng, cũng như Satan xưa đem thế gian ra để cám dỗ Chúa Giêsu khi ngài ăn chay cầu nguyện trong hoang mạc vậy.

2) Những thủ đoạn cộng sản Việt Nam đã dùng với Tổng giáo phận Hà Nội:

Trong những ngày qua, cộng sản đã dùng bao nhiêu là thủ đoạn với Tổng Giáo Phận Hà Nội trong vụ việc đòi đất đòi công lý:

• Dùng truyền thông vu cáo, tấn công trực diện vào Đức TGM Ngô Quang Kiệt và các tu sĩ Thái Hà.

• Dùng truyền thông, tài liệu, thông tin giả, tạo dư luận tấn công vào lẽ phải của Công Giáo.

• Dùng truyền thông đưa thông tin về lời nói bị cắt sén của người Công Giáo để gây chia rẽ nội bộ.

• Dùng công an bắt bớ một số giáo dân, tấn công vào đám đông giáo dân đang cầu nguyện để tạo ra sự hoảng loạn.

• Thay vì cướp tài sản của Công Giáo thành tài sản của quan tham cộng sản, chuyển sang biến tài sản của Công Giáo thành công viên dùng chung toàn xã hội.

• Ra các văn bản trái pháp luật (trái ngay cả với thư luật pháp nguỵ quyền cộng sản) với những lời lẽ xấc xược nhắm vào TGM, các tu sĩ thậm chí với cả HĐGM Việt Nam, để bôi nhọ thanh danh các Ngài cũng như để ra oai với người dân.

• Dùng lưu manh côn đồ thương binh cộng sản nhục mạ, đánh người, đập phá tài sản của Công Giáo. Đến tận nhà giáo dân tích cực hay gia đình thân nhân các tu sĩ để đe doạ và hành hung.

• Cho người trà trộn vào giáo dân phát tán, tung tài liệu truyền đơn chống nhà nước để lấy cớ bắt giáo dân và tu sĩ.

• Đến tận nhà, đến tận nơi làm việc, đến tận trường học, lên danh sách giáo dân Công Giáo với sự đe doạ, miệt thị.

• Cho tuyên truyền miệng về một kế hoạch trấn áp “Mượn dao giết người” “Ném đá dấu tay” Thậm chí đe doạ một cuộc đàn áp chính thức đối với toàn bộ giáo hội Công Giáo.

• Tuyên truyền nhồi sọ cho toàn xã hội về một mối đe doạ “Mất chế độ -Mất nước” để dễ bề ra tay đàn áp Công Giáo.

• Dùng bộ máy chính quyền và công an ngăn cản không cho giáo dân các tỉnh về Hà Nội để cầu nguyện hiệp thông với Toà TGM – DCCT Thái Hà. Âm mưu cô lập tu sĩ để dễ bề hành hung.

• Dùng bộ máy chính quyền, các đoàn thể để quấy nhiễu Toà TGM cũng như DCCT Thái Hà với những phương tức hạ cấp như kiểm tra hộ khẩu, kiểm tra hành chính, triệu tập họp, gửi công văn giấy tờ. Chĩa loa vào nhà thờ phát các nội dung khiêu khích đang trong giờ lễ.

3) Còn thủ đoạn nào Cộng sản có thể áp dụng trong những ngày tới:

• Dùng tôn giáo khác, dùng đám tu sĩ quốc doanh để chỉ chích, tấn công vào lẽ phải của Công Giáo, thậm chí có thể tấn công vào cơ sở tôn giáo, hay người Công Giáo.

• Giết người rồi đổ vấy cho Công Giáo – Người bị giết có khi chính là người trước đây của nó, đã tham gia vào các vụ việc trấn áp hèn hạ với người Công giáo. Nhưng có thể tỉnh ngộ, không làm nữa, hoặc không nghe theo nó nữa hoặc làm trái ý nó. Giết những kẻ này, một mũi tên trúng hai mục đích. Cộng sản thường triệt để áp dụng thủ đoạn này.

• Cho đặc công đột nhập các tu viện nhà thờ vào ban đêm để lấy cắp tài liệu, đồ vật, hoặc để đặt máy nghe trộm. Không loại trừ khả năng chúng có thể giết các tu sĩ rồi dựng hiện trường giả. Hiện tại chúng có những khí cụ ám sát bằng hơi độc rất tinh vi, dấu hiệu của người chết như bị lên một cơn tăng huyết áp đột ngột, nhồi máu cơ tim.

• Dùng các đoàn thể liên tục thay phiên nhau vào các cơ sở tôn giáo để gây phiền nhiễu, gây mệt mỏi cho các tu sĩ giáo dân. Chúng cho phóng viên đi kèm và sẵn sàng thu lại những sơ xuất nhỏ nhất để vu cáo bôi nhọ.

• Dùng vũ khí sinh học gây bệnh dịch để tấn công cơ sở tôn giáo đông người, rồi lấy cớ dập dịch để ém người vào trong, hết dịch cũng không rút đi. Xin lưu ý: Thủ đoạn này chúng đã thực hiện với người Thượng ở Tây Nguyên.

• Lấy cớ đo đạc định vị lại đất đai tài sản của các cơ sở tôn giáo rồi vào trong lục soát hoặc gây mất thời gian, mất tập chung vào các việc phụng vụ, cầu nguyện. của tu sĩ giáo dân. Xin lưy ý: Thủ đoạn này chúng đã làm với TTGM HN khi lễ Noel, Tấn Phong Giám Mục.

• Chúng có thể tiếp tục cho lưu manh côn đồ, thương binh, chợ búa đến các cơ sở tôn giáo để gây nên một vụ ẩu đả lớn vừa để vu cáo, đe doạ Công Giáo, vừa để lấy cớ can thiệp. Mức độ tấn công có thể tăng dần để thăm dò phản ứng cũng như để điều chỉnh lại cách thức thực hiện.

• Chúng có thể tiếp tục cho in truyền đơn vu chống chính quyền rồi tìm cách ném vào các cơ sở tôn giáo hay giả làm giáo dân đi phân phát cho giáo dân trong các buổi lễ. Lấy cớ can thiệp bắt bớ đàn áp.

• Chúng cũng có thể cho các cán bộ thuộc ban tôn giáo, hoặc qua trung gian đến thương lượng, nhưng thực chất chúng không có tâm muốn giải quyết công việc một cách ngay thẳng. mà tìm sơ hở, tìm cách “câu giờ”. mà thôi.

• Còn nhiều thủ đoạn khác mà chỉ có cộng sản mới nắm được chúng ta phải luôn cảnh giác, nhưng cứ bình tâm ba thù giáo hội còn thắng được. Cộng sản giáo hội Công Giáo không thể thua.

4) Ai chỉ đạo thực hiện các thủ đoạn đê hèn của cộng sản?

• Thủ đoạn tạo lập thông tin giả cho báo chí truyền hình để tuyên truyền, vu cáo bôi nhọ tu sĩ, giáo dân Công Giáo trên các phương tiện thông tin đại chúng là của Ban Văn hoá tư tưởng Trung ương chỉ đạo, kẻ trực tiếp chỉ đạo điều hành là tên Tô Huy Rứa – Trưởng ban.

• Thủ đoạn dùng lưu manh nghiện ma tuý, thương binh, dân buôn bán chợ búa. Đến tấn công khiêu khích Người Công Giáo là do Công an đảm trách – chỉ đạo trực tiếp là Nguyễn đức Nhanh – Tên ngụy tướng cộng sản giám đốc công an Hà Nội.

• Thủ đoạn dùng các đoàn thể ngoại vi của cộng sản tham gia khủng bố tinh thần tu sĩ giáo dân Công Giáo là theo chỉ đạo của Mặt trận Tổ quốc.

• Để thống nhất thực hiện các thủ đoạn trên, chúng sẽ họp liên nghành: UBND – CA – MTTQ – BVHTTTW rồi lên kế hoạch cùng hành động. Quuyết định cuối cùng hiện tại là tên Phạm Quang Nghị – bí thư cộng sản Hà Nội. Nhưng Hà Nội vẫn phải báo cáo thường xuyên cho BCT cũng như Thủ tướng. Các hành động mạnh tay đàn áp công khai trên diện rộng, giết người thì phải được Bộ Chính Trị cộng sản thông qua trước.

(Ghi chú: Một số những biện pháp hành động mật trên đây được tiết lộ cho chúng tôi từ một đảng viên CS khá cao cấp, nhưng là người không đồng quan điểm với chính sách đàn áp bằng bạo lực của nhóm CS bảo thủ)

5) Người tín hữu Công Giáo phải làm gì?

• Cầu nguyện là một vũ khí siêu nhiên, cộng sản không thể hiểu được cũng không thể chống lại được.

• Luôn bình tâm thư thái lấy nhu thắng cương. Hãy tin tưởng và theo sự hướng dấn của các tu sĩ.

• Sẵn sàng cho mọi tình huống. Tử vì đạo là một phúc lớn. Hãy cầu nguyện xin phúc tử đạo cùng Chúa dưới sự hướng dẫn của các Linh Mục, Tu Sĩ của Chúa.

• Hãy kêu gọi sự chia sẻ cảm thông với việc đòi công lý từ anh em công giáo toàn quốc, toàn thế giới, những người lương thiện, hay những giáo dân tôn giáo khác trong chừng mực có thể.

• Để làm rõ mục tiêu chính đáng của người Công giáo VN tranh đấu đòi Công lý, cần đẩy mạnh mặt trận Truyền thông của người Công giáo nói riêng và của các Tổ chức người Việt yêu chuộng Tự do và Dân chủ cho Việt Nam nói chung. Cần làm cho đông đảo quần chúng thấy được bộ mặt thật tàn ác của CSVN, cần cho giới Truyền thông quốc tế hiểu biết về chính nghĩa và những sự kiện chân thực để họ cũng vặch mặt chế độ CSVN là chế độ tàn ác không phục vụ lời ích của dân chúng Việt Nam, nó không tôn trọng nhân quyền và những quyền căn bản của con người…

Lời cầu nguyện của mỗi người Công giáo Việt nam phải là: “Xin Chúa cho cho con thắng được chính bản thân con để con sẵn sàng hy sinh cho chính nghĩa và công lý, xin cho Giáo Hội Việt Nam chiến thắng Quỉ Dữ Cộng Sản!”.

Đồng Nhân

http://vietcatholic.net/News/Clients/ReadArticle.aspx?Id=59396

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Ai là tác giả của tác phẩm “Vô Đề”?

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 29, 2008

Ai là tác giả của tác phẩm “Vô Đề”?

-Trần Thanh-

Trong thời gian qua đã có nhiều tranh luận về vấn đề Nguyễn Chí Thiện “thật hay giả”. Theo ý tôi, những cuộc tranh luận này đã bị lèo lái sang một hướng khác, theo đúng sự mong muốn của bọn việt gian cộng sản và Việt Tân. Nói một cách nôm na, ví von, mục tiêu mà chúng ta nhắm bắn là trái tim của chế độ việt gian cộng sản, nếu bắn trúng, dù chỉ một phát đạn thôi là bọn chúng sẽ chết ngay tức khắc. Thế nhưng vì vô tình hay vụng về, chúng ta đã để cho bọn tay sai việt cộng lái tầm ngắm của chúng ta VÀO BÀN CHÂN CỦA KẺ THÙ MÀ BẮN! Do đó, trong bài viết này, tôi xin phép được xác định lại một cách dứt khoát vấn đề sau đây, cần làm sáng tỏ để đưa những kẻ gian ra trước pháp luật và công luận phán xét:

AI LÀ TÁC GIẢ CỦA TÁC PHẨM VÔ ĐỀ???

Có hai đối tượng có thể trả lời được vấn đề này một cách chính xác, đó là:

1. Bản thân ông Nguyễn Chí Thiện

2. Bọn việt gian cộng sản, hay nói cho cụ thể hơn: sở tình báo của việt cộng ở Hà Nội

Từ khi có nhiều nghi vấn nêu lên về những sự mờ ám bao quanh tập thơ “Vô Đề”, ông Thiện đã tảng lờ không trả lời (hay không dám trả lời) Có một vài lần ông đã lên tiếng thách thức cộng đồng rằng: – ông chính là “thứ thiệt” 100%, nếu cần thì đi thử DNA, giữa ông với người anh ruột. Nếu ông ta thắng thì bên thua phải chi trả một trăm ngàn đô la và ông sẽ dùng số tiền này vào việc …. thiện (như cái tên Thiện của ông!)

Tuy nhiên ông Thiện đã đánh trống lãng. Cái mà cộng đồng chúng ta quan tâm nhất chính là nghi vấn: AI LÀ TÁC GIẢ CỦA TÁC PHẨM “VÔ ĐỀ”, chớ không phải ông Nguyễn Chí Thiện là người thật hay người giả!

Xin nhắc lại nghi vấn: AI LÀ TÁC GIẢ CỦA TÁC PHẨM “VÔ ĐỀ”??? Đây là điều quan trọng nhất, là điểm mấu chốt, tựa như cái nền nhà. Nếu giải quyết được vấn đề này thì những vấn đề khác sẽ tự động được sáng tỏ.

ĐIỂM VỤNG VỀ CỦA CHÚNG TA:
Khi nêu nghi vấn, chúng ta thường nói “ông Nguyễn Chí Thiện này là giả mạo” Ý chúng ta muốn nói rằng ông Thiện không phải là tác giả của tập thơ “Vô Đề” Thế là phe bênh vực cho ông Thiện đã bám vào chuyện này để lái cuộc tranh luận sang một hướng khác có lợi cho họ: “Ông Thiện là con người thật hay giả”! Và họ đã lôi ra một lô một lốc những chứng cứ rất “hùng hồn” như:

– Nhà văn Phan Nhật Nam và một số các nhân vật A,B,C gì gì đó đã từng ở tù chung với ông Thiện, và những người này sẵn sàng ra làm nhân chứng sống! (có nhân chứng sống là thấy có đường tương chao …. “thắng” rồi!)

– Ông Thiện có người anh ruột là cựu trung tá quân lực VNCH đang sống tại Mỹ, sẵn sàng thử DNA với ông Thiện để chứng minh ông Thiện là người em ruột và xác nhận ông Thiện đúng là …. em ruột của mình, đã từng chung sống dưới một mái nhà từ thuở bé!

ĐÁNH TRỐNG LÃNG:
Giả sử trong một căn phòng của một công ty, có năm sáu người đang ngồi làm việc với máy điện toán Bỗng nhiên có một mùi hôi thối khủng khiếp xông lên. Mọi người trong phòng ai cũng bịt mũi nhao nhao lên hỏi:

– ĐM, thằng nào địt thúi quá vậy bay?

Và đồng thời mọi cặp mắt lẫn sự nghi ngờ của mọi người đều hướng về một anh chàng tên là X, đang ngồi tại góc phòng. Sở dĩ mọi người nghi ngờ anh này vì mùi thối phát xuất từ hướng đó và thêm nữa anh này lại ngồi im như phỗng, không dám lên tiếng than phiền gì! Những người bạn của anh X bèn chất vấn:

– Ê, thằng X, có phải mày địt thúi không?

Anh chàng X tái mặt nhưng anh ta đã lanh trí đánh trống lãng:

– À, tối nay chương trình ti vi có phim gì hay?

Những người bạn của anh ta tức giận, lập lại câu hỏi:

– Tụi tao đang hỏi mày: có phải mày vừa địt thúi không?

Anh chàng X lại vờ vịt bị “lãng tai” và tiếp tục đánh trống lãng:

– À, có phải tụi mày muốn đề cập đến truyện ngắn “Tiếng địch véo von” của nhà văn Khái Hưng phải không?

Đến lúc này thì những người trong phòng bực bội quá, bèn xúm lại, xắn tay áo, chuẩn bị tẩn cho anh chàng X một trận. Anh này sợ quá, quỳ xuống lạy, nhận “tội” chính anh ta đã …. lỡ dại thả “bom” hơi ngạt!

Đây là chuyện vui nhưng cũng làm cho chúng ta liên tưởng đến ông Nguyễn Chí Thiện. Mùi thối đã xuất phát từ con người của ông ta và bay mùi nồng nặc, do đó cộng đồng chúng ta mới nghi ngờ và nêu nghi vấn. Bản thân ông ta đã đánh trống lãng và những con chó đang bảo vệ ông ta cứ nằng nặc đòi thử DNA hoặc đem những tên tuổi như Phan Nhật Nam, linh mục Nguyễn Hữu Lễ (ở tù chung) ra để làm tấm bình phong, bảo kê và che đậy cho con chồn chín đuôi, sau 14 năm được cộng đồng bơm thổi, nuôi dưỡng, nay đã biến thành yêu tinh!!! Những con chó mực, chó vàng còn nói rằng chủ của chúng nó (ông Thiện) coi khinh những người nêu nghi vấn. Những người này không xứng đáng là đối tượng để ông Thiện đối thoại!

Những con chó mực chó vàng đang bảo vệ cho thằng chủ “thi sỡi” nên nhớ rằng: một mai khi lá bài Nguyễn Chí Thiện bị phơi ra ánh sáng thì lúc đó đảng việt gian cộng sản cũng sẽ bắt mấy con chó để …. làm thịt! Điểu tận cung tàn, hết xôi rồi việc. Đến lúc đó thì nhất mực, nhì vàng, tam khoang, tứ đốm. Mấy con chó sẽ bị lần lượt đem đánh tiết canh, làm chả chìa, rựa mận. Thân phận của mấy con chó săn là như vậy!

Việc chúng ta đang cần biết và yêu cầu ông Nguyễn Chí Thiện trả lời là: AI LÀ TÁC GIẢ CỦA TẬP THƠ “VÔ ĐỀ”?

Đừng có cố ý đánh trống lãng, cứ đem cái bình phong ông anh ruột trung tá ra để làm tấm khiên bảo kê, che chắn. Và cũng đừng có đem mấy ông bạn tù ra để xác nhận mình là Nguyễn Chí Thiện …. thật! Hết đem những bạn tù ra xác nhận thì lại đem ông …. hàng xóm ra xác nhận! Có ông một Hùng nào đó 77 tuổi, là “hàng xóm” của ông Thiện, xác nhận đúng ông Thiện là “thứ thiệt”! Rồi để cho sự xác nhận thêm phần long trọng và nặng ký, ông Hùng này tự nhận mình là “bạn” của nhà báo nổi tiếng Đỗ Tiến Đức! Tất cả những điều nói trên đều chỉ là trò hề bởi vì nó không hề ăn nhậu, không có dính líu gì đến tập thơ “Vô Đề” hết! Điều mà chúng ta cần biết thì không trả lời mà cứ đi nói vòng vo!

Chúng ta không cần quan tâm đến sự việc cách đây khoảng 70 năm, có một đứa bé khóc oa oa chào đời và cha mẹ thằng bé đã đặt tên cho nó là Nguyễn Chí Thiện, với mong muốn là khi lớn lên, nó sẽ là người lương thiện, không đạo văn, đạo thơ, đạo nhạc hay đạo chích! Rồi đứa bé ấy lớn lên, bị đi tù và trở thành …. thi sĩ! Đứa bé ấy là có thật. Nó đang tồn tại dưới ánh sáng mặt trời, cũng như những điều mà nó đang cố tìm cách che dấu cũng đang tồn tại dưới ánh sáng mặt trời. Ngạn ngữ Tây phương có nói rằng “Không có gì có thể che dấu được dưới ánh sáng mặt trời” Cây kim ở trong bọc có ngày sẽ phải lòi ra.

Nếu như ông Thiện dám ưỡn ngực nói công khai trước công luận rằng: – Toàn dân nghe đây,tôi, Nguyễn Chí Thiện, hôm nay ngày … tháng … năm … lúc mấy giờ mấy phút mấy giây, long trọng tuyên bố cùng toàn thể người Việt trong và ngoài nước và cả thế giới rằng: Chính TÔI là tác giả của tác phẩm “Vô Đề”. Chính tôi đã sáng tác ra tác phẩm đó đấy! Nếu ai không đồng ý thì tôi sẵn sàng mở diễn đàn tranh luận như ông Trần Mạnh Quỳnh mở diễn đàn vừa rồi! Ai dám đối luận hay tranh luận với tôi???

Nếu như vậy thì có lẽ vấn đề sẽ được giải quyết nhanh gọn!

ĐEM KIẾNG CHIẾU YÊU SOI CON CHỒN TINH:
Từ năm 1945 đến nay, chúng ta đã bị việt cộng lừa bịp quá nhiều. Ở ngoài bắc thì có các vụ án văn học như :

– Nhật ký trong tù (Hồ tặc ăn cắp thơ của người khác)
– Kể chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch (tác giả là Trần Dân Tiên)
– Vừa đi đường vừa kể chuyện (tác giả là T. Lan)

Ba vụ án văn học trên đã bị đồng bào ta phá vỡ. Thủ phạm chính là tên Hồ tặc đã ăn cắp thơ của người khác và dùng ống đu đủ để thổi cho chính mình, qua hai bút hiệu là Trần Dân Tiên và T. Lan.

Riêng trong miền Nam, từ năm 1954 đến 1975, chúng ta cũng bị việt cộng lừa bịp nhiều vố đau. Nhiều tên điệp viên của việt cộng đã chui sâu, luồn cao lên tới chính quyền trung ương của chính phủ VNCH, làm tới chức cố vấn chính trị cho tổng thống! Ví dụ như:

– Tên Phạm Xuân Ẩn, với lớp vỏ bọc phóng viên của tờ báo Time, chuyên cung cấp những tin tình báo cho việt cộng.
– Tên Vũ Ngọc Nhạ, làm cố vấn chính trị cho Phủ tổng thống, dưới thời đệ nhất và đệ nhị cộng hòa.
– Tên chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, giữ chức Tổng tham mưu trưởng lúc Dương Văn Minh lên làm tổng thống được hai ngày!
– Và các tên điệp viên nổi tiếng khác trong đường giây của Vũ Ngọc Nhạ như: – Huỳnh văn Trọng, Lê Hữu Thúy, Nguyễn Xuân Hòe, Vũ Hữu Ruật, Nguyễn Xuân Đồng, bà Cả Nhiễm. Tuy nhiên, những tên này cùng Vũ Ngọc Nhạ đã bị CIA và tình báo của VNCH khám phá, bị bắt và đưa ra tòa hồi tháng 11 năm 1969. Toàn bộ bọn chúng bị đày đi Côn Đảo. Sau năm 1975, con cháu của những tên điệp viên việt cộng này đã di tản hoặc vượt biên sang Mỹ. Hiện nay, nối nghiệp cha, thế hệ việt cộng con này đang tiếp tục hoạt động trong các cộng đồng của người Việt tại hải ngoại!

Trong vòng vài chục năm trở lại đây, một nghi án văn học có thể được xem như lớn nhất từ trước đến nay, đó là nghi án về tập thơ “Vô Đề” Theo sự nghi vấn, tên ăn cắp vẫn đang sống một cách ung dung, nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, vừa có tiếng vừa có miếng, lại vừa là “thầy” của một số kẻ ngu dốt đang đội hắn trên đầu để thờ!!! Trong khi đó thì người thi sĩ anh hùng, một người Việt Nam yêu nước hết sức nhiệt thành và bằng cả trái tim, người đã đem hết tinh huyết của mình để dệt nên những vần thơ tuyệt tác, đã bị việt cộng giết chết một cách oan ức, tức tưởi, thân xác đã bị vùi ở một nơi nào đó trong lòng đất lạnh, không quan tài, không huyệt mộ!

Nếu như ở hải ngoại, hàng chục ngàn người đã biểu tình để bày tỏ sự hiệp thông với các giáo dân thuộc giáo xứ Thái Hà để ĐÒI CÔNG LÝ thì chúng ta cũng nên ĐÒI CÔNG LÝ CHO NGHI ÁN TẬP THƠ VÔ ĐỀ VÀ ĐÒI CÔNG LÝ CHO TÁC GIẢ VÔ DANH ĐÃ BỊ VIỆT CỘNG GIẾT CHẾT!

Nghi án này chính là DANH DỰ CỦA CẢ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT CHỐNG CỘNG Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC. Nhất định chúng ta phải làm sáng tỏ nghi án này. Không thể chấp nhận một thằng việt cộng đang ngồi trên đầu chúng ta, làm “thầy” chúng ta, khuyên chúng ta nên chống cộng theo kiểu này, kiểu nọ! (Toàn là những lời khuyên bố láo, ví dụ như hắn đã khuyên chúng ta nên kiên nhẫn ngồi chờ một ông Goóc Ba Chớp Việt Nam xuất hiện để thực hiện một cuộc cách mạng nhung! Đây chính là thế võ “câu giờ” và trò đánh lạc hướng của bọn việt gian cộng sản!) Việt cộng chúng nó lại tiếp tục “play game”, chơi cái trò “vũ-ngọc-nhạ, phạm-xuân-ẩn! Vẫn bổn cũ soạn lại, thấy cái trò hồi trước năm 1975 bọn chúng đã đánh lừa được cả hai chế độ VNCH thì bây giờ bọn chúng lại áp dụng để đánh lừa cộng đồng người Việt tại hải ngoại!

Riêng trong bài viết này – nghi án văn học và chính trị liên quan đến Nguyễn Chí Thiện- tôi chỉ nêu ra một điểm quan trọng mà theo tôi đó là lý do vì sao tôi tin rằng:

* Ông Nguyễn Chí Thiện không phải là tác giả của tập thơ “Vô Đề” ===> Người anh hùng Vô Danh, tác giả thật sự của “Vô Đề” đã bị việt cộng giết chết.

Bây giờ tôi xin đi vào vấn đề:

* Ông Nguyễn Chí Thiện không phải là tác giả của tập thơ “Vô Đề”

Điểm này có ba phần:

A. Lời tuyên bố “không làm thơ nữa, chuyển sang viết văn”
B. Viết văn dễ hơn làm thơ
C. So sánh một vài đoạn thơ của “Vô Đề” và Hạt Máu Thơ

Những sự kiện:

Khi ông Thiện vừa mới bước chân sang Mỹ năm 1995, thì ông đã được đồng bào công kênh lên, hoan hô vang dội, đội lên đầu ông nhiều vòng nguyệt quế và đủ loại các vòng hoa, xem ông như một vị anh hùng vừa mới trở về từ ngục tù cộng sản. Rất nhiều người đến làm quen, tay bắt mặt mừng với người “thi sĩ” thiên tài. Sở dĩ ông Thiện được đồng bào chào đón quá sức nồng nhiệt là nhờ cái vòng hào quang “Vô Đề” trên đầu ông nó tỏa sáng quá! Nếu không có cái vòng hào quang “Vô Đề” thì bất quá ông Thiện cũng chỉ là một người tù “chính trị” bình thường, bởi lẽ số tù nhân chính trị bị việt cộng giam cầm trên 15 năm không phải là ít, còn số người bị giam từ 10 năm trở lên thì nhiều lắm, hầu như ở cộng đồng nào cũng có vài chục người. Và nếu “vốn liếng” của ông Thiện chỉ là 28 năm ở tù thì cuộc đời của ông sẽ bị chìm vào quên lãng ở hải ngoại một cách buồn tẻ. Ông sẽ phải đi rửa chén và chùi cầu tiêu trong các tiệm phở cho đến chết mà không được một ai ca ngợi ông như ông thánh. Thế nhưng nhờ cái vòng hào quang “Vô Đề” mà ông đã trở thành một vị bồ tát hoặc thánh sống. Ông đã được lãnh nhiều giải thưởng văn học, chẳng hạn như giải Thơ Quốc Tế Rotterdam (Rotterdam International Poetry Prize) hồi năm 1985. Đó là chưa kể nhiều giải thưởng quốc tế khác, biến ông thành con người quốc tế và ông đã đi chu du khắp năm châu mệt nghỉ, chỉ chuyên thuyết trình về “nghệ thuật chống cộng” cho người Việt ở hải ngoại nghe chơi cho biết! Ông không bao giờ phải lo lắng về vấn đề tài chánh vì đã có những kẻ điếu đóm, mượn đỡ cái “hào quang” mà ông đã “làm việc trên 20 năm” ra để kinh doanh chính trị và nghệ thuật!

Đó là chưa kể hồi năm 2001, đã có nhà báo Mỹ tên là Michael Lind viết bài ca ngợi ông Thiện, ví ông như đại văn hào Nga Xô Solzhenitsyn, qua bài viết mang tựa đề “The Solzhenitsyn of VietNam”! Chúng ta ai cũng biết nhà văn Solzhenitsyn là tác giả của tác phẩm lừng danh “Quần Đảo Ngục Tù” (in tại Sài Gòn năm 1974 do Ngọc Thứ Lang dịch) Đấy, cái vòng hào quang “Vô Đề” cộng thêm sự nông nỗi, hấp tấp của cộng đồng và cái đám con buôn, lưu manh chính trị của mặt trận Hoàng Cơ Minh đã thổi và đưa ông Thiện lên tuốt chín tầng mây xanh. Bây giờ, giả sử khi đã khám phá ra sự thật thì việc kéo ông ta xuống không phải là dễ dàng!

Phải chính xác mà nói, tất cả là nhờ cái hào quang “Vô Đề” chớ nếu chỉ xét vào cái tập truyện “Hỏa Lò” và tập “Hạt Máu Thơ” thì còn khuya ông Thiện mới được ca ngợi và xếp ngang hàng với đại văn hào Nga Xô! Không khéo lại bị phản ứng ngược!

Quý vị thử tưởng tượng xem: một người tù đã dám dùng thi ca để chửi thằng Hồ còn hơn chửi chó và đồng thời ông ta còn chửi rủa, mạt sát luôn cả cái chế độ cộng sản vô nhân đạo nhất thế giới, bỗng nhiên sờ sờ xuất hiện bằng xương bằng thịt trước nhiều cộng đồng người Việt tại hải ngoại! Từ trước đến giờ, sau khi đọc xong tập thơ “Vô Đề”, ai ai cũng suýt xoa: sao thơ đấu tranh hay thế, nhiều bài, nhiều câu rất thấm thía, xen lẫn sự châm biếm hài hước một cách chua chát. Ai cũng mong ước có một ngày nào mình được diện kiến người thi sĩ tài ba, bằng xương bằng thịt ấy và xin được một chữ ký để làm kỷ niệm thì còn gì quý hóa bằng!

Và thật là “may mắn”, bắt mạch được nhu cầu khao khát thần tượng của người Việt tại hải ngoại nên sở tình báo Yết Kiêu của việt cộng đã nặn ra con bài Nguyễn Chí Thiện, sau MƯỜI LĂM NĂM DÀI công phu dàn cảnh, chuẩn bị về mọi mặt.

Cuộc hội ngộ tại Mỹ rất cảm động nhưng đồng thời cũng chứa đựng những oái oăm bởi vì sau nhiều màn chào đón hết sức tưng bừng, rộn rã thì có một vài người hâm mộ thơ của “thi sĩ”, đã đến đề nghị với ông Thiện:

– Thưa anh, nhân dịp anh vừa đặt chân đến vùng đất tự do, xin anh sáng tác cho một bài thơ để đánh dấu biến cố lịch sử này. Chúng tôi sẽ cho đăng ngay trên các tờ báo và phổ biến rộng rãi trên truyền thanh, truyền hình và internet.

Nghe nói đến “sáng tác thơ”, ông Thiện hơi tái mặt, thế là ông xối luôn một thùng nước lạnh lên đầu những người hâm mộ:

– Cám ơn các anh. Nhờ ơn bác và đảng, à quên, xin lỗi, nhờ sự can thiệp của thế giới mà hôm nay tôi đã đến được vùng đất tự do. Tuy nhiên, xin thưa với các anh như thế này: – tôi đã quyết định ngưng làm thơ! Vì lý do sức khỏe, hơn nữa tuổi tác đã lớn không làm thơ được nữa!

Những người hâm mộ thơ của ông Thiện tỏ vẻ rất sửng sốt và nuối tiếc:

– Ồ, sao thế! Thật tiếc quá! Chúng tôi đang mong ước được thưởng thức tác phẩm mới nhất của thi sĩ! Chúng tôi chờ đợi mòn mỏi đã bao nhiêu năm nay!

Thi sĩ cười nhẹ, an ủi:

– Nói thế thôi, quý vị đừng có lo! Tôi ngưng làm thơ là để chuyển sang viết văn. Làm thơ mình chỉ nói lên vấn đề một cách hạn chế còn viết văn thì chúng ta có thể diễn tả sự việc một cách thoải mái. Tôi đang ấp ủ một đề tài lớn. Có lẽ sắp tới tôi sẽ bay sang Pháp để nhờ …. à quên, để sống ở một nơi yên tĩnh để viết về đề tài “Hỏa Lò”!

NHẬN XÉT:

A. Ngưng làm thơ vì không còn hứng, vì sức khỏe và vì tuổi già
B. Viết văn dễ hơn làm thơ
C. So sánh một vài đoạn thơ của “Vô Đề” và Hạt Máu Thơ

A. Ngưng làm thơ vì không còn hứng, vì sức khỏe và vì tuổi già
Thi sĩ Vô Danh là một nhà ái quốc. Qua các bài thơ do ông sáng tác, chúng ta thấy toát lên những điểm sau đây rất rõ nét:
– yêu quê hương, dân tộc
– căm thù bọn việt gian cộng sản đến tận xương tủy
– quyết tâm đấu tranh chống cộng đến cùng, nhằm lật đổ chế độ cộng sản, cho dù có phải hy sinh tính mạng và nhất là không bao giờ chịu đầu hàng giặc cộng.

Trước hết thi sĩ Vô Danh là một nhà ái quốc. Thứ đến, ông là người có tài năng xuất chúng về thơ. Ông mượn thơ để làm vũ khí sắc bén, thể hiện tấm lòng yêu nước của mình, đấu tranh chống lại kẻ thù. Thơ ví như con thuyền đã chuyên chở những tư tưởng và ý chí của ông đến với toàn dân và vượt biên giới đi ra thế giới bên ngoài, tố cáo tội ác của cộng sản cho toàn thế giới biết.

Thi sĩ Vô Danh làm thơ vì ngọn lửa yêu nước thương nòi luôn luôn bừng cháy, sôi sục trong tim gan ông. Và đã là NHÀ ÁI QUỐC CHÂN CHÍNH thì ngọn lửa ấy sẽ không bao giờ suy tàn, trừ khi giã biệt cõi đời. Một điểm quan trọng khác: thi sĩ là một tài năng thi văn xuất chúng, đã làm được nhiều bài thơ hay, xuất thần, được nhiều người hâm mộ. Như vậy, đang đạt đến đỉnh cao nghệ thuật thì cớ sao lại tuyên bố không làm thơ nữa? (như ông Thiện đã tuyên bố)

Đã là người ái quốc chân chính thì lúc nào cũng cảm thấy yêu nước, muốn đấu tranh cho quê hương được thanh bình, độc lập. Và khi quê hương đã được tự do thì người yêu nước sẽ tiếp tục đấu tranh xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh. Cũng ví như một người đàn ông nói rằng ông ta rất thương vợ thì cái tình thương ấy phải luôn luôn được duy trì. Không thể yêu nước hay yêu vợ tùy theo “hứng”. Nếu yêu nước tùy theo “hứng” thì có khác gì kiểu yêu nước của ông nhạc sĩ Phạm Duy: trước năm 1975, ông ta “hứng yêu nước” nên đã sáng tác nhiều bài hát chống cộng nhưng đến sau năm 2000 thì ông ta “hết hứng”, bèn bỏ về Việt Nam đầu hàng việt cộng!!!

Nếu ông Nguyễn Chí Thiện là người yêu nước chân chính thì cho dù đi bất cứ nơi đâu, bất cứ chân trời góc bể nào, tấm lòng của ông vẫn luôn hướng về quê hương, tiếp tục sáng tác những câu thơ rừng rực lửa đấu tranh để góp phần làm sập đổ cái chế độ bạo tàn, hung ác. Đằng này, khi ông vừa mới đặt chân lên đất Mỹ thì tự nhiên cái THI HỨNG = LÒNG ÁI QUỐC của ông nó biến mất. Sao lạ quá? Đó là lý do vì sao nhiều người đã đặt nghi vấn: – có lẽ ông Thiện không biết làm thơ hoặc là thi sĩ dỏm! Khi những người hâm mộ đến xin ông một vài sáng tác mới thì ông đã chối bai bải là không làm thơ nữa! Như vậy thử hỏi thiên hạ không nghi ngờ sao được?

Ông Thiện viện lý do tuổi già và sức khỏe yếu nên không làm thơ nữa thì điều này cũng vô lý. Có thể nói những năng khiếu về nghệ thuật như thi, văn, nhạc, họa, vừa là những món quà của thượng đế và cũng chính là CÁI NGHIỆP đeo đẳng thân phận của người nghệ sĩ, không bao giờ dứt bỏ được. Một người đã sáng tác nổi tiếng, như con tằm nhả tơ thì người đó sẽ tiếp tục sáng tác mãi, cho dù già yếu hay bệnh hoạn. Bởi vì không sáng tác thì nhớ nghệ thuật không chịu được, tựa như người nghệ sĩ nhớ sân khấu. Vậy thì khi ông Thiện đến nước Mỹ năm 1995, ông mới có 56 tuổi, sao có thể gọi đó là tuổi già? Có nhiều thi sĩ ngoài 80 tuổi vẫn còn sáng tác rất hăng say! Còn nếu sức khỏe của ông Thiện yếu thì không thể tin được. Ở lứa tuổi 56, mặc dù đã từng bị ở tù 28 năm(?) nhưng ông vẫn còn rất khỏe mạnh. Điều này chúng ta có thể thấy được qua giọng nói và tướng đi đứng của ông, nhất là ông đã từng diễn thuyết, nói liên tục hơn ba tiếng đồng hồ! Có người còn nói đùa rằng nếu cưới hai bà vợ cùng một lúc, ông cũng thừa sức khỏe để “take care”!

Do đó, mọi người đã nghi vấn rằng:

-Tập thơ “Vô Đề” đã quá nổi tiếng, trình độ nghệ thuật quá cao cho nên ông Thiện, khi sang Mỹ, không dám làm thơ nữa vì sợ bị lộ cái chân tướng …. ăn cắp và thi sĩ dỏm của mình ra! Tác phẩm “Hạt Máu Thơ” của ông nếu đem so với “Vô Đề” thì chẳng khác gì đem con cú ra so sánh với con công!

– Nếu là một người thực sự có tài, hữu xạ tự nhiên hương thì cho dù ở bất cứ không gian, thời gian nào tài năng của họ vẫn tỏa sáng. Nhà văn Kim Dung đã sáng tác hơn mười pho truyện chưởng mà bộ nào cũng hay, cũng xuất sắc, bộ sau hay hơn bộ trước. Nhạc sĩ Lam Phương khi ra hải ngoại vẫn tiếp tục sáng tác và nhạc của ông vẫn hay, vẫn nổi tiếng không thua gì hồi còn ở trong nước.

Thế thì tại sao “nhà thơ” Nguyễn Chí Thiện lại rửa tay gác bút trong khi thi tài đang đi lên đỉnh cao nghệ thuật? Mười bốn năm đã trôi qua, ông không làm được một bài thơ nào cho ra hồn mà chỉ toàn là những rác-thơ! Tại sao???

B. Viết văn dễ hơn làm thơ?

Ông Thiện nói rằng không làm thơ nữa mà chuyển sang viết văn để diễn tả được nhiều hơn.

Tôi không đồng ý với quan niệm này. Theo sự nhận xét của tôi thì nghệ thuật của thơ khó hơn viết văn rất nhiều. Cái hay của thơ là ở chỗ:
– Dùng thật ít chữ mà diễn tả được thật nhiều ý tưởng
– Đôi khi một bài thơ còn chuyên chở được cả một tư tưởng nào đó
– Thơ có nhạc điệu, có vần nên dễ nhớ
– Thơ có một số quy tắc nhất định như luật bằng trắc, niêm luật, gieo vần thơ
– Kể cả thơ tự do là nghệ thuật tự do, phóng túng, không bị chi phối bởi luật thơ nhưng nó vẫn có cái hay tự nhiên của nó mà không ai giống ai và nhất là những chữ dùng thường là những sáng tạo độc đáo, sự chắt lọc những tinh hoa của ngôn ngữ.

Ta có thể ví những bài thơ của thi sĩ Vô Danh làm tựa như những con chip điện tử, có sức chứa rất lớn, được thâu gọn lại trong một chiếc máy điện toán lap-top tí hon, có thể bỏ trong túi quần. Tuy nhỏ gọn như vậy nhưng khi ta khai triển những bài thơ đó ra thì nó trở thành một thư viện khổng lồ, tố cáo tội ác của cộng sản và nói lên tấm lòng khát khao tự do của một con chim đại bàng đang bị giam hãm trong ngục tù.

Cái hay của thi sĩ Vô Danh là ở chỗ đó.

Xin đưa ra một ví dụ về bài thơ “VÌ ẤU TRĨ”, tác giả sáng tác năm 1975:

Vì ấu trĩ, thờ ơ, u tối
Vì muốn an thân,vì tiếc máu xương
Cả nước đã quay về một mối
Một mối hận thù, một mối đau thương …

Chỉ vỏn vẹn có 30 chữ gói gọn trong bốn câu thơ mà tác giả đã vẽ lên được một bức tranh tổng thể về tình hình chống cộng sản từ năm 1945, kéo dài cho đến nay vẫn còn đúng. Tác giả đã liệt kê ra những hạng người sau:

– ấu trĩ = khờ dại —> (ví dụ như đi du lịch Việt Nam)
– thờ ơ = ích kỷ —> (ví dụ như không yểm trợ các cuộc đấu tranh chống cộng, chỉ lo ăn chơi)
– u tối = ngu dốt —>(ví dụ như đội những thằng giặc như Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Hoàng Minh Chính lên đầu, tôn thờ nó là “thầy”, đem tiền cúng cho bọn công an đầu trọc và bầy quạ đen mang thánh giá)
– an thân = hèn nhát —> (vừa chống cộng vừa run, gọi bọn chúng nó là “ngài”, ông “chủ tịch, ông “tổng bí thư”, ông “thủ tướng”!)
– tiếc máu xương = chống cộng nửa vời, hy sinh có tính toán —> (chống cộng nhưng không muốn cho cộng sản bị sụp đổ, sợ bị mất “job” chống cộng!)

Nhưng CUỐI CÙNG THÌ TẤT CẢ CÙNG ĐỒNG LÒNG:

. cả nước (80 triệu dân) đã quay về một mối
một mối hận thù một mối đau thương

Theo ý tác giả, cả nước cùng hận thù là để tiêu diệt cái ác, lật đổ chế độ cộng sản chớ không phải hận thù để rồi ngồi trong bóng đêm than khóc, cầu xin thượng đế hoặc lạy van lũ giặc cướp, xin-cho được nới sợi giây thừng đang xiết cổ để người dân được dễ thở hơn một chút!

Hai câu trích khác:

Hạnh phúc, niềm mơ, nhân phẩm, luân thường
Đảng tới là tan nát cả! (14 chữ)

Nếu có một người ngoại quốc nào hỏi chế độ cộng sản Việt Nam là gì thì chúng ta chỉ cần đọc hai câu thơ nói trên là diễn tả đầy đủ cái bản chất của cái chế độ ấy, không cần phải dài dòng văn tự, trích dẫn hàng trăm pho sách hoặc thuyết trình vài chục tiếng đồng hồ! Tội ác của bọn việt gian cộng sản có nói hàng trăm năm cũng không hết!

Ngay cả niềm mơ như nằm mơ được ăn một tô phở cũng không có, đừng có nói gì những thực tế trong cuộc sống!
Nhân phẩm? —> đã bị biến thành CẨU PHẨN! (“phẩn” chớ không phải là “phẩm”)
Luân thường? —> tự mọi người đã biết quá rõ rồi, không cần nói thêm nữa!

Hai câu trích cuối bài:

Miền Nam ơi, từ buổi tiêu tan
Ta sống trọn vạn ngàn cơn thác loạn!

Khi miền Nam bị mất vào tay giặc, toàn dân miền Nam đau đớn, uất ức nhưng nếu đem so với sự đau đớn, uất ức của đồng bào miền bắc và của thi sĩ Vô Danh thì sự đau đớn ấy phải nhân lên hàng triệu lần!

Sự đau đớn nó đã thấm vào từng tế bào và giằng xé tác giả trong từng giây phút, trong từng hơi thở trong đời sống. (sống TRỌN) Nhiều đồng bào miền Bắc đã đặt hết hy vọng vào cuộc chiến chống cộng của miền Nam, mong rằng một ngày đó bọn cộng sản sẽ bị tiêu diệt để đem lại tự do cho cả nước, nhưng khi miền Nam bị sụp đổ thì họ đã quá tuyệt vọng, nhiều người đã tự sát! Tác giả Vô Danh cũng gần như bị phát điên lên vì sự kiện này!

Như vậy ta thấy rằng thơ là sự chắt lọc ngôn ngữ, rút tỉa những tinh hoa của ngôn ngữ và sắp đặt lại sao cho thành những ý tưởng, tư tưởng, làm rung động tâm hồn người đọc. Đọc một bài thơ mà tâm hồn người đọc bị rung động thì đó là bài thơ thành công. Ngược lại những bài thơ “chợt nghe vần thắng vút lên cao” như của “bác” Hồ thì đúng là một sự lăng nhục tiếng mẹ đẻ!

Nghệ thuật của thơ không cần dài dòng. Chẳng hạn như chỉ cần bốn câu thơ thất ngôn là người ta có thể diễn tả được một cách đầy đủ một tô phở, món ăn quốc hồn quốc túy của người Việt. Trong khi đó, nếu viết văn để diễn tả thì người viết phải mất vài trang giấy mà chưa chắc gì đã diễn tả được hết món phở truyền thống! Đó là chưa kể người làm thơ có thể dùng những nghệ thuật cao hơn, sáng tác một bài thơ với nghĩa đen và nghĩa bóng hoặc thơ đọc xuôi đọc ngược gì nó cũng có ý nghĩa!

Tóm lại, tập thơ Vô Đề đã đạt đến đỉnh cao nghệ thuật thì nếu ông Nguyễn Chí Thiện thật sự là tác giả thì ông phải tiếp tục thăng hoa nghệ thuật chớ tại sao lại chuyển sang một hình thức thấp hơn là viết văn? Ví dụ như một người thường dùng phương tiện máy bay để đi từ Sài Gòn ra Hà Nội thì bỗng nhiên từ bỏ phương tiện máy bay để chuyển sang phương tiện ĐI XE BÒ thì biết chừng nào cho tới? Sao lạ thế??? Thiên hạ nghi ngờ là phải!!!

C. SO SÁNH MỘT VÀI ĐOẠN THƠ CỦA “VÔ ĐỀ” và HẠT MÁU THƠ:

Thơ của thi sĩ Vô Danh có nhiều điểm độc đáo. Một trong những điểm độc đáo của ông ta là sự khôi hài, châm biếm. Trong phạm vi bài này tôi chỉ đề cập một điểm này thôi:

* Sự châm biếm cay độc:

………..
Lũ mặt người dạ thú xông ra
Khiến đồng xa nơi mấp mô mồ mả
Các hồn ma cũng hả vong linh
Vì thấy địa ngục của mình
Còn ít nhục hình hơn dương thế!
(Đồng Lầy – 1972)

Theo ý tác giả chẳng thà sống dưới địa ngục còn sướng hơn sống trong cái chế độ của bọn việt gian cộng sản!

Sẵn đây tôi có một nhận xét về bài thơ Đồng Lầy: bài thơ này dài 12 trang rưỡi, in khổ sách 13 x 20 cm, tổng cộng khoảng 500 câu thơ. Tôi tin rằng nếu như bây giờ chúng ta yêu cầu ông Thiện đọc lại bài thơ này, chắc chắn ông ta không thể nào nhớ được hết, cho dù nó chính là “con đẻ” do chính ông sáng tác! Nếu có chép lại bài thơ này, vừa lục trí nhớ vừa chép thì cũng phải mất tối thiểu một ngày. Vậy mà ông Thiện đã kể rằng, chỉ trong ba ngày nằm trên căn gác xép, ông đã NHỚ LẠI và chép lại được 400 bài thơ, kể cả những ghi chú các bài thơ đó được sáng tác từ những năm nào!!!

Nếu những lời nói dóc của ông Thiện là sự thật thì ông ta đúng là một siêu nhân, hơn cả máy tính điện tử, làm việc 24 trên 24, không cần ăn uống, ngủ, đái ỉa, để chép lại 400 bài thơ!!! Hay là thời gian chép lại là BA THÁNG mà ông nói lộn là BA NGÀY? (vừa chép vừa có trà ngon, kẹo ngon, thuốc lá ngon do đảng và nhà nước bồi dưỡng? )

——————

Cuộc đời tôi có nhiều nhầm lẫn
Lầm nơi, lầm lúc, lầm người
Nhưng cái lầm to, uổng phí cả đời
Là ĐÃ NGỐC NGHE VÀ TIN CỘNG SẢN!
(Mỗi lầm lỡ – 1963)

——————-

Là quỷ?

Là quỷ? Là ma? Là thú dữ?
Gian manh, tàn ác, đê hèn
Lũ cưỡi đầu, bóp cổ dân đen
Để gọi chúng, TIẾNG NGƯỜI KHÔNG ĐỦ CHỮ!
Và cũng khó tìm trong ngôn ngữ
Chữ gì diễn đạt nguyên si
Kiếp sống lầm than, đầy ải, đen sì
NGOÀI CÁI CHẾT KHÔNG CÒN ĐÂU LỐI THOÁT!
(1969)

————————-

Thơ của tôi là những gì kinh khủng
Như Đảng, Đoàn, như lãnh tụ, như trung ương
Thơ của tôi kém phần tưởng tượng
Nó thật như tù, như đói, như đau thương
Thơ của tôi chỉ để đám dân thường
NHÌN THẤU SUỐT TIM ĐEN LOÀI QUỶ ĐỎ
(1975)

Qua bài thơ này ta thấy rằng, tác giả đã nói rất rõ: ông ta mượn thơ làm vũ khí, làm phương tiện để đấu tranh. Ngọn lửa ái quốc của ông ta luôn luôn bừng cháy và nó được thể hiện qua thơ. Do đó, vấn đề làm thơ để giải trí hoặc nói là khi qua Mỹ thì “hết thi hứng” chỉ là sự ngụy biện của những kẻ gian không chính nghĩa!

————————-

ĐẢNG

Đảng dìu dắt thiếu nhi thành trộm cướp
Giải phóng đàn bà thành đĩ thành trâu
——————-
ĐẢNG THỰC CHẤT CHỈ LÀ ĐẢNG CƯỚP
Dựng triều đình mộng muội giữa Văn minh
Sống TẠM THỜI nhờ thủ đoạn yêu tinh
Nhờ súng đạn Tàu Nga bắt bớ
ĐẢNG TẮT THỞ CUỘC ĐỜI MỚI THỞ
ĐẢNG CÒN KIA BÁC PHỞ HÓA THÀNH MƠ!
(1973)

Qua hai câu thơ trên chúng ta thấy ý của tác giả là quyết tâm tranh đấu để xóa bỏ hẳn cái chế độ việt gian cộng sản chớ không phải là canh tân hay hòa hợp, hòa giải! Phải giết chết con ác quỷ thì mới cứu được muôn dân!

Khi nào được gặp lại anh
Sẽ kể anh nghe nhiều về chuyện sắn
—————-
CHẾ ĐỘ TA, KHOAI SẮN MỘT ĐỀ TÀI
CŨNG BẤT DIỆT NHƯ ĐỀ TÀI TRAI GÁI!
( Khi nào được gặp – 1967)

Đọc hai câu thơ nói trên, chúng ta có thể phụ họa thêm:

Chế độ ta ĂN CƯỚP/THAM NHŨNG/CƯỚP ĐẤT một đề tài
Cũng bất diệt như đề tài trai gái!!!

—————————

Lý tưởng, quang vinh, mộng tình, lẽ sống
Chuyện trên trời, dưới biển xa xôi!
THÚ THẬT LÀ DÂN ĐÓI CHÚNG TÔI
CHỈ MƠ ƯỚC ĐƯỢC NO BẰNG CON VẬT!
(Lý tưởng – 1971)

Những người nào đã bị sống trong các trại tù của cộng sản, đọc và hiểu liền, thấm thía liền hai câu thơ này!

Miếng thịt lợn

Miếng thịt lợn chao ôi là vĩ đại
Miếng thịt bò lại vĩ đại bằng hai
Chanh, chuối, cam, đường, lạc, đỗ, gạo, khoai
tất cả những gì người có thể nhai
Đảng mó tới tự nhiên thành vĩ đại!
Chuyện có thực mà tưởng như thần thoại
Mà tưởng như ác mộng bi ai!
(1974)

Những cái hết sức tầm thường và tầm thường tới mức ở hải ngoại có nhiều người vào tiệm phở chỉ dám kêu một tô phở “đừng bỏ thịt”, đừng “chan nước béo” vì sợ cholesterol! Vậy mà trong chế độ cộng sản Việt Nam, bàn tay của đảng đã hóa phép những miếng thịt heo, thịt bò thành ra VĨ ĐẠI như những ân sủng từ thượng đế!!!

———————-

Từ vượn lên người mất mấy triệu năm
Từ người xuống vượn mất bao năm
Xin mời thế giới tới thăm
Những trại tập trung núi rừng sâu thẳm!
(Từ vượn lên người – 1967)

Nêu trên là những trích đoạn từ những bài thơ do thi sĩ Vô Danh sáng tác. Sau đây là trích đoạn từ bài “Sự thật về ‘láo sĩ’ hay thi sĩ Nguyễn Chí Thiện”, tác giả Triệu Lan, đã đăng trên báo điện tử Hồn Việt UK :

Hỏa Lò giấy vệ sinh khó có
Nhiều người không dùng như trâu, như chó
Phải có quà, có ngoại giao mới có thể mong xoay
Xoay nó còn gay hơn xoay vé máy bay!
——————————-

Nó cho chó nó đẻ
Bánh cuốn thu của dân
Quay lại dọa tù nhân:
thằng nào ăn bỏ mẹ!

(trích từ tập “Hạt Máu Thơ”, mục Những ghi chép vụn vặt, đoạn số 7, tác giả sáng tác là Nguyễn Chí Thiện đang sống tại Mỹ)

Đọc qua tám câu “thơ” trên không ai trong chúng ta có thể nghĩ rằng đó là thơ của tác giả Vô Danh của tập thơ Vô Đề!

Nó không phải là thơ mà cũng chẳng phải là vè. Đó là sự lăng nhục chữ nghĩa tiếng Việt, là một đống rác hổ lốn những từ ngữ trộn lại hay có thể nói tệ hơn, nó là đống cứt chó!

Như vậy, người ta không hoài nghi sao được?

AI CÓ THỂ TRẢ LỜI ĐƯỢC NGHI VẤN VĂN HỌC NÀY?

Như đã đề cập ngay từ phần mở đầu: chỉ có bản thân ông Nguyễn Chí Thiện và sở tình báo của việt cộng biết rất rõ.

Hiện nay ông Thiện vẫn tiếp tục làm ngơ không trả lời, mà theo những con chó mực và chó vàng thì ông “coi khinh” những người nêu nghi vấn nên không thèm trả lời!

Những con chó bênh vực ông ta còn lên tiếng thách đố: – có giỏi có đủ bằng chứng thì cứ việc đưa ông Thiện ra tòa. Còn nếu không đưa được ông ta ra tòa tức là ông Thiện vẫn đúng!

Những con chó hãy nghe đây: -tụi bay khỏi cần phải thách đố. Bác Hồ của tụi bay dấu kín những việc giết người (cô Nông Thị Xuân) và ăn cắp thơ, văn TRÊN BỐN MƯƠI NĂM, cuối cùng đã bị cộng đồng người Việt hải ngoại phơi bày ra ánh sáng khiến tổ chức Unesco của Liên Hiệp Quốc đã phải rút lại quyết định “vinh danh”! Khi chế độ của bọn việt gian cộng sản bị sụp đổ thì mọi việc sẽ được bạch hóa. Những tài liệu mật của bọn cộng sản chắc chắn vẫn còn lưu trữ ở tại các cơ quan tình báo. Ngoài ra những nhân chứng sống, tức những tên công an, mật vụ, điệp viên của cộng sản cũng vẫn còn đó. Cứ tóm cổ những thằng đó, nện cho một trận là sẽ phải khai ra hết!

Hiện nay ở Mỹ có “sử gia” Trần Nhu mà dư luận đang tình nghi là cán bộ tình báo của cộng sản. Tên này là dân Hải Phòng, vượt biên qua Hồng Kông và được đi định cư “tỵ nạn chính trị” tại Mỹ. Hắn khoe là có 50 năm kinh nghiệm nghiên cứu sử!?? Hắn đã đứng ra làm nhân chứng sống, bênh vực cho Nguyễn Chí Thiện, xác nhận ông Thiện là “thứ thiệt”! Thỉnh thoảng hắn thường có vài bài viết đăng trên VietNam Exodus với những luận điệu giống y hệt như Bùi Tín(bác Hồ vô tội, Lê Duẩn với Lê Đức Thọ mới có tội!)

NGHI VẤN VĂN HỌC NGUYỄN CHÍ THIỆN = VỤ THÁI HÀ = NHỮNG VỤ CƯỚP ĐẤT CỦA DÂN OAN
Chúng ta đã từng ủng hộ những cuộc đấu tranh cho giáo xứ Thái Hà và các dân oan thì chúng ta cũng nên góp phần làm sáng tỏ nghi án văn học Nguyễn Chí Thiện. Giáo hội Công Giáo bị cướp đất, dân oan bị cướp đất, cướp nhà, thi sĩ Vô Danh bị cướp mất tài sản trí tuệ. Công trình tim óc mà ông ta đã âm thầm viết ra trong suốt hai mươi năm ròng rã đã bị bọn lưu manh, gian ác toa rập với nhau cướp mất! Khốn nạn hơn nữa là những tên lưu manh, ăn cắp đó còn ngang nhiên công bố “tác quyền” của chúng trên máu tủy của người anh hùng bị sa cơ, thất thế đã chết trong tay giặc! Và bọn lưu manh đó hiện nay vẫn còn đang sống nhởn nhơ, phè phỡn, ngày ngày vẫn chễm chệ ngồi trên bàn thờ, ăn hưởng những hoa thơm cỏ lạ và có khói hương nghi ngút do những kẻ ngu đần tôn bọn chúng lên làm “thánh”!

Thi sĩ Vô Danh đã từng tâm sự:

Tôi không tiếc khi bị đời sa thải (chết)
Thân thể vùi tan rữa hóa bùn đen
Nhưng vần thơ trong đêm tối đê hèn
Cùng rệp muỗi viết ra mà bị mất (bị ăn cướp, bị cạo sửa, bị đạo văn)
Tôi sẽ tiếc, khóc âm thầm trong đất!

(1971)

Tác giả khẳng định không sợ chết. Tác giả chỉ e ngại rằng nếu THƠ CỦA ÔNG MÀ BỊ CƯỚP MẤT thì ông sẽ chết không yên, không nhắm mắt trong lòng đất lạnh! Chắc chắn rằng oan hồn của người thi sĩ Vô Danh hiện nay vẫn còn lẩn khuất đâu đó, không siêu thoát được, với niềm uất hận khôn nguôi vì ước mơ được nhìn thấy quê hương thanh bình, độc lập đã không đến!

Xin cộng đồng mỗi người hãy góp một bàn tay để làm sáng tỏ nghi án văn học Nguyễn Chí Thiện. Hai chữ “chí thiện” có nghĩa là “very honest”, rất lương thiện mà tại sao lại ……?????

THÁCH ĐỐ ÔNG NGUYỄN CHÍ THIỆN SÁNG TÁC THƠ:

Ông Thiện tự nhận mình là tác giả của tập thơ “Vô Đề”. Trong vòng ba năm qua, có BA sự kiện lớn đã xảy ra, đó là:

– Vụ Trung Cộng ngang nhiên công bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
– Các giáo dân công giáo Hà Nội đấu tranh đòi lại tòa Khâm Sứ và đất đai tại giáo xứ Thái Hà
– Các dân oan trên toàn quốc đi khiếu kiện đòi lại đất, đòi lại nhà.

Là người Việt Nam yêu nước, không ai mà không phẫn nộ trước những hành vi bán nước, đê hèn trước ngoại bang và hành vi ăn cướp, hà hiếp người dân trong nước của bọn việt gian cộng sản. Vậy ông Thiện là người có tài làm thơ và là nhà ái quốc, ông hãy thử sáng tác BA BÀI THƠ nói về ba đề tài nói trên xem sao? Ông có làm được không? Chúng tôi cho phép ông được ngồi ở nhà tha hồ uống cà phê, thưởng thức trà ngon và hút thuốc lá Ăng Lê 555 loại sang để giúp ông có thêm cảm hứng để sáng tác. Thời gian sáng tác là ba tuần, tính trung bình một tuần là một bài. Chúng tôi dành thời gian rất rộng rãi cho ông sáng tác, không lẽ một tuần ông không làm được một bài thơ? Trong BA NGÀY mà ông còn chép được bốn trăm bài thơ thì sá gì ba bài thơ?

Ông không thể nói rằng: – con chó nó có nứng thì nó mới giở chứng (fuck), còn tôi không có hứng thì tôi cũng không thể “nứng” (làm) thơ được!

Nếu ông nói như vậy thì ông không phải là người yêu nước! Yêu nước mà cần phải “có hứng” nữa hay sao? Tại sao hồi còn ở Việt Nam thì “hứng” và “nứng” của ông rất nhiều mà bây giờ sang Mỹ thì đi đâu mất hết? Nếu như vậy thì ông đừng có vỗ ngực tự xưng là “nhà đấu tranh dân chủ” nữa nhé. Hết “hứng yêu nước” rồi thì đi về Việt Nam lấy vợ như Phạm Duy cho rồi!

Ông cũng đừng có viện cớ là “già”. Nhà văn Pháp Victor Hugo (1802 -1885) bắt đầu viết tác phẩm đồ sộ trên 1000 trang Những Kẻ Khốn Cùng (Les Miserables) lúc ông đã 60 tuổi! Với số tuổi hiện nay của ông khoảng 68 thì chưa phải là quá già đến nỗi không làm được ba bài thơ!

Chúng tôi không dám hy vọng ông có thể sáng tác được những bài tầm cỡ như “đau đớn lắm cái lầm to thế kỷ” nhưng cũng đừng có quá tệ như bài thơ “Hỏa Lò”,”xoay giấy đi ỉa còn gay hơn xoay vé máy bay”! Hoặc mong ông đừng có bắt chước “bác” Hồ viết mấy câu như “chợt nghe vần thắng vút lên cao”!

Chỉ cần ông sáng tác được BA BÀI THƠ về ba đề tài nói trên, không dám mong quá hay nhưng cũng đừng có quá dở, và ông gởi đăng trên báo SÀI GÒN NHỎ của bà Đào Nương Hoàng Dược Thảo thì tôi tin rằng mọi nghi ngờ về ông sẽ bớt đi nhiều lắm, người ta sẽ bớt công kích ông. Sở dĩ nhiều người nghi vấn ông vì cái hào quang “Vô Đề” mà ông đang đeo nó không tương xứng với cái tài năng và đức độ của ông!

Nếu ông có nhận lời thách đố này thì cũng đừng có hốt hoảng gọi điện thoại sang Pháp hoặc Nga Sô để cầu cứu mấy đại ca của ông ở bên đó. Mấy thằng việt cộng đó cũng sẽ lần lượt bị cộng đồng vạch mặt trong vụ âm mưu, toa rập với nhau dựng lên cái vụ án văn học rất lớn này.

KẾT LUẬN:
Đối với tôi,thi sĩ Vô Danh là một anh hùng. Ông ta đã chiến đấu bằng ngòi bút, bằng ý chí sắt thép trong ngục tù. Ông đã tự ví:

Đảng vùi tôi trong đất nâu
Mong tôi hóa bùn đen dưới đó
Tôi hóa thành người thợ mỏ
Và đào lên quặng quý từng kho
Không phải quặng kim cương hay quặng vàng chế đồ nữ trang xinh nhỏ
Mà quặng uranium chế bom nguyên tử ….

Ý tác giả muốn nói quặng uranium để giật sập chế độ việt gian cộng sản!

Không nhất thiết phải xông pha chiến trận, đánh đông dẹp bắc mới là anh hùng. Người anh hùng có thể là người chiến đấu bằng ngòi bút và chiến đấu trong ngục tù mà vẫn làm cho kẻ thù khiếp sợ. Tác giả Vô Danh xứng đáng để cho mọi người ngưỡng mộ. Ý chí chiến đấu của ông ta là bất khuất, cho dù năm 1975 khi người Mỹ đã bỏ chạy, bỏ miền Nam cho cộng sản:

Giữa tù lao, bệnh, hoạn, cơ hàn
Thơ vẫn bắn và thừa dư sức đạn!

Ngay trong tình trạng hết sức bi đát như vậy mà ý chí chiến đấu của ông vẫn rất mãnh liệt, không hề suy giảm!

Tiếc rằng ông đã bị việt cộng sát hại. Cái thằng đang mang vòng hào quang của ông là thằng không xứng đáng, là điệp viên hạng bét của việt cộng, để lộ quá nhiều sơ hở. Nó không bằng một phần trăm của thằng Phạm Xuân Ẩn, đã đánh lừa được cả người Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa và đến năm 1975, khi hắn xuất đầu lộ diện, nhiều người mới tá hỏa!

Nghĩ cho kỹ, lỗi cũng do cộng đồng chúng ta đã quá hấp tấp, nông cạn, vừa thấy “thi sĩ” ở Việt Nam qua là đã vội công kênh, đưa hắn lên bàn thờ rồi nuôi béo hắn còn hơn nuôi con chó cưng ở trong nhà. Bây giờ sau 14 năm tu luyện, con chồn nó đã biến thành hồ ly tinh rồi. Nó còn có cả một bầy cho ngao bảo vệ, kẻ nào mà lơ mơ đụng đến chủ của nó là bị chó ngao xé xác!

Có người tự an ủi rằng: – ư,ø thì cứ cho là ông Thiện này là dỏm nhưng tôi thấy từ khi ông ta sang hải ngoại tới bây giờ, ông ta “chống cộng” liên tục. Ông ta đã có công lớn trong việc dẹp bọn giặc cỏ VietWeekly và ông ta đã đi diễn thuyết chống cộng khắp năm châu. Ông ta mở miệng nói mười câu thì hết chín câu rưỡi là “chống cộng” rồi. Vậy đó không phải là có lợi cho chúng ta hay sao?

Xin thưa rằng “chống cộng” cũng có nhiều kiểu nói lắm. Có những kẻ chửi cộng sản rất dữ mà thật ra là khen cộng sản! Chúng ta phải để ý và thận trọng. Ông Nguyễn Chí Thiện trong khi diễn thuyết đã kêu gọi người Việt trong và ngoài nước hãy kiên nhẫn ngồi chờ một vị cứu tinh của dân tộc là ông Goóc Ba Chớp Việt Nam. Ông này sẽ thực hiện một cuộc cách mạng “nhung” không đổ máu! Vấn đề là ngồi chờ bao nhiêu lâu? 20 năm, 50 năm hay 100 năm nữa!!!??? Đây là điều mà bọn việt gian cộng sản rất mừng vì ông Thiện đã nói rất đúng theo bài bản và kế sách do đảng hướng dẫn!

Và nếu tôi nhớ không lầm thì ông Thiện và ông giáo sư Nguyễn Văn Canh đã ủng hộ hai sinh viên việt cộng là Nguyễn Tiến Trung và Hoàng Lan lúc hai tên việt cộng này sang thăm nước Mỹ. Đây là hai tên cò mồi chính trị của bọn việt gian cộng sản.

Phải trả lại công lý cho tác giả Vô Danh. Đây không phải là vấn đề của một cá nhân bị bức hại mà là danh dự của cả cộng động người Việt tại hải ngoại. Bọn việt cộng thấy lừa được chúng ta quá dễ dàng nên bọn chúng rất thích chí, đã tung ra một vài con bài khác như Hoàng Minh Chính và bà Nguyễn Thị Nga “Đóa Hồng Gai”.

Nếu chúng ta không cảnh giác thì bà Nga cũng sẽ biến thành “thần tượng” như Nguyễn Chí Thiện và bà cũng sẽ được đưa lên bàn thờ để hưởng chuối, cam, xôi chè cùng tiền cúng dường “tam bảo”!!!

Không, không, chúng ta không ngu như bọn việt cộng tưởng bở!!!

Trần Thanh
Ngày 28 tháng 9 năm 2008

——————————————————————————–

PHẦN PHỤ LỤC:

*Những cãi chày cãi cối của bầy chó ngao:

1. Gớm, sao nhiều kẻ xấu cứ đi bới móc đời tư của thi sĩ Nguyễn Chí Thiện như thế nhỉ. Người ta bị ở tù cộng sản đến 28 năm, đã từng ở tù chung với mấy ông cha, với ông Phan Nhật Nam, vậy mà quý vị vẫn không chịu tin ông Thiện là thứ thiệt hay sao?

Nhận xét:

– Ở tù lâu bao nhiêu năm, có thể một trăm năm chúng tôi cũng không care! Việc ở tù hoàn toàn không có dính líu gì đến việc ông ta là tác giả của tác phẩm “Vô Đề” hết! Đâu có phải hễ ở tù lâu thì tự động biến thành thi sĩ thiên tài? Nếu như vậy thì nước Việt Nam dưới sự cai trị của bọn việt gian cộng sản, ắt hẳn phải có hàng trăm, hàng ngàn thi sĩ Nguyễn Du! Số người bị ở tù trên 20 năm thiếu gì!

Đừng có đem tên tuổi của mấy ông cha và ông Phan Nhật Nam ra làm vật bảo kê cho ông Thiện!

2. Gớm, mấy kẻ xấu cứ nghi ngờ bác Thiện nhà ta là thi sĩ dỏm. Chính mắt tôi đã thấy bác đọc thuộc làu vanh vách mấy bài thơ do bác “sáng tác”. Như vậy, đúng bác là tác giả của tập thơ Vô Đề rồi con gì! Thơ của bác Thiện hàng trăm bài, nếu không phải là người sáng tác thì đố ai mà thuộc cho hết!

Nhận xét:

– Các nghệ sĩ cải lương trên sân khấu khi ca sáu câu vọng cổ, họ cũng thuộc vanh vách sáu câu vậy, nhưng họ đâu phải là người sáng tác! Đó là chưa kể các vở tuồng cổ của cải lương Hồ Quảng, có rất nhiều câu “nho chùm” rất khó nhớ , vậy mà các đào kép cải lương vẫn thuộc làu, hát ngọt xớt!

Ở vùng thôn quê ở miền bắc có một số người thuộc làu quyển truyện Kiều và thuộc tới mức họ có thể rủ nhau chơi “kiều lẩy”, bói kiều hoặc thi đọc truyện Kiều lộn ngược! Mấy ông thầy bà cô dạy việt văn cũng thuộc làu làu các bài thơ của Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Hồ Xuân Hương ..v..v.. Tuy nhiên chỉ có một Nguyễn Du, một Nguyễn Công Trứ và một Hồ Xuân Hương mà thôi!

Vậy thì ông Thiện đọc thuộc làu thơ của người khác đâu có gì là lạ. Không thể căn cứ vào cái hiện tượng “đọc thuộc thơ” ở bên ngoài mà kết luận cái bản chất ở bên trong!

Tôi nhớ có một truyện vui như vầy: có một anh nông dân bắt được một con cào cào bị gãy một chân. Anh ta để nó trên bàn rồi hô lớn:”cào cào, nhảy!” nhưng con cào cào cứ xụi lơ, không chịu nhảy. Anh ta tiếp tục hô lớn như vậy hai ba lần, kết quả vẫn không thay đổi. Cuối cùng anh ta kết luận: -Con cào cào nó bị điếc!!!

3. Ông Thiện đúng là tác giả của tập thơ Vô Đề bởi vì nếu ông ta không phải là tác giả thì tại sao ông ta dám in nó công khai ở hải ngoại rồi tái bản hàng chục lần? Ở hải ngoại có ba triệu người Việt sao không có người nào dám đến tự nhận mình là tác giả mà chỉ có một mình ông Thiện dám nhận? Như vậy thì ông ta đúng là tác giả rồi chớ còn gì nữa! Bản thân ông ta đã là “thứ thiệt” rồi mà tại sao có nhiều người cứ muốn gây chuyện, nói ông ta là thi sĩ dỏm?

Nhận xét:

– Ông Thiện hơn ba triệu người Việt đang sống ở hải ngoại ở một điểm rất quan trọng: – DA MẶT CỦA ÔNG TA DÀY, ĐẠN SÚNG AK BẮN KHÔNG THỦNG!!!

Hơn nhau là ở chỗ đó!

Không phải là của mình mà cứ tỉnh bơ nhận là của mình thì mới “anh hùng” chớ! Tổ quốc Việt Nam đâu có phải của tập đoàn ăn cướp việt gian cộng sản đâu nhưng tụi nó cứ nhận bừa, rồi cứ ngồi lì trên ngai vàng đã hơn 60 năm nay rồi!

Có sức chơi có sức chịu. Dám nhận vơ bố láo thì có ngày sẽ phải đi ở tù! Những vụ ăn cắp bản quyền trí tuệ đã xảy ra nhan nhản khắp nơi trên thế giới. Nhưng có lẽ trường hợp của ông Thiện là đặc biệt nhất vì còn phải chờ cái chế độ cộng sản bị sụp đổ thì lúc đó ông ta sẽ ……!!!!

Những chuyện vui về dịch giả thiên tài:

Hồi trước năm 1975, báo giới ở Sài Gòn thường đăng những bài bình luận tiếu lâm, châm biếm một dịch giả. Nghe nói ông dịch giả này đi du học ở bên Mỹ, đỗ bằng tiến sĩ về văn chương, báo chí. Khi ông ta về nước, nhiều người rất nể cái bằng tiến sĩ của ông ta. Một hôm có người đến nhờ ông ta dịch mấy câu thơ sau đây sang tiếng Anh:

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương

Ông dịch giả đó đã làm kinh ngạc mọi người khi ông dịch hai chữ “canh gà” là “chicken soup”!

Sau đó, trong một dịp khác, người ta lại nhờ ông này dịch câu:

Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách

Ông dịch giả này bèn “chơi luôn”, dịch hai chữ “thất phu” là “seven coolies” (bảy thằng cu li). Như vậy, cứ theo như câu dịch thì khi quốc gia hưng thịnh hay suy vong thì bảy thằng cu li phải chịu trách nhiệm! (mấy thằng việt cộng trong bộ chính trị nó rất mừng!)

Từ đó, thiên hạ bèn chắp tay vái sống ngài tiến sĩ văn chương tốt nghiệp ở bên Mỹ!

Gần đây, nghe nói có một ông dịch giả nào đó ở Mỹ dịch hai chữ “bể dâu” là “sea of strawberry” Không biết ông dịch giả này với ông “chicken soup” nêu trên có phải là một người hay không?

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

NGUYỄN CHÍ THIỆN VÀ BÀI THƠ “TÔI MUỐN SỐNG”

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 29, 2008

NGUYỄN CHÍ THIỆN VÀ BÀI THƠ “TÔI MUỐN SỐNG”

Tôi Muốn Sống

Tôi muốn sống với Võ Tòng đả hổ
Với Quan Van Trường mặt đỏ râu đen
Với lính Ngự Lâm cùng Athos làm quen
Bạn với D’ Artagnan, Porthos và Aramis
Tôi muốn tới Palestine, mồ Jésus Christ
Cùng Ai-van-hô làm cuộc Thập Tự Chinh
Sống một-ngàn-một-đêm-lẻ trong dinh
Dựng lên bởi Thần Đèn giúp A-la-đanh cưới vợ
Cùng Jack London đi xe chó tìm vàng
Tôi muốn sang Nga yến tiệc với Sa-Hoàng
Tiếp chuyện André một chiều trên bến nước
Cùng Petchorine giữa Caucase dạo bước
Đấu súng, đấu gươm, khiêu vũ chan hòa
Gặp Dos-toi trong đêm trắng pha trà
Mặc tuyết rơi, ngồi bên ấm Samovar
Tiếp tục hành trình tôi tới Tây-ban-nha
Theo Don Quichotte đi phò nguy cứu khổ
Sống thỏa thuê tôi trở về đất tổ
Vào Lam Sơn tìm gặp vua Lê
Theo Bắc Bình Vương going trống mở cờ
Tiến đánh Thăng Long núi Nùng sông Nhị
Tôi muốn sống thật nhiều và tỉ mỉ
Ngược thời gian lịch sử bao đời
Cho thỏa lòng ham sống, anh ơi
Bị chà xéo trong cõi đời hiện tại
Cõi đời thèm cả sắn và khoai

1962
[trích tập thơ “Vô Đề” của “Khuyết Danh”]

Lời bàn mao tôn cương của Hồ Công Tâm

Đọc bài thơ nhan đề “Tôi Muốn Sống” được viết ra vào năm 1962 trích trong tập thơ “Vô Đề” của tác giả “Khuyết Danh” ở bên kia vĩ tuyến 17, miền Bắc Việt Nam, tôi rất đồng ý với ông Lê Văn Xương, nhà bình luận chiến lược rằng không phải là cái khẩu khí thơ của một cậu bé 15 tuổi, như Nguyễn Chí Thiện, tác giả tập thơ vè “Hạt Máu Thơ”, đã mạo nhận là của mình làm ra.

Nguyễn Chí Thiện tự khai trong phần tiểu sử ghi ở bìa sau tập truyện Hỏa Lò được Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông ấn hành năm 2001, sanh ngày 27/2/1939.

1962 – 1939 = 15 tuổi! Mới 15 tuổi đầu sao mà dày dạn gió sương, từng trải, quảng bác như thế nhỉ?

Một cậu bé mới 15 tuổi, dẫu là được sinh ra và học hành ở đất Thăng Long (Hà Nội) xứ Ngàn Năm Văn Vật cũng không thể có đủ các kiến thức sách vở quảng bác Đông Tây Kim Cổ như tác giả “Khuyết Danh” đã vận dụng để viết ra qua nội dung bài thơ “Tôi Muốn Sống” được sang tác vào năm 1962.

Trạc tuổi đó, ngay ở miền Nam Việt Nam, sách vở tài liệu đầy rẫy, một cậu bé như Huỳnh Sanh Thông, Nguyễn Ngọc Bích với số tuổi đó cũng chưa chắc đã đọc sách Tầu và Tây đủ để có cái vốn sống và kiến thức quảng bác, để sáng tác được một bài thơ có cái hào khí và nội dung phong phú như trên. Nói chi tới kiến thức ăn đong của nhà văn Phan Nhật Nam và đám lau nhau như Chu Tất Tiến sau này. Họa chăng là một thần đồng sinh ngữ, triết học như Phạm Công Thiện của miền Nam Việt Nam vào tuổi đó mới có cái vốn kiến thức của tác giả “Khuyết Danh” thể hiện qua bài thơ “Tôi Muốn Sống” (năm 1962).

Nguyễn Chí Thiện hãy thú thật rằng tập thơ Vô Đề không phải do ông sáng tác. Không giấu được đâu! Đừng để thiên hạ phải lật tẩy thì bể nát! Thưa ông Nguyễn Chí Thiện, với chính sách Chiêu Hồi của người Việt Tự Do, Miền Nam trước đây, cũng như trên Thế Giới Tự Do ngày nay, chúng tôi sẵn sàng mở rộng vòng tay đón nhận ngay cả những nhân viên tình báo do Đảng và Nhà nước CSVN cài ra hải ngoại hoạt động hai mang cho chúng. Miễn là các đương sự phải thật thà khai báo thì mới được hưởng sự khoan hồng của ngưòi Việt Tị Nạn. Đừng để bị người ta phải lật tây, bể nát vào giờ thứ 25, ngày tàn của chế độ CSVN.

Có một lần, cách đây đã mấy năm, tôi đã gặp Nguyễn Chí Thiện, do nhà thơ Ngô Minh Hằng chở tới nhà của Nguyễn Mạnh Cường, chủ nhiệm tuần báo Thăng Long tại Dorchester, Massachusetts. Ông Thiện ngồi bên cạnh Đặng Chí Bình, tác giả tập hồi ký Thép Đen, thủ thế, như ngậm hột thị, có dám nói gì đâu. Nói ra sợ lộ tẩy sao? Hiện diện hôm đó có cả nhà sử học Tô Minh Trung (Lê Tùng Minh), nhà báo Văn Bia, nhà thơ Mịch La Phong. Rất tiếc hôm đó lại vắng mặt nhà thơ Lê Mai Lĩnh, tác giả tập Đứng Ngồi Không Yên, và tướng Lê Minh Đao, Chủ Tịch Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH, ở Connecticut bận không tới. Anh chủ nhà Nguyễn Mạnh Cường còn ân cần, khẩn khoản nói với tôi rằng: “Anh Tâm tới cho vui, gặp mấy ông ấy, xin anh đừng mãt sát họ.” Tôi trả lời gia chủ: “Anh mời tôi tới dự tiệc, tôi là khách của anh. Tướng Lê Minh Đảo, vè sĩ Nguyễn Chí Thiện cũng là những vị khách quý của anh. Tôi đâu đến nỗi bất lịch sự như thế.”

Sau đó Nguyễn Chí Thiện lẻn về nhà Đặng Chí Bình lúc nào không hay. Tiếc quá, phải chi lúc đó chỉ cần đem nội dung một bài thơ “Tôi Muốn Sống” sáng tác năm 1962, với những nhận vật tiểu thuyết, lịch sử và dã sử Đông Tây, Kim Cổ trong bài thơ được viết khi Nguyễn Chí Thiện mới 15 tuổi đầu, sống dưới cái xã hội Cộng Sản bưng bít, thiếu sách vở như ở miền Bắc mà chất vấn ông Vè Sĩ Nguyễn Chí Thiện, chắc đương sự lại ngậm hột thị, trả lời thì lỡ lòi ra cái láo, cái dốt của kẻ nhận vơ sao.

September 27, 2008

Hồ Công Tâm

http://www.hon-viet.co.uk/HoCongTam_NguyenCThienVaBaiThoToiMuonSong.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Gởi ông Nguyễn Ngọc Bích, ông Lê Tinh Thông và ông “nhà văng” Phan Tưởng Niệm?

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 29, 2008

Gởi ông Nguyễn Ngọc Bích, ông Lê Tinh Thông và ông “nhà văng” Phan Tưởng Niệm?

Được biết hai ông Bích và Thông là hai ông giáo sư năm nay tuổi đời cũng hơi khá khá. Ông Bích thì cũng trên 7 bó. Lẽ ra thì TamBaDang không để ý chuyện của mấy ông làm gì, vì mấy ông chẳng có gì quan trọng nên chả ai thèm để ý. Nhưng rồi chuyện cải lương Nguyễn Chí Thiện tưởng đâu đã vứt tên này vào xó rác, không ngờ hai tuần qua lại bùng cháy dữ dội. Chuyện bùng cháy của hề nguyễn Chí Thiện cũng có thể làm cháy lan cả hai ông Bích và Thông. Chắc có lẽ vì lý do đó mà 2 ông nhảy nhỏm như gái ngồi phải cọc. Nhất là ông Bích hùng hổ phùng man, trợn mắt nặng lời sỉ vả, mà những cử chỉ này thật khó có thể xảy ra cho một người trí thức như ông Bích và hơn nửa là một vị “giáo sư” như hai ông Bích và Thông.

Vừa là một giáo sư vừa là kẻ trí thức tôi nghĩ hai ông Bích và Thông nên bình tĩnh xem xét vấn đề, kẻo giận thì hai ông lại mất khôn, hơn nửa với tuổi đời của hai ông không cho phép hai ông phán xét hồ đồ vô căn cứ, nếu hai ông Bích và Thông có đọc bài số 3 của ông/bà Triệu lan trên báo Sàigon nhỏ ngày hôm nay Sep, 26/08, thì hai ông sẽ thấy bài viết của họ có căn cứ, mà chính từ cái miệng của NCT đã tự khai ra Thiện không phải là tác giả của tập thơ Vô Đề, Nguyễn chí Thiện chỉ ngồi viết lại từ chỉ thị của công an Cộng sản. “bằng cách nào họ (công an) cũng muốn tôi viết ra tập thơ (vô đề)” (sic) đây là lời của Nguyễn chí Thiện nói ra chứ chẳng phải ai hăm he, o ép gì NCT đâu và Thiện còn khai nhiều nửa. Có lẽ nay mai gì đó bài viết này cũng được Sài gòn nhỏ tìm đọc và cho đăng trên các web. Vậy đời của Thiện và anh Bích coi như đã tàn, mộng làm chủ bản quyền (copyright) tập thơ Vô đề tức (Hoa địa ngục I?) của Bích và Thiện coi như “cuốn theo chiều gió”. Và câu chuyện còn dài …

Mở đầu lá thư viết cho Bà Đào Nương, ông Bích phán rằng: Bà chỉ “hố” to như cái Mẹt và … tên kẻ cắp, dốt nát như Triệu Lan ..v.v…và ..v.v…

Này ông giáo sư Nguyễn Ngọc Bích ông chỉ cho đọc giả trên các diễn đàn rằng ông “thông minh” tới đâu? theo tôi ông còn Dốt hơn những đứa Dốt nửa kia, nếu nhìn cho kỹ thì ông Bích thuộc loại “thầy chôm” nhưng lại không biết khôn. Nếu nói đúng thì ông Nguyễn Ngọc Bích còn là bậc thầy của mấy đứa ăn cắp ngoại hạng nửa. Xin chứng minh ông Bích nhé:

1) Này nhé! Tập thơ Vô Đề (được các ông đặt cho cái tên là Hoa Địa Ngục I) đến nay đại đa số người Việt khắp nơi chưa chấp nhận hề Nguyễn Chí Thiện là tác giả của tập thơ Vô Đề nói trên, sự việc còn đang bàn cãi lôi thôi. Nhưng ông Bích đã dám cho in lại tập thơ Vô Đề và ông Bích lại là một trong hai người làm chủ Bản Quyền (copyright) của tập thơ Vô Đề. Vậy thì đứa nào là “kẻ cắp” đây ông Nguyễn Ngọc Bích! Ông Bích nên trả lời cho đọc giả khắp nơi biết là: Tập thơ Vô Đề là sở hữu của ông Bích từ lúc nào? Ai đã uỷ quyền cho ông? Hay ông Bích đã mua lại của ai với giá là bao nhiêu?. xin xem bản quyền – copyright của giáo sư Nguyễn Ngọc Bích phía dưới .

2) Bài thơ “Quả Mít” của Nữ sĩ Hồ Xuân Hương có câu: “Quân tử có thương thì đóng cọc”. Ông giáo sư Bích sửa lại rằng: “Quân tử có thương thì đóng nỏ”. Ông Bích còn làm ‘thầy đời” giải thích tại sao ông Bích sửa lại là “đóng Nỏ”, thơ của Nữ sĩ Hồ xuân Hương chứ đâu phải thơ của ông đâu mà ông sửa ?

“thưa” ông Bích cái Nỏ khác với cây Cọc làm sao? Theo tôi cây Cọc là dùng để buộc mấy con Bò mang mặt người, loại Bò này thì không ai thèm cỡi trên lưng chúng cả, nhưng họ lại cỡi trên đầu, trên mặt chúng. Cũng như cây Cọc dùng để đóng vào đầu mấy tên Việt Gian theo ngoại bang để hà hiếp, giết chóc chính dân mình. Còn cây Nỏ thì để dùng đóng vào đầu mấy tên có học, có hiểu biết tốt nghiệp bằng BA từ năm 1958 mà hôm nay lại đi theo bưng ống nhổ cho 1 thằng lưu manh xỏ lá như Nguyễn Chí Thiện. Nhưng cây Nỏ còn có một công dụng nửa là dùng để đóng vào mồm những thằng “thông dịch” dịch tập thơ của người khác rồi tương kế tựu kế cả hai thằng sang đoạt luôn bản quyền của tác giả. Đó là ý nghĩa của cây Cọc và cây Nỏ.

Chưa hết trước đây ông giáo sư Bích “thông dịch” làm sao mà ông lại mang cái tên “giáo sư Biển Dâu”, ông dịch hay đến nỗi đến ngày nay mỗi khi nhắc đến giáo sư Bích thì thiên hạ lại cười bò càng, bò lê không tin ông giáo sư hỏi thử trên các website hay những người biết ông họ sẽ nói cho ông nghe.

Gần đây thì cụm từ “Hạt Máu Thơ” ông Bích lại dịch ra là “Blood Seeds Become Poetry” dịch như ông giáo sư Bích thì nhất rồi còn gì. Ông ở Mỹ từ trước năm 1958, là một giáo sư mà ông Bích dịch như vậy thì ông không sợ Mỹ người ta cười ông sao?! “Hạt Máu” mà ông dám dịch ra “bò lết xịt” (“Blood Seeds”) thì quá hay rồi còn gì, phải không ông Bích?! Cũng không trách gì ông vì ông không rành về thơ nên ông đâu có bao giờ cảm được “hạt nắng” hay “hạt sương” khác với “hạt dưa, “hạt đậu”. Nhưng cũng không sao, dù gì thì “hạt” vẫn là “Xịt” (seeds) mà, Xịt thì quá hay rồi quá chính xác rồi còn gì. Xin lỗi ông giáo sư Bích nói ra ông đừng buồn, tiếng Anh của ông cũng như “Hạt” vậy. Đó cũng là lý do tại sao ông bị đạp ra khỏi ban giám đốc việt ngữ của cái đài gì đó để giờ này ông thất nghiệp nên ông cầm cờ chạy lòng vòng. Đó cũng là cái tội cho những đứa ăn cắp vặt, nói láo như ranh.

Chỉ riêng học vị giáo sư ông Bích đâu có thèm cái gì khác nửa. Nhưng tại sao ông Bích lại còn muốn sang đoạt tác quyền trí tuệ của người khác?!, bằng chứng đã ràng ràng hay là ông Bích còn muốn cãi chày cãi cối tiếp tục. Nếu Nguyễn Chí Thiện là “tác giả” tập thơ Vô Đề thì bản quyền (copyright) là của Nguyễn Chí Thiện chứ tại sao lại bản quyền (copyright) của Nguyen Chi Thien and Nguyen Ngoc Bich ?!?!?! Đây là một trò tiểu xảo không thể chấp nhận được. Nguyễn Ngọc Bích đường là một “học giả” một giáo sư mà các ông lại hành xử tệ hơn một kẻ thất học, ngu dốt. Ấy vậy mà ông Bích lại còn to mồm mạ lỵ người đã viết bài nói lên cái tiểu xảo của ông là “tên kẻ cắp, dốt nát”. “Thưa” ông Bích tội ăn cắp bản quyền ở Mỹ này họ xử như thế nào chắc sống ở Mỹ lâu ông rành luật hơn chúng tôi .

Tên bịp Nguyễn Chí Thiện hôm nay đã bị lật mặt nạ nhưng chúng vẫn còn hung hăng con bọ xít cho người đua nhau viết những điều vô bổ để cố chứng minh cho Thiện là Thiện Thật, Thiện Giả. Đâu có ai nói Thiện là Thiện Giả. Thiện tên thật là Nguyễn Chí Thiện, Thiện có ở tù hình sự một thời gian (Thiện không phải tù chính trị) đó là Nguyễn chí Thiện hiện ở chung với Phan nhật Nam ở miền Nam California. Nguyễn chí Thiện chẳng bao giờ làm thơ và tập thơ Vô Đề là của một người khác viết ra, Thiện là người được phản gián Hà Nội “hired” để ngồi viết lại tập thơ Vô Đề, nghĩa là Thiện Sao Y Bản Chánh tập thơ Vô Đề, tấn tuồng này được dàn dựng trong vòng 15 năm (80 đến 95). Vụ NC Thiện chạy vào sứ quán Anh ở Hà Nội vào năm 1979 cởi dây nịt móc cái gì đó ra “khoe” làm cho cô gái người Anh “sợ quá đánh rơi cả lược” (sic), màn này thì còn tếu nửa. Vì chỉ có một mình Thiện chạy vào thì ai biết được, nên ít nhất Thiện phải dẫn đứa cháu trai của Thiện đi nữa cơ thì người ta mới tin chứ. Vậy thì màn sứ quán Anh phải hỏi lại ông Vương Kỳ Sơn thì ông Sơn sẽ nói cho nghe . Tóm lại là màn này NC Thiện diễu hơi tệ một chút .

Còn tập thơ Dô Đề (không phải Vô Đề) ông Giân anh của Thiện đang giữ thì đúng là của Thiện viết NHƯNG quyển này là quyển Thiện đã Sao Y Bản Chánh (như đã nói ở trên) của 1 người Vô Danh. Đến đây thì ông Bích và mấy ông bênh ông Thiện đã hiểu phần nào chưa. Nếu chưa hiểu thì nên tìm báo Sài gòn nhỏ mà đọc thêm cho hiểu. Kẻo sỉ vả người khác mai mốt đi xin lỗi thiên hạ kỳ lắm. Tóm lại là dân Mít ta 3 triệu người trên thế giới này chỉ có một số nhỏ vì quáng gà nên bị N C Thiện lừa đó thôi, bị cú lừa lớn đấy. Chứ mấy ông nhà văn ngoại quốc khôn thấy mẹ, cho nên người ta gọi mấy ông này là “nhà văn thiên nga”. Thay vì hiểu như vậy, nhưng mấy anh đi theo bưng bô cho Nguyễn chí Thiện lại gà mờ nhảy đong đỏng la ó om xòm, người ta khạc đờm vào mặt tên ăn cắp Nguyễn Chí Thiện thì Thiện chưa dám phản ứng gì, nhưng giáo sư Bích lại nhanh miệng há cái mồm của giáo sư Bích cho người ta khạc vào. Nếu giáo sư Bích bưng bô cho người ta khạc hay nhổ thì cũng tạm tạm được, đằng này giáo sư Bích lại hả mồm của mình cho người khác họ khạc vào mới đáng nói chứ .

Sau khi Nguyễn Chí Thiện bị vạch mặt là một tên sang đoạt tư tưởng người khác trên hệ thống báo Sài gòn nhỏ hôm 14 tháng 9 cho đến nay và có lẽ báo Sài Gòn Nhỏ cũng còn vạch mặt tên Thiện dài dài cho đến khi tên Thiện ló đầu ra tự thú tội ăn cắp tác quyền cũng như sang đoạt tư tưởng của người khác thì 3 người đầu tiên nhảy xổm và phản ứng mạnh nhất là giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, giáo sư Lê Tinh Thông và “nhà văn” Phan Tưởng Niệm, 3 ông thần nước mặn lại bộp chộp nên mới bị phản ứng ngược. Cứ đọc bài viết của ông Bích và ông Thông thì chúng ta sẽ thấy lập luận của ông Bích và ông Thông quá ư non nớt về nhận định. Bài viết của bà/ông Triệu Lan nào đó trong Sài Gòn Nhỏ không thấy chổ nào người ta nói về Thiện thật, Thiện giả gì cả mà hai ông giáo sư và 1 ông gà mờ Tưởng Niệm lại đọc lạng quạng sao đó ông Thông lại cho là thiện thật, thiện giả rồi chụp cho cái nón cối to tướng, nhưng ông Thông không đưa ra được bằng chứng nào để bẻ ông/bà triệu lan nào đó. Ông giáo sư Tinh Thông nên Tinh một chút để cái đầu ông Thông ra, nhưng ông đừng có Tinh Ma nhé. Nhất là ông Thông một giáo sư mà lại ở trong một diễn đàn có “uy tín” nửa, có lẽ như vậy mà ông Tinh Thông lại nghĩ rằng ông Thông chăng, ông Tinh Thông nên ông nói hưu nói vượn gì người ta cũng “rét” ông hay sao? Qua đoạn viết ngắn của ông Thông người ta lại không thấy ông Thông tí nào như ông Thông viết phía dưới .

Để chấm dứt lá thơ này TamBaDang cảnh cáo ông giáo sư Bích rằng: ông và đám bịp của ông chỉ cần hỗn một lần nửa thôi. TamBa Dang tôi sẽ bạch hóa cuộc đời của ông Bố đẻ ông ra để cho mọi người thấy rõ bản mặt Việt Gian của những thằng theo Tây giết những người cách mạng Việt Nam như thế nào. Nhân đây tôi cũng cho ông biết 1 trong nhiều tội dơ bẩn của Bố ông. Nhiều người bị Bố ông tra tấn rất dã man trong số đó có người Chú họ của tôi .

Cách tra tấn, lấy Chà Vồ ngâm với nước đái và rể cây lá Buôn (rể cây lá Buôn là một loại thuốc vô cùng độc mà người Thượng hay người Mường dùng để làm chất độc tẩm vào cây tên đi săn Nai hay Heo rừng, với loại tên này khi bắn trúng Nai hay Heo rừng chúng không chạy được quá 100 mét). Đem nạn nhân vào rừng buộc nạn nhân vào gốc cây với tư thế đứng, dùng chà vồ nói trên đánh nát 2 xương ống quyển và 2 xương bánh chè ở đầu gối, tra tấn nạn nhân xong với đôi chân giập nát, không mở trói cho nạn nhân bỏ nạn nhân ở đó cho chết. Đa số không sống được qua vài ngày vì chất độc ngấm vào người và xương chân đã bị bể nát. Chú tôi số chưa chết nên được 1 người quen đi rừng nghe tiếng la lần mò đến và vì giỏi thuốc Nam nên ông lấy 1 loại lá cây nhai sống đắp vào vết thương, chặt cây lồ ô bó chân lại và người quen kia cõng đem đi nơi khác, nhưng suốt đời ông đã bị tàn phế. Một người Anh và 1 người em ông cũng bị tương tự nhưng không sống được, chỉ sống được ít lâu rồi chết. Còn nhiều chuyện dơ bẩn tàn bạo nửa mà tôi không muốn kể ra đây.

Tôi chỉ khuyên ông Nguyễn Ngọc Bích và các ông khác 1 điều là từ nay các ông nên rút vào bóng tối và sống 1 cuộc đời bình lặng cho đến hết cuộc đời (chuyện tên Nguyễn chí Thiện theo tôi thì coi như đã bể, các loại bùa phép của đám bươm bướm hay Hồng nhạn Yết Kiêu đã hết linh nghiệm nửa), các ông càng làm những chuyện tào lao thì thân các ông lại chuốc lấy thêm oán thù mà thôi. Nghiệp báo cũng như mượn nợ nhà bank vậy, đúng thời hạn thì nợ sẽ phải trả thôi , nếu không biết tu thân .

TamBaDang

http://www.hon-viet.co.uk/TamBaDang_GuiOngNguyenNgocBich_LeTinhThong_PhanTuongNiem.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: , , , , | 2 Comments »

Muốn thực hiện được một cuộc “Tổng Nổi Dậy” cần có những yếu tố nào ?

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 29, 2008

Muốn thực hiện được một cuộc “Tổng Nổi Dậy” cần có những yếu tố nào ?

Muốn có Tự Do Dân Chủ ,muốn dành lại quyền Tự Quyết cho người dân Việt Nam trước tội ác bán nước, buôn dân của tập đoàn Việt Gian Cộng sản, chúng ta có làm theo thủ tục hiến định do CSVN đặt ra không? Hoàn toàn không được, vì CSVN đã loại bỏ yếu tố truất phế chúng, chúng dành quyền là người đứng trên Hiến Pháp. Ngay cả đảng viên thường phạm pháp cũng phải do đảng xử. Luật pháp bó tay trước đảng! Làm sao van xin hay sử dụng luật pháp, hiến pháp để loại bỏ bọn bất tài, thất đức, vô nhân kia bằng luật lệ được. Phải lật đổ chính quyền bằng một cuộc xuống đường, một cuộc “Tổng Nổi Dậy” bằng hình thức bất bạo động.

Nhưng thử hỏi một cuộc “Tổng Nổi Dậy” do ai thực hiện và thực hiện bằng cách nào?

1- Do một cường quốc bật đèn xanh? Sai hoàn toàn. Trong thời thế hiện nay không một cường quốc nào Mỹ, Trung Cộng, Nga dám đứng ra cổ vủ cho một cuộc biến động chính trị lật đổ 1 chính quyền. Nhưng họ (các quốc gia tiến bộ) ủng hộ cho đòi hỏi chính đáng, nhất là cho Tự Do và dân Chủ, Nhân Quyền.

2- Do lời kêu gọi,kích động của người Việt hải Ngoại? Sai hoàn toàn. Dù cho Cộng sản giả vờ tố cáo là do người Việt Hải Ngoại kích động dân trong nước nổi loạn để có cớ giam cầm họ. Nhưng thực chất là bọn Việt Gian biết rỏ: Đào mồ chôn chế độ là do người dân bị bóc lột, bị đàn áp, bị cướp trắng thực hiện chứ không phải ai khác.

3- Do Trời, Phật, Chúa? Sai hoàn toàn. Người xưa có nói “Tận nhân lực, tri thiên mệnh” dân phải làm cái điều là nói lên ý muốn của mình thì đấng thiêng liêng Chúa, Phật mới giúp cho. Bởi vì “Ý dân là Ý trời”.

4- “Tổng Nổi Dậy” cần bạo động? Sai hoàn toàn. Kinh nghiệm Liên Xô, các nước Đông Âu đâu cần vũ khí, đâu cần bạo động mà vẫn thành công. Nhưng rõ ràng là cần lòng kiên quyết của lãnh đạo, sự hưởng ứng của toàn dân.

5- Ngồi yên chờ người khác làm trước, mình sẽ hưởng? Còn lâu. Ngày nay không phải như thế kỷ trước. Muốn thay đổi chế độ tùy theo nước văn minh hay kém văn minh. Văn minh thì nhờ dân biểu, nghị sĩ, dựa vào Hiến Pháp mà thay đổi chính phủ.

Những nước như Nhật, Anh, Pháp v.v… 1 sai lầm của thủ tướng đưa đến sụp đổ chính phủ trong vòng 1 tuần . Không tốn kém, đổ máu, chỉ tốn nước bọt.

Những nước độc tài quân phiệt như Miến Điện, Chilé v.v…thì phải cần xuống đường rầm rộ. Đôi khi có bạo động đổ máu nhưng không to lớn lắm.

Những nước vừa độc tài, vừa Cộng Sản chuyên chính thì cần có xuống đường đồng lòng và đồng loạt, mọi nơi, mọi thành phần xã hội, tôn giáo thì mới mong thành công. Làm lẻ tẻ, rời rạc thì tốt hơn đừng làm, vì chúng sẽ dùng Công an, Bộ đội dẹp tan bất cứ giá nào. Có những nước Cộng sản như Liên Xô, Ba Lan, Nam Tư v.v… do nhân dân đồng lòng và đồng loạt kiên quyết đứng lên, nên Công an, bộ đội phải buông súng. Cách mạng Hồng, Cách mạng Nhung đã thành công mà không tốn một giọt máu nào, không nổ 1 tiếng sung nào.

6- Như vậy Cộng Sản Việt Nam giỏi đàn áp, giỏi cai trị hơn Cộng sản Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc? Không phải. Tại vì dân mình hay khôn lỏi, người nầy chờ người kia, tôn giáo nầy chờ tôn giáo kia, đoàn thể nầy chờ đoàn thể kia. Phải có người đi kết hợp các đoàn thể, các tôn giáo một cách bí mật hay công khai rồi hẹn ngày Tổng Nổi Dậy. Thất bại 1 lần thì tiếp tục lần nữa. Đôi khi 5-10 năm mới thành công.

– Sự kiện Thái Hà thành công mới chỉ một nửa vì chưa kết hợp được vói các tôn giáo khác như Phật Giáo, Cao Đài, Hoà Hảo, Tin Lành nên khó thành công, có khi đổ máu vô ích.

– Liên kết Tôn giáo cũng chưa đủ, phải liên kết Công Nhân, Nông Dân, Giáo viên, công chức, báo chí, sinh viên, học sinh, đảng viên bất mản v.v…thì mới thành công.

7- Có người cho rằng phải tìm lãnh tụ? Sai hoàn toàn. Phải tìm con đường, chủ trương, cương lĩnh nào thich hợp, rồi sẽ nảy sinh lãnh tụ thích hợp với chủ trương đó. Lãnh tụ có thể đầu hàng, thỏa hiệp khi bị mua chuộc, hù dọa. Còn chủ trương thì không ai mua chuộc được. Chủ trương do 1 tập thể đưa ra có 2-3 hay nhiều lãnh tụ, nếu mất người nào thay người đó. Còn chủ trương khó thay. Phải lựa chọn thật kỷ để không lầm như lịch sử Việt Nam đã sai lầm khi chọn chủ nghiã Cộng sản đau khổ triền miên.

Dân Việt Nam được thế giới khen là cần cù, siêng năng, thông minh nhưng trải qua 70 năm chiến tranh ngày nay yếu tố CAN ĐẢM, KIÊN TRÌ là cần thiết hơn cả . Có như vậy thiên thời, điạ lợi, nhân hoà mới cùng tụ hợp để đi đến thành công.

Cầu mong ơn trên, cầu mong ơn phước ban xuống cho mọi người dân cùng có quyết tâm cao để giải trừ ách nạn oan khiên lớn nhất trong lịch sử Việt được thoát khỏi tai ương khủng khiếp nầy.

Long Điền 22.9.2008.

http://thangtien.de/index.php?option=com_content&task=view&id=1949&Itemid=274

Posted in Uncategorized | Tagged: | 3 Comments »

PHAN NHẬT NAM: TÊN TUỔI CŨ, ĐẦU ÓC MỚI?

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 28, 2008

PHAN NHẬT NAM: TÊN TUỔI CŨ, ĐẦU ÓC MỚI?

Nam Nhân (Quân nhân QLVNCH)

Là một quân nhân của QLVNCH, Nam Nhân tôi, trước 1975, rất ngưỡng mộ nhà văn quân đội Phan nhật Nam. Nhiều lúc chuyện vãn cùng bạn bè đã đề cập đến cuốn “Mùa Hè Đỏ Lửa” để cùng nhau tâm đắc, khâm phục Binh chủng kỷ luật và hào hùng nhất của quân đội qua các chiến tích bảo quốc an dân; không quên khen ngợi ngòi bút ghi lại chính xác những chiến tích đó của nhà văn Đại-úy Dù, Phan nhật Nam.

Sau tháng 4 năm 1975, cũng như bao chiến hữu khác, Nam Nhân tôi cũng phải trải qua những năm tháng đọa đày trong lao tù của tập đoàn việt-gian-cộng-sản. Ra khỏi tù, lập gia đình, sau đó được định cư tại Anh-quốc, nhưng Nam Nhân tôi vẫn coi như mình tại ngũ, sẽ chiến đấu bằng phương thức khác phù hợp với hoàn cảnh mới: nghĩa là lấy bút thay súng. Chính những trang phóng sự chiến trường của Phan nhật Nam trước đây đã là một trong những nguyên nhân để Nam Nhân cùng vợ và một vài người bạn cho ra đời Tạp chí Hồn-Việt và web Hồn-Việt UK online, và nhiệt tình tham gia hoạt động trong Tổ chức Cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản ở Miền Trung Anh-quốc. Rồi cũng từ đó, bao nhiêu lần biểu tình chống việt-gian-cộng-sản, thì cũng bấy nhiêu lần Nam Nhân tôi tham gia vào ban tổ chức, có cả vợ và con (từ vài ba tuổi cho đến lớn khôn) đều Quốc kỳ Vàng trong tay, ngạo nghễ phất lên trong tiếng hô đánh đổ tập đoàn việt-gian-cộng-sản bán nước giết dân.

Đánh việt-gian-cộng-sản bằng vũ khí truyền thông, điều quan trọng là phải tìm học lại để biết về KẺ ĐỊCH. Nghĩa là phải hiểu nguyên nhân ra đời của cái tổ chức gọi là “đảng cộng sản VN”; phải hiểu về công tác tổ chức của nó, trong từng giai đoạn có biến chuyển trong lịch sử của VN và một phần cần thiết nào đó của thế giới (có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến VN); phải hiểu về một số nhân sự chóp bu của nó. Nhưng cái khó nhất là “ngôn từ mà việt-gian-cộng-sản sử dụng trong các văn bản”, cũng như các mánh khóe “chơi chữ” của chúng. Thí dụ: “Đóng tiền học tập 10 ngày” (không phải là tù 10 ngày; còn sau đó là tù nên không phải đóng tiền ăn và cũng không học); hoặc “duy trì 5 thành phần kinh tế” (không nói rõ thời hạn, nên có thể duy trì 5 ngày, 20 ngày hoặc nhiều hơn hay ít hơn thế). Rồi “độc lập” là không có quân lính nước ngoài, các cơ quan quyền lực đều do người VN đảm nhận (!?). Rồi “tự do” là tự do trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước XHCN, và “dân chủ” là “dân chủ tập trung” chứ không phải “dân chủ tư sản”, v.v…

Trong tổ chức của việt-gian-cộng-sản, nhiều người đều nghe nói về cái gọi là “đảng (việt-gian-cộng-sản) lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, tưởng rằng mình hiểu về khái niệm đó, nhưng vẫn chứng tỏ là hiểu sai. Ngay như nhà nghiên cứu Minh Võ, cho đến nhà báo ngoại quốc kiểu Judy Stowe, cũng phải nói là đã hiểu còn “lơ mơ” lắm, nên mới coi tên Cuội Hoàng minh Chính là “cán bộ cao cấp” (không hiểu căn cứ vào đâu?). Họ lẫn lộn giữa “cao cấp” và “trung cao”.

Cũng như họ không hiểu gì về hệ thống tổ chức ngành giáo dục ở VN dưới sự đô hộ của việt-gian-cộng-sản, nên mới gọi Trần Khuê là “giáo sư”, rồi ngay Hoàng minh Chính cũng được gọi là ” giáo sư”, hay cái gọi là “dạy hộ bạn môn sử” của LỪA SĨ Nguyễn chí Thiện (!?). Không biết mà lầm rồi “sửa sai” cũng được thôi. Đáng tiếc là có số nào đó tự ái, giấu dốt, cứ bước sai tiếp. Tác hại của việc đó ra sao, nhất là đối với thế hệ trẻ và ngoại quốc, các vị đó có nghĩ đến không? (loại trừ tay sai của việt-gian-cộng-sản và các thày dùng nick ma để bàn tào lao cho đỡ buồn).

Một may mắn cho Nam Nhân là có dịp kết bạn vong niên với nhà báo lão thành Việt Thường, người sống dưới sự đô hộ của việt-gian-cộng-sản ở phía Bắc VN, phải “bị cải tạo lao động” từ đầu năm 1956 và đã phải làm đủ thứ nghề, từ cu-li bốc vác, cu-li đào đường cho đến đi dạy học và làm báo dưới chế độ việt-gian-cộng-sản cai trị, ở Bắc VN, sau tháng 4-1975 bị đi tù 10 năm, trong đó có một năm bị nhốt chung với người điên ở nhà thương Chợ Quán (Sài-gòn). Giấy ra tù ghi tội danh là “nhen nhúm tổ chức phản động”. Chính nhờ nhà báo Việt Thường mà Nam Nhân tôi đã hiểu có hệ thống và căn bản về những gì liên quan đến cộng sản VN, nhìn ra được tội danh của cái gọi là “đảng cộng sản VN” là VIỆT GIAN; thấy được âm mưu của chúng, hiểu được cách lựa nhân sự cũng như cách cấy “sinh tử phù” vào tay sai để khó có thể phản lại chúng và v.v… Chính vì hiểu việt-gian-cộng sản, nên dịp tổng thống Bush dự hội nghị APEC ở VN, trong khi các tổ chức “chính trị cơ hội” ở hải ngoại, cũng như các loại Cuội dân chủ trong nước và một số các “nhà bình luận” đã hoan hỉ trên các phương tiện truyền thông, trên các diễn đàn Paltalk rằng chắc chắn kẻ này người nọ trong lũ Cuội sẽ được ông Bush gặp. Bs Nguyễn quốc Quân, của “Cao trào nhân bản” mừng rơn tin ở ông em là Bs Nguyễn đan Quế sẽ “làm nên lịch sử”, thao thao trả lời phỏng vấn, thao thao giới thiệu “lộ trình 9 điểm” (chọn số 9 cho hên tột đỉnh mà) trên diễn đàn Paltalk, đến nỗi một ông “già đời trong nghề bàn tào lao bị… thuyết phục”, cả ngày “cầu kinh” cho “lộ trình XIN CHO 9 điểm” ở khắp nơi, khắp chốn, hy vọng phen này “trúng độc đắc trên hoạn lộ”!!! Còn nhà báo Việt Thường, với vốn hiểu biết học hỏi từ cuộc sống chiến đấu chống việt-gian-cộng-sản đầy máu và nước mắt của nhân dân VN và của cả gia đình và chính bản thân, đã khẳng định trước ngày ông Bush đi VN rằng “Tổng thống Bush, qua vụ Cuội đeo cờ máu cạnh cờ hoa, diện đồ bộ và hơn hớn đến Tổng lãnh sự ở Sài-gòn, thì đã biết chúng là AI, chắc chắn sẽ không gặp ai cả!!!”

Đã từ nhiều năm về trước, nhà báo Việt Thường có kể cho tôi về lần gặp Phan nhật Nam ở Sài-gòn. Ông Việt Thường kể, đại ý: “Một lần được mời đến ăn giỗ ở nhà người bạn quen từ nhỏ là Nguyễn đỗ Hải, ngụ tại Lê Lợi, Sài-gòn. Bữa ăn có khá đông người (tuy nay đã già nhưng nhiều người còn sống). Thấy ông Việt Thường tới, mọi người đến trước vui vẻ gọi tên chào hỏi. Có một người lạ mặt, ngồi bên ông Hải, đứng dậy, lễ phép: “Thưa anh, anh có ở Z30D phải không ạ?”.

Ông Hải trả lời giùm:”Đích thị là ông ta chứ còn ai nữa”. Và, quay sang phía ông Việt Thường, ông Hải nói:” Phan nhật Nam, tác giả Mùa Hè Đỏ Lửa, mà ông khen hay đấy”. Rồi ông Hải cho đổi chỗ để ông Phan nhật Nam ngồi cạnh ông Việt Thường. Tuy ngồi cạnh, nhưng vì đông bạn cũ hỏi tíu tít nên ông Việt Thường cũng chẳng nói gì được với Phan nhật Nam. Tiệc tan, Phan nhật Nam biết ông Việt Thường ở Đường Tự Do (tức đồng khởi) nên xin được đến thăm. Thấy thế ông Hải nói: “Mình cho Nam ở căn hộ của mình ở Hai Bà Trưng, cùng tiện đường thôi”. Và Phan nhật Nam đã đến ngồi chơi tại nhà riêng của ông Việt Thường, tối hôm đó (đầu năm 1991). Khi chia tay, ông Phan nhật Nam ngỏ ý muốn được lại thăm ông Việt Thường thường xuyên có tiện không, vì hai bên cư ngụ rất gần nhau. Ông Việt Thường khuyên không nên, vì ông không hoàn toàn được tự do, có nhiều con mắt để ý lắm, sợ không hay cho Phan nhật Nam. Rồi ông Việt Thường nói với tôi rằng: “Tôi rất biết tay Hải này làm những việc gì, nhưng không bao giờ tôi hỏi. Sống với cộng sản phải luôn tỏ ra không có tính tò mò, chỉ ham tán dóc truyện lăng nhăng, nhậu nhẹt, không bon chen kèn cựa, đôi khi còn tỏ ra lười cả suy nghĩ lẫn “lao động chân tay”, luộm thuộm… thế thì mới yên thân. Chính vì thế, tôi rất muốn biết vì sao Phan nhật Nam, đáng ra sau khi ra khỏi Z30D, là phải về quê mà trình diện, chứ đâu lại được về Sài-gòn, mà lại QUEN được cái nhà ông Hải Béo này, lại còn được nuôi ăn và ở căn hộ cực sang trọng nữa chứ. Anh thấy đấy, cụ Vũ Hồng Khanh, ra khỏi cải tạo là phải về quê ở Nam Định; Hòa thượng Quảng Độ phải về quê ở Thái Bình. Tôi CAM ĐOAN với anh là Phan nhật Nam đã BỊ MUA RỒI. Chờ đấy, khi nào thấy Phan nhật Nam xuất hiện ở hải ngoại, cứ lẳng lặng theo dõi, anh sẽ phải đau lòng thấy thần tượng của anh đã bị cháy. Nhưng nhớ phải kín miệng và nhẫn nại, chờ cho rắn ra khỏi hang đã.”

Tôi thắc mắc: – Có thể nào anh Phan nhật Nam tương kế tựu kế không?

Ô. Việt Thường: – Tụi việt-gian-cộng-sản là tụi Đại Lưu Manh, đã lọt vào lưới của nó là “hết trinh” ngay, như Mã Giám Sinh với Thúy Kiều vậy.

Và, bây giờ tôi thấy Phan nhật Nam đã như “con rắn ra khỏi hang”. Có thể do bị hun khói mà phải ra mặt, hoặc có khi vì tưởng đã an toàn v.v…

Tập đoàn việt-gian-cộng-sản HIỂU RẤT RÕ RẰNG, vấn đề Cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản là VẤN ĐỀ SINH TỬ của chúng. Chúng dùng đủ mưu ma chước quỷ để chinh phục cái Cộng đồng này. Trong bài: “Phe thân Mỹ ở đâu?”, chúng tôi đã trình bày về cái bẫy của vở kịch “Hai Phe”, hy vọng qua vụ Thái Hà và Tòa Khâm Sứ ở Hà-nội vừa xong, quý bạn đọc đã nhận ra sự thật. Và, từ đó có thể thấy những bộ mặt đặc công đỏ Bùi Tín, Vũ thư Hiên… và đám lâu la đã và vẫn tiếp tục hướng dẫn việc thực thi nội dung của cái gọi là “nghị quyết 36”. Trong đó Nguyễn chí Thiện sẽ đóng vai trò gì? Một số người sặc sụa Phở Bò, hoặc lâu la dùng nick ma để cố tô vẽ lại bộ mặt Thiện đang bị rơi râu, long phấn và cố lái sang chuyện mà đa số không ai đặt ra. Đó là Nguyễn chí Thiện “thật và giả”. Những người có độc lập suy nghĩ chỉ muốn đặt hoài nghi rằng, qua những dữ kiện lịch sử VN, qua những trả lời bất nhất và đầy mâu thuẫn của Thiện, qua nội dung của tập thơ VÔ ĐỀ thể hiện rõ ràng LẬP TRƯỜNG CHÍNH TRỊ của tác giả, thì không thể nào có chuyện Tác Giả Thứ Thiệt của VÔ ĐỀ lại nhận làm thành viên QUAN TRỌNG CỦA TIỂU DIÊN HỒNG!!!

Trong số những kẻ ra công BẢO VỆ MỘT CÁCH MÙ QUÁNG Nguyễn chí Thiện (trước đó là bảo vệ Đỗ ngọc Yến) có PHAN NHẬT NAM, người ra khỏi trại cải tạo việt-gian-cộng-sản lại được về Sài-gòn, được nuôi ăn và được cấp một căn hộ sang trọng ở đường Hai Bà Trưng (ngay trước hãng bia BGI, gần Bến Bạch Đằng). Chính nhà báo Nga, Irina, có viết bài kể rằng có đến căn hộ nói trên để phỏng vấn Phan nhật Nam, nhưng Nam lánh mặt (chắc sợ lộ tẩy), nên bà ta đành đi gặp Trần Tiến.

Trước khi bị lộ tẩy, thì những thứ như Nguyễn cao Kỳ, Phạm Duy, Vũ ngọc Nhạ, Phạm ngọc Thảo, Phạm xuân Ẩn, Nguyễn hữu Hạnh, Nguyễn thành Trung, Vũ Hạnh, Lý quý Trung v.v… và nhiều lắm, cũng từng được coi là người “quốc gia” đấy. Cho nên phải nhìn vào việc làm của họ, và trong tình hình hiện nay thì phải phân biệt giữa NGƯỜI QUỐC GIA và việt-gian-cộng-sản với tay sai của chúng qua việc biểu hiện lập trường chính trị một cách cụ thể.

Vậy lập trường chính trị của Phan nhật Nam là gì? Chỉ xin tóm tắt mấy nét lớn để chia xẻ cùng quý bạn đọc:

Một là: Phan nhật Nam khéo léo qua SBTN, tuyên truyền cho XÓA BỎ HẬN THÙ (cái bẫy của việt-gian-cộng-sản) bằng đưa tên Du tử Lê, một đứa đã đưa thơ của hắn về VN để việt-gian-cộng-sản in cho. Và Nam bốc thơm Du tử Lê rằng: “42 tập thơ của anh chỉ nói về yêu, không hề ghét, không hề thù ai, kể cả KẺ LÀM HẠI MÌNH”(!?). Thời gian đó là lúc việt-gian-cộng-sản đang đàn áp dân oan và công nhân biểu tình. Chưa nói đến, đó chính là một trong những trọng điểm mà việt-gian-cộng-sản muốn Cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản hãy QUÊN QUÁ KHỨ, XÓA BỎ HẬN THÙ. Xin quý bạn đọc tự khách quan nhận xét.

Hai là: Ngay năm 2008 này, Phan nhật Nam, đã cho quảng bá một bài, gọi là thơ, có tên “Tổ quốc chúng tôi, không là chế độ các anh”, để tuyên truyền cho việc “hòa giải-hòa hợp” (cũng là cái bẫy của việt-gian-cộng-sản). Nam Nhân tôi đã viết bài lật tẩy, kính xin quý bạn đọc bớt chút thời gian tham khảo bài đó có đính kèm nơi cuối bài này.

Ba là: Bùi Tín, Vũ thư Hiên cho đến Hoàng minh Chính, Trần Khuê, Nguyễn thanh Giang… đã bị hải ngoại lột mặt nạ. Giờ đây đến lượt Lừa sĩ Nguyễn chí Thiện phải trả lời về những chuyện bốc phét do “ăn nhiều mất ngon, nói lắm mất khôn”, như cha ông chúng ta thường căn dặn, nên đã lộ Mặt Thật như “giáo sư Trần Khuê”, “viện sĩ” Nguyễn thanh Giang, “nhà dân chửi Nguyễn khắc Toàn” (xin tham khảo các audio của dân oan ở vườn hoa Mai xuân Thưởng, Hà-nội, nói về Toàn, có lưu trữ trên web VietnamExodus), thì Phan nhật Nam cùng Chu tất Tiến ra công bảo vệ, kiểu cãi chày cãi cối. Thí dụ Nguyễn chí Thiện đã thuộc hầu hết các bài thơ trong tập Vô Đề; coi đó là bằng chứng Thiện là tác giả! Quả là lý lẽ sắc bén như dao bổ củi. Nam Nhân có thể kể ra nhiều chục thí dụ về những người thuộc THƠ VĂN CỦA NGƯỜI KHÁC LÀU LÀU.

Giáo sư Ts Nguyễn chung Tú, Khoa trưởng Đại học Sài-gòn có thể đọc trơn như mỡ, và đọc ngược Truyện Kiều của…. Nguyễn Du.

Ai đã học ở trường Albert Sarraut ở Hà-nội, trước năm 1954, có thể còn nhớ Đức Cha Maillot, là người Pháp, nhưng lại dạy về tiếng Việt cho học sinh ở các trường Notre Dame du Rosaire (dòng tu các Mẹ áo trắng), trường A.Sarraut. Cha có thể đọc làu làu ngược không chỉ toàn bộ Truyện Kiều, mà cả Cung oán ngâm khúc, Trê Cóc, Lục súc tranh công ….

Bạn thân của Vũ thư Hiên, chỉ vì sự khai báo QUÁ thành khẩn của “cụ” Hoàng minh Chính của Chu tất Tiến, mà bị dzô tù, coi như là “thành viên” nhóm xét lại (?), là người được nhà văn Tưởng năng Tiến, nghe cò mồi Vũ thư Hiên rù rì thê thảm quá, nên đã chia một phần tiền ăn trợ cấp xã hội, gửi Hiên giúp hộ. Cái anh nửa khùng nửa điên đó chỉ có tội say mê văn học cổ điển Nga, đến mức thuộc lòng cả một cuốn tiểu thuyết của Dotoiepxki kia đấy. Văn xuôi đấy nhé chứ không phải thơ mà dễ học!!!

Bà Băng, vợ nhạc sĩ Văn Cao thuộc lòng TOÀN BỘ LỜI NHẠC VÀ THƠ của chồng!

Ông Vũ hoàng Địch (vẫn còn sống đấy) thuộc lòng tất cả các sáng tác của cố thi sĩ Vũ hoàng Chương, với cả ngày và nơi đã in ấn những tác phẩm đó!!!

Kể tạm vài thí dụ để quý bạn đọc thấy trình độ rất hạn hẹp của cặp song mã trên cỗ xe Vàng Vện mà Lừa sĩ Nguyễn chí Thiện, Bùi Tín, Nguyễn chính Két… đang ngồi chồm hổm!

Nếu Phan nhật Nam và Chu tất Tiến muốn phản biện về những gì Nam Nhân tôi nêu ra, thì nên tỏ ra có chút hiểu biết về lề luật phản biện, chứ đừng dùng những bài học được việt-gian-cộng sản “CẢI TẠO”, từ Người biến thành Ngợm, thì Nam Nhân không dư thời giờ mà đối đáp.

Anh-quốc, ngày 28 tháng 9 năm 2008

Nam Nhân (Quân nhân QLVNCH)

Nhà văn Phan Nhật Nam viết bậy rồi!

Cách đây độ hơn một tuần lễ, trên các diễn đàn có một bài viết của ông Phan nhật Nam, được giới thiệu là “thơ” với tên bài là: “Tổ Quốc Chúng Tôi Không là “chế độ các anh””

Ngay từ cái tên của bài được giới thiệu là “thơ” này, đã làm tôi ngạc nhiên về khả năng dùng chữ của một “nhà văn”, lại còn là “nhà thơ” nữa !!! Không hiểu ông Phan nhật Nam hiểu các khái niệm “Tổ Quốc” và “Chế Độ” (tức chế độ chính trị) ra làm sao mà lại có cách dùng giống Nguyễn gia Kiểng thế. Định lập dị chăng?

Nêu việc trên để thấy rõ hơn về trình độ “chơi chữ” của ông nhà văn họ Phan. Cái cần nói là trong bài gọi là “thơ”nói trên, Phan nhật Nam đã nhập nhằng QUẢNG CÁO cho cái gọi là LẬP TRƯỜNG HÒA GIẢI HÒA HỢP khi hạ bút:

……. “Giữa vùng nước phương Nam nầy chiến hạm

Hải Quân 10 Nhật Tảo,

Hòa máu Ngụy văn Thà đổ xuống đậm sắc biển xanh.(1)

Có còn không Bộ Đội vây trận Điện Biên? (2)

Quân lực Cộng Hòa đã thật gẫy tan nòng pháo!

…………………………………………………………..

…………………………………………………………..

Sử Việt không viết nên từ “Cách Mạng Mùa Thu,Tuyên Ngôn Tháng Chín”,(3)

nhưng bởi giòng máu lệ kiên cường chung phần độc dược

Phan thanh Giản uống cạn nghĩa tận trung báo quốc

Vệ Quốc Quân chết trên đồi Hồng Cúm, Him lam (4)

Nguyên phẩm tính Lính Cộng Hòa gục ngã Cổ Thành Đinh Công Tráng.(5)

Đễ Hồn Nước ngời ngời hơi thở lộng mỗi khắc giây

Để Tự Do hiến trọn ý nghĩa cao thượng cho Người

Và Độc Lập khởi dậy tầng tầng kiêu hãnh

Việt Nam

Tên gọi đến..

Rưng rưng nước mắt cảm xúc.” ( Hết trích )

Ông Phan nhật Nam muốn hòa chung máu của riêng ông với máu của lũ ngụy binh Việt gian cộng sản chết ở Điện Biên phủ, vì âm mưu bành trướng của đế quốc đỏ Nga-xô và Tàu cộng, là việc lựa chọn của ông. Thuở đó, tướng Phạm văn Phú cùng đồng đội, thuộc lực lượng vũ trang của Chính phủ Bảo Đại, cũng có nhiều người hy sinh để chống sự bành trướng đỏ đấy. Và, cái lực lượng đó chính là tiền thân của Quân lực VNCH, mà ông từng lấy làm vinh dự đeo lon đại úy. Chẳng lẽ thực sự ông ĐÃ bị cải tạo qua những năm tháng ở nhà tù của Việt gian cộng sản, đến nỗi lú lẫn Không biết rằng: Kể từ 1947, nhiều người trong Chính phù Liên Hiệp Kháng chiến Đã nhìn ra phần nào dã tâm bán nước của tập đoàn Hồ chí Minh, nên đã tụ hội lại Quanh Quốc trưởng Bảo Đại, để chống lại sự xâm lược đỏ Nga-xô, Tàu cộng bằng ngụy quân Việt gian cộng sản. Cái lực lượng chính trị và vũ trang ấy chính là tiền thân của hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa sau này cũng như của Quân lực VNCH vậy.

Ngay sau 1949, khi Tàu cộng làm chủ lục địa Tàu thì tên Đại Việt gian Hồ chí Minh đã bò sang Tàu triều kiến , xin chỉ thị của hai mẫu quốc Nga-Tàu. Và việc làm đầu tiên của Hồ khi về nước là bằng mọi cách, bằng mọi giá cướp quyền lãnh đạo và sử dụng lực lượng vũ trang. Và thế là sau cái gọi là “Rèn cán, chỉnh quân” và “đấu tố chính trị” cũng như tiếp tục mở cửa thu nhận ồ ạt người, chủ yếu trong lực lượng vũ trang, vào đảng Việt gian CS và đoàn thanh niên cứu quốc (một tổ chức cho lớp trẻ chuẩn bị bổ xung cho lực lượng của dảng Việt gian Hồ chí Minh). Sau đó, thằng Hồ chí Minh cho đổi danh xưng từ Quân đội Quốc gia của Chính phủ Liên Hiệp thành cái gọi là “quân đội nhân dân “hay tên khác là “bộ đội “cụ Hồ””. Và cái tôn chỉ lúc còn là Quân Đội Quốc Gia là “Trung với Nước, Hiếu với Dân “ bị đổi thành: “trung với đảng (tức đảng Việt gian cộng sản), hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hòan thành, khó khăn nào cũng vượt qua , kẻ thù nào cũng đánh thắng “.

Trận Điện Biên phủ xảy ra như thế nào, ai chỉ huy, ai viện trợ cả vũ khí, cả binh lính, quân nhu thì đến nay đã rõ ràng do chính cả Tàu cộng, Nga-xô và người ở các nước khác viết ra rất rõ và rất nhiều cũng như rất chi tiết. Cho nên làm gì có “Vệ Quốc Quân chết trên đồi Hồng cúm, Him lam (4)” Đó là lũ ngụy quân Việt gian cộng sản. Phan nhật Nam đừng gỉa khùng mà nhai lại nhưng bài học trong trại cải tạo của VGCS nhé !!!

Tôi là một sỹ quan của Quân lực VNCH. Tôi không cho phép ông Phan nhật Nam đem máu của những quân nhân VNCH để hòa chung với máu của mọi loại Việt gian, đặc biệt là máu của lũ Việt gian cộng sản.

Từ khi Phan nhật Nam ra hải ngoại thì đã có nhiều tin đồn không hay lắm về Phan nhật Nam. Nhưng thời gian gần đây, Phan nhật Nam đã có những việc làm không giúp gì cho cuộc đấu tranh của người VN trong và ngoài nước nhằm loại bỏ sự thống trị của Tập đoàn VGCS. Thí dụ, qua hệ truyền hình SBTN, đã thổi ống đu đủ, tô son trát phấn cho những tên kiểu như Du tử Lê.

Mọi người không lươn lẹo như ông đâu, ông Phan nhật Nam. Ông đáng được liệt vào loại: Nhà văn Đà điểu.

NAM NHÂN

Chú ý: Xin quý vị đọc toàn bộ bài “thơ” ở bên dưới:

Tổ Quốc Chúng Tôi
Không là “chế độ các anh”

Gởi Kim Phượng,
Bằng Hữu Úc Châu nơi Phương Nam

Hãy thống hận khi Đất cha ông cướp đoạt mất
Hãy gào uất buổi Biển, Trời tổ tiên giặc chiếm, cắt
Hãy biết xót đau,
Hãy biết hờn căm,
Thấm đê nhục..
Dân Tộc cúi đầu, nín thinh, khinh miệt..

Nơi quan ải phía Bắc xa một lần Nguyễn Phi Khanh bật khóc,
nước mắt lắng sâu mạch đất.
Giữa vùng nước phương Nam nầy chiến hạm Hải Quân 10 Nhật Tảo,
hòa máu Ngụy Văn Thà đổ xuống đậm sắc biển xanh.(1)
Có còn không Bộ Đội vây trận Điện Biên? (2)
Quân lực Cộng Hòa đã thật gẫy tan nòng pháo!
Xé không gian nghe âm vọng bao lần người lính giữ nước xung phong
Tát cạn đáy bày ra vạn cốt xương
lớp lớp dân oan di tản
Trời Nam bàng hoàng khốc tang
Biển Đông lềnh loang bi phẫn..

Hoàng Sa, Trường Sa..
Hãy trải rộng Nhất Thống Toàn Đồ..
Hẳn thấy lớn dài mênh mông biên cương Đại Việt
Lẽ nào bộ chính trị, ban bí thư, chủ tịch đảng, đoàn không hề hay biết?
Sử Việt không viết nên từ “Cách Mạng Mùa Thu, Tuyên Ngôn Tháng Chín”,(3)
nhưng bởi giòng máu lệ kiên cường chung phần độc dược
Phan Thanh Giản uống cạn nghĩa tận trung báo quốc.
Vệ Quốc Quân chết trên đồi Hồng Cúm, Him Lam(4)
Nguyên phẩm tính Lính Cộng Hòa gục ngã Cổ Thành Đinh Công Tráng.(5)
Để Hồn Nước ngời ngời hơi thở lộng mỗi khắc giây
Để Tự Do hiến trọn ý nghĩa cao thượng cho Người
Và Độc Lập khởi dậy tầng tầng kiêu hãnh
Việt Nam,
Tên gọi đến..
Rưng rưng nước mắt cảm xúc.

Tất cả nay đã là vô ích!
Với một chữ ký!
Hợp thức hóa một lần dâng giặc cướp!
Hoàn tất trọn một lần xong bán nước!
Đồng thuận mưu sâu Quốc Vụ Viện Bắc Kinh
Mậu Tuất, Năm “Một-ngàn chín-trăm năm-mươi-tám”.(6)
Các Vua Hùng nơi đâu?
Cuộc hành quân xẻ dọc Trường Sơn cuối cùng hóa ra thất bại
Tự Vệ Thành nổ lựu đạn tan thân,
gục đầu lên giao thông hào chống xe tăng Pháp,
Chết giữ hùng khí Thăng Long.(7)
Đảng khinh miệt gạch phăng, bôi bẩn!
Trang lịch sử linh thiêng viết bởi máu vô vàn
Vạn, triệu trái tim lẫm liệt Việt Nam yêu nước.
Tất cả nay đã là vô ích!
Không bớt lằn roi đau rạch nát tấm lưng..
Đám sinh viên oằn người trên đất cũ cha ông
Thảm nhục hứng đòn thù công an Hà Nội,
nơi “Thủ Đô Phẩm Giá Con Người”!(8)
Rùa thiêng ngượng mặt lặng sâu..
Cương thổ ngập hàng lậu thuế
Made in China.

Made in China
Đỗ Mười giữ ghế tổng bí thư thêm nhiệm kỳ
Địa giới Nam Quan cắt phăng một phần cửa ải.
Ba mươi năm hơn sau ngày “giải phóng Miền Nam”
Đà Nẵng nhìn ra bóng Hồng Kỳ đỏ ngầy mặt nước.
Chính danh, quốc sĩ mất lý nghĩa linh thiêng,
“Tình Hữu Nghị”, món hàng tuỳ nghi miệng lưỡi,
Trung Quốc mặc tình cung cấp.
Mười năm hơn xẻ dọc Trường Sơn đánh Mỹ kiên cường
Cuối đoạt thắng..
Quê hương dầm sâu vũng bùn hôi tanh ô nhiễm
Phanh thây Dân bằng nanh vuốt sói lang
Xây dựng Nước với giấy, tiền giả mạo
Ấn chứng từ Bắc Kinh.

Nỗi đau kinh dị làm khô sôi tròng mắt,
Ôi giá như các anh còn chút lương tri,
Đôi phần trí nhớ..
Ở đâu nên “độc lập/hạnh phúc/tự do”?(9)
Họa chăng chỉ trên báo đảng
Cơ quan trung ương, món hàng cũ xưa, hư mòn, phế thải
Xứng đáng vất thiêu bãi lửa
Giải hạn oan hồn vất vưỡng cõi nghiệt Việt Nam
Để Mát-xcơ-va nên thành “thánh đô” thiện mỹ huy hoàng
Để Bắc Kinh kết tụ “chiếc nôi hòa bình” tuyệt vời thế kỷ
Âm u cặn máu cờ đỏ vàng sao
Vấy bẩn màu Bồ Đề hai ngàn năm trăm hơn Đại Phật!
Tưởng như một chuyện đời xưa..
Người chết hiện nguyên hình/râu/tóc/răng/mắt..
Theo dõi em thơ bới rác, lội cống, ngập sình
Hốt phân thối theo kế hoạch ngũ niên, quy trình tuổi nhỏ
Hoàn thiện mô hình “hạnh phúc”,
tiến lên thời kỳ quá độ.
“Khăn quàng đỏ” không đủ lau khô giòng lệ ứa!
“tự do” nào?!..
tự do, báo được phép đưa tin từ một nguồn kiểm duyệt
tự do, giết cướp giữa ban ngày không thể tìm ra dấu vết
tự do, phí tiêu bạc tỷ, triệu của dân
tự do, hủy phá đền, chùa, ruộng, rừng.. không cần nhận lệnh
tự do, phán quyết con người không quyền được sống..
Từ chứng tích, tội danh lý lịch quá khứ ngụy quân,
xếp nên hạng tiện dân,
phận ngặt lưu đày trên quê cha, đất tổ!

Ba mươi-ba năm sau lần “Đại Thắng Mùa Xuân”(10)
Đất nước đi lên bằng hai chân giấy, gỗ
Với khẩu hiệu ngây ngô,
Nghị quyết hàm hồ,
Kết tinh trọn vinh hoa, “Tư Bản Đỏ”.
Giai cấp (cách mạng) mới
Tổng hợp phương trình quỷ ma: “Thực dân/Vô sản”,
Nhìn xuống “bọn Sàigòn mất tên” ứ tràn khinh miệt!
Với trí hiểm tiếm danh, “Người Ái Quốc”
Với hãnh tiến tự tuyên công, “Cha Già Dân Tộc” (11)
Thây xác nằm nơi Ba Đình luôn mở mắt,
Sống tráo trở đổi tên,
Chết không hề che mặt.
Hiển hiện toàn phần chước quỷ/tính ma.
Quái thai hậu nhiên phẩm chất, khối lượng rặt ròng..
Quốc hội biểu quyết “chín-chín-phầm trăm” hơn nhất trí,
Ngàn đại biểu dùng chung một miếng khẩu trang!

Mỗi buổi sớm mai..
Mặt trời mọc nơi phương Đông vô hồi vĩnh cửu
Cũng muôn đời ô nhục
Loang thấm dần từ vết máu Hoàng, Trường Sa..

Để nhớ,

19 tháng 1, 1974-2008

Phan Nhật Nam

(1) Chiến Hạm; Hạm Trưởng/QLVNCH tử trận Hoàng Sa, 19/1/1974
(2) Chiến trường lớn kết thúc chiến tranh (1946-54)
(3) 19/8/ và 2/9/1945
(4) Đồi chiến thuật quanh vòng chảo Điện Biên Phủ
(5) Cổ Thành Quảng Trị
(6) Công hàm Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gởi Chu Ân Lai
(7) Trận chiến giữ Hà Nội 19/12/46
(8) Logos của Hà Nội trong thời kỳ chiến tranh (1960-1975)
(9) Quốc Hiệu của nhà nước cộng sản Việt Nam
(10) “30/4/1975”
(11)Những bí danh, danh hiệu của Nguyễn Tất Thành, Hồ Chí Minh..

Posted in Uncategorized | Tagged: | 3 Comments »

Sự thật về “láo sĩ” hay thi sĩ Nguyễn Chí Thiện (Bài 3a, Triệu Lan)

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 28, 2008

Những điều nên nói …

Báo Saigon Nhỏ

Số 30 Thứ Sáu

26 tháng 9, 2008

Sự thật về “láo sĩ” hay thi sĩ Nguyễn Chí Thiện:

Tại Sao Ông Nguyễn Chí Thiện Lại Có Thể Tuyên Bố Quá Nhiều Điều Tương Phản Về Chính Mình

Triệu Lan

Bài 3

Cộng Sản hiểu quy luật tổ chức đấu tranh; nên đã lo sợ khi thấy tập thơ Vô Đề xuất hiện tại hải ngoại vào năm 1980, tính đến nay (2008) thắm thoát 28 năm. Tập thơ đã được tái bản nhiều lần, số người đọc kể tới con số hàng chục vạn và số người viết để bình phẩm dẫn giải cũng đã lên đến hàng nghìn; tập thơ chỉ được hiểu như một tác phẩm đấu tranh chống Cộng của một nhà thơ đại diện cho tập thể nhân dân trong nước và đại đa số người dân chỉ hiểu về tập thơ một cách bình thường là chống bọn Việt Gian Cộng sản.

Sau đó để ngăn chận những hậu quả “nguy hại không thể lường trước được” nếu giới đấu tranh biết tập hợp mà góp lực và quần chúng hải ngoại nhìn ra được yếu điểm của Cộng sản, họ sẽ chấm dứt tình trạng chia rẽ như hiện nay biết tìm đến một đích điểm là đất nước Việt Nam mà thống nhất lập trường để cùng nhìn về một hướng. Nếu có một chỉ đạo trong công cuộc đấu tranh chung thì chúng ta rất dễ dàng giải thể chế độ Việt Gian Cộng sản, nên Hà Nội đã mở ra cả một chiến dịch tuyên truyền với đầy đủ nhân lực, tài lực với những tên cán bộ văn hóa nằm vùng, và dư thừa tiền bạc của các cơ sở kinh tài dùng để mua chuộc, lũng đoạn ngành báo chí và giới cầm bút tại hải ngoại, nên một số “văn sĩ” thờ ơ đã bị chúng cầm chân.

Nhưng với những cặp mắt “hiểu chuyện đời” thì sự xuất hiện của tập thơ này là một “tiếng gọi” để khởi đầu cho một cuộc đấu tranh Cách Mạng gay gắt trên lãnh vực văn hóa giữa người Việt Quốc Gia Chân Chính chống lại bọn Việt Gian Cộng sản trên mọi mặt, cũng như chống sự xâm nhập của các tên tình báo Cộng sản trà trộn len lõi vào trong các hội đoàn, các tổ chức chống Cộng của người Quốc Gia ở khắp nơi trên thế giới nói chung và ở Hoa Kỳ nói riêng.

Hơn thế nửa tập thơ Vô Đề là một bức thông điệp được viết bằng máu, từ trong nước gửi ra cho những người kiên tâm trì chí, những kẻ sĩ, những người trí thức hiểu được thời thế đồng loạt đứng lên, trong và ngoài nước cùng nhau chung lưng đấu cật, cộng tác làm xoay đổi cục diện hiện nay và đi đến một cuộc Đại Cách Mạng, đồng loạt giải quyết tận gốc rễ vấn đề một cách triệt để, những vấn đề của Dân Tộc trong lãnh vực Dân Sinh, Dân Quyền tại Việt Nam.

Để làm sáng tỏ thêm vụ Nguyễn Chí Thiện “đạo thơ” của thi sĩ Vô Danh. Xin đọc giả đọc thêm hai chi tiết, (1) trong báo Người Việt (bài trước có nói đến nhưng chưa đủ) nói về “thi sĩ” Nguyễn Chí Thiện theo lời kể của nhân vật Minh Thi một người tự nhận là “bạn đồng tù” với Nguyễn Chí Thiện và (2) lời giới thiệu của Nguyễn Ngọc Bích như sau:

(Trích) “Nguyễn Chí Thiện sinh 1937 tại Hải Phòng Bắc Việt, khoảng cuối năm 1978 được tạm phóng thích, ngụ tại 36 đường Nhà Ga, Hải Phòng. Thiện bị chuyển từ trại cải tạo II Yên Báy tới trại Phong Quang cách Lao Cay 30 km vào đầu năm 1966 suốt tới 1978 (12 năm tù). Nguyễn Chí Thiện, Minh Thi, Phùng Cung (nhóm Nhân Văn Giai Phẩm ở Bắc) bị giam chung với chính trị phạm và biệt kích miền Nam … Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện thông suốt Anh, Pháp ngữ, Hán văn, ưa thích thơ Đường, ông học hết tú tài Pháp (BAC) … Ông bị ho lao nặng nên đến ở toán đan lát trong tù. Đa số bài thơ sáng tác trong tù, thuộc lòng và chỉ chép lại cất dấu khi được tạm phóng thích. Hai ba lần tìm tầu người ngoại quốc nhờ chuyển tập thơ ra ngoài bị thất bại. Sau cùng tập thơ được tác giả trao tay một nhà ngoại giao Anh Quốc, và một nhân viên đài BBC người Việt: Đỗ Doãn Quy, rồi chuyển giao cho ông Châu Kim Nhân đưa qua Hoa Kỳ …”. (ngưng trích báo Người Việt, số 32 ngày 24 tháng 11 năm 1980).

Trong quyển [“Hạt Máu Thơ – Blood Seeds Become Poetry”. Ông Nguyễn Ngọc Bích khai lại năm sinh của Nguyễn Chí Thiện sinh ngày 27 tháng 2 năm 1939 tại Hà Nội (Bắc Việt). Thiện là tác giả của tập “Hoa Địa Ngục và Hạt Máu Thơ”. Thiện có học thức khá, thông thạo Pháp và Việt ngữ trước khi Cộng sản nắm quyền ở miền Bắc vào năm 1954 (Triệu Lan- năm 1954 Thiện được 16 tuổi. “1939-1954” và Nguyễn Ngọc Bích cũng không quên lấy ra chi tiết, “Thiện thông suốt Anh ngữ và Hán văn”). (Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ – Arlington, VA 1996). Được biết Nguyễn Ngọc Bích cũng là người “khổ công” đã dịch tập “Hạt Máu Thơ” ra Anh ngữ và nhiều “tác phẩm” khác của Bùi Tín.

Hai “tác giả” Minh Thi và Nguyễn Ngọc Bích đều tự nhận mình là bạn thân, bạn cùng tù với Nguyễn Chí Thiện nhưng Hai ông này đều khai hai năm sinh và hai nơi sinh của Nguyễn Chí Thiện hoàn toàn khác nhau (Minh Thi: Thiện sinh năm 1937 tại Hải Phòng – Nguyễn Ngọc Bích: Thiện sinh năm 1939 tại Hà Nội). Tại sao ?!

Nhưng có một chi tiết quan trọng mà từ bao lâu nay không ai để ý đặt ra đó là: Nhân Vật Minh Thi. Và để rộng đường dư luận nên chúng ta phải đặt vấn đề về nhân vật Minh Thi với Nguyễn Chí Thiện là: Tại sao gần 13 năm qua (từ 1995 đến nay) chưa ai trong chúng ta từng nghe Nguyễn Chí Thiện nhắc đến nhân vật Minh Thi hay dù chỉ một lời hỏi thăm. Minh Thi một người “bạn đồng tù” với Nguyễn Chí Thiện và cũng là người đã “có công” đưa tên tuổi của diễn viên Nguyễn Chí Thiện ra sân khấu phường tuồng như ngày hôm nay, ít nhất Nguyễn Chí Thiện phải nhắc đến tên Minh Thi dù chỉ một lần. Nếu đọc giả nào có theo dõi về tập thơ Vô Đề, thì Minh Thi là người đầu tiên “xác nhận” tập thơ Vô Đề là thơ của Nguyễn Chí Thiện. Vậy hiện nay ông Minh Thi đang ở đâu?.

***

Công Tử Hà Đông khi phỏng vấn Nguyễn Chí Thiện vào năm 2001 thì chính Thiện cho biết các năm và các lần Thiện bị bắt như sau:

– Nguyễn Chí Thiện: Tôi bị bắt ba lần, lần thứ nhất tù từ 1961 đến 1964, lần thứ hai từ 1966 đến 1977, lần thứ ba từ 1979 đến 1991. [SVN Cong Tu Ha Dong pv NCT 2001]

(Triệu Lan: tổng cộng 27 năm. Nhưng theo Minh Thi thì Nguyễn Chí Thiện “bị” ở tù từ năm 1966 đến 1978, chứ không phải từ năm 1966 đến 1977)

Năm (5) năm sau; bà Jean Libby phỏng vấn trực tiếp Nguyễn Chí Thiện để viết “hồi ký”, thì Thiện đã trả lời rằng:

* Jean Libby: Ông bị bắt tù lần thứ 3 vào năm nào ?.

– Nguyễn Chí Thiện: Tôi đi tù lần thứ 3 từ năm 1977 đến 1988 …

[nhật ký bà Jean Libby: VAA Jean Libby Sunday May 21, 2006 Vietnamese American Achievement …]

(Triệu Lan: Nên nhớ các tác giả trên đây không phải họ đoán mò để viết ra về cuộc đời “tù” của Nguyễn Chí Thiện, mà họ đã tìm đến phỏng vấn cũng như tìm hiểu về sự thật cuộc đời của Nguyễn Chí Thiện để viết hồi ký cũng như viết sách, báo. Những điều họ viết ra hoàn toàn vô tư theo lời kể (khai) của chính Nguyễn Chí Thiện. Vậy Thiện đi “tù” lần thứ ba (3) từ năm 1979 đến 1991 hay từ năm 1977 đến 1988 …?!).

***

Dưới đây là cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Hữu Hiệu về “xuất xứ” tập thơ Vô Đề. Báo Việt Star (vietstar & Việtstaronline.com) do hai phóng viên Joe Đỗ Vinh & Chris Phan vào ngày 18 tháng 6, 2008 vừa qua thực hiện. Tập thơ Vô Đề được gọi là “tác phẩm” “Tiếng Nói Từ Đáy Vực”.

VS (vietstar): Ông sang Hoa Kỳ từ năm nào?

Nguyễn Hữu Hiệu: Vào cuối năm 1978, và đã định cư ở Virginia từ đó đến bây giờ.

VS (vietstar): Bây giờ xin phép ông hỏi sang qua tác phẩm “Tiếng Nói Từ Đáy Vực”. Cơ duyên nào mà ông đã có được thơ của Nguyễn Chí Thiện ?

Nguyễn Hữu Hiệu: Đây là lần đầu tiên tôi có cơ hội để nói điều mà từ xưa nay mình chưa nói tới. Cảm ơn anh em tòa soạn Việt Star. Để tôi trình bày nguyên nhân lý do tại sao tôi có tập thơ này.

Anh Bùi Bảo Trúc lúc đó đang làm trong báo Văn Nghệ Tiền Phong cho tôi biết là anh có một tập thơ rất hay. Chỉ có một tập thơ, tập giấy, không có tên tác giả. Bùi Bảo Trúc được đọc, và tôi xin anh ấy cho tôi bản sao. Anh Bùi Bảo Trúc ngần ngại, nhưng rồi cũng đồng ý. Sau khi tôi đọc lên thấy ý thơ bất khuất của một kẻ sĩ Hà Thành, đã kiên cường và ném vào tòa Đại sứ Anh … Huỳnh Sanh Thông đã nhận được tác phẩm mà không thấy có tên tác phẩm. Sau đó có người nào đó trong bộ ngoại giao (?) trao cho đài BBC, và BBC chuyển đến báo Văn Nghệ Tiền Phong-theo tôi biết.

VS (vietstar): Ông có trực tiếp thấy bản gốc không ?

Nguyễn Hữu Hiệu: Nét chữ viết bằng tay, tôi có chụp lại từ trong sách này. Văn Nghệ Tiền Phong không phổ biến tác phẩm này làm cho mình nghĩ rằng họ không đúng. Lúc đó tôi là Chủ Tịch Ủy Ban Tranh Đấu Giải Phóng Tù Nhân Chính Trị. Bùi Bảo Trúc chỉ cho tôi coi, tôi chỉ xin để có tài liệu viết tay, và photocopy. Với tư cách Ủy Ban tôi phải làm chuyện này, dù rằng việc đó không đúng, mình nghĩ rằng tác giả không chỉ gởi riêng cho Văn Nghệ Tiền Phong hay một cá nhân tổ chức nào cả …. Nếu Văn Nghệ Tiền Phong giữ riêng thì không thể nào phổ biến đến những người đó hay những người khác nữa.

VS (vietstar): Ai đặt tên cho cuốn sách này?

Nguyễn Hữu Hiệu: Người đặt tên sách là nhà thơ Viên Linh “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” nhờ Linh Mục Trần Duy Nhất, chủ nhiệm/chủ bút Việt Báo ở Washington DC đánh máy. Phát hành vào ngày 20 tháng 9, 1980 tại Trường Học Thomas Jefferson. Sau đó tôi gởi qua Pháp cho Quê Mẹ của ông Võ Văn Ái, và rất nhiều nơi. Làm bùng dậy một cuộc đấu tranh mới, một khí thế và đề tài để tranh đấu sống động. Không biết bao nhiêu cuộc hội thảo dùng tác phẩm này làm tài liệu. Khi tôi gửi đến cho nhà báo Đỗ Ngọc Yến (*), anh em đọc say mê và ông Phạm Duy xin phổ nhạc, cho nên Phạm Duy được gởi cho nửa cuốn sách, còn các anh em khác chỉ được vài trang thôi. Sau đó Phạm Duy phổ nhạc 10 bài “Ngục Ca” và gởi cho tôi.

VS (vietstar): Làm sao chúng ta có thể kiểm chứng được những bài thơ này là chính Nguyễn Chí Thiện viết ra?

Nguyễn Hữu Hiệu: Sau tác phẩm và nhạc của Phạm Duy, thì tôi mời Nguyễn Đức Quang về Washington DC để hát và ngâm tập thơ này. Tập thơ này đánh dấu một thời điểm rực rỡ. Sau đó tôi có gởi thơ về nhà văn Phùng Quán, hỏi ông có biết “NCT” hoặc “N.Chi.T” là ai không ?. Phùng Quán trả lời là không biết …. Tôi về Hà Nội lần đầu tiên năm 1992. Lần nhì, tôi nói với Phùng Quán là khi tôi về đây, tôi đã bị công an theo dõi cho nên tôi nhờ ông điều tra giùm. Ông Phùng Quán nói với tôi rằng nếu ông không biết thì không ai biết bởi vì các anh em văn nghệ sĩ đều ghé nhà ông hết, và ông nói rằng ông đã nhờ các anh em điều tra mà không ai biết tác giả “NCT” là ai hết!.

VS (vietstar): Phùng Quán có đọc được tập thơ đó không ?

Nguyễn Hữu Hiệu: Không một nhà thơ Việt Nam nào biết về tập thơ này. Bít kín như vậy! Tôi cho ông Phùng Quán thêm một cái “clue”. Đó là NCT phải là một người sống khép kín. Mà Phùng Quán là một người “quảng giao” (giao thiệp rộng rãi) thì không thể nào chơi được một người “quả giao” (khép kín) như NCT. Với cái “clue” này, ông Phùng Quán suy ra là có thể ông Phùng Cung biết NCT là ai bởi vì Phùng Cung cũng là người “quả giao” khép kín. Khi hỏi đến Phùng Cung, thì quả đúng, ông Nguyễn Chí Thiện chỉ chơi với một mình ông Phùng Cung mà thôi. Tôi hẹn gặp Nguyễn Chí Thiện ở nhà Phùng Cung, lúc đó tôi cảm phục Nguyễn Chí Thiện. Sau này tôi có hiểu khác đi. Nhưng lúc đó tôi hoàn toàn thuyết phục bởi vì khi ông Phùng Cung mời ông Nguyễn Chí Thiện đọc vài bài thơ, thì Nguyễn Chí Thiện có đọc một số bài từ trí nhớ. Đó là năm 1993. Nhưng về tình cảm thì tôi thấy rất lạ lùng. Tôi chưa từng thấy có một nhà thơ nào lạnh lùng như thế này?. Rất là khất bật, không phải ở trong ý niệm của mình về một nhà thơ. Tôi thấy có một điều như thế này: có một số văn nghệ sĩ mà đọc giả không nên tìm gặp bởi vì sẽ làm cho họ (đọc giả) thất vọng!.

VS (vietstar): Như vậy vẫn chưa trả lời được câu hỏi “Nguyễn Chí Thiện có thật sự là tác giả của thơ Hoa Địa Ngục hay không ?”.

Nguyễn Hữu Hiệu: Cả nước chỉ có một người biết Nguyễn Chí Thiện là tác giả của tập thơ này, đó là Phùng Cung. Phùng Cung nói rằng Nguyễn Chí Thiện nói với ông rằng sau tập thơ Hoa Địa Ngục, Nguyễn Chí Thiện còn sáng tác cả trăm bài thơ nữa, mà Phùng Cung nói rằng ông không tin điều ấy.

VS (vietstar): Sau tập thơ “Hoa Địa Ngục” Nguyễn Chí Thiện có tập thơ nào khác nữa không?

Nguyễn Hữu Hiệu: Có tập thơ “Những Hạt Máu Thơ” mà văn phong không giống “Hoa Địa Ngục ….”

[Thắc mắc của Triệu Lan: Theo lời kể trên của ông Nguyễn Hữu Hiệu thì năm 1992-1993 ông đã về Việt Nam tìm gặp “nhà thơ chống Cộng” Nguyễn Chí Thiện, lúc đó ông Hiệu đang là: “Chủ Tịch Ủy Ban Tranh Đấu Giải Phóng Tù Nhân Chính Trị”. Có thể nói ông Hiệu là Chủ tịch của một ủy ban cũng thuộc loại “chống Cộng”, nhưng không hiểu vì lý do gì Cộng sản Hà Nội lại để cho ông Hiệu đi vào, đi ra Việt Nam tiếp xúc với nhiều người (nhất là Nguyễn Chí Thiện) mà không ai làm khó dễ gì ông Hiệu cả. Nhưng điều quan trọng là ông Hiệu và thi sĩ Phùng Cung có thể “biết rõ” về Nguyễn Chí Thiện, cũng như biết Nguyễn Chí Thiện không phải là tác giả của tập thơ Vô Đề như ông Hiệu đã tiết lộ rằng: “lúc đó tôi cảm phục Nguyễn Chí Thiện. Sau này tôi có hiểu khác đi.”. Ông Nguyễn Hữu Hiệu đã gặp Nguyễn Chí Thiện vào năm 1993, nhưng theo lời Thiện kể, thì Thiện gặp ông Hiệu vào năm 1994 và có chụp hình lưu niệm được đăng trong tập “Hạt Máu Thơ” của Nguyễn Chí Thiện. (hình chụp mùa đông năm 1994: Nguyễn Hữu Hiệu, Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Hữu Đang, Bác sĩ Lân, Phùng Cung). Nhưng dù sao chúng ta cũng phải cảm ơn ông Nguyễn Hữu Hiệu đã “dám” nói ra sự thật sau bao nhiêu năm dấu kín. Hy vọng trong những ngày tới cũng sẽ có nhiều người trong cuộc cho chúng ta biết thêm những sự thật khác mà bao lâu nay chúng ta chưa được biết.]

(*) Báo Người Việt của Đỗ Ngọc Yến có được tập thơ Vô Đề từ ông Nguyễn Hữu Hiệu và từ đây báo Người Việt và Đỗ Ngọc Yến đã “đẻ” ra nhân vật Minh Thi, để sau đó Minh Thi lại phịa ra “tập thơ Vô Đề là của Nguyễn Chí Thiện?!”, vì vậy sau một lần xuất hiện trên báo Người Việt, số 32 ngày 24 tháng 11 năm 1980 cho đến nay, không ai còn thấy nhân Vật Minh Thi đâu nửa cả. Vậy cả tòa soạn báo Người Việt nên bạch hóa nhân vật Minh Thi!

***

Và tiếp theo dưới đây là các bài viết của một số “nhà văn” cũng như các cuộc “Gặp gỡ, Phỏng vấn, Nói chuyện, Diễn đàn, Hội luận, Hội thảo, Đại hội” đã có dịp đối diện với Nguyễn Chí Thiện cũng như để phỏng vấn Thiện. Chúng ta thấy rất nhiều điểm “không thuộc bài” của Nguyễn Chí Thiện. Bài trước có nói, Triệu Lan tôi đã thâu thập rất nhiều dữ kiện về Nguyễn Chí Thiện. Nay không thể viết ra trong khuôn khổ một tờ báo hay một vài số báo với hàng ngàn trang giấy. Nên Triệu Lan xin phép cùng quý độc giả trong loạt bài này chỉ nêu lên với một số chi tiết nhỏ trong hàng trăm chi tiết mà Triệu Lan đang nắm trong tay (kể cả các cuộn băng video bằng hình ảnh), để chúng ta cùng so sánh những cái không có thật đã được nói ra từ chính nhân vật Nguyễn Chí Thiện. Có lẽ vì đi quá nhiều nơi và nói quá nhiều chuyện Không Có Thật nên Nguyễn Chí Thiện đã quên những điều chính Thiện đã nói ra. Nhưng tệ hại nhất là những người đã viết báo, viết bài “bốc thơm” những điều không có thật về con người của Nguyễn Chí Thiện mà họ không cần kiểm chứng. Đây là một vấn đề vô cùng tai hại cho chính danh dự của họ, cũng như cho công cuộc đấu tranh chung trong vấn đề giải thể bọn cầm quyền Việt Gian Cộng sản đem phúc lợi cho toàn thể dân Việt trong nước.

Chính một số người tự cho mình là “nhà văn” hay nhà báo đã vì một lý do vô tình hay cố ý nào đó, họ cũng đã a tòng theo những điều bất chính để đánh lừa niềm tin của đồng bào người Việt tị nạn Cộng sản. Đây được xem như là một trọng tội nếu từ đây về sau họ không biết ăn năn hối cãi hay đoái công chuộc tội và mạnh dạn dám nói lên những điều đúng với lương tâm nghề nghiệp của họ. Thì thiết nghĩ các cộng đồng người Việt ở hải ngoại hiện nay chúng ta nên có những hành động thiết thực để chận đứng các trò hề rẻ tiền này của bọn tình báo văn hóa Cộng sản đội lốt dưới chiêu bài người Quốc Gia tị nạn Cộng sản.

Trong những ngày tháng tới đây sự thật về nhân vật Nguyễn Chí Thiện đã “cầm nhầm” tập thơ Vô Đề phải được bạch hóa. Người Việt chúng ta không thể để cho bọn bất lương coi thường hay lừa bịp chúng ta mãi được. Như đã nói quý vị trí thức, nhà báo, nhà văn, các giáo sư, các nhà nghiên cứu về lãnh vực văn hóa, chúng ta nên có trách nhiệm chung để đưa ra ánh sáng về con bài Nguyễn Chí Thiện. Thiết nghĩ đây là một điều phải làm và nên làm. Vậy quý vị nào đã không am tường sự việc lại lỡ “bốc thơm” cho Nguyễn Chí Thiện quý vị sẽ nghĩ gì và sẽ làm gì? hay quý vị tiếp tục giữ thái độ im lặng?. Nếu quý vị không tự mình đứng ra bạch hóa những điều chính quý vị biết mình đã bị cả một tập đoàn gian trá lừa bịp trong nhiều năm qua, thì ai là người sẽ giúp quý vị “giải oan” cho quý vị đây?!. Chính ta phải tự cứu ta trước. Vì đây là Danh Dự và Thể Diện của chính quý vị vậy. Đây cũng là lời cuối cùng để quý vị bình tâm suy nghĩ mình nên làm gì ? Trong những loạt bài tới Triệu Lan sẽ đưa tất cả tên của những người có liên hệ trong con bài Nguyễn Chí Thiện lên mặt báo để rộng đường dư luận. Những người khi đã bị điểm mặt chỉ tên thì lúc đó không ai có thể nhân nhượng được nửa

***

Dưới đây là một số buổi; Gặp gỡ, Phỏng vấn, Nói chuyện, Hội luận, Hội thảo, Đại hội được các báo chí, thân hữu, bè bạn ghi lại qua lời kể của Nguyễn Chí Thiện như sau:

1) – Hồi cuối năm 1991, khi sắp được thả, tôi nằm ở bệnh-viện 19-8, một bệnh-viện của Công-an. Tôi mượn được bản dịch Truyện Kiều ra Pháp-ngữ của Nguyễn Khắc Viện. Một hôm, Cục-trưởng cục An-ninh Quốc-gia tới phòng tôi, thấy có quyển sách đó, hỏi tôi: “Thằng Viện dịch có được không”? Tôi trả lời: “Có khoảng 30 chỗ sai nghiêm-trọng, thí-dụ như câu Thành xây khói biếc mà dịch là Thành-phố dựng lên những cột khói mầu xanh; câu Ðiếc tai lân-tuất mà dịch là Hàng xóm giả điếc, ..v.v..”. Y nói ngay với tôi: “Anh viết ngay một bài phê-bình đi, tôi sẽ cho báo Nhân-Dân đăng”. Thực lòng, tôi rất khinh Nguyễn Khắc Viện, y đã làm cái loa bỉ-ổi tuyên-truyền cho Ðảng bao năm. Nhưng giai-đoạn đó, y đang phê-phán độc-tài, đòi dân-chủ. Tôi thấy không nên tham-gia vào việc hạ-nhục y, trái lại, còn phải khuyến-khích. Tôi từ-chối không viết. [NCT dien van dai hoi Paris 2000 (phần 1)].

1) Thắc mắc của Triệu Lan – Hàng triệu người Việt chúng ta đã từng nếm mùi “cải tạo” của bọn Cộng sản, kể cả những đảng viên của chúng bị “kỷ luật”. Ai có những “tiêu chuẩn tù” như Nguyễn Chí Thiện ?!. Một tù nhân “chửi” chế độ thậm tệ như Nguyễn Chí Thiện mà lại được “Cục-trưởng cục An-ninh Quốc-gia tới phòng tôi”.

Thưa quý vị đọc giả. Ngay trên nước Mỹ quý vị đang sống đây là một nước tự do, dân chủ hàng đầu trên thế giới, quý vị có bao giờ thấy ông hay bà Bộ trưởng hay Thứ trưởng “an ninh quốc gia” của Mỹ đến thăm bất cứ một tù nhân nào không? Và lại càng không thấy ông hay bà Bộ trưởng hay thứ trưởng nào khuyên tên tù nhân “nguy hiểm” như Nguyễn Chí Thiện rằng: “Anh viết ngay một bài phê-bình đi, tôi sẽ cho báo “New York” (nhân dân) đăng”. Chuyện Tề Thiên tưởng đâu chỉ có mỗi một mình Ngô Thừa Ân có thể phóng tác, ấy vậy mà chuyện Tề Thiên đã đến thật, có thật. Tề Thiên đã “hóa phép” nhập vào với riêng con người “rất thật” của Nguyễn Chí Thiện. Đúng là “thiên đường xã hội chủ nghĩa” có khác. Cả một đại hội Paris 2000 như trên, đến nay đã 8 năm qua chưa thấy ai lên tiếng về chuyện “Tề thiên Nguyễn Chí Thiện” này!. Tại sao?!.

***

* – Dưới đây là những đoạn so sánh để chúng ta thấy rằng mỗi nơi đi qua Nguyễn Chí Thiện đều tự đặt chuyện nói ra, nên mỗi nơi Thiện đều nói mỗi khác nhau.

2) – Ngày 10 tháng 7 năm 1979 ông đi lên Hà Nội. Mặc dù có một bà chị ruột ở Hà Nội, ông đến nhà một người bạn, ngồi trên gác nhà ấy và viết ra 4000 câu thơ trong ba ngày ròng rã mà ông nhớ trong đầu sau hai mươi năm tù đầy. [Tran Viet Dai Hung – Hoa thiet Hoa gia – bai 4&5 – 04-25-2003]

2) Tối hôm thứ Sáu 13.7, trước ngày 14.7 là ngày Quốc khánh Pháp, sứ quán có chiêu đãi. Tôi đã lên Hà Nội trước đó ba hôm, lên nhà thằng cháu gọi tôi bằng cậu. Bây giờ nó chết rồi. Vợ nó, bây giờ tôi nói thật ra là vợ nó gọi thiếu tướng Quang Phòng là cậu, ông ấy là Cục trưởng An ninh Quốc gia phụ trách về văn hoá. Nhà đó thì công an rất nể, không ai dòm ngó đến cái nhà đó cả. Thế là tôi mới lủi vào nhà đó tôi viết. Vợ nó đi làm thì tôi mới viết, khi vợ nó về thì không viết nữa. Một ngày có 8, 9 tiếng ở nhà để viết, viết gấp rút, chỉ có thằng cháu biết thôi vì tôi nói nó đóng cho tôi một cái tủ hai ngăn, để giấu tập thơ. Nó giỏi thợ mộc nên làm được ngay. Tôi dặn nó tuyệt đối không được mở ra. Viết xong nó đóng hộ tôi thành ra quyển sách vì tay tôi yếu. Giấy viết hai mặt, đôi lúc thiếu bút, vì thế nguyên bản có nhiều trang viết bằng mực đỏ. Cũng may trước khi đóng, nó khuyên tôi: “Cậu phải viết một cái thư, chứ gửi nguyên thế này đâu được, ai biết chuyện gì”. Tôi nói nó đưa bút, ngồi ngoáy chớp nhoáng lá thư bằng tiếng Pháp. Kí tên, đề thẳng là 136 Rue de la Gare, Nguyễn Chí Thiện, địa chỉ nhà tôi ở Hải Phòng. Dưới lá thư đó tôi đề: “Hoa Địa Ngục”, mở ngoặc đóng ngoặc: Fleurs de l’Enfer, đề tên tác giả hẳn hoi. [Bui van Phu: 2 gio voi NCT 11-19-02]

***

3) Người đầu tiên công bố tác giả tập thơ là ông Minh Thi, hiện sống tại Santa Ana. Ông Minh Thi là bạn tù của nhà thơ Nguyễn chí Thiện từ năm 1970 đến 1977 tại trại tù Phong Quang. [Tran Viet Dai Hung – Hoa That Hoa Gia – bài 1 – 04-25-2003]

3) – Lần thứ ba ông bị giam từ 1967 đến 1977 đúng vào thời gian có “vụ án xét lại chống đảng”. Trong 10 năm tù lần này … “tôi nằm xà lim hơn 8 năm, sống bẩn thỉu hôi hám như một con chuột cống, có điều thua con chuột cống ở chỗ đói, rét, ốm, đi không vững.” Khi được ra khỏi xà lim ông có bị giam cùng với Vũ Thư Hiên hơn một năm.[DVC Minh Vo: Nguyen Chi Thien 2006]

3) Nguyễn Chí Thiện: Tôi có bị giam ở trại tù Phong Quang, Lào Cay và tôi đã gặp Vũ Thư Hiên trong vòng ba năm. Sau đó, Vũ Thư Hiên được thả ra về trước tôi. Tôi đã nếm đủ mùi gian khổ. [DCV Nguyen Van Luc pv NCT 06-07-07]

***

4) Nguyễn Chí Thiện: Theo tôi thì họ nhắm nhiều mục đích. Trước hết, họ nghi tập thơ do nhiều người viết… Nếu do nhiều người viết, họ sẽ tìm cách truy lùng những người khác đã viết. Cho nên, bằng cách nào, họ cũng muốn tôi viết lại… Tôi tìm cách trì hoãn nói rằng nay sức yếu, thiếu ăn uống, không đủ sức để ngồi tập trung tinh thần để nhớ hết … Tôi xin họ cho gia đình tiếp tế. Sau đó, tôi đã nhận được sự tiếp tế của gia đình gồm một bao lớn, chỉ có chăn màn và mấy kí lô mì rang và đường đen. Phần họ, họ chấp thuận cho bồi dưỡng tôi mỗi ngày có chè tầu, thuốc lá hai bữa cơm ăn tươm tất có thịt, giò chả. Đấy là món chi tiêu khá lớn cho một tên tù. Trà hai đồng một ngày, thuốc lá Sông Cầu hai đồng nữa, vị chi 4 đồng trong khi lương cán bộ chỉ có 2 đồng một ngày … Nhưng cũng nhờ chuyện viết lại này mà tôi lên được khoảng 5 kí lô. [DCV Nguyen Van Luc pv NCT 06-07-07]

[(Thắc mắc của Triệu Lan: Theo lời kể của Nguyễn Chí Thiện ở trên thì tiêu chuẩn “bồi dưỡng cho Nguyễn Chí Thiện rất cao “vị chi 4 đồng trong khi lương cán bộ chỉ có 2 đồng một ngày”, cao gấp 2 lần lương cán bộ để Nguyễn Chí Thiện có thể ngồi chép lại một tập thơ Vô Đề khác.

Như vậy quả đúng như lời của Triệu Lan đã có nói trong bài viết trước là: Tập thơ Vô Ðề có đến Hai (2) bản viết tay!:

* Tập thơ Vô Đề bản số Một (1) nguyên thủy do chính tay tác giả Vô Danh viết ra và ông Vô Danh ghi rõ “Ðây là công trình làm việc trong suốt hai mươi năm (20) trời của tôi” (ông Vô Danh), tập thơ Vô Ðề này không có hình ảnh của tác giả Vô Danh cũng như hình ảnh gia đình của ông đi kèm và tập thơ không có tựa đề (Vô Ðề).

* Bản số Hai (2) do chính tổng cục phản gián Yết Kiêu dàn dựng cho Nguyễn Chí Thiện ngồi học cách viết (giả dạng chữ viết của tác giả Vô danh), Thiện viết ra từ nguyên bản tập thơ Vô Đề. Bản này có tựa đề là “Hoa Ðịa Ngục” và một số hình ảnh Cha, Mẹ, Anh, Chị, Cháu (hay con?) của Nguyễn Chí Thiện trong bản viết tay này. Đây cũng là lý do để giải thích tại sao từ năm 1980 tập thơ Vô Đề ra đời và Đỗ Ngọc Yến cũng như báo Người Việt có được bản copy tập thơ Vô Đề từ ông Nguyễn Hữu Hiệu gởi cho như ông Hiệu đã xác nhận và dĩ nhiên sau đó Yết Kiêu cũng có nguyên bản copy này, nhưng mãi đến năm 1995 (15 năm sau) Nguyễn Chí Thiện mới được đảng cho ra hải ngoại.

Nguyễn Chí Thiện đã chép tập thơ Vô Đề từ bản nguyên thủy ra bản số 2, điều này do chính Nguyễn Chí Thiện tiết lộ bên trên (xin xem mục số 4 được tô đậm trong bài này) do Nguyễn Văn Lục phỏng vấn ở mục số 4 “Cho nên, bằng cách nào, họ cũng muốn tôi viết lại” (tập thơ Vô Đề). Vì lẽ có công chép lại tập thơ Vô Đề ra bản số 2 nên Thiện mới được Yết Kiêu ưu đãi như Thiện đã kể: “Phần họ, họ chấp thuận cho bồi dưỡng tôi mỗi ngày có chè tầu, thuốc lá hai bữa cơm ăn tươm tất có thịt, giò chả. Đấy là món chi tiêu khá lớn cho một tên tù. Trà hai đồng một ngày, thuốc lá Sông Cầu hai đồng nữa, vị chi 4 đồng trong khi lương cán bộ chỉ có 2 đồng một ngày …”. Chúng ta vì đã quá thờ ơ nên chúng ta đã bị lừa trong một thời gian quá dài và khi hiểu ra sự thật chúng ta có còn để Nguyễn Chí Thiện lừa bịp chúng ta nửa hay không ?!.

Đến đây chúng ta có thể khẳng định 100% rằng: Những trang thơ viết tay đủ màu như Nguyễn Chí Thiện đã kể trong mục số 2 ở trên và nay đã được in ra trong quyển “Hoa Địa Ngục” [phụ bản số 4 trang 400 và 401 do Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ năm 2006 phát hành. Nhà in Printed and Bound, Republic of China First Edition, 2006. Bản quyền của Nguyễn Chí Thiện và Nguyễn Ngọc Bích – Copyright 2006 by Nguyen Chi Thien and Nguyen Ngoc Bich – Bích và Thiện lấy tư cách gì để làm chủ bản quyền của tập thơ Vô Đề ?] là cả một sự dàn dựng công phu cũng như rất nhiều thời gian để đạo tào ra con bài Nguyễn Chí Thiện. Và cũng chính từ các bài thơ Nguyễn Chí Thiện đã chép lại từ bản nguyên thủy của tập thơ Vô Đề mà bọn nằm vùng hải ngoại đã có một phong trào thổi phồng cho Thiện “chính danh” trở thành tác giả của tập thơ Vô Đề trong nhiều năm qua. Như chúng ta đã biết Nguyễn Chí Thiện không phải là tác giả của tập thơ Vô Đề nên nhiều lần có sang Anh Quốc nhưng chưa bao giờ Thiện dám đến tòa Đại sứ Anh để xin lại tập thơ, một “công trình làm việc trong suốt 20 năm trời” như trong lá thư viết bằng tiếng Pháp tác giả Vô danh đã xác định.

Như vậy câu chuyện Nguyễn Chí Thiện kể lại Thiện vào trong sứ quán Anh (Thiện kể trong 4 lá thơ viết tay đã có đăng trong báo Saigon Nhỏ tuần qua) tại Hà Nội “cởi quần” móc ra … tập thơ vào năm 1979 cũng phải được “điều nghiên” lại xem có đúng với sự thật hay không?. Hiện nay nhiều người đang có copy bản chép tay (Thiện chép từ bản nguyên thủy) tập thơ số 2 của Nguyễn Chí Thiện, nhưng chúng lại cho người phịa ra là: “do tòa đại sứ Anh gởi trả lại cho Nguyễn Chí Thiện”. Chuyện này sẽ nói sau.

Triệu Lan tôi (bỏ tiền túi) đang liên lạc với ban giảo tự (giảo nghiệm chữ viết) của cơ quan Tư pháp Hoa Kỳ (ban Forensic science), để có thể nhờ họ so sánh dạng chữ viết tay của Nguyễn Chí Thiện và thủ bút của tác giả tập thơ Vô Đề. Triệu Lan tin rằng với kỹ thuật hiện đại (high tech) máy móc tinh vi có thể kiểm chứng và phân loại các dạng chữ viết khác nhau nếu không phải do một người viết ra. Vì ngoài cách so sánh 3 chiều (3D) các loại máy này còn đo được sức đè (pressure) từ chính bàn tay người viết một cách chính xác. Và còn nhiều kỹ thuật giảo nghiệm khác (chưa tiện nói ra) ngoài sự hiểu biết của Thiện cũng như nhóm người đứng sau lưng Thiện. Khi có kết quả thì sẽ công bố cho đọc giả khắp nơi được rõ.)]

***

5) – Nguyễn Chí Thiện: …Vừa ra khỏi cổng tôi bị hai công an nắm cổ đi luôn, họ đưa tôi lên xe hơi, chở tôi vào thẳng Hỏa Lò. Dù tôi có ngồi xe hơi sứ quán chạy ra cũng không thoát được…. Vào Hỏa Lò tôi bị thẩm vấn ngay. Tôi khai tôi chạy vào sứ quán xin tị nạn, bọn công an trong sứ quán nghe được câu tôi nói lúc đầu với ba người Anh là tôi có tài liệu quan trọng muốn đưa, nên họ vặn hỏi tôi đưa tài liệu gì vào Sứ Quán Anh. Tôi nói tiếng Anh của tôi loại giả cầy, tôi nói tôi có chuyện quan trọng muốn nói chứ tôi có nói tài liệu gì đâu. Những ngày đầu bọn thẩm vấn rất ngọt với tôi, chúng nói “Anh có đưa tài liệu gì cứ nói, chúng ta sẽ lấy lại tài liệu đó cho tổ quốc không bị thịệt hại, chúng tôi hứa sẽ trả tự do cho anh ngay”. Tôi vẫn nói tôi không có đưa tài liệu gì cả.

[NSVN Cong Tu Ha Dong pv NCT 2001]

5) – Hỏi: Sau khi lọt vào Sứ Quán Anh họ đã tiếp ông như thế nào? Ông bị bắt lại trong trường hợp nào?

Nguyễn Chí Thiện: Họ đã tiếp tôi, tôi trình bày chi tiết, nhưng vì vấn đề bang giao họ không thể cho tôi tị nạn chính trị. Khi tôi trở ra thì công an vây bắt ngay, và bắt cả đứa cháu của tôi. Tôi bị đưa vào giam ở Hỏa Lò. Ở trong Hỏa Lò, họ đã đối xữ tử tế với tôi cho ăn uống đàng hoàng, trà đường thuốc lá ..v.v.. [Radio VNHN Vuong ky Son pv NCT 10-12-2003]

* Thắc mắc: Hai (2) cuộc phỏng vấn ở trên. Với Công Tử Hà Đông Nguyễn Chí Thiện nói “bị bắt một mình. Với Vương Kỳ Sơn Nguyễn Chí Thiện “bị bắt” cùng với đứa Cháu.

***

Bốn (4) người dưới đây trong 4 cuộc phỏng vấn Nguyễn Chí Thiện đã có cùng 1 câu hỏi. Nhưng Nguyễn Chí Thiện đã trả lời cho Bốn (4) người đều hoàn toàn khác nhau.

6-1) – Nguyễn Chí Thiện: “ … Mãi đến 16 tháng sau, tháng 10, 1980, lần ấy ra làm việc tôi được đưa vào một phòng lớn, trong có ba bốn tên công an bự chờ sẵn, tôi hồi hộp biết là có chuyện mới. Lần này họ cho tôi thấy tập thơ của tôi được xuất bản ở Hoa Kỳ. Họ cho tôi xem bức thư chữ Pháp viết tay của tôi, tôi nhận đó là chữ tôi, nhận thư đó tôi viết và thơ trong tập là thơ tôi … Lúc ấy tôi biết tác phẩm Hoa Địa Ngục của tôi đã được xuất bản, và đến lúc ấy tôi mới nhận tôi vào sứ quán Anh là để trao cho nhân viên sứ quán tập thơ ấy. Sự việc sau đó diễn ra như tôi đã kể…[NSVN Cong Tu Ha Dong pv NCT 2001]”.

6-2) – Nguyễn Chí Thiện: “Một hôm, lúc đó tôi đã bi quan lắm rồi, vào tháng 10 năm 1980, họ cũng gọi cung như mọi lần, nhưng lần này họ đưa vào phòng lớn, không phải phòng hỏi cung. Những nhân viên vẫn hỏi cung cũ biến mất, giờ có mấy ông ở bộ sang, mặc quần áo dạ mùa đông, đi giầy bóng, tuổi hơn 50. Tôi đoán có chuyện gì rồi, mừng thầm vì có thể có kết quả. Quả nhiên đúng. Họ mời trà, hút thuốc lá đâu đấy, rồi họ mới giở quyển sách ra, họ không giơ bìa ra mà chỉ cho coi bức thư viết bằng tiếng Pháp bên trong. Họ hỏi, có phải chữ của anh không? Tôi nói đúng. Mình mừng hơn bố sống lại chứ không phải là không. Vì đợi mãi mà.

Bùi Văn Phú: Có phải đó là cuốn “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực”?.

Nguyễn Chí Thiện: Tôi không biết. Vì họ đâu có cho mình coi bìa sách. Họ mở ra, gấp cong bìa lại, chỉ cho mình thấy trang có in lá thư chữ viết tay của mình thì mình đâu có nhìn được tên sách. [Bui van Phu: 2 gio voi NCT 11-19-2002]”

6-3) – Jean Libby: “… Ông ta biết là thơ của ông được phát hành vì tên công an cầm tờ báo Việt ngữ in ở Hoa Kỳ năm 1980 có hình của ông. Ông cười mím và không phủ nhận điều đó [Jean Libby: May 21, 2006 – JANCT tr.7.]”.

6-4) – Nguyễn Chí Thiện: “Thoạt tiên khi được biết tập bản thảo được in ra, chúng mời tôi lên làm việc. 15 tháng sau, 4, 5 tên đã đưa ra trước mặt tôi tập thơ đã được in … Họ hỏi tôi có nhận ra tập thơ này là của tôi không? Tôi nhận ngay là của tôi sau khi đọc mấy bài. Sau đó, bọn họ yêu cầu tôi viết lại tất cả các bài thơ tôi đã viết. [DCV Nguyen Van Luc pv NCT 06-07-2007]”.

***

7) – Lần thứ tư ông bị giam 12 năm 3 tháng. Đó là khi ông xông vào tòa đại sứ Anh ở Hà Nội để trao tập thơ Hoa Địa Ngục như đã nói trên. Lần này ông bị giam ở Hải Phòng 6 năm sau đó bị chuyển về Hỏa Lò ở Hà Nội. Ông được tha ngày 22 tháng 10 năm 1991, cùng dịp với nhà văn nữ Dương Thu Hương, nhà văn Doãn Quốc Sĩ và linh mục dòng tên Lê Đan Quế. [DVC Minh Vo: Nguyen Chi Thien – 2006]

7) – “… Cuối cùng tôi hỏi họ có thể lưu tôi trong sứ quán Anh được không. Họ nói việc vào đã lộ, công an đã vây ở ngoài ở lại sẽ khó khăn … Họ đưa tôi thẳng vào Hỏa Lò và hỏi cung ngay … Tôi ở Hỏa Lò tới năm 1985 thì chuyển về xà lim bộ ở xã Thanh Liệt, Huyện Thanh Trì”. [Nguyen Chi Thien 4 trang la thu viet tay ngay 7 thang 11, 1995].

Sau đây là “văn phong” của Nguyễn Chí Thiện viết cho thi sĩ Phùng Cung khi Thiện nghe tin Phùng Cung qua đời vào tháng giêng năm 1997, được trích đăng trong tập nhật ký của bà Jean Libby năm 2006.

– “văn sĩ” Nguyễn Chí Thiện: “tháng giêng, 1997 tôi ở Hoa kỳ …. Nhà thơ Lê Quang Dũng thông báo là Phùng Cung đã chết tại nhà anh vào ngày thứ sáu, sau hai tuần bạo bệnh. Phùng Cung là người bạn tù với tôi. Và họ đang chuẩn bị tang lễ. Tôi nghe nữa.

* “văn sĩ” Nguyễn Chí Thiện: “ … Tôi hiểu là cái chết là điều không thể tránh được, nhưng tôi không kềm chế được cảm giác mất mát lớn lao và tôi đã khóc. Đêm ấy, khi nằm ngủ tôi quay mặt vào vách. Hồi tưởng lại lần đầu gặp nhau tại Phong Quang vào một ngày mùa đông ảm đạm. Anh đứng bên cạnh cây ớt đỏ. Anh đưa mắt nhìn bầu trời nặng trĩu cũng nặng buồn như khuôn mặt của anh. Và sau đó, trong ngày chia tay từ giả tôi vào Sài gòn để đáp chuyến bay đi Hoa kỳ, anh nắm đôi bàn tay tôi bịn rịn không rời, nước mắt anh lưng tròng. Sáng hôm sau tôi chập chờn giấc mơ tôi thấy những vì sao, tôi thấy những cánh buồm xanh biếc quyện bay với gió trong dãy ngân hà đem linh hồn anh đến nơi vĩnh hằng. Ngày nào đó, khi trở về Việt Nam tôi không làm gì hơn bằng im lặng đứng trước mộ anh nằm ở mô đất trâu cày dẫm nát ở cuối làng.” [Jean Libby. ANCT tr.10]

Khi viết văn người ta có thể tả cảnh trời trăng mây nước, hoa cỏ hữu tình. Nhưng cổ kim chưa từng thấy “văn sĩ” nào lại tả cảnh “trong dãy ngân hà” bao giờ và hay hơn nửa là “trong dãy ngân hà” lại có cả “gió” và “những cánh buồm xanh biếc”. Rồi đến “ngày mùa Đông ảm đạm” thì cây ớt mới Đỏ. Và vì có “cây ớt đỏ” (không phải Cây Ớt Xanh) nên ông Phùng Cung mới ra “đứng bên cạnh cây ớt đỏ”, để “văn sĩ” Nguyễn Chí Thiện có cảm hứng mà viết văn hay “chép thơ.” Những bằng chứng trên chứng tỏ Nguyễn Chí Thiện không biết viết văn, nếu Thiện có viết thì cũng chỉ là viết Láo như đoạn “văn” ở trên.

Về thơ thì người ta có thể nhớ trong một thời gian ngắn, một số lượng nhỏ các bài thơ do mình sáng tác, chứ không thể nhớ một số lượng lớn nhiều bài thơ mà gần như cả đời mình làm trong một thời gian kéo dài mấy chục năm. Với nhiều người đã có kinh nghiệm tù đày Cộng sản, thì chỉ riêng tội “làm thơ cực kỳ phản động”, đã xúc phạm lãnh tụ, nhục mạ đảng và bôi đen chế độ. Nếu bị bắt, dù chỉ một bài truyền miệng thôi, thì đương sự cũng đủ bị xử nghiêm ngặt bằng án tử hình mà không cần phải xét xử gì cả. Trong hơn 60 năm qua kể từ khi Cộng sản cai trị đất nước cho đến nay, duy nhất chỉ có “Một Tù Nhân” Nguyễn Chí Thiện dám “chép thơ” “chửi đảng”, xúc phạm lãnh tụ “bác Hồ”, phê bình cả “đồng chí” Nguyễn Khắc Viện mà “tù nhân” Nguyễn Chí Thiện vẫn được đảng “ưu ái” cho Thiện ăn tiêu chuẩn “gấp hai lần cán bộ”. “Trà hai đồng một ngày, thuốc lá Sông Cầu hai đồng nữa, vị chi 4 đồng trong khi lương cán bộ chỉ có 2 đồng một ngày”.

Khi Thiện “bị” tù thì được cả “đồng chí” “Cục-trưởng cục An-ninh Quốc-gia tới phòng” và yêu cầu. “Anh viết ngay một bài phê-bình đi, tôi sẽ cho báo Nhân-Dân đăng” để phê bình “đồng chí” Nguyễn Khắc Viện. Ôi! “thiên đường xã hội chủ nghĩa” sao lại có những tên Đại Láo như thế này?. Ba (3) triệu người Việt Quốc Gia tị nạn Cộng sản chúng ta phải làm gì với tập đoàn Đại Bịp Nguyễn Chí Thiện?!. Chúng đã dùng đủ mọi mánh khóe để đánh lạc hướng, làm cho người Quốc Gia không nhận ra được ý nghĩa chân thực của tập thơ trên, chúng dùng chiến thuật “lượng chống phẩm” kiểu hát hay không bằng hay hát. Sự nhắc lại nhiều lần bởi nhiều tên bịp, chúng nghĩ rằng cuối cùng sẽ làm quần chúng yên trí mà tin theo chúng! Nhưng kết quả cho thấy chúng đã nhầm.

Nguyễn Chí Thiện và đồng bọn tưởng có thể dùng trò tiểu xảo lừa bịp mọi người được mãi, đối với đại khối quần chúng việc nhận ra sự kiện hay nhân sự thường chậm vì phải thông qua một tiến trình suy luận dùng đủ các phương thức như phân tích và tổng hợp, diễn dịch hay căn cứ trên số dữ kiện có sẵn. Nếu thơ “văn là người” do xem thơ, văn mà biết được khí chất, trình độ tư tưởng, chí hướng của một người được coi là nguyên tắc phổ quát, thì điều kiện cần và đủ để nhận ra tác giả tập thơ Vô Đề này phải là người có quá trình “hành động” cách mạng. Càng đọc hay nghe những điều từ Nguyễn Chí Thiện nói ra, chúng ta lại càng khẳng định là Nguyễn Chí Thiện bằng xương bằng thịt đang sống và đang sinh hoạt trong cộng đồng chúng ta Không Phải Là Tác Giả của Tập Thơ Vô Đề và với một số điều đã nêu trong 3 bài viết này ai cũng đồng ý rằng: Nguyễn Chí Thiện là người đã nhận vơ tập thơ Vô Đề của tác giả Vô Danh. Vì sau 3 bài viết thiết nghĩ Triệu Lan đã thừa dữ kiện cũng như bằng chứng để chứng minh cho lập luận của mình mà không bao giờ sợ nhầm lẫn được nửa.

Một điểm nửa cũng cần nêu ra ở đây là: Bọn cộng sản (Nguyễn Chí Thiện) vì không có tên nào có học hay chuẩn bị học tập gì, mà do một sự trớ trêu rất ngẫu nhiên chúng được ngồi vào “chính trường”, nói chuyện chính sự kiểu “bần cố nông” nên chức vụ “to” nhưng tài năng thì không có nên bọn này phải dùng “tiểu xảo” để lừa bịp. Đây chính là lý do đúng nhất để giải thích tại sao trong gần 13 năm qua Thiện đi Đông, đi Tây cố dùng những trò “tiểu xảo” để làm sao tạo cho Thiện được cái “mác thi sĩ”. Nhưng hỡi ôi! Thiện đã không có khả năng và cũng không ai có thể thổi con ếch Thiện to bằng con bò. Người ta đã nhìn thấy Thiện quá kém cỏi trong mọi lãnh vực, nghe Thiện nói chuyện hay đối đáp người ta rất dễ dàng nhìn ra trình độ học vấn và con người thật của Thiện. Những sĩ phu Việt Nam hải ngoại và trong nước họ không Mù như Thiện và đồng bọn nghĩ. Nhiều năm qua họ chưa nói bởi vì chưa đúng lúc thế thôi. Hiện nay thời điểm năm 2008 này có lẽ bọn cầm quyền Việt Gian Cộng sản cũng đã hết thời và tất cả bọn chúng đều là những tên tội đồ của dân tộc, sẽ bị xét xử theo luật cách mạng và đời đời chịu sự phê phán nghiêm khắc của lịch sử.

Sĩ Phu Việt họ là những người đồng chất, có cùng một tần số rung động, nên nhận ra nhau và chấp nhận nhau thật dễ, chẳng cần biện bạch rườm rà, chỉ qua một câu nói gọn, ngắn, một cử chỉ nhẹ nhàng, trầm tĩnh, là họ đã hiểu nhau, như đã từng quen biết từ một tiền kiếp xa xưa lắm! Với cùng một vấn đề, họ thường có cùng một giải đáp. Do đó, họ chỉ trao đổi với nhau những gì thực sự quan trọng, vì chuyện đất nước là chuyện dài lâu. Đó là lý do để giải thích tại sao các sĩ phu Việt họ không vội vã trong ván bài Nguyễn Chí Thiện.

Đây là cơ hội cuối để cho những ai đã từng lầm tưởng và tin theo nhóm của tên Nguyễn Chí Thiện để thích nổi danh và nổi tiếng. Hôm nay diễn viên Nguyễn Chí Thiện thật sự đã được bạch hóa, màn kịch Nguyễn Chí Thiện cũng đã từ từ hạ xuống, giới “hoạt động văn hóa” Mỹ cũng như các quốc gia khác họ đã biết từ lâu. Chỉ có những người thích nổi danh và nổi tiếng đang ồn ào bênh vực cho Nguyễn Chí Thiện vẫn chưa biết. Tiếc thay!. Từ thời điểm này quý vị nên tự mình nói lên những điều chân thật nhất từ lý trí của mình. Vì “đất” của Saigon Nhỏ vẫn đang còn dành chổ cho quý vị. Cộng đồng người Việt hải ngoại vẫn còn dành nhiều cảm tình cho những ai biết lẽ phải và còn thương yêu đất nước.

* Lỗi lầm tại ai ? xét ra tất cả

* Mấy ai người đem hết tâm can?

* Trước quân thù hung hiểm gian ngoan

* Biết bao kẻ mơ hồ mong hưởng lạc!

* Nghĩ tới ngày mai lòng ta tan tác

* Đến bao giờ lấy lại được giang san!

Triệu Lan

A) Chấm dứt phần I

B) Xin dành bình luận cho Ban điều hành báo Saigon Nhỏ

C) Xin đón xem phần II

http://www.hon-viet.co.uk/TrieuLan_SuThatVeLaoSiNCThien_3.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

NHỮNG KHÁC BIỆT về QUAN ĐIỂM và THÂN THẾ giữa TÁC GIẢ TẬP THƠ VÔ ĐỀ và NHÀ THƠ NGUYỄN CHÍ THIỆN

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 28, 2008

TinParis. Chúng tôi đăng lại bài viết dưới đây của ký giả Thế Huy trích từ Bán Nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong số 512 tháng 5/1997 . Thế Huy là một cây viết bình luận chánh trị nổi tiếng tại Paris.

NHỮNG KHÁC BIỆT về QUAN ĐIỂM và THÂN THẾ giữa TÁC GIẢ TẬP THƠ VÔ ĐỀ và NHÀ THƠ NGUYỄN CHÍ THIỆN

– Thế Huy –

Từ ít lâu nay một số người đã đề cập tới quan điểm đấu tranh của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, xuyên qua những bài nói chuyện của ông tại các nơi, trong hơn một năm qua. Các lời khen, chê đưa ra thật nhiều và rất mâu thuẫn với nhau, nhưng đa số sự khen, chê đó chưa dược dẫn chứng rõ ràng hoặc thiếu dữ kiện chứng minh để có thể đi đến những kết luận được coi là chính xác, nên đã làm nhiều người hoang mang, không rõ lập trường và thân thế nhà thơ Nguyễn Chí Thiện ra sao? Việc đả kích hoặc yểm trợ nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã gây rạn vỡ ít nhiều trong cộng đồng người Việt hải ngoại và đã khiến một số người trong hàng ngũ đấu tranh có những ý kiến xung đột và trở nên hiềm khích với nhau.

Trước sự kiện đó, chúng tôi thấy cần phân tích và nhìn vấn đề một cách khách quan tối đa, nhằm nêu ra những gì được gọi là chưa sáng tỏ hoặc mâu thuẫn giữa quan điểm của thi sĩ Vô Danh, tác giả tập thơ Vô Đề (được trao cho tòa đại sứ Anh ở Hà Nội ngày 16.7.1979) và quan niệm đấu tranh của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện hiện nay. Sở dĩ việc phân biệt đó được đặt ra, vì một số người đoan chắc rằng nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đang có mặt tại hải ngoại không phải là thi sĩ Vô Danh, tác giả tập thơ Vô Đề, mà hầu hết chúng ta đã được đọc qua ít nhiều từ 17 năm qua. Mổ xẻ để tìm hiểu về sự kiện đó là một công việc tế nhị, khó khăn và có thể sẽ có người cho là người viết có ý đánh phá nhà thơ Nguyễn Chí Thiện. Nhưng vì mục đích muốn cho sự thật được sáng tỏ, để từ đó, tất cả chúng ta đánh giá đúng về con người và nhìn đúng sự việc, nên chúng tôi nghĩ đến việc đưa ra những điểm được coi là bất thường và mâu thuẫn, đã làm một số người thắc mắc, để chúng ta cùng nhau suy nghĩ, góp ý và thảo luận một cách vô tư, nghiêm chỉnh, hầu đưa đến một kết luận công bình và hữu lý nhất. Bởi, mọi sự lầm lẫn trong công cuộc đấu tranh sẽ đem lại những tai hại lớn lao không những cho chúng ta mà còn di họa cho tương lai của đất nước.

Chúng tôi quan niệm rằng khi nhận định về bất cứ một sự kiện hay một nhân vật nào, người làm công việc phân tích phải bỏ ra ngoài mọi thứ tình cảm cá nhân, mọi thứ “vị tình” mà chỉ mổ xẻ sự việc với sự vô tư tối đa để bảo đảm tính chất xác thực của nó.
Những chi tiết nêu ra không hề là những lời cáo buộc hay bắt bẻ mà là những điều cần được soi sáng, nếu cá nhân của người được nói đến, thấy trong đó có sự sai lầm hoặc ngộ nhận. Mọi người sẽ nói chuyện với nhau một cách chân thành, công bằng, bình tĩnh và tương kính để mọi khúc mắc được giải tỏa, mọi việc sẽ rõ trắng, đen.

I. MÂU THUẪN về THÂN THẾ
1. Khác biệt về tuổi tác

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cho hay ông sinh ngày 27.2.1939. Theo đó thì biến chuyển Mùa Thu năm 1945, khi CS cướp chính quyền tại Hà Nội thì NCT mới 6 tuổi. Nếu NCT là thi sĩ Vô Danh thì vô lý, vì trong tập thơ Vô Đề, tác giả Vô Danh lúc đó đã vào tuổi 20. Nhớ lại biến chuyển đó, thi sĩ Vô Danh viết:

“Tuổi hai mươi, tuổi bước vào đời
Hồn lộng cao, gió thổi chơi vơi…
…Tuổi đôi mươi nhìn đời thơ dại
Ngỡ cờ sao rựng rỡ [ghi chú: cờ VC]
Tô thắm xứ sở yêu thương
Có ngờ đâu giáo giở đã lên đường
Hung bạo phá tan bờ kim cổ.”

Giả dụ thi sĩ Vô Danh là thi sĩ NCT, và dù lúc ấy mới 6 tuổi, nhưng tự đặt mình vào tuổi tráng niên để nói lên niềm vui của thế hệ trẻ thời ấy khi thấy đất nước được Độc Lập (nhưng thực ra đã thoát từ ách thống trị của Thực Dân để đi vào một gông cùm khác còn nghiệt ngã hơn). Giả thuyết này không vững vì chính tác giả Vô Danh đã nói rằng thơ của ông là tất cả sự thật, là cùm kẹp, là máu ho lao, chứ không vẽ vời thêm bớt gì cả. Điều đó có nghĩa là nếu nhà thơ NCT là thi sĩ Vô Danh thì ít nhất ông phải sinh vào khoảng 1925, chứ không thể là 1939.

Cũng trong việc tìm hiểu tuổi tác của thi sĩ Vô Danh, người ta thấy trong bài “Tôi Đã Đi” sáng tác năm 1963, ông viết:

‘Tôi đã đi hơn nửa đoạn đường đời
Mà chưa gặp bao la và ngớt tạnh!
Buổi cất bước hồn tôi là rượu mạnh
Giờ rượu kia nhạt loãng tựa hơi sương
…Nửa đời trước đã đi vào mất mát
Của ước mơ vụn vỡ tới chân nền
Liệu ai còn can đảm gan bền
Xây lại giấc mơ vàng vụn nát!”

(trang 136, bản dịch Hoa Địa Ngục của Nguyễn Ngọc Bích)

Bài thơ này làm năm 1963, khi nhà thơ NCT 24 tuổi. Với tuổi ấy, nhà thơ không thể nghĩ là mình đã sống hơn nửa đời người được. Đời một người thường được tính là 70 tuổi. Tâm trạng trên chỉ đúng nếu ông sinh vào khoảng 1925 như giả thuyết đã nêu ra ở trên vì năm đó (1963) ông đã 38 tuổi. Với tuổi xấp xỉ 40 ấy, tác giả mới có thể nói là mình sống hơn nửa đời người được.

Tập thơ Hoa Địa Ngục 2, trong một bài rất dài từ trang 46 đến trang 48, nhà thơ NCT viết về kỷ niệm và những hình ảnh an bình khi ông còn ở tuổi thanh niên, đã biết uống rượu, có bạn gái và uống cà phê pha rượu mạnh:

“Ta nhớ những buổi tối mùa đông
Đi xi nê về ăn phở ấp chảo
Phở nóng, rượu cay, tỏi ớt càng cay!
… Ta ngồi bên ly cà phê pha rượu mạnh
Nhìn dòng người, dòng xe khoe tươi lộng lẫy
…Quanh hồ Gươm ta mặc toàn đồ trắng dạo chơi
…Mùa hè, ăn bánh tôm bên hồ Tây
Cô bạn ngồi bên như nàng tiên vậy”
(1986)

Năm 1986 nhà thơ NCT hồi tưởng quá khứ và làm bài thơ này. Người ta tự hỏi: Cái thời vàng son, thanh bình đó là thời điểm nào? Trước khi CS chia đôi đất nước? Tối đa, năm 1952/1953, nhà thơ NCT mới 13, 14 tuổi. Ở ngoài Bắc, thời đó, người thanh niên có học, gia đình nề nếp, biết uống rượu, có bạn gái phải là tuổi trên dưới 20. Ông NCT 20 tuổi năm 1959. Chẳng lẽ vào năm 1959 hoặc vào đầu thập niên 1960, dưới thời CS, mà ở Hà Nội có người công tử mặc toàn đồ trắng dạo chơi quanh Hồ Gươm nhàn hạ, thanh bình, sung túc và sang trọng như thế sao? Những năm ấy mà khung cảnh Hà Nội còn nhộn nhịp, lộng lẫy và nhiều xe hơi đến thế sao? Hình ảnh đó chỉ có thể có được trước năm 1954. Nếu quả thật khi nhà thơ NCT ở vào tuổi 20 (1959) mà ông còn được sống như thế thì hẳn ông phải thuộc vào thành phần được ưu đãi. Nhà thơ NCT khẳng định rằng những gì được nói đến trong thơ, ông không thêm bớt mà còn “theo sát sự thật tới độ tỉ mỉ”. Nếu tại Hà Nội những năm 1959/1960 mà còn cảnh ấy thì điều đó làm nhiều người rất ngạc nhiên.
Nhà thơ cũng cho biết rằng ông tốt nghiệp trung học năm 1955, tức là năm 1954 mới 15 tuổi ông đã đậu tú tài 1, nghĩa là ông phải làm đơn xin miễn tuổi để dự thi? Nghề nghiệp chính thức của ông là dạy Anh văn và Pháp văn. Ông đi tù lần đầu từ tháng 5.61 đến tháng 11.64, lần thứ nhì từ tháng 2.66 đến tháng 7.77. Trong thời gian được thả từ tháng 11.64 đến tháng 2.66 thì ông dịch sách và cư trú tại Hải Phòng.

2.Về gia đình

Thi sĩ Vô Danh là người con độc nhất trong gia đình, không vợ, không con. Trong tập thơ Vô Đề ông viết:

“Tôi, một kẻ không gia đình, bè bạn
Sống một mình, bệnh hoạn, xanh xao
Chủ nhật, ngày thường tôi thấy như nhau
Những khi buồn tôi đem điếu ra lau
Hoặc khe khẻ ngâm vài câu thơ cổ.”

Bài thơ này cho chúng ta thấy hình ảnh một người có thể lớn hơn nhà thơ NCT một thế hệ, biết khá nhiều về thơ cổ, chịu ảnh hưởng, của văn hóa Trung Hoa, và cũng còn là người theo Tây học, có đủ khả năng để viết bức thư kèm theo tập thơ Vô Đề, nhờ Toà Đại Sứ Anh phổ biến.
Qua hơn 100 bài sáng tác suốt thời gian đi tù, in trong tập thơ Vô Đề, thi sĩ Vô Danh không hề đề cập đến ai trong thân quyến, ngoại trừ cha mẹ ông, khiến người ta cho rằng ông không còn người thân ruột thịt nào khác.
Trong khi đó, nhà thơ NCT cho hay ông có hai người chị, một người tên là Hảo và một người anh theo quân đội Quốc Gia, di cư vào Nam năm 1954, tên là Nguyễn Công Giân, cựu trung tá P2/TTM hiện nay ở Mỹ.

Hoa Địa Ngục tập 2, trang 144 ông viết:

Ba chục năm trời không thấy mặt nhau
Non nuớc chia đôi, rồi tù lao thăm thẳm
Em vẫn mơ ngày tay anh em nắm
Nước mắt sẽ trào ra sung sướng, thương đau
Ruột thịt chia lìa đớn đau
Gặp nhau anh chị em mình sẽ khóc
Chìm đắm giữa lao tù chết chóc
Em vẫn cầu trời cho bốn anh chị em mình
Có ngày được ăn bữa cơm đoàn tụ bên nhau…”

Ngoài ra trong tập HĐN 2, nhà thơ cũng nhiều lần vọng tưởng đến ngày cũ, trong đó có hình ảnh của anh chị, qua các bài thơ in ở các trang 43, 47… Tuy nhiên, người ta cũng có thể cho rằng, sau này với tuổi đời chồng chất, con người nghĩ đến tình ruột thịt nhiều hơn, và tâm tư đó được thể hiện qua tập thơ HĐN 2.

3.Bệnh lý

Thi sĩ Vô Danh bị bệnh lao nặng, ho ra máu sau nhiều năm bị cùm kẹp, đày ải. Ông viết:

Thơ của tôi không có gì là đẹp
như cướp vồ, cùm kẹp, máu ho lao
như chết chóc, mồ hôi, báng súng!
Thơ của tôi là những gì kinh khủng
như Đảng, Đoàn, như Lãnh Tụ, Trung Ương
thơ của tôi kém phần tưởng tượng
nó thật như tù, như đói, như đau thương!
thơ của tôi chỉ để đám dân thường
nhìn thấu tim đen phường quỷ đỏ.”

Khi được hỏi là có bị bệnh lao hay không, nhà thơ NCT trả lời rằng ông không bị lao mà bị suy yếu thần kinh. Nếu ông là tác giả tập thơ Vô Đề và bị ho lao, bị đày đọa trong tù CS thêm 12 năm, khổ sở, thiếu thuốc men thì người bệnh khó sống sót được đến nay. Tóm lại là thi sĩ Vô Danh bị lao nặng, còn nhà thơ NCT thì không, và hai người không thể là một, nếu cả hai đều nói đúng sự thật.

4. Tấm hình chụp nhà thơ NCT trong văn phòng giám thị trại Ba Sao

Ngay trang bìa của tập thơ HĐN2, xuất bản tại Mỹ năm 1996, nhà thơ NCT đã cho in tấm hình chụp ông trong văn phòng trại tù. Qua đó, người ta thấy dù ở tù nhà thơ vẫn ăn mặc tươm tất, ngồi uống trà với tên giám thị trại Ba Sao như trong một cuộc mạn đàm an nhàn, thoải mái. Người ta ghi nhận văn phòng có cả sa lông, khá lịch sự so với một trại giam. Điều đó làm cho một số người có cảm tưởng là trong chế độ lao tù CS, tù nhân cũng được đối xử khá nhân từ và tử tế. Tuy nhiên, việc đó vẫn chưa quan trọng. Việc đáng nói ở đây là: ai đã chụp tấm hình ấy? Có lẽ là nhân viên trại tù chụp? Vì chắc chắn họ mới có quyền đó! Nếu vậy, tại sao nhà thơ NCT lại có một tấm để đem in cho chúng ta xem? Nếu đó là tấm hình nhằm tạo một bộ mặt sạch sẽ, “đạo đức giả” cho chế độ lao tù CS thì tại sao nhà thơ NCT lại có thể thờ ơ cho in vào bìa sách? CS đưa tấm hình này và ép ông in vào tập thơ ấy chăng? Nhà thơ NCT có vô tình khi cho in nó ngay ở trang bìa như thế không?

Ông Nguyễn Công Giân, anh của nhà thơ NCT, sĩ quan Phòng 2/TTM, có thể làm chứng rằng: ngay dưới thời VNCH, những hình chụp trong trại giam cũng không bao giờ lọt được vào tay tù nhân, nếu không vì một mục đích liên quan nào đó! Dĩ nhiên, dưới chế độ công an trị, VC còn nghiêm ngặt và cẩn thận ngàn lần hơn nữa. Thế thì, tại sao nhà thơ có tấm ảnh ấy?

5. Khả năng sinh ngữ

Trong Lời Nói Đầu của tập thơ HĐN 2, nhà thơ NCT tiết lộ rằng người dân chỉ cần ca ngợi hàng hóa Pháp, Mỹ hay chê bai sản phẩm của Nga, Tàu cũng đủ đi tù. Từ sự kiện ấy, tôi tự hỏi: Trong tình thế đó, người ta có thể mang từ điển, sách vở chữ Pháp và chữ Anh vào để tù nhân trau dồi, học thêm không? Chắc là không! Vì cũng trong Lời Nói Đầu, nhà thơ NCT cho hay là trong tù công an khám xét và kiểm soát thường xuyên! Vậy thì, ông chỉ có thể học Anh, Pháp trước 1954.

Với tuổi 15 nhà thơ NCT đã thuộc rất nhiều thơ cổ, thuộc nhiều chuyện Tàu, điển tích; khá giỏi Hán văn mà còn làu thông cả hai sinh ngữ Anh, Pháp; để nhiều chục năm sau đó, ra khỏi tù còn có thể dịch sách hoặc dạy học được thì ông học tất cả những thứ đó hồi nào? Ông học chữ Pháp ở đâu để có đủ khả năng viết lá thư kèm theo tập thơ Vô Đề đưa vào Toà Đại Sứ Anh? Vả lại, sinh ngữ rất dễ quên, nếu không thường xuyên sử dụng. Có người nói rằng ông học trường Lycée Albert Sarraut ở Hà Nội trước đây. Hiện nay, tại Paris có Hội Cựu Học Sinh Lycée Albert Sarraut, do một người Pháp làm chủ tịch nên chỉ cần biết là nhà thơ học tại đó năm nào thì người ta sẽ rất dễ dàng kiểm chứng. Đọc bức thư thi sĩ Vô Danh gửi cho Tòa Đại Sứ Anh, người ta phải nhận rằng một người nhiều chục năm không sử dụng chữ Pháp như ông mà viết được như thế thì trình độ Pháp văn của ông phải vững lắm! Nhưng người lớn tuổi càng không thể quên rằng thời điểm 1945-1949 là những năm ở miền Bắc, hầu hết mọi người đều phải tản cư rồi hồi cư, nên dĩ nhiên, việc học của giới trẻ bị gián đoạn và chậm trễ rất nhiều. Nhiều người bằng tuổi nhà thơ NCT mà khi di cư vào Nam mới bắt đầu học lớp Nhất để thi tiểu học.

Năm 1954, ngay sau thời buổi loạn ly ấy, nhà thơ mới 15 tuổi, học trường Tây mà đã có bằng tú tài 1, thì có lẽ thanh niên cả Hà Nội lẫn Hải Phòng đều ít nhiều nghe tiếng. Có người cho hay là nhà thơ NCT chỉ được người chị ruột tên Hảo, dạy tiếng Pháp cho ông khoảng 6 tháng. Nếu điều đó đúng thì chắc chắn ông không thể viết được một lá thư suông sẻ, gẫy gọn và súc tích bằng tiếng Pháp, nguyên văn như sau:

“Monsieur,
C’est au nom des millions de victimes innocentes de la dictature , déjà succombèes ou subissant encore une mort lente et douloureuse dans les bagnnes communistes, que je vous prie de faire publier ces poèmes dans votre pays libre. C’est le fruit de mes vingt ans de travail. La plupart en ont été nées dans mes années de détention. Je pense qu’à nous, les victimes, il appartient plus qu’à personne d’autre de montrer au monde les souffrances incroyables de notre peuple opprimé et torturé à merci…
De ma vie brisèe, il ne reste qu’un seul rêve, c’est de voir le plus grand nombre possible d’hommes prendre conscience de ce que le communisme est un grand fléau de l’humanité. Veuillez agréer, Monsieur, l’expression de ma profonde reconnaissance ainsi que celle de mes compatriotes infortunés!.”

Tạm dịch:

“Thưa ông,
Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải kéo dài cái chết chậm chạp và đau đớn trong ngục tù CS, tôi xin ông vui lòng cho xuất bản tập thơ này tại phần đất tự do của quý quốc. Đây là kết quả hai muơi năm làm việc của tôi. Phần lớn được sáng tác trong những năm tôi bị giam cầm. Tôi nghĩ rằng hơn ai hết, chính chúng tôi, những nạn nhân, có trách nhiệm phơi bày cho thế giới thấy sự đau đớn không thể tưởng tượng nỗi của dân tộc tôi đang bị áp bức và hành hạ thẳng tay…
Cuộc đời tan nát của tôi chỉ còn một ước mơ, đó là được thấy nhiều người ý thức rằng chủ nghĩa CS là một tai họa khủng khiếp cho nhân loại. Xin ông nhận nơi đây lòng biết ơn sâu xa của tôi, cũng như của đồng bào bất hạnh của tôi”
[Bức thư không ký tên]

Nếu cho rằng ông nhờ ai sửa chữa hoặc viết hộ thì lại càng vô lý hơn vì trong chế độ VC kìm kẹp, mọi người phải nghi ngờ và báo cáo lẫn nhau ấy, không ai điên rồ đến độ nhờ người khác viết hộ, và cũng chẳng ai muốn dính líu vào một bức thư bị coi là “phản động” như thế.

6. Sinh quán và trú quán

Nếu người viết không lầm thì nhà thơ NCT sinh quán ở Hà Nội, và năm 1959 về sống tại Hải Phòng. Trong chuyến đi gặp gỡ người Việt tại Âu Châu vào giữa năm 1996, ông được mời nói chuyện và dùng cơm ở vùng St. Quentin-en Yvelines, thuộc ngoại ô Paris . Trong cuộc mạn đàm giữa bữa cơm, ông Giác, một người quê quán tại Hải Phòng, sinh năm 1936, hiện cư trú tại Ivry/Seine, hỏi thăm nhà thơ về một số người có tiếng tại địa phương, và nhất là về một số địa danh ở Hải Phòng trước sự có mặt của một số người ngồi chung bàn, nhưng nhà thơ NCT có vẽ ngỡ ngàng, ậm ừ, hầu như không biết, khiến ông Giác rất ngạc nhiên. Ông Giác cũng cho biết thêm rằng năm 1954, ông đậu bằng tú tài 1, lúc 18 tuổi đã được coi là sớm lắm vì hầu hết những người bạn cùng lứa tuổi với ông mới học lớp đệ ngũ, và nhà thơ NCT còn kém hơn ông tới 3 tuổi.

7. Nhà thơ NCT và Phong Trào Nhân Văn Giai Phẩm

Không hiểu có lúc nào nhà thơ NCT xác nhận là ông ở trong số các nhà văn dính líu đến Vụ Án NVGP hay không, nhưng chẳng hiểu vì đâu, dư luận hầu hết cho rằng ông có tham gia phong trào này.

Cũng cân nhắc lại là trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất được CS phát động từ năm 1954 tới 1956 tại miền Bắc, đã gây hoang mang kinh hoàng không những trong dân chúng mà còn làm chấn động hàng ngũ VC, bởi nhiều tên cán bộ rất có công với Đảng cũng vẫn bị đấu tố và sát hại vì họ bị xếp vào thành phần tư sản. Do đó, Hồ Chí Minh bắt buộc phải trấn an bằng cách truất chức Tổng bí thư Đảng của Trường Chinh, người chỉ huy cuộc cải cách. Song song với việc gọi là Sửa Sai ấy, cuối năm 1956, HCM đưa ra một cái bẫy khác để triệt gọn mầm mống chống đối của thành phần trí thức còn ngấm ngầm bất mãn. HCM kêu gọi trí thức thẳng thắn phê bình các khuyết điểm và sai lầm của Đảng để Đảng sửa sai. Một số nhà văn, nhà thơ tin vào sự biết điều của y. Đó là lý do thành hình Phong Trào và của các số báo NVGP với các bài viết nói lên nỗi bất bình của một số người tiêu biểu cho giới sĩ phu miền Bắc nói chung. Việc gài bẫy này đã đưa nhiều chục nhà thơ, nhà văn và trí thức trong cũng như ngoài đảng vào tù, trong đó có Nguyễn Mạnh Tường và Trần Đức Thảo, là hai người có bằng tiến sĩ, từ Pháp về tham gia kháng chiến. Sau khi HCM đoạt được mục đích, phong trào bẫy sập này bị dập tắt ngay.

Nếu nhà thơ NCT tham gia phong trào này, thì tại sao không ai tìm thấy bài viết nào có tên ông? Vả lại, thời đó NCT mới 17/18 tuổi, hẳn rằng chưa mấy tiếng tăm. Hơn nữa, người ta cần hiểu rằng ngôi thứ trên các chiếc chiếu văn học VN, nhất là ở Bắc Hà, vô cùng khó khăn, nghiệt ngã. Một thanh niên trẻ mới vào đời, ở tuổi ấy (ngoại trừ là thần đồng) dù tài giỏi tới đâu cũng khó được các bậc truởng thượng, danh vọng cho ngồi chung chiếu.

Tác giả Nguyễn Hưng Quốc, trên VNTP số ra mới đây, tiết lộ rằng có người đã hỏi hai ông Nguyễn Mạnh Tường [còn sống] và Trần Đức Thảo [mới chết ở Pháp vài năm nay] thì cả hai đều không biết ai là NCT trong nhóm NVGP cả. Sự kiện ấy chẳng biết sai, đúng ra sao? Riêng về thi sĩ Vô Danh, tác giả tập thơ Vô Đề [sinh khoảng 1925] thì với khả năng và tuổi tác ấy, rất có thể có tên trong phong trào này, nhưng thật ra, người ta cũng chưa biết rõ tên tuổi thật của ông ra sao, để tiện việc tra cứu!

8. Thi sĩ Vô Danh đã có thời lầm tưởng CS là nguời yêu nước

Ngoài việc năm 1945, khi nhìn cờ đỏ sao vàng của VC đã tưởng rằng đó là lá cờ đã tô thắm màu xứ sở yêu thưong, thi sĩ Vô Danh “hình như” đã có thời đi theo cái Đảng bạo tàn ấy vì lầm lẫn. Ông viết:

“Mỗi lầm lỡ, một mảnh lòng rạn vỡ
Song thời gian hàn gắn được đôi phần
Riêng cái lầm nơi đất đỏ [ý nói CS] dung thân
Thời gian khoét to và sâu bất tận!
Cuộc đời tôi có nhiều lầm lẫn
Lầm nơi, lầm lúc, lầm người
Nhưng cái lầm to uổng phí cả đời
Là đã ngốc, nghe và tin CS”
[1963]

Nếu nhà thơ NCT là thi sĩ Vô Danh thì ông quá nhỏ vào năm 1945 nên chẳng biết gì để lầm lỡ. Năm 1954-1956, khi VC giết hàng trăm ngàn người một cách tàn bạo thì nhà thơ mới 15/17 tuổi. Không lẽ, sau biến cố kinh hoàng ấy, khi vào tuổi trưởng thành [khoảng 1957-1960] ông NCT còn tin CS để rồi năm 1963 phải thốt ra qua lời thơ đau đớn trên?

9. Năm 1960 thi sĩ Vô Danh đã bị tù nhiều lần

Tập thơ Vô Đề, trong một bài thơ đề năm 1960, thi sĩ Vô Danh viết:

Đời Tôi Sẽ
Đời tôi rồi sẽ tới đâu?
Lòng tôi cũng chẳng tìm câu trả lời!
Nhà lao nay bước chân rời
Ngày mai có thể như chơi lại vào
Đất này là thế biết sao?
Tội hay vô tội luật nào xét cho?
………………
Nhiều khi tôi tự nhủ mình
Phải phòng lúc bất thình lình bị tôm
Áo quần sắp sẵn sớm hôm
Để khi bị bắt là ôm đi liền!
Cuộc đời kể cũng hơi phiền.
[1960]

Nội dung của bài thơ cho thấy thi sĩ Vô Danh đã ra vào nhà tù VC đôi lần, trước khi làm bài thơ này năm 1960. Ngược lại, nhà thơ NCT cho hay là ông bị tù lần đầu vì lệnh tập trung cải tạo từ tháng 5/1961 đến tháng 11/1964. Lần thứ hai từ tháng 2/1966 đến tháng 7/1977 và lần thứ ba từ tháng 7/1979 đến tháng 10/1991. Điều đó làm người ta ngạc nhiên, vì nếu nhà thơ NCT là tác giả của tập thơ Vô Đề thì ông đã bị VC bỏ tù từ trước năm 1960, như bài thơ vừa dẫn chứng, chứ không phải đến tháng 5/1961 mới đi tù lần đầu như sự tiết lộ của ông!

II. NHỮNG ĐIỂM ĐÁNG GHI NHẬN VỀ QUAN ĐIỂM CỦA NHÀ THƠ NCT
1. Về vấn đề Hòa Hợp Hòa Giải với VC

Nhận định về v/đ HHHG Quốc/Cộng, nhà thơ nói ngụ ý rằng: không thể nói truyện HHHG khi VC cỡi lên đầu, lên cổ, bịt miệng kẻ khác, ngồi ở trên mà vỗ xuống được. Muốn HHHG thì họ phải tuột xuống, nói chuyện bình đẳng để bàn việc xây dựng đất nước.

Câu nói gợi hình đó được nhiều người tán thưởng, nhưng ý nghĩa đích thực của nó là: Chấp nhận nói chuyện, bàn thảo, thương lượng với nhà cầm quyền CS, nhưng với điều kiện là VC chấm dứt việc bắt bớ, kìm kẹp như từ trước tới nay. Chủ trương này trái ngược với lập trường của tác giả tập thơ Vô Đề vì thi sĩ Vô Danh quan niệm là phải tận diệt mọi mầm mống CS, chứ không thảo luận hay hợp tác với chúng được.

Bình thường, trước khi hai phía đối nghịch ngồi vào bàn hội nghị thì cả hai đều nghĩ rằng mình không thể đè bẹp nỗi đối phương nên phải thương lượng, nhân nhượng nhau tới một mức độ nào đó có thể chấp nhận được. Nếu chúng ta yếu thì nhất định VC chẳng đếm xỉa! Ngược lại, nếu chúng ta nắm nhiều ưu thế thì cứ tiếp tục phát triển để sau đó triệt tận gốc bọn tội đồ bất lương đã đày đọa cả dân tộc suốt mấy chục năm qua, chứ tại sao lại phải bàn chuyện xây dựng đất nước với bọn người chắc chắn là không bao giờ nghĩ đến việc ấy?

Ngoài ra, khi nói đến thảo luận là nghĩ đến việc sẽ đi đến một giải pháp êm đẹp và hòa bình, chấp nhận lẫn nhau. Qua ý nghĩa của lời phát biểu trên, nhà thơ NCT đặt điều kiện là VC phải chấm dứt việc áp chế, đàn áp thì mới nói đến chuyện HHHG được. Điều đó có nghĩa là: Các cuộc thảo luận ấy có thể sẽ đi đến kết quả là VC vẫn cầm quyền, hay ít ra, VN sẽ có một chính quyền hỗn hợp Quốc/Cộng, chứ không có việc VC thảo luận với người Quốc Gia để rồi bó tay chịu chết hoặc lặng lẽ ra đi. Nếu vậy, VC chẳng dại gì làm việc ấy, nhất là trong tình thế hiện nay.

2. Vấn đề dân chủ đa nguyên

Một số người, có lẽ dựa vào các bài nói chuyện của nhà thơ để đi đến kết luận rằng ông ủng hộ vấn đề đòi hỏi VC chấp nhận cho thành lập các đảng phái và hoạt động tự do ở VN. Thật ra, đây là hình thức sinh hoạt mà các nước tự do, dân chủ đã áp dụng ngót một thế kỷ qua, không có gì mới lạ, đáng nói. Tuy nhiên, trong bối cảnh chính trị ở VN hiện nay, khi vấn đề này được một số người Việt thiên tả ở hải ngoại đưa ra và cổ súy thì chiêu bài này đã làm nhiều người dị ứng vì người ta hiểu rằng nó hàm chứa ý nghĩa việc dọn đường cho VC tái lập một số đảng ma mãnh như đã từng lập ra các đảng tay sai và bù nhìn trước đây, để CS vẫn nắm quyền. Dĩ nhiên, trong trường hợp chẳng đặng đừng, để tô điểm bộ mặt dân chủ giả tạo, VC sẽ cho các đảng như Đại Việt, Quốc Dân Đảng hoạt động, nhưng do những người ở trong nước, ít nguy hiểm đối với chúng, chỉ huy. Hơn nữa, trong mấy chục năm bị truy lùng, đàn áp, đảng viên của hai đảng ấy còn lại bao nhiêu người, ở tuổi nào, còn đủ nhiệt tình, đủ sức khỏe và lực lượng để đuơng đầu với tình thế không? Vả lại, với tư thế của kẻ nắm quyền và với con số hơn hai triệu đảng viên dù chỉ vì cơm áo, VC dư sức đè bẹp bất cứ đảng phái nào, dù các đảng phái ấy có liên minh với nhau cách nào chăng nữa.

Với quá khứ lịch sử và với kinh nghiệm đã xảy ra, người ta cho việc đòi VC áp dụng dân chủ đa nguyên trong lúc này là để “trù liệu một lối thoát cho VC” nếu chẳng may, trong tương lai chúng bị rơi vào một thế yếu, và đó là kế hoạch do chính VC đề xướng để đứng đàng sau chỉ huy. Chống “chiêu bài dân chủ đa nguyên trong khi VC vẫn cầm quyền” vì người ta coi đó là kế hoạch lùi một bước dể tiến ba bước của VC. Dụng tâm của việc đòi VC áp dụng chế độ Dân Chủ Đa Nguyên trong lúc này là nhìn nhận VC như một “thực thể hữu quyền”, “có chính danh” để từ đấy, đúng chung và đòi chia chác chút quyền uy, bổng lộc với chúng, dù biết rõ chúng vẫn là thứ phản trắc, bất nhân.

Một số người tán đồng việc áp dụng nguyên tắc Dân Chủ Đa Nguyên ở VN [nghĩa là mọi chính đảng đều được hoạt động tự do], nhưng đảng CS phải bị cấm vì đó là một đảng có tội với đất nước trong quá trình lịch sử suốt mấy chục năm qua.

3. Văn học phản kháng là có thật

Trong các cuộc gặp gỡ có tính cách tâm sự với nhà thơ, chỉ có vài người khác hiện diện, tôi kể lại việc ngày Nhân Quyền năm 90, tôi được mời nói chuyện tại PZEN trước hơn 1.000 người thuộc thành phần lao động hợp tác và nghiên cứu sinh do VC gửi sang Tiệp. Đó là những người “tỏ ra” có chiều hướng chống nhà nước VC và muốn xin tỵ nạn chính trị, đúng lúc Tiệp vừa thoát ách CS và kịch tác gia Vaclav Havel vừa được bầu làm Tổng thống. Dạo ấy, người viết phân tích về một số vấn đề, trong đó có “phong trào Văn Học Phản Kháng” đang là một hiện tượng nóng bỏng và được nhiều người ca ngợi. Người viết kể với nhà thơ rằng đã vạch ra cho họ thấy các điểm chưa tích cực của những nhà văn như Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Trần Mạnh Hảo… vì những người ấy chỉ đề cập đến các tệ trạng có tính cách cục bộ, địa phương của các cá nhân mà chưa dám đụng tới những sai lầm căn bản của chế độ và nhất là của chủ nghĩa. Chính những thứ đó mới là nguồn gốc căn bản của nỗi đau thương mà con người trong xã hội ấy phải chịu đựng. Những sai lầm đó chẳng khó khăn gì để tìm ra, nhất là với các nạn nhân sống nhiều chục năm ngay trong môi trường ấy. Vả lại, trước phong trào Văn Học Phản Kháng ở VN, các nhà văn Nga lưu vong đã đề cập tới những nguyên nhân đó từ nhiều chục năm trước. Người viết cho là việc đả kích của giới cầm bút ở quốc nội vẫn nằm trong “vòng phấn giới hạn và được cho phép của chế độ”, bởi lẽ nó chỉ được bắt đầu sau khi Nguyễn văn Linh, TBT Đảng ra lệnh cởi trói văn học. Nó không là sự tự phát mà chỉ là việc “thực hiện chỉ thị và kế hoạch” của đảng CS mà thôi.

Sư thiếu khâm phục, được coi là ghẻ lạnh về hiện tượng được đánh giá là can trường đó đã khiến một số nghiên cứu sinh VN ấm ức, bởi đối với họ, Dương Thu Hương, Nguyễn HuyThiệp và các người tham gia phong trào ấy là những thần tượng . Tôi nói với nhà thơ rằng hôm ấy tôi giải thích là tôi không chỉ trích những người tham gia phong trào, mà là chỉ cho họ và mọi người thấy sự kém tích cực của họ và vạch cho họ nhìn rõ điểm cốt lỏi cần phải đả kích và khuyến khích họ đi xa hơn nữa mà thôi. Người viết kết luận là: Nhóm Văn Học Phản Kháng chỉ dám nói tới những gì được đảng CS “cho phép” nói. Nhà thơ trả lời rằng hai chữ “cho phép” nên sửa lại là “có cơ hội”. Theo đó, ý kiến của nhà thơ NCT được hiểu là: Văn Học Phản Kháng mấy năm trước đây tại VN là một phong trào tự phát sau khi giới cầm bút ở trong nước được cởi trói, chứ không do CSVN đạo diễn. Nhân dịp này nhà thơ cũng cho hay rằng Dương Thu Hương sau chuyến đi Pháp và một vài nước Âu Châu về thì bị nhà nước gây khó khăn và phiền phức lắm! Nếu quả thật như thế, thì một câu hỏi khác được đặt ra là: Với kinh nghiệm bất lợi khi cho Dương Thu Hương đi Pháp như thế, tại sao mới đây VC lại gởi Nguyễn HuyThiệp, một người cũng thuộc khuynh hướng ấy, đi Mỹ. Họ không sợ ông này trở chứng hay sao?

4. Sự chống đối của giới cầm bút ở trong nước vẫn tiếp tục

Từ nhận định ấy của nhà thơ, người viết hỏi lại rằng nếu việc gọi là phản kháng ấy không được đạo diễn thì tại sao khi Đảng ra lệnh “hết cởi trói” thì không một ai dám hé môi hay viết lách, nói năng chi nữa? Nhà thơ NCT cho hay là sự phản kháng đó vẫn còn, nhiều người vẫn viết. Và để chứng minh điều đó, ông tiết lộ rằng hiện nay trong ngăn kéo ở tủ của ông, ở Mỹ, còn rất nhiều bản thảo các tác phẩm của một số văn nghệ sĩ gửi cho ông để nhờ xuất bản. Họ vẫn liên lạc để nhắc nhở, thúc hối ông cho in và họ sẵn sàng chấp nhận mọi tai họa về các tác phẩm ấy. Dĩ nhiên người viết không hỏi thêm là các tác phẩm gì, do ai viết, nhà thơ đem theo khi qua Mỹ hay nó mới được gửi sang vì đấy là việc tế nhị và là vấn đề liên quan đến sự an toàn của những người còn ở lại. Tuy nhiên, qua sự tiết lộ ấy, người viết khuyến khích nhà thơ cho xuất bản càng sớm càng tốt để đồng bào hải ngoại và mọi người đánh giá đúng mức thiện chí, tâm tư của giới cầm bút và của khuynh hướng chống đối ở VN. Vì nếu họ chống đối thật mà bị mọi người ghẻ lạnh, đả kích thì đó không những là điều bất công , vô lý mà còn vô tình gây phân hóa, làm giảm hiệu năng, bất lợi cho nổ lực lật đổ CS nói chung.

III. NHỮNG SỰ KIỆN BẤT THƯỜNG VÀ NGHỊCH LÝ
1.Tự do trong chế độ CSVN hiện nay

Nhà thơ cho biết là đã gặp ông Hoàng Minh Chính chuyện trò, tâm sự nên đã nói thẳng với HMC rằng, tại sao đương sự cứ lảm nhảm về vụ án “xét lại, chống Đảng” làm gì, lẽ ra phải nói về những điều khác quan trọng hơn. Nhà thơ kể là đã bảo HMC rằng: Nếu y làm Tổng bí thư Đảng thì có lẽ y cũng tàn ác chẳng thua gì những tên đầu sỏ CS đâu. Nhận xét này rất đúng. Nhưng người ta thắc mắc rằng: nếu Hoàng Minh Chính và Nguyễn Chií Thiện đều bị VC xếp vào loại chống đối, bị theo dõi thường xuyên thì không lẽ, hệ thống công an VC thờ ơ tới độ để hai người tự do gặp nhau, để rất có thể, bàn nhau chống đối hoặc làm phản nữa chăng?

Ông NCT cũng cho hay là có đến thăm viếng hoặc gặp gỡ một số nhân vật hay văn nghệ sĩ hữu danh trên lầu của Hội Nhà Văn. Ông cũng chụp hình với các nhà thơ Nguyễn Hữu Đang, Phùng Cung, Phùng Quán, Lê Dũng… có thể với nhiều người khác nữa… và cả với Việt kiều Nguyễn Hữu Hiệu, em ruột của nhà thơ Viên Linh [trong khi đó VL giữ chức Chủ tịch Văn Bút VNHN, thành phần mà VC cho là Biệt Kích Văn Hóa] từ Mỹ về thăm. Điều đó làm người ta suy nghĩ. Bởi nếu ông là người, dù được thả, nhưng vẫn bị VC theo dõi, thì ông có được phép đi lại, gặp gỡ tùy tiện như thế không? Người được ông đến thăm, phỏng chừng họ có tiếp và chụp cả hình với ông không, khi việc đến thăm đó chỉ có thể có hại chứ không lợi ích gì cho họ? Tuy nhiên, nếu sự thật là thế, phải chăng đã đến lúc chúng ta phải xét lại toàn bộ việc đánh giá về CS, vì trong chế độ ấy, một cựu tù nhân được coi là phản động như nhà thơ NCT mà còn được tự do giao tiếp, gặp gỡ những người có thành tích chống Đảng như HMC hoặc một số cán bộ hay văn nghệ sĩ khác? Ngay trong chế độ dân chủ Tây phương, sự đi lại, liên lạc của những thành phần được coi là nguy hiểm và bị quản thúc cũng vẫn luôn luôn được giới an ninh canh chừng, theo dõi.

Sự kiện trên cũng nói lên một điều đáng quan tâm khác là: Sự liên hệ, giao tiếp giữa hai thành phần làm việc cho chế dộ và những người có thành tích chống phá chế độ [như ông NCT] hài hòa và tự nhiên đến thế hay sao? Điều đáng nói thêm nữa: Đâu là lằn ranh, chiến tuyến, sự phân biệt giữa Bạn và Thù khi hai bên thường xuyên chuyện trò và lui tới với nhau?

2. Tình người giữa những kẻ trước đây ở hai chiến tuyến đối nghịch

Tháng 10/96, nhà thơ đến thăm tôi tại Paris và sau đó hai ngày, ông ăn cơm với tôi tại nhà một người bạn của tôi, cũng ở Paris . Trong các cuộc mạn đàm riêng rẽ đó, tôi nói đến sự ảnh hưởng của xã hội CS đối với con người, để đi tới kết luận là: Nếu con người phải sống nhiều chục năm trong một xã hội mánh mung, lường đảo, đói khổ và tàn ác như xã hội CS, “nếu không có ý chí mạnh mẽ” thì sẽ bị ảnh hưởng và sẽ cuốn theo, nên khó lòng tin được. Lý do là: Sống trong môi trường ấy, con người tất nhiên phải hội nhập và tàn nhẫn, lường gạt và mánh mung để tranh sống và dần dần sẽ trở thành cá tính, dù họ cũng chỉ là nạn nhân của chế độ và những người đáng thương mà không đáng trách. Qua đó, nhà thơ tâm sự rằng nhận xét đó không đúng, vì ngay khi bị tù đày, ông vẫn được “những người CS bị tù” chung giúp đỡ và an ủi.. Nếu không, ông không thể sống sót được đến nay. Người viết rất ngạc nhiên nhưng không quả quyết rằng nhà thơ nói sai, vì không ở trong hoàn cảnh ấy. Từ lâu, hầu hết chúng ta đều cho rằng: Đã theo VC thì con người sẽ mất dần nhân tính, sẽ bị ép buộc phải tàn ác, tố cáo và kiểm soát lẫn nhau và lâu dần sẽ trở nên thói quen hoặc cá tính. Lời tâm sự và câu trả lời của nhà thơ khiến người viết nghĩ ngợi rất nhiều. Cảnh đói khổ, tranh cướp trong tù VC, giết nhau vì một củ sắn, củ khoai đã được thi sĩ Vô Danh, nhà thơ NCT và cả hàng trăm tác giả khác nói đến. Lời tiết lộ ấy đi ngược lại các khung cảnh cay nghiệt mà chính ông đã viết tại trang 164, trong HĐN 2 mới xuất bản:

“Tù tội bây giờ nghĩ mà đau khổ
Chỉ vì mẫu sắn, cọng rau
Đã sẵn sàng hãm hại chém đâm nhau
Cái chuyện cùng cảnh, giúp nhau, thương nhau đã thành truyện cổ!”

Câu hỏi được đặt ra, phải chăng trong hai lần bị tù trước đây, người CS bị tù chung có một số giúp đỡ, an ủi nhà thơ, nhưng lần bị bắt sau cùng, khi làm bài thơ này thì tình thế đã đổi thay? Lời tâm sự của nhà thơ trong cuộc mạn đàm làm người ta liên tưởng tới một điểm khác: ở tù con người dễ thông cảm với nhau, dù trước đây người ta ở hai chiến tuyến khác nhau? Từ sự kiện ấy, người ta nghĩ thêm rằng: “Người CS” bị chế độ bỏ tù, một ngày nào đó có thể đứng chung hàng ngủ với những kẻ mà trước đây họ coi là kẻ thù không? Chúng ta, những nạn nhân của CS, có thể chấp nhận HHHG với nhóm cựu đảng viên VC bị chế độ bạc đãi và lợi dụng không? Đây là một vấn nạn lớn, tế nhị và phức tạp nhưng bài viết này không có mục đích mổ xẻ sự kiện đó mà chỉ nhằm nói đến quan điểm của nhà thơ nên không thể đi vào chi tiết. Người viết sinh quán tại một nơi ráp gianh với Liên Khu Tư của CS nên đã được phụ huynh kể lại cho nghe về những cuộc đấu tố của VC tại vùng Thanh Hóa đầu thập niên 1950, với các cảnh vu vạ, quy chụp, phản trắc, hành hạ con người thảm thương tới chết giữa đấu trường và cả các cuộc chôn sống nạn nhân rùng rợn, man rợ hơn cả thời trung cổ. Những điều này cũng đã được mô tả phần nào trong cuốn “Tình Người Bên Kia Chiến Tuyến” của tác giả Đỗ Quốc Anh Thư! Đó là những dấu ấn không nhòa phai được về hình ảnh và về nhân tính của người CS nói chung.

3. Trong cấp lãnh đạo của CSVN nhiều người muốn trở thành Yeltsin

Cũng trong các cuộc mạn đàm chỉ có một vài người khác tham dự, nhà thơ đã cho biết nội bộ VC nát bét, chứ không hợp nhất như một số người suy nghĩ! Tình hình có thể nổ tung bất cứ lúc nào vì bọn chúng, một số khá đông, có máu “Thủy Hử” trong người, nhiều tên có thể trở thành Yeltsin như Tổng thống hiện nay tại Nga. Nhận xét đó có nghĩa là rất có thể trong bọn đầu sỏ VC sẽ có kẻ đứng lên làm đảo lộn tình thế, để VN thoát khỏi cảnh ngục tù, bế tắc hiện nay, như Yeltsin đã làm trước đây. Tưởng cũng cần nhắc lại rằng Yeltsin cũng là một đảng viên kỳ cựu của CS Nga, nhưng sau nhiều chục năm mê muội, ông xé thẻ đảng và ít lâu sau, là người đã cứu nước Nga ra khỏi ách CS. Có thể nhà thơ ở trong nước nên nhìn rõ vấn đề và có liên hệ rộng rãi nên đánh giá tình hình sát với thực tế hơn chăng? Riêng đồng bào hải ngoại ít ai tin tưởng là việc ấy có thể xảy ra. Nếu niềm hy vọng ấy có thể thành sự thật, phải chăng người Việt hải ngoại nên tạo thêm cơ hội để nó sớm xảy ra và sẵn sàng trong tư thế yểm trợ những vị Yelsin VN ấy cho dễ thành công?

Trong các cuộc nói chuyện trước cử tọa, nhà thơ cũng nói ngụ ý là Cộng Đồng NgườI Việt HảI NgoạI yểm trợ cuộc đấu tranh ở trong nước. Câu hỏi đặt ra là: Đó là cuộc đấu tranh nào? Do ai khởi xướng? Yểm trợ cuộc đấu tranh của Phật giáo hay Đoàn Viết Hoạt? Nguyễn Đan Quế? Hoặc yểm trợ Nguyễn Hộ, La văn Liếm? Lê Hồng Hà? Tiêu Dao Bảo Cự? Hà Sĩ Phu? Dương Thu Hương? Hay yểm trợ tất cả? Bất cứ ai gọi là đấu tranh mình cũng yểm trợ, không cần để ý vì lý do nào mà họ chống đối? Nếu thế, vấn đề sẽ trở nên phức tạp, vì NgườI Việt HảI Ngoại không nắm đủ chi tiết về những việc xảy ra ở trong nước nên việc yểm trợ, cổ võ hoặc nghi ngờ, đả phá phong trào này, phe cánh khác cũng đã và sẽ còn tiếp tục gây đổ vỡ trong khối Người Việt Tiị Nạn CS nói chung.

Nếu ghép hai sự việc được nêu ra trong tiểu mục vừa được đề cập đến ở trên, người ta tự hỏi: Phải chăng nhà thơ nhắn chúng ta yểm trợ những Yeltsin VN sẽ xuất hiện ở quốc nội? Với cái nhìn có thể mang ít nhiều tính cách chủ quan, một số người tự hỏi: Chả biết ông Yeltsin VN tương lai nào đó có thật tâm không, hay lại là con bài của Bộ Chính Trị VC, nhằm đưa đất nước vào cảnh khốn cùng khác nữa không?

Trong khi đó, tập thơ HĐN 2, trang 168, nhà thơ viết:

“Hờn căm năm tháng nấu nung sôi
Sôi mãi cũng bốc hơi rồi cạn
Phải sử dụng hờn căm, ôi các bạn
Đúng vào lúc nó sục sôi!”

Và trang 171:

“Đảng viên Đảng rèn không còn nhân tính
Nhường chỗ cho thú tính phát sinh
Năm rồi năm, thú tính tăng dần
Tăng mãi, tới khi thành đảng tính”

Không biết câu này được sáng tác năm nào vì không đề ngày, nhưng chắc chắn nó được làm khi nhà thơ còn uất hận, hờn căm còn sôi, nên ông cho là ai đã theo VC thì chỉ còn thú tính. Nhận xét ấy trái ngược với quan điểm khi ông được tự do rồi ra hải ngoại “hận thù đã cạn” nên mới tin là bọn VC cao cấp còn có một số người muốn trở thành Yeltsin?

Nhà thơ cũng nhận định rằng bọn cán bộ VC chẳng còn ai tin tưởng vào Chủ Nghĩa Cộng Sản mà chỉ vì tiền và lợi nhuận mà thôi! Đúng ra, việc họ có còn vọng tưởng chủ nghĩa của họ nữa hay không, vẫn không là vấn đề làm chúng ta bận tâm. Họ hết tin nhưng họ vẫn cầm quyền, vẫn áp dụng một chế độ khắc nghiệt, vẫn đày đọa và đàn áp thì người dân vẫn khổ, tương lai đất nước vẫn tối tăm, và chúng ta vẫn có bổn phận phải hất đổ chúng xuống. Nay chưa làm nỗi, nhưng chúng ta phải nuôi quyết tâm ấy.

4. Ai muốn làm người lãnh đạo cuộc chống Cộng thì về VN mà làm

Ông Phạm Công Q., một người có lòng và thiện chí, cách đây 14 năm hoạt động tích cực trong Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đã rút lui và hiện ở Paris. Năm 1996, khi mới hay tin nhà thơ tới Mỹ, ông Q. đã viết một bức thư ngỏ gửi cho nhiều người, nhiều tổ chức, ở nhiều nước khác nhau để gợi ý về việc tất cả nên kết hợp với nhau, tìm một khuôn mặt đáng tin tưởng là nhà thơ NCT, nhằm thành hình một cơ cấu thống nhất, có đường lối, để làm sống lại khí thế đấu tranh hầu lật đổ VC. Khi nhà thơ tới Paris , ông này đã gặp gỡ, bàn thảo về ý kiến trên. Trước sự khẩn khoản ấy, nhà thơ trả lời rằng, việc đó không thể thực hiện được vì chắc chắn sẽ bị nhiều người đánh phá, vì lý do này hay lý do khác. Nhà thơ nói ngụ ý là ở hải ngoại mà làm lãnh tụ thì ai cũng làm được, và việc đó sẽ gây ra cảnh không ai chịu ai và hiềm khích lẫn nhau, mà chẳng làm được gì. Muốn lãnh đạo phải về trong nước, mà ở trong nước thì ngo ngoe là VC thịt ngay. Nhà thơ nhắc ông Q. là “Dục tốc bất đạt” nghĩa là không nên vội vàng, việc có thể làm được lúc này là thành hình một tờ báo có chất lượng và một đài phát thanh để gửi tiếng nói về trong nước! Điều này làm ông Q. thất vọng, vì theo ông, đã hơn 20 năm lưu vong mà chưa làm được gì đáng kể thì bây giờ phải làm mạnh hơn, chứ làm báo hay đài phát thanh cũng khó đi đến kết quả được coi là thực tiễn.

Điều đáng ghi nhận là: Theo nhà thơ thì NVHN chỉ đóng một vai trò yểm trợ thuần túy. Nếu vậy việc then chốt là ở VN. Nhưng ông cũng cho hay là tại quốc nội, nếu ta có một ngàn quân, VC sẽ huy động hàng chục sư đoàn đến tiêu diệt ngay. Ai ngo ngoe là bị bắt liền. Vậy chúng ta yểm trợ ai? Yểm trợ những người Q’G bị bắt? Yểm trợ bằng cách đòi VC thả họ ra? Hay yểm trợ các người VC khó giam cầm như Nguyễn Hộ, Lê Hồng Hà, La văn Liếm? Vai trò của chúng ta dừng lại ở đấy sao?. Nếu vì một lý do nào đó, VC thả họ sau khi đã bày binh bố trận để đốt cháy họ, như làm cháy nhiều người khác, thì chúng ta nghĩ gì?. Sợ “Dục tốc bất đạt” nên chúng ta cứ chờ đợi mãi sao? Chờ đợi, nhưng chờ ai? Và đợi gì? Chờ đợi Yeltsin VN đứng lên? Hay chờ cho CS tự nó hủy diệt và xâu xé lẫn nhau? Vai trò của chúng ta chỉ nên thụ động như thế chăng?
Trong HĐN 2, trang 166, nhà thơ viết:

“Đảng như hòn đá tảng
Đè lên vận mạng quê hương
Muốn sống trong hòa hợp yêu thương
Việc trước nhất phải tìm phương hất xuống
Nếu không tiêu diệt nỗi những thế lực bạo tàn man rợ nhất
Chúng mãi mãi đây thời nòi giống nguy nan!
Không! Chúng sẽ tự cắn xé lẫn nhau, sẽ tự lụi tàn
Như một lò than, dù không ai dập tắt!”

Ý nghĩa của hai đoạn này mâu thuẫn với nhau vì đoạn đầu theo ý nhà thơ, mọi người muốn sống trong hòa hợp yêu thương thì phải hất bọn tội ác CS xuống, nhưng đoạn hai, ông lại nghĩ là dù không lật đổ thì với thời gian, chúng cũng cắn xé, tranh giành nhau rồi tự lụi tàn. Thế thì người ta để nó tự hủy diệt, có thể sẽ lâu nhưng nhàn hạ, ít nguy hiểm hơn. Điều mâu thuẫn đó khiến một số người cho rằng hai đoạn thơ trên phải do hai người có hai cái nhìn khác nhau sáng tác.

Theo tin tức từ các tạp chí Việt ngữ tại Hoa Kỳ, thì tháng 11/1995, trong cuộc gặp gỡ hơn 150 văn thi hữu, ký giả và chủ tịch các hội đoàn do ông Chữ Bá Anh và một số người khác tổ chức ở Trung Tâm Eden, thành phố Fall Church, Virginia, nhà thơ nói:
“…Tôi có một điều day dứt mà bấy lâu không bộc lộ được là có một số người nói chuyện Hòa Hợp Hòa Giải với CS tức HHHG Dân Tộc. Trò này thì CS đã nói từ năm 1945. Từ năm 1945, HCM đã hô hào HHHG. Ông Hồ kêu gọi các nhà tư sản có tiền thì giúp tiền, có vàng thì góp vàng. Các điền chủ, phú nông có lúa, có ruộng thì giúp vào để kháng chiến. Tất cả cùng đứng lên đánh Pháp, nhưng sau đó tư sản và địa chủ đều bị thanh toán. Họ chết dần mòn trong ngục tù. Tài sản, ruộng đất thì bị tước đoạt. Trong suốt quá trình 50 năm qua, lúc nào người CS cũng kêu gọi H`HH`G, nhưng trên thực tế thì họ chẳng HHHG với ai cả! Điều này thì chắc chắn các bạn đều đã biết rõ. Nhưng tôi phân vân không hiểu tại sao lại có một số người Việt ở hải ngọai lại đi hô hào cho việc HHHG?…”

Nhưng sau đó nhà thơ lại nói tiếp:

“Về bản chất thì CS không bao giờ có thể hòa hợp với chúng ta được vì điều kiện đầu tiên để hòa hợp là phải bình đẳng. Bình đẳng có nghĩa là phải đa nguyên, đa đảng, cùng nhau bàn chuyện xây dựng đất nước. Chỉ khi nào CS chấp nhận dân chủ đa nguyên thì chúng ta mới có thể bỏ qua những tội ác của họ và mới có thể nói đến chuyện hòa hợp, chung lưng, chung sức xây dựng lại đất nước VN của chúng ta”

Lời phát biểu của nhà thơ trong dịp này mang cùng một ý nghĩa với hình ảnh mà ông đưa ra trước đó, tức là không thể nói chuyện với VC nếu họ cứ tiếp tục đàn áp, tiếp tục ở trên đè xuống. Theo ý ông, chúng ta có thể HHHG với VC khi nào họ không đàn áp nữa, chấp nhận bình đẳng và áp dụng nguyên tắc dân chủ đa nguyên. Theo ông nghĩ thì VC không thể và không khi nào chấp nhận cho các đảng phái tự do hoạt động…nên ông đặt vấn đề đa nguyên, đa đảng như một hình thức “thách đố”. Tuy nhiên, trong tương lai, giả dụ VC vì xâu xé lẫn nhau mà lâm vào thế yếu, biết đâu lúc ấy chúng chẳng đổi chiều, giả vờ chấp nhận hòa hoãn với các thành phần khác như HCM đã áp dụng trong mặt trận Việt Minh để có dịp chỉnh đốn nội bộ, rồi trở mặt tiêu diệt những người đã ngây thơ hợp tác. Cái thế của VC lúc này mạnh hơn thế lực của nhóm HCM trong thập niên 1940 rất nhiều vì hiện nay VC nắm quyền, có đầy đủ bộ máy kìm kẹp, có quân đội, công an và một đội ngũ hơn hai triệu đảng viên hết lòng theo Đảng để bảo vệ bổng lộc và áo cơm. Việc thách thức này là một thái độ dại dột, liều lĩnh của một kẻ đánh phé đang xui mà chơi trò “tháu cáy cạn láng” trước khi bỏ cuộc, đi về… nên đối thủ đang hên, thừa tiền sẵn sàng cười khẩy, bắt ngay…

Nếu quả thật nhà thơ tuyên bố như thế thì tại sao hôm ấy cử toạ 150 người, gồm toàn những thức giả, các nhà báo, những vị chủ tịch các đoàn thể có thành tích và kinh nghiệm đấu tranh, không ai lên tiếng, và sau đó cũng không ai bình luận hay có ý kiến gì? Người viết không muốn tin là nhà thơ có lập trường và chủ trương như thế!

Hơn nữa, nếu người ta nhớ không lầm thì cũng khoảng thời gian cuối năm 1995, nhà thơ đã ngụ ý nói rằng, người CS sẽ phải trả lời về những gì họ đã làm trong suốt 50 năm gây toàn bộ tội ác. Nhưng qua bài tường thuật vừa được chép lại một phần như trên, người ta lại nhìn thấy ông không những muốn ân xá, bỏ qua tội ác của VC mà còn có ý định hợp tác để xây dựng đất nước. Hai lập trường này mâu thuẫn với nhau. Vả lại, qua kinh nghiệm sống mấy chục năm với VC, chắc chắn nhà thơ không thể nghĩ rằng mọi người có thể bàn chuyện làm việc nghĩa, “xây dựng” với bọn lưu manh cả đời ăn cướp, bởi đấy là việc viễn vông, điên rồ và vô ích! Bản chất của CS trong trường hợp đó phải chăng đã bị bỏ quên?

5. Những khúc mắc trong liên hệ giữa ông Trần Nhu và nhà thơ

Nhiều người không rõ ông Trần Nhu, người bạn tù của nhà thơ, ra hải ngọai trong trường hợp nào, từ năm nào, nhưng trước khi nhà thơ đi Mỹ, ông Trần Nhu đã in một cuốn sách, phân tích, dẫn giảng thơ NCT với tất cả lòng khâm phục. Khi nhà thơ tới S.Francisco, ông Trần Nhu đã ra phi trường đón, chụp rất nhiều hình kỷ niệm và nghe nói ông là người đã góp phần vào việc vận động cho nhà thơ qua Mỹ. Trước đây chính ông Nhu xác nhận rằng tác giả tập thơ Vô Đề là nhà thơ NCT. Theo chúng tôi biết thì chỉ hơn 1 tháng, sau khi nhà thơ tới Mỹ, ông TN đã xung khắc với nhà thơ và nặng lời khi nói về nhà thơ với một số người thân. Tuy nhiên, ông Nhu vẫn quả quyết rằng NCT là người đã đưa tập thơ Vô Đề vào Tòa Đại Sứ Anh ở Hà Nội năm 1979. Điều đáng nói hơn nữa là: Ông Nhu tiết lộ rằng tháng 7.79, chính ông cùng với nhà thơ NCT từ Hải Phòng ra Hà Nội làm công việc ấy! Nếu sự kiện này đúng thì điều đó có nghĩa là: hai người cùng bàn với nhau về chuyến mạo hiểm này. Việc đó chứng tỏ ông Nhu quen với nhà thơ ở trong tù, có lẽ trước 1979 và hai người có sự gần gũi, thân tình và tin tưởng tuyệt đối với nhau.

Người viết cũng được tin là cuối năm 1995 hoặc đầu năm 1996, khi nhà thơ trở lại gặp gỡ đồng bào vùng Bắc Cali, ông Nhu đã soạn sẵn một bài viết để giới thiệu ông Thiện nhưng sau đó ông Nhu bất mãn và cáo bệnh, không đến dự buổi nói chuyện ấy! Việc bất bình, đổ vỡ đó nếu vì quyền lợi hoặc cá nhân thì đó là việc riêng giữa hai người, chúng ta không nên đề cập tới, nhưng nếu nó bắt nguồn từ những lý do khác thì người ta muốn biết nguyên nhân và sự lên tiếng của mỗi bên, vì rất có thể từ đấy, người ta biết rõ hơn về thân thế của hai người và về những khúc mắc quanh việc ai là tác giả của tập thơ Vô Đề. Nếu nó là tác phẩm của nhà thơ NCT thì: Sự khác biệt về thân thế, về quan điểm xuyên qua những sự kiện được nêu ra ở trên sẽ được giải thích ra sao? Ông Nhu là bạn tù của nhà thơ, thì đó là giai đoạn nào? Trong chế độ ấy mà nhà thơ tin ông đến thế sao? Ông Nhu sang Mỹ bằng cách nào? Vượt biển? Được gia đình bảo lãnh, thuộc diện HO hay được VC cho đi chính thức? Việc ông tháp tùng nhà thơ ra HN để đem tập thơ Vô Đề vào TĐS Anh có đúng không? Một người có tên là Minh Thi cũng nhận là bạn tù với nhà thơ, trước đây nghe nói đã góp tiền gửi về giúp nhà thơ, nhưng hơn một năm nay, vì đâu ông này không xuất hiện, lên tiếng?

Các yếu tố đó nếu được làm sáng tỏ sẽ là những chi tiết giúp mọi người suy nghĩ để tìm ra những kết luận được xem là có căn bản về các vấn nạn liên quan đến nhà thơ, môt người ngót hai chục năm qua vẫn coi là biểu tượng của tinh thần chồng Cộng kiên trì, dứt khoát.

IV. KHẨU KHÍ TRONG HAI TẬP THƠ VÔ ĐỀ VÀ HOA ĐỊA NGỤC 2
Trong suốt mấy trăm bài được in trong tập thơ Vô Đề, người ta thấy tác giả Vô Danh có lời lẽ phẩn nộ, cay đắng VC tới cực điểm. Trong bài “Không Có Gì Quý Hơn Độc Lập Tự Do” thi sĩ Vô Danh gọi HCM là “thằng” và “nó” vào năm 1968, hơn một năm trước khi HCM chết:

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do!
Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó!
Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó!
Việc nó làm, tội phạm nó ra sao?
Nó đầu tiên đem râu nó bện vào hình xác lão Mao lông lá
Bàn tay Nga đầy băng tuyết giá,
cũng ngoài, qua lục địa Trung Hoa
Không phải xoa đầu, mà túm tóc nó từ xa
Nó đứng không yên, tất bật điên đầu
Lúc rụi vào tàu, lúc rúc vào Nga
Nó gọi Tàu Nga là cha anh nó
và tình nguyện làm con chó nhỏ
xông xáo giữ nhà, gác ngõ cho cha anh!
Nó tận thu từng quả trứng, quả chanh
học lối hung tàn của cha anh nó
Cuộc chiến tranh chết vội hết thanh niên
đương diễn ra triền miên ghê gớm đó
cũng là do Nga giật, Tàu co,
tiếp nhiên liệu, gây mồi cho nó!
Súng, tăng, tên lửa, tàu bay
nếu không, nó đánh bằng tay?
Ôi đó! Thứ độc lập không gì quý hơn của nó
Tôi biết rõ, đồng bào miền Bắc này biết rõ
việc nó làm, tội phạm nó ra sao!
Nó là tên trùm đao phủ năm nào
hồi cải cách đã đem tù ra bắn,
độ nửa triệu nông dân rồi bảo là lầm lẫn!
Đường nó đi trùng điệp bất nhân
hầm hập trời đêm nguyên thủy!
Đói khổ dựng cờ đại súy!
Con cá, lá rau nát nhàu quản lý!
Tiếng thớt, tiếng dao vọng từ hồi ký!
Nó tập trung hàng chục vạn ngụy quân
nạn nhân của đường lối “khoan hồng chí nhân” của nó!
“Tự do” không thời hạn đi tù!
Mắt nó nhìn ai cũng hóa kẻ thù
Vì ai cũng đói mòn, nhục nhằn cắn răng tạm nuốt.
Hiếm có gia đình không có người bị nó cho đi tàu suốt
Đất có thầm câm cũng chẳng được tha
Tất cả phải thành loa!
Sa sả ngày đêm ca tụng nó và đảng nó!
Đó là thứ tự do không gì quý hơn của nó!
Ôi độc lập tự do
Xưa cũng vì quý hai thứ đó
Đất Bắc mắc lừa mất vào tay nó
Nhưng nay mà vẫn có người mơ hồ nghe nó
Nó mới vạn lần cần nguyền rủa thật to.”
(1968)

Tuy nhiên cũng có lúc thi sĩ Vô Danh gọi HCM là Bác, nhưng ý nghĩa của chữ “Bác” ấy cũng không kém phần miệt thị. Bài này làm ngày 19.5, đúng vào dịp sinh nhật thứ 74 của HCM:

“Hôm Nay 19.5
Hôm nay 19.5
Tôi nằm
Toan làm thơ chưởi Bác
Vần thơ mới hơi phang phác
Thì tôi thôi
Tôi nghĩ Bác
Chính trị gia sọt rác
Không đáng để tôi
Đổ mồ hôi
Làm thơ
Dù là thơ chửi Bác
Đến thằng Mác
Tổ sư Bác!
Cũng chưa được tôi nguệch ngoạc vài câu!
Thôi hơi đâu
Mặc thây bọn văn sĩ cô đầu
Vuốt râu, xoa đầu, mơn trớn Bác
Thế rồi tôi đi làm việc khác
Kệ cha Bác”
(1964)

Trong HĐN 2, nhà thơ NCT khi nói đến HCM, cũng gọi y là Bác, cũng nói đến sự vô tình, bất nhân, bất nghĩa của y, nhưng kém phần cay độc, ít sâu sắc và nhẹ nhàng hơn, có thể vì HCM đã chết? Bài “Bác Hồ” sáng tác năm 1981, trang 34, nhà thơ viết:

“Mấy chục năm xa nước, Bác
không viết phong thư nào về thăm gia đình trong nước.
Cách mạng thành công,
Bác vịn cớ bận, bất cần
Bác Hồ ơi, Bác không yêu nhà, Bác làm sao yêu được nước!
Không yêu người thân,
Bác làm sao yêu được nhân dân!
Chỉ những kẻ ngu đần
Bị mê lóa bởi tuyên truyền điêu trá
Mới tin Bác là đạo cao đức cả
Yêu nước thương nòi, có nghĩa, có nhân
Đến chị ruột Bác kia, khi còn sống ở dương trần
Cũng từ Bác, coi là không có Bác
Vì Bác đối với thâm tình quá bạc
Chị Bác…bà Thanh … nói vậy nhiều lần
Bác vu cho bà là bị tâm thần!
Bác ranh ma, Tây không bắt nỗi một lần
Làm cách mạng ở nước ngoài thoải mái
Bác xứng đáng được tôn là cáo quái
Bác quái hơn nhiều so với lũ tay chân!”
(1981)

Người ta cũng ghi nhận là trong tập thơ mới xuất bản, nhà thơ đăng nhiều bài thuộc các thể thơ mà thi sĩ Vô Danh không xử dụng trong tập thơ Vô Đề trước đây, đó là thể thơ 3 và 4 chữ, khiến một số người cho là thơ vè hoặc sớ táo quân. Vài bài tiêu biểu như sau:

“Cuộc Đời
Cuộc đời xán lạn
Cuộc đời khốn nạn
Tình yêu tình bạn
Hạnh phúc khổ oan
Cười hát than van
Ngọt bùi tâu toan
Tỉnh táo mê man
Hào hùng chán nản
Thủy chung lứa phản
Giàu có nghèo hèn
Vinh hiển lầm than
Tướng lĩnh vua quan
Tất cả đều tàn
Tất cả đều tan
Theo giòng thời gian
Vang mãi vô hạn
Tiếng lòng chứa chan!
Sáng mãi vô hạn
Ngọn lửa tâm can!”
(1988, HĐN 2, trang 94)
Hoặc như trang 72/73:
“Dù đầu bạc,
Dù đói rạc,
Dù lực tàn
Vẫn bền gan
Vẫn sáng tác
Việc sống thác
Là việc khác
Không thể cản
Không làm nản
Không cần bàn”
(1988)

Dã tâm Đảng
Quá rõ ràng
Để vững vàng
Ngồi làm chủ
Để dễ dàng
Hút máu mủ
Dân phải mụ
Dân phải ngu
Dân phải mù
Phải bỏ tù
Những thằng sáng
Dám phỉ báng
Đảng sói lang
Dám nói toang
Những sự thực
Dù khốn cực
Vẫn tích cực
Chống lại Đảng!
(1986)

Mỗi nhà thơ, nhà văn có một khẩu khí và một văn phong khác nhau. Dù tác giả một bài viết hoặc một bài thơ có đổi bút hiệu hay ký tên gì chăng nữa, nếu tinh ý, người ta cũng không mấy khó khăn nhận ra, vì văn là người. Mỗi tác giả có một sắc thái khác nhau. Kẻ viết bài này không có khả năng của một người làm công tác phê bình văn học, nên chỉ nêu một vài điểm đã được một số người đề cập tới mà không đưa ra nhận xét về trình độ thơ văn của thi sĩ Vô Danh và của nhà thơ NCT, cũng như về việc thật hay giả trong khía cạnh này. Việc đó xin dành cho độc giả và các vị có kinh nghiệm chuyên môn trong lãnh vực ấy.

V. THAY LỜI KẾT
Người viết thấy cần nhắc lại là các sự kiện được đề cập, không có ý quyết đoán, khẳng định hoặc cáo buộc nhà thơ hay bất cứ ai. Một phần là những suy nghĩ của cá nhân mình và một phần khác, người viết nói lên ý kiến của một số người cũng rất băn khoăn, thắc mắc, nhưng không có cơ hội và phương tiện để nói ra. Bài này cũng được gửi cho nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, vì người viết, dù đã hai lần gặp riêng nhưng vẫn chưa đủ thời giờ thảo luận với nhà thơ về những khúc mắc được nói đến ở trên.

Người viết cũng hiểu là: Trong việc giao tế, những gì được coi là lời tâm sự, tiết lộ riêng giữa các cá nhân thì không nên nhắc lại với người khác, và nhất là trên báo,. Tuy nhiên, trong trường hợp này, nội dung của các điều nói riêng ấy lại là việc chung, liên quan đến các sự thật rất cần thiết cho cuộc đấu tranh hiện nay. Vả lại, những chi tiết của lời tâm sự đó sẽ giúp chúng ta giải tỏa được một phần các vấn nạn và thắc mắc của một số người về quan điểm của nhà thơ. Chúng tôi đã suy nghĩ, đắn đo rất lâu khi tiết lộ những điều ấy. Đó là một sự lựa chọn và là một quyết định khó khăn làm người viết băn khoăn và áy náy.

Nêu các vấn nạn liên quan đến một nhân vật đang được quần chúng nể phục là một việc rất tế nhị và rất dễ bị ngộ nhận. Chúng tôi cũng biết rằng khi đặt vấn đề, người viết dù cố gắng, cũng khó tránh được những điều có thể bị coi là bắt bẻ, hạch sách, hoặc thiếu thiện cảm, về những người được nói đến. Công việc phức tạp và nhiêu khê là ở đó, nhưng nếu ngại như thế, thì không lẽ chúng ta cứ yên lặng, để vô tình nuôi dưỡng sự hoài nghi, chia rẽ, xói mòn sự đoàn kết vốn dĩ rất mong manh, trong khối người Việt chống Cộng nói chung?

Chúng tôi hy vọng rằng mọi người sẽ suy nghĩ, thảo luận một cách thẳng thắn và vô tư để soi sáng những gì được coi là mâu thuẫn, khúc mắc đang cản trở sự đồng tâm và hăng say cần thiết trong cuộc đấu tranh rất chênh lệch giữa chúng ta và kẻ thù CS hiện nay. Khi mọi việc đã rõ ràng, minh bạch, những người có thiện tâm sẽ vững lòng, tin tưởng lẫn nhau để mở đầu cho một khúc quanh mới khởi sắc hơn, hầu góp phần nhỏ bé của mình vào việc tháo bỏ ách thống trị CS và phục hưng đất nước.

Thế Huy

[Trích Văn Nghệ Tiền Phong số 512 tháng 5.1997, trang 9, 10, 11, 12, 13, 70, 71, 72,73, 74 ]

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: | 3 Comments »

Lọt ổ [Gởi Phan Nhật Nam, Chu Tất Tiến,…]

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 26, 2008

Lọt ổ [Gởi Phan Nhật Nam, Chu Tất Tiến,…]

Con theo con Vện, bám con Vàng

Lọt ổ nằm vùng Đảng Sói Lang

Vác mặt lên Đài tru tắt tiếng!

Cúi đầu, xuống giọng hót đâm bang!

Bố con lạc giữa hai lằn đạn,

Chồng vợ lìa xa một tuyến đàng!

Cải tạo bao năm chưa thức tỉnh

Còn theo Màng Lưới Vẹm sao đang?!

September 26, 2008

Hồ Công Tâm

http://www.hon-viet.co.uk/HoCongTam_LotO.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: , , | 2 Comments »