Tudodanchu's Weblog

Freedom, Democracy, Human Rights, No Communism For Vietnam

Archive for Tháng Chín 3rd, 2008

Tiếng Khóc Quê Hương

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 3, 2008

Tiếng Khóc Quê Hương

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

VÌ Tự Do Người VN Chúng Tôi Phải Ra Đi

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 3, 2008

Ngày quốc hận 30-04-1975

http://www.youtube.com/watch?v=_SjvFyVSM2o (high definition)

http://www.youtube.com/user/giaithecongsan

“Hồ tặc hỡi, mày là đồ chó đẻ – Cướp nước tao, giết người dân tao”

Posted in Uncategorized | Tagged: , , | 2 Comments »

Sau hơn 30 năm nhìn lại

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 3, 2008

Hãy lật đổ lủ cộng sản nô tài kia http://dadaocongsan.com

Hồ tặc hỡi, mày là đồ chó đẻ – Thiên đường mày hứa như thế kia a !

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 1 Comment »

Tiễn em rời K18 – Phan Văn Hưng

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 3, 2008

Những thảm cảnh vô cùng đau thương trong thơì cai trị của đảng cộng sản VIỆT gian
Bài nhạc này lam` để gọi là thương tưởng. For more infos plez go to: http://dadaocongsan.com

Posted in Uncategorized | Tagged: , , | 2 Comments »

Tài-liệu MẬT của Việt Cộng Chỉ thị trong cuộc họp mặt cán bộ kiều vận

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 3, 2008

Tài-liệu MẬT của Việt Cộng Chỉ thị trong cuộc họp mặt cán bộ kiều vận

Nguyễn Tâm Bảo

(Lưu trữ theo chế độ tài liệu tuyệt mật).

LTS.- Đây là một tài liệu tối mật vừa được chuyển ra hải ngoại.

Những điều viết trong tài liệu này đã được CSVG áp dụng thi hành trong và ngoài nước từ 33 năm nay và tại miền Bắc từ năm 1954.

Rất mong các cộng đồng người tỵ nạn khắp nơi tại hải ngoại nghiên cứu để tìm cach bẻ gãy nghị quyết 36 của VGCS. Đặc biệt với người Việt Nam trong nước đang tranh đấu cho dân chủ tự do cho quê hương nên học hỏi thêm để tìm cách tránh né những mưu mô gian xảo của nhóm Việt Gian bán nước này.

———————————

Thưa các đồng chí,

Đảng quang vinh của chúng ta muốn tồn tại và phát triển, giữ vai trò là đảng tiên phong và duy nhất lãnh đạo đất nước, thì có mấy mục tiêu quan trọng sau đây phải được quan tâm đúng mức:

1. Phải làm cho dân chúng vừa yêu vừa sợ. Nếu không thể làm cho người dân yêu mến – điều mà tôi e là sự thật cay đắng cần chấp nhận – thì cũng phải tuyệt đối duy trì nỗi sợ hãi để họ không bao giờ có đủ ý chí mà nổi loạn.

2. Phải giữ cho cái gọi là “phong trào dân chủ đối lập” không thể trở thành phong trào đúng nghĩa, không thể bén rễ và lan rộng. Phải làm sao để nó chỉ là hoạt động manh mún, rời rạc, tự phát của các cá nhân đơn lẻ; làm cho có nhiều “lãnh tụ” mà ít hoặc không có quần chúng; có nhiều “nhân sĩ trí thức” mà ít hoặc không có một tổ chức nào có thực lực; có nhiều những hoạt động lãng mạn hời hợt
có tính phô trương – mà người dân có biết đến cũng chỉ mỉm cười ý nhị – chứ ít hoặc không có những hoạt động thiết thực có tầm mức ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội; có thật nhiều những hoạt động “chống cộng cực đoan” có tính chất phá hoại từ bên trong, gây phản cảm đối với người dân lao động, thậm chí làm cho những gia đình cách mạng và đội ngũ cựu chiến binh phẫn nộ …

Tóm lại, phải làm cho người dân nếu không quay lưng thì cũng thờ ơ với cái gọi là “đấu tranh dân chủ”. Cụ thể như thế nào thì tôi đã có dịp trình bày…

3. Phải chủ động trong việc nâng cao dân trí để làm bàn đạp mà phát triển kinh tế,nhưng lại phải lèo lái để”dân trí cao”không đồng nghĩa với “ý thức dân chủ cao”. Phải làm sao để chất lượng giáo dục bậc đại học được cải thiện nhưng đa số sinh viên phải trở nên thực dụng hơn, có tinh thần “entrepreneurship” – khao khát tiền bạc và công danh, mạo hiểm và sáng tạo trong kinh doanh, cầu tiến trong sự nghiệp riêng, tôn thờ Bill Gates và chủ nghĩa tiêu thụ – nhưng đồng thời cũng tuyệt đối thờ với những lý tưởng và hoài bão cải biến xã hội, xa lạ với những tư tưởng trừu tượng viễn vông, tìm kiếm những giải pháp cá nhân thay cho ý thức công dân, và đặc biệt là tránh xa âm mưu thay đổi chế độ.

4. Phải chủ động trong việc mở rộng xã hội dân sự, thuần phục và trung hòa giai cấp trung lưu đang lớn mạnh (gọi là “co-optation”).

Làm sao để trong mỗi tổ chức dân sự đều có chân rết của ta. Các tổ chức trung gian như mặt trận Tổ quốc, công đoàn, hội phụ nữ,các hội cựu chiến binh, các câu lạc bộ hưu trí… phải phát huy vai trò tối đa trong việc trung hòa những nhân tố nguy hiểm, điều hòa những xung đột nếu có giữa nhà nước và xã hội, giảm thiểu sự bất mãn của dân chúng …

Làm sao để xã hội dân sự vẫn được mở rộng nhưng theo hướng có kiểm soát của chúng ta, chứ không trở thành mối đe dọa.

Quan trọng hơn cả là chúng ta phải tiếp tục nuôi dưỡng nỗi sợ hãi – dù chỉ là nỗi sợ mơ hồ trong tiềm thức – nhưng đồng thời cũng không để cho nhân dân cảm thấy tuyệt vọng. Cho dù người dân có bất mãn về chuyện này chuyện kia thì vẫn làm cho họ nuôi hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn. Và phải làm điều này một cách hết sức tinh vi, kiên nhẫn, đôi lúc phải can đảm cắt bỏ những khối u trong đảng để làm nguội bớt nỗi tức giận của nhân dân.

Trong trường hợp này thì việc thả Nguyễn Việt Tiến và việc bắt giam hai nhà báo là sai lầm. Lẽ ra chúng ta phải không tiếc một số ít các đồng chí tham lam quá mức, biến họ thành dê tế thần để giành lại niềm tin của nhân dân, hoặc ít nhất cũng làm họ giảm bất mãn, trong nỗ lực chống tham nhũng của chúng ta.

Một người bất mãn cực độ là một người nguy hiểm. Một người tuyệt vọng đôi khi còn nguy hiểm hơn. Một người lạc quan, nhiều hy vọng, thì thường cũng là một người dễ bảo, yêu chuộng sự ổn định và do đó không có ý định phản kháng.

Chúng ta phải biết dùng mồi để nhử, đánh vào thói tham lam ích kỷ lẫn thói háo danh của người đời, vừa phải làm sao để tinh thần thực dụng và chủ nghĩa mánh mung chụp giật trở thành bản tính của dân tộc – vốn đã rã rời về ý chí, tan vỡ về niềm tin, chán ngán các loại ý thức hệ; nhưng đồng thời cũng phải chuẩn bị sẵn những cái van để dân chúng có chỗ giải tỏa ẩn ức.

Tuyệt đối không để sự bất mãn trong xã hội tích tụ lại vượt quá ngưỡng kiểm soát của chúng ta. Kiên quyết tiêu diệt mọi mầm mống có khả năng dẫn đến các loại hoạt động đối kháng có tổ chức, có sự phối hợp rộng rãi; tuyệt đối ngăn chặn khả năng huy động được đông đảo quần chúng tham gia.

Chúng ta phải nghiên cứu tất cả những tư tưởng gia vĩ đại trong việc chiếm đoạt quyền lực và duy trì vị trí độc tôn, từ Tôn Tử, Ngô Khởi, Trương Tử Phòng, Lý Tư… và Mao Trạch Đông ở phương Đông, cho đến Machiavelli – tác giả cuốn cẩm nang “The Prince” nổi tiếng ở phương Tây, thậm chí cả Napoleon, Hitler, Stalin… hoặc Hugo Chavez thời nay. Tất cả đều có những điều rất đáng để chúng ta học hỏi, từ nghệ thuật mị dân cho đến những thủ đoạn cứng – mềm linh hoạt trong việc đối phó với địch và cả những sai lầm chiến thuật của các vị này.

Phải làm sao để chúng ta vẫn trấn áp được đối lập dân chủ, nhưng vẫn không làm sứt mẻ quan hệ ngoại giao đang ngày một tốt hơn với Hoa Kỳ và phương Tây – vốn là những kẻ đạo đức giả –, duy lợi và thực dụng nhưng thích rao bán tấm áo “dân chủ tự do” cùng với những khẩu hiệu cao đẹp khác.

Tuy nhiên, chúng ta cần phải khái quát những luận điểm của Machiavelli để có thể áp dụng cho một chế độ, một đảng phái có cơ cấu phức tạp, chứ không phải là một nhà độc tài quân phiệt giản đơn.

Một nhà độc tài dù tàn độc đến đâu, ranh ma đến đâu, thì cũng chỉ là một kim tự tháp trên sa mạc, tĩnh lặng và không tiến hóa – nên trước sau cũng sẽ để lộ sơ hở chết người.

Nhưng một đảng chuyên quyền thì luôn luôn biến động, thay đổi và lớn lên không ngừng; biết bù đắp khiếm khuyết, che dấu yếu điểm, phô trương sức mạnh một cách vô cùng linh động…và đặc biệt có đủ tài lực và nhân lực để lan tỏa chân rết đến mọi ngõ ngách của xã hội, kiểm soát cả dạ dày lẫn linh hồn của nhân dân.

Bác Hồ (hay có thể là bác Lê Nin) đã dạy:

“người cách mạng phải không ngừng học hỏi, học từ nhân dân và học từ kẻ địch; phải không ngừng tiến hóa về mặt tư duy lẫn thủ đoạn để sống sót mà vươn lên trong bất cứ hoàn cảnh nào; phải luôn uyển chuyển và linh động để sẵn sàng thay máu, đổi màu khi cần thiết, thậm chí sẵn sàng đào thải cả những đồng chí quá tham lam và ngu dốt có hại đến lợi ích chung của đảng.

Đối với địch thủ thì phải thiên biến vạn hóa, ranh ma tàn độc đủ cả… và đặc biệt phải biết dùng hình nộm kết hợp với thủ đoạn đấu bò tót kiểu Tây Ban Nha để thu hút ám khí và sừng bò của đối thủ.

Trong lúc đối thủ tiêu hao lực lượng vì đánh vào những hình nộm rơm, hoặc phung phí thời gian và sức lực vào những mục tiêu viễn vông, thì chúng ta lạnh lùng quan sát, phân tích thấu đáo địch tình, ra đòn bất ngờ và hợp lý để địch chết không kịp ngáp.

Đặc biệt chúng ta ngầm khuyến khích những hành động tự sát theo kiểu “không thành công cũng thành nhân” – tất nhiên là phế nhân.

Chúng ta cũng phải biết lắng nghe những phê phán của địch thủ mà thay đổi cho thích hợp. Kẻ đối địch luôn có những bài học quí giá mà chỉ có những người bản lĩnh và khôn ngoan mới nhìn ra.

Nếu kẻ địch lãng mạn viễn vông với những khẩu hiệu trừu tượng như “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do” … thì chúng ta phải thực tế với những tiêu chí cụ thể như “ổn định xã hội”, “tăng trưởng kinh tế”, “xóa đói giảm nghèo”…

Nếu kẻ địch hô hào những điều khó hiểu du nhập từ phương Tây như “đa nguyên”, “đa đảng”, “pháp trị”, “khai phóng” …thì chúng ta phải tích cực cổ vũ mô hình Nhân Trị của đấng Minh Quân – nhưng ở đây Minh Quân phải được hiểu là đảng cộng sản – cũng như đề cao những “giá trị Á châu” một cách khéo léo. Phát Huy dân chủ cơ sở tập trung –. Chúng ta cũng phải phát huy “dân chủ cơ sở”, “dân chủ tập trung”, “dân chủ trong đảng”… để làm sao cho dân thấy đảng không phải là cái gì đó cao xa vời vợi, mà đảng cũng là dân, ở ngay trong dân, từ dân mà ra, đã và đang đồng hành cùng với dân.

Phải cho dân thấy là nếu đảng có xe hơi thì dân cũng có hon đa – chứ không phải đi bộ; nếu đảng có đô la thì dân cũng có tiền in hình Bác đủ tiêu xài – chứ không quá túng thiếu; nếu đảng có cao lương mỹ vị thì dân cũng có gạo ăn – không chết đói mà còn dư thừa để đem xuất khẩu.

Đặc biệt là phải tích cực tuyên truyền và giải thích để người dân hiểu được ý nghĩa của “dân chủ” theo cách có lợi cho chúng ta:“dân chủ” nghĩa là đảng luôn lắng nghe dân,phản ảnh ý nguyện của dân (phần nào thôi) qua những chính sách vĩ mô và vi mô, thỏa mãn niềm tự ái của dân vì được dạy dỗ đảng, cũng như kích thích lòng tự hào dân tộc của dân để hướng nó vào những kẻ thù mơ hồ dấu mặt ở bên ngoài.

Đối thủ của chúng ta thường lãng mạn và nhiều nhiệt tình nhưng ít chịu học hỏi, hoặc nếu có học thì chỉ qua quýt đủ để thuộc lòng những khẩu hiệu trừu tượng như “nhân quyền”, “dân chủ”… rồi nhai đi nhai lại làm dân chúng phát nhàm.

Nói chung, đối thủ của chúng ta thường chỉ biết đến một số cuốn cẩm nang về dân chủ có ngôn từ rất kêu, rất đẹp, nhưng nghèo nàn về phương pháp thực tế, lẫn lộn giữa cứu cánh và phương tiện.

Ngược lại, chúng ta cần phải tích cực nghiên cứu sâu sắc những trước tác của các học giả phương Tây về khoa học chính trị và kinh tế học. Chúng ta phải nhận thức được đã có rất nhiều những nghiên cứu khoa học về mối quan hệ biện chứng giữa “thể chế chính trị” và “phát triển kinh tế”.

Hai phạm trù “dân chủ” và “phát triển” có quan hệ hết sức phức tạp, phi tuyến, chứ không phải là quan hệ nhân – quả. Nghiên cứu kỹ về vấn đề này sẽ rất có lợi cho chúng ta trong việc chủ động phát triển kinh tế mà không cần phải “dân chủ hóa”.

Chúng ta cũng phải nhìn nhận một thực tế là: phát triển kinh tế làm phát sinh một số yếu tố hiểm nguy cho chế độ. Tuy nhiên, điều này còn tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, tùy thuộc vào khả năng “tháo ngòi nổ” của chúng ta, cũng như khả năng khai thác những yếu tố hiểm nguy này của đối lập dân chủ.

Chẳng hạn, học giả Daron Acemoglu của đại học MIT danh tiếng đã có nhiều phân tích về “nguồn gốc kinh tế của các chế độ độc tài và dân chủ”. Trong đó ông đã chỉ ra rằng phát triển kinh tế kèm theo việc phân bố của cải vật chất một cách tương đối công bằng, đồng thời với việc nới lỏng một cách chừng mực những tự do dân sự, thì bất mãn của xã hội sẽ không quá cao, do đó hoàn toàn có thể duy trì chế độ độc tài mà vẫn thúc đẩy kinh tế phát triển.

Đó là trường hợp của Singapore, điển hình của một nhà nước độc tài sáng suốt.

Một ví dụ nữa là những nghiên cứu của Bruce Bueno de Mesquita, đã chỉ ra cho chúng ta những kinh nghiệm quí báu trong việc đàn áp cái gọi là “coordination goods”, tức là những yếu tố vốn không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, nhưng nếu được vận dụng bởi đối lập dân chủ thì lại trở thành những vũ khí đáng sợ. Đó là nghệ thuật “đàn áp có chọn lọc” mà tôi đã có dịp phân tích Giới trẻ và sinh viên học sinh.

Một kết quả bất ngờ mà theo tôi cũng là một kinh nghiệm quí trên mặt trận tuyên truyền nhồi sọ: việc chúng ta bắt ép sinh viên phải học tập chủ nghĩa Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đem lại những kết quả ngoài mong ước.

Thành công của chúng ta không phải đã đạt được mục đích ban đầu là làm cho thế hệ trẻ tôn thờ thứ chủ nghĩa mà ngay cả chúng ta cũng không tin. Ngược lại, thành công của chúng ta là đã làm cho thế hệ trẻ chán ngán đến tận cổ khi phải học mãi một thứ ý thức hệ lỗi thời, bị nhồi nhét đến phản cảm những tư tưởng cũ kỹ.

Nhờ vậy chúng ta đã đào tạo ra một thế hệ trẻ thờ ơ vô cảm với tất cả các loại tư tưởng và ý thức hệ, chai sạn với lý tưởng và hoài bão mà thanh niên thường có, trở nên thực dụng và ích kỷ hơn bao giờ hết.

Thế hệ trẻ hôm nay, ngoài cái đức tính thực dụng và tinh thần chụp giật, cũng như niềm khao khát tiền bạc, công danh, ám ảnh bởi chủ nghĩa hưởng thụ, thì chỉ còn le lói “tinh thần dân tộc” vẫn còn sót lại trong máu huyết của mỗi người Việt.

Đây là con dao hai lưỡi, là con giao long đang nằm yên, mà chúng ta cần phải biết lèo lái một cách khôn ngoan để không xảy ra một tiểu Thiên An Môn ở Ba Đình.

Dưới chế độ chuyên chế nào cũng vậy, sinh viên và trí thức trẻ luôn luôn là những kẻ nguy hiểm nhất, là ngòi nổ của quả bom, là kíp mìn hẹn giờ, là hạt nhân của các phong trào đấu tranh. Các cuộc cách mạng nhằm lật đổ chế độ độc tài bao giờ cũng do sinh viên và trí thức dẫn đầu; công nhân, nông dân, và các tầng lớp lao động khác chỉ là sức mạnh cơ bắp. Chỉ có trí thức và sinh viên mới đủ lý luận để huy động được đông đảo quần chúng, mới có lý tưởng để dấn thân, và mới có khả năng tổ chức và phối hợp.

Triệt tiêu được những phong trào sinh viên, cô lập được những trí thức phản kháng, chính là đánh vào đầu não chỉ huy của địch. Những thứ còn lại như “dân oan biểu tình”, “công nhân đình công”… chỉ là cơ bắp của một cơ thể đã bị liệt não.

Như trên đã nói, chúng ta đã thành công trong việc làm cho sinh viên trở nên lãnh cảm về các loại ý thức hệ, thờ ơ với những tư tưởng tự do khai phóng từ phương Tây. Chúng ta chỉ còn phải đối phó với tinh thần dân tộc của sinh viên đang có nguy cơ thức dậy, mục đích là để nó ngủ yên, nếu không phải lèo lái nó theo hướng có lợi cho chúng ta.

Trí thức:

* Đối với tầng lớp trí thức, những biện pháp “vừa trấn áp vừa vuốt ve” từ xưa đến nay đã đem lại kết quả khả quan. Chúng ta đã duy trì được một tầng lớp trí thức hèn nhát, háo danh, và nếu không quá ngu dốt thiển cận thì cũng chỉ được trang bị bởi những kiến thức chắp vá, hổ lốn, lỗi thời.

* Nói chung, đa số trí thức của chúng ta đều hèn, đều biết phục tùng theo đúng tinh thần “phò chính thống” của sĩ phu xưa nay. Phần lớn những kẻ được coi là trí thức cũng mang nặng cái mặc cảm của việc học không đến nơi đến chốn, ít có khả năng sáng tạo, và so với trí thức phương Tây về cả tri thức lẫn dũng khí đều cách xa một trời một vực.

* Trí thức của chúng ta vẫn mãi mãi giữ thân phận học trò, kiểu sĩ hoạn mơ ước được phò minh chủ, hanh thông trên đường hoạn lộ, chứ không bao giờ vươn lên thành những nhà tư tưởng lỗi lạc.

* Tầm mức ảnh hưởng của trí thức đến xã hội không đáng kể, không dành được sự kính trọng từ các tầng lớp nhân dân, thậm chí còn bị người đời khinh bỉ bởi sự vô liêm sỉ và thói quen ném rác vào mặt nhau.

* Chỉ có một số ít trí thức vượt qua được cái vỏ ốc hèn nhát, nhưng thường là quá đà trở nên kiêu ngạo tự mãn, coi mình như núi cao sông sâu, là lương tâm thời đại. Những người này quả thật có dũng khí, nhưng cũng không đáng sợ lắm bởi đa phần đều có tâm mà không có tài, có đởm lược mà ít kiến thức.

* Đa phần trong số này cũng chỉ đến khi về hưu mới thu gom được dũng khí mà ra mặt đối đầu với chúng ta, do đó sức cũng đã tàn, lực cũng đã kiệt. Một số ít trẻ trung hơn, nhiệt huyết còn phương cương, thì lại chưa có kinh nghiệm trường đời, chưa được trang bị lý luận chu đáo, chưa có kiến thức về dân chủ sâu rộng.

Với những kẻ này chúng ta đàn áp không nương tay, bỏ tù từ 3 đến 7 năm. Đó là phương cách giết gà từ trong trứng.

Thử tượng xem một tài năng trẻ phải thui chột những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời trong lao tù, cách ly với môi trường học vấn, gặm nhấm nỗi cô đơn thay cho việc học hành nghiên cứu, thì sao có thể phát triển hết khả năng? Khi ra tù thì cũng đã quá tuổi trung niên, mệt mỏi, chán chường. Nếu vẫn còn dũng khí thì cũng đã tụt hậu về kiến thức, bị trì néo bởi gánh nặng gia đình, còn làm gì được nữa?

———————————
KẾT LUẬN.-

Với những phân tích như trên tôi cho rằng chế độ của chúng ta vẫn còn bền vững ít nhất thêm hai mươi năm nữa. Nhưng thời thế đổi thay.

Chúng ta không thể kiêu ngạo mà tin rằng sẽ trường tồn vĩnh viễn.

Chúng ta luôn học hỏi và thay đổi để sống còn và vươn lên, nhưng cũng nên biết rằng đối thủ của chúng ta có lẽ cũng không quá ngu ngốc.

Nếu kẻ địch cũng nhìn ra được mạnh – yếu của chúng ta, cũng biết tự đổi thay để thích nghi, cũng biết học cách đấu tranh có phương pháp, có tổ chức, có chiến lược … thì chuyện gì sẽ xảy ra sau hai mươi năm nữa thật khó mà biết được.

Đó là một cuộc đua đường trường mà kẻ nào dai sức hơn, bền chí hơn, khôn ngoan hơn, thì sẽ đến đích trước.

Chúc các đồng chí chân cứng đá mềm và luôn nhớ lời dạy của Hồ Chủ Tịch:

“khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

http://henvesaigon1.wordpress.com/2008/09/02/tin-d%e1%ba%b7c-bi%e1%bb%87t-tai-li%e1%bb%87u-m%e1%ba%adt-c%e1%bb%a7a-vi%e1%bb%87t-c%e1%bb%99ng/

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

HỦ TƯƠNG THÚI PHẬT GIÁO ÚC CHÂU

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 3, 2008

HỦ TƯƠNG THÚI PHẬT GIÁO ÚC CHÂU.

TRƯƠNG MINH HÒA –

Nhiều người cứ tin tưởng một cách máy móc, nhất là giới Phật tử, thì chùa là nơi thanh tịnh, tăng ni là những người đã thấy được kiếp nhân sinh phù du như bọt nước, cõi đời là tạm bợ, giác ngộ chân lý của đức Phật, tình nguyện quy y” Phật-Pháp-Tăng” để kiếp sau được giải thoát khỏi kiếp luân hồi.

Từ chiếc áo cà sa, đầu cạo trọc, nói năng toàn là những lời nói từ tốn đượm vẻ hiền đức chững chạc, âm lượng khoan thai với những từ ngữ của đạo Phật toàn là chuyện” làm lành lánh dữ, từ bi, nhân ái, yêu thương…”, gặp nhau là chấp tay xá dài với câu mở đầu” Nam Mô A Di Đà Phật”, thật là” thiên tai! thiên tai!” ( ngoại trừ tông phái thiền Tiếp Hiện của Sư Ôm Thích Nhất Vẹm, giáo chủ Lang Môn, khi gặp nhau không chấp tay mà ÔM hôn theo kiểu Liên Sô, như tổng bí thư đảng Cộng Sản Liên Sô Breznev ôm hôn Hồ Chí Minh khi gặp nhau trong thời hai tên nầy còn sống; nhưng chuyện hai người khác phái ôm hôn kiểu nầy dễ bị hiểu làm là GAY lắm), rảnh rang thì lần chuỗi hạt Bồ Đề để cho tâm tính bình lặng như mặt nước, lại thường hay mở rộng tấm lòng từ bi, kêu gọi Phật Tử đóng góp để cứu tế khi có thiên tai ở bất cứ nơi nào trên thế giới; một điều dễ nhận ra là: dù tăng ni với tấm lòng” đại-bác” đến đâu, cũng ít vị nào ai dám bán chùa do mình làm chủ, bá tánh đóng góp, để dành tất cả tiền cứu giúp những người lâm nạn như câu người ta thường nói:”Cứu một người còn có phước lớn hơn cất năm, bảy ngôi chùa”.

Cho nên chùa là nơi có thể tin tưởng, vì nơi nầy toàn là những người hiền đức, không tranh đua, bỏ qua hết cả lục dục thất tình, danh lợi để mai sao khi viên tịch, hy vọng về Niết Bàn, thoát khỏi kiếp luân hồi. Thầy, ni cô là những người được nhiều Phật Tử tin cậy là có đạo đức, có kiến thức về Phật pháp, lại là người ngày đêm công phu kinh mõ kề cận” tượng Phật”, đi xa hơn, trong xã hội, thầy là những vị” lãnh đạo tinh thần”, được các M.C giới thiệu trịnh trọng trong các buổi lễ, sinh hoạt cộng đồng….chức lãnh đạo nầy không có nhiệm kỳ, không người bầu, nhưng được giữ suốt đời. Tuy nhiên, cái địa vị mang tính cách” lãnh đạo” ấy có dính dáng đến đời, nhất là trong lãnh vực chính trị, ấy thế mà một số thầy rất hãnh diện làm” lãnh đạo tinh thần” nhưng lại tuyên bố” PHI CHÍNH TRỊ” thế mới là” trật đường rầy xe lửa”, nhưng đó là” cái khôn” của những kẻ” láo cá vặt”: khi hưởng lợi thì nhào ra lãnh trước, lúc hữu sự thì lặn mất; nhất là các sư từ Việt Nam sang, lợi dụng lối” phi chánh trị” để từ chối không chịu thuyết pháp bất cứ nơi nào có lá cờ vàng ba sọc đỏ, hát quốc ca, một số chùa mà trong lúc còn cần bá tánh đóng góp hoàn thành, thì treo cờ, nhưng sau khi khi đã xây xong là” phi chính trị”; hoặc là một số ngôi chùa hải ngoại do đám sư” về nguồn” trụ trì, lúc khánh thành thì treo cờ vàng cả chùa, từ cổng đến chánh điện, nếu cần phô trương cũng mời cả những vị danh tiếng như “Đức Đa Lai Đa Ma..” khi đi ngang qua, đến chùa để dựa vào uy tín hầu lừa đảo bá tánh và những người quốc gia, sau nầy thì lột cờ, phi chính trị, hết xôi rồi chuyện…. đây là mưu đồ thâm độc, lợi dụng tôn giáo để triệt hạ biểu tượng tự do, hồn thiêng sông núi của dân Việt Nam. Phi chính trị nhưng không bao giờ” PHI ĐÔ LA” thế mới là lối tu ngày nay.

Vì sự tin tưởng theo tập quán” trọng Phật kính tăng” ăn sâu vào truyền thống của Phật tử, nên một số tăng ni thuộc loại:” mượn đạo tạo đời” cụ thể là:” mượn đạo tạo TIỀN” mới có môi trường hoạt động, tiếp tục gây bao” nghiệp báo”, làm hoen ố uy danh Đức Phật và cả tôn giáo, nên việc” cúng dường, vung bồi công quả” cho những ngôi chùa với các” gian tăng” là vô tình tiếp tay cho kẻ gây thêm nghiệp báo, chớ không phải là có phước; nhất là từ ngày có đảng Cộng Sản vô thần, cán bộ Cộng Sản xâm nhập vào Phật Giáo từ trước 1975 đến nay, ngay cả hải ngoại cũng không tránh khỏi” công an giả sư” xuất ngoại thuyết pháp, thu tiền, tuyên truyền, ru ngủ, gây phân hóa hàng ngũ Phật Tử , làm công tác tôn giáo vận, cũng có khả năng gây dựng” chi bộ đảng” dưới tàng lộng tôn giáo, đường dây tình báo, gián điệp….có thể nói là giới” ni sư từ Việt Nam” sang rất là đa dạng, khó khám phá, chỉ trừ khi thấy giấy” Công Vụ Lịnh” như tên gián điệp đội lớp tu sĩ Phật Giáo Thích Thông Kỉnh. Người Việt tỵ nạn, bỏ hết tài sản, mồ mả ông bà, kể cả việc coi thường mạng sống, bỏ nước vượt biển, vượt biên đi tìm tự do, thường lo sợ công an, cán bộ phát giác trên đường đi; nhưng ngày nay, công an, cán bộ tôn giáo vận, mặc chiếc áo cà sa, được một số cơ sở Phật Giáo hải ngoại, nhất là sư và chùa” về nguồn” ủng hộ, sư từ trong nước được tôn kính, thuyết pháp dạy đạo, được coi là” lời vàng ngọc” nên có thu vào dĩa CD, DVD để phổ biến, đây là thực tế phủ phàng.

Những người tỵ nạn Cộng Sản ngày xưa bị công an, cán bộ bức hại đủ điều, thì ngày nay lại chấp tay chào cung kính” công an, cán bộ tôn giáo vận” mặc áo cà sa mà cứ ngỡ đây là sư, thì quả là đau lòng cho đạo Phật và vong linh của hàng triệu người chết oan vì đại họa Cộng Sản, trên đường đi tìm tự do. Nhờ nhiều Phật tử” thuần thành” kiểu Tam Tạng nên mà quái Cộng Sản tiếp tục mượn áo cà sa, thuyết pháp ca ma Cộng Sản ở ngay tại” thế giới Tây Phương Cực Lạc”, tiếp tục ru ngủ, thu tiền và làm công tác tôn giáo vận một cách an toàn.

Tại Úc Châu cũng có Phật tử, dù dân số ở đây khoản 200 ngàn, nhưng nghe đâu có đến 65 ngôi chùa và ngày nay đang trên đà” tăng vọt” khi có nhiều chùa bảo lãnh sư, ni ở bên Việt Nam sang tu học, bành trướng Phật Giáo, tình hình xuất ngoại rần rộ nầy của các tu sĩ Phật Giáo cũng là nghịch lý, vì trong nước Phật Giáo đang bị trù dập, đàn áp, nên rất cần những tu sĩ để cứu nguy cho đạo; mặt khác hàng triệu Phật tử đang cần các thầy, ni cô hướng dẫn quần chúng để bảo vệ đạo pháp; nhưng ở hải ngoại không cần sư, ni sang để” tu” và hoằng pháp; như vậy, họ xuất ngoại để làm gì? Phật Giáo Úc Châu cũng có những xáo trộn như ngoài đời, với cảnh lừa lọc, đấu tố theo kiểu cải cách ruộng đất; tuy nhiên vì các sư, ni rất là” thanh tâm trường an lạc” nên những chuyện động trời ở hậu liêu thường được che dấu rất kỷ, nhờ vậy mà chùa mới thu được nhiều tiền, thầy trở thành” tư bản Phật giáo” sau thời gian tu hành, tài sản hàng triệu Mỹ kim là điều có thật tại hải ngoại. Thời gian chân ướt chân ráo mới định cư, Phật Giáo Úc Châu có danh xưng là” Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Tại Úc Đại Lợi” và sau nầy sát nhập thêm Tân Tây Lan, khi chưa có tài sản thì” đệ đệ, huynh huynh” tình đồng đạo khắt khít như” chuông với mỏ, như tương với chao”, nếu nói theo cái tình hữu nghị Việt-Trung thì:” tình đồng đạo đời đời bền vững như răng với môi”; thế nên sau khi có tài sản do Phật tử đóng góp thì:” không có Tình đồng đạo vĩnh viễn, mà chỉ có quyền lợi mà thôi”.

Cuộc tranh chấp nổ ra nhiều nơi tại Úc Châu, điển hình như ở Tây Úc, một cư sĩ tên là Lê Tấn Kiết, tức là ông Mười Một, lấy pháp danh Đại Hỷ, dù không viết, đọc rành tiếng Việt (đương nhiên là kinh Phật cũng chưa chắc gì rành), nhưng cũng là người có tấm lòng” với Phật”, là những người tỵ nạn đầu tiên đến vùng đất nầy, nên có cơ hội hơn nhiều người đến sau, qui tụ Phật tử, mướn căn nhà ở số 45 Money Street, lập ra ” Niệm Phật Đường Chánh Giác”, sau mua đứt căn nhà, đổi thành chùa Chánh Giác, ở ngay trung tâm phố Perth, nay có giá trị bạc triệu, có cả cư xá dành cho mướn. Vị cư sĩ nầy từng tuyên bố mục đích cất chùa với huê lợi hàng đầu với nhiều người rằng:” một ngôi chùa bằng ba cái SHOPS”, dù nhiều người biết người xây chùa” không phải để tu” mà là THAY MƯỢN thiền môn làm THƯƠNG MẠI, nhưng vì kính Phật mà đi chùa, cúng dường, công quả, thế nên vị chủ chùa thu được nhiều lợi nhuận mà khỏi phải” lao động vinh quang”, ai cũng biết vị chủ chùa nầy từ ngày qua Úc đến già, không đi làm gì cả, nhưng lại có nhiều tiền nhờ bá tánh” vung bồi công đức”; rồi dùng tiền đó chi, hiến tặng, đóng góp cho các hội đoàn, dần dần trở thành” ân nhân” hay” mạnh thường quân” của các hội đoàn địa phương, nên sớm trở thành” thân hào nhân sĩ”; thế nên, vị cư sĩ nầy từng có nhiều ảnh hưởng lớn đến Cộng Đồng Người Việt Tự Do Tây Úc trong suốt mấy thập niên qua, hầu như các buổi lễ cộng đồng, khi vị” lãnh đạo tinh thần” nầy có mặt, thì MC thường giới thiệu:” Bác Lê Tấn Kiết, đại diện chùa Chánh Giác”; ngay cả vị chủ tịch trẻ cộng đồng là luật sư Nguyễn Quốc Duy từng gọi ông Lê Tấn Kiết bằng câu:” NIÊN TRƯỞNG TỐI CAO CỦA CỘNG ĐỒNG” trên đài phát thanh SBS và đài phát thanh Tây Úc và trong các buổi lễ; giống như” chủ tịch Hồ Chí Minh VĨ ĐẠI” vậy.

Sự ảnh hưởng nầy được nhìn thấy qua các cuộc bầu cử cộng đồng, vị cư sĩ nầy thường là trưởng Ban Tổ Chức Bầu Cử, thời chủ tịch Nguyễn Quốc Duy, quỷ Lotto hiến tặng số tiền lên đến 320 ngàn cho cộng đồng, thay vì đại diện Lotto tới văn phòng cộng đồng trao tiền, thì lại kéo đến chùa Chánh Giác và ông Lê Tấn Kiết lên đài phát thanh SBS nói năng, khiến người dân tưởng đây là công lao do ông ta vận động vậy. Từ một người bình thường, không rành chữ nghĩa, dựa vào tượng Phật, uy tín Phật Giáo mà làm nên cơ nghiệp, uy danh là nhờ nhiều Phật tử thuần thành đóng góp.

” Nước lã mà quấy nên hồ.
Tay mơ, dựa Phật, tiền vô ào ào”

Tình hình nầy kéo dài đến năm 1982 khi có vị sư tên là đại đức Thích Phước Nhơn, được chùa bảo lãnh từ trại tỵ nạn, sang ở chùa Chánh Giác để tu; nào ngờ vị sư nầy muốn làm hội trưởng Phật Giáo Tây Úc, nên tranh chấp với cư sĩ Lê Tấn Kiết, thế là” mặt trận Phật giáo miền Tây không yên tỉnh” khai hỏa sau nhiều tháng ngày có lời qua tiếng lại, kình chống nhau quyết liệt ngay trong chùa. Vào lễ Vu Lan năm 1984, đại đức Thích Phước Nhơn vận động các” sư huynh” ở Tổng Hội Phật Giáo xuống dàn xếp, rồi cũng không xong, thế là một cuộc” đem Phật xuống đường” tại Tây Phương diễn ra, các chư tôn công đức mang tượng Phật, bàn thờ ra khỏi chùa Chánh Giác, có một số Phật tử ủng hộ, đau lòng thay, bàn thờ Phật lại đặt ngay trước ngả ba đường Money và Monger, đó là một” động chứa đĩ có licence” của người Úc; cũng như trước đây đám Thích Trí Quang đem cả tượng Phật đặt trên đống rác trong chiến dịch mang Phật xuống đường 1966 vậy. Rồi Đại đức Thích Phước Nhơn mang bàn thờ Phật đến” an vị” tại một căn nhà mướn ở đường Albert ( North Perth) để tu tạm, sau đó dời lên vùng Wanneroo cất ngôi Phổ Quang rất lớn, xưng là viện chủ; nay thì thượng tọa Phước Nhơn tu hành thành đạt viên mãn, có trong tay 3 ngôi chùa, giao cho ba ni cô trụ trì, còn thượng tọa thì xưng là” phương trượng” như Thiếu Lâm Tự vậy; nên ngày nay Phật Tử không biết vị Phương Trượng đang ở đâu, vì có 3 chùa ở ba nơi khác nhau?. Một số Phật tử trước đây từng đóng góp công quả, khi đến chùa xưa, thì tự hỏi:” giờ nầy sư ở đâu?”.

Tiếp theo là những thông báo khai trừ, trong một tờ QUYẾT ĐỊNH, do huề thượng Thích Phước Huệ, là Viện Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Úc Đại Lợi, số 04/83/ VHC/QĐ, đề ngày 4 tháng 12 năm 1983, có đoạn như sau:” Những hành động của ông Lê Tấn Kiết, chứng tỏ đương sự là một con người không có tư cách của một Phật Tử, không giữ được các hạnh tốt của một CÁN BỘ PHẬT GIÁO theo giáo luật…”. cuộc xung đột kéo dài đến khi huề thượng Thích Phước Huệ cần” thu phục” chùa để tách Phật Giáo Úc Châu ra làm 2 cánh như trước 1975 ở miền Nam, nên vào tháng 5 năm 1999, huề thượng Phước Huệ sang Tây Úc, được ông chủ chùa Chánh Giác Lê Tấn Kiết tiếp đón nồng nhiệt, tổ chức ngay buổi thuyết pháp vào lúc 7 giờ tối ngày 15-5-1999, ông chủ chùa tuyên dương rằng:” Hòa thượng Thích Phước Huệ có công đức VĨ ĐẠI đối với Phật Giáo Úc Châu..”. Được biết cánh” Phước Huệ Công Đức Tòng Lâm” có hơn 30 ngôi chùa, nay xây thêm đạo tràng ở Sydney, xây mấy chục tượng Phật ở Tân Tây Lan; theo lời đại đức Thích Phước Tấn, người lo xây tượng cho biết là: các người làm tượng phải giữ thanh khiết trong lúc làm việc trong vòng 5 năm, có nghĩa là người xây tượng không được” chút chút” với vợ hay bất cứ người khác phái (được quảng bá những lời phỏng vấn và gây quỷ trên đài phát thanh SBS ở Sydney do Ngọc Hân đảm trách trước đây), không biết có vị nào làm công tác xây tượng Phật nầy dám hy sinh đến 5 năm chuyện”giã gạo ban đêm” như bài hát:” tiếng chày trên sóc Bam Bo”.

Tuy nhiên gần đây thì chính” sư phụ vô vàng kính yêu” của vị đại đức nêu trên đã có mối quan hệ HỮU CƠ (đừng nói lái mà làm mất tôn kính nhé) với một phụ nữ có pháp danh Diệu Đ…trong suốt 15 năm mà” thanh tâm vẫn trường an lạc” vì không ai biết, nay đã được phổ biến khắp thế giới. Đây cũng có thể chỉ là” phần tảng băng nổi” trong cuộc đời và sự nghiệp” tu đạo” của vị” giáo hội chủ” Phật Giáo Úc Đại Lợi và Tân Tân Lan, vì trước đây, khi còn tu ở Việt Nam cũng có” Năm Thợ May”; do đó trong bốn thứ khoái của các vị thâm Nho thời xưa, có cái khoái:” huề thượng động phòng hoa chúc dạ”, thì vị huề thượng Phước Huệ chắc là đã biết biến” đời là bể khổ” thành ra” đời là bể sướng” và cũng có thể có nhiều người nữa trên đường” hành đạo” và cùng” đưa nhau vào cõi mơ hồ nào đây”, nên không có cái tâm trạng” bở ngỡ” khi vị huề thượng tu gần hết cả đời, bổng cưới vợ và biết được” hang Pác Pó” lần đầu mà động não:” mặt trời chân lý rọi trong tim”. Huề Thượng Phước Huệ thể hiện tinh thần” tu đạo” lẫn” đạo tu” theo phái Tiếp Hiện, không biết Ngài và thiền sư Thích Nhất Vẹm, ai khai sáng trước?. Tuy nhiên, trong cùng một con người như ngài huề thượng Thích Phước Huệ mà đóng hai vai mới là chuyện phi thường: lúc mặc áo cà sa thì là cao tăng, nhưng khi cỡi áo cà sa thì là” người phàm”, thật là vẹn toàn” đạo và đời”, cái ranh giới giữa đạo-đời rất mong manh, chỉ cỡi lớp áo là xong, không cần” kinh qua thời kỳ quá độ”.

Tại Úc Châu, cánh Phước Huệ không có những hoạt động chống Cộng, nhưng từ thiện là” chủ yếu”, lại thêm bảo lãnh sư từ Việt Nam sang tu, ngày nay nổi bật có sư Minh Hiếu, là người hoạt động mạnh, đi cổ động xây thêm chùa tại nhiều nơi ở Úc Châu. Không biết tiền đâu là làm rình rang như thế? Dựa theo tài liệu từ quyển Bạch Thư của huề thượng Thích Tâm Châu, nhân chuyến đi thăm Úc Châu, phát hành năm 1994 tại chùa Phật Quang, với những biến cố như sau:

Từ 1994, hủ tương thúi Phật Giáo Úc Châu đã có, nhưng hủ tương nầy được che kín bằng” tượng Phật”, huề thượng Thích Tâm Châu, sang Úc Châu năm đó, tình cờ xem lại cuốn phim thu băng ghi lại cảnh” biểu tình đấu tố” của một số Phật tử do đám Phước Huệ giựt dây tại thị xã Footscray ở tiểu bang Victoria ( Melbourne) vào chiều ngày 4 tháng 11 năm 1993. Mục đích tối hậu là giành chùa Quang Minh do huề thượng Huyền Tôn bỏ công sức gầy dựng.Ngày 7-6-1993, Huề Thượng Thích Phước Huệ đã vận động chữ ký của các sư, ni theo ông, gồm 13 người, yêu cầu:

-Thu hồi các chúc vụ Giáo Hội của thầy Huyền Tôn.
-Thuyên chuyển thầy Huyền Tôn ra khỏi tiểu bang victoria.
-Cấm thầy Huyền Tôn không được tham dự các đại lễ.

Qua 3 yêu sách trên, đủ thấy là huề thượng Thích Phước Huệ đúng là” công đức tùm lum, tà la”. Lấy quyền và tư cách gì để đuổi một người ra khỏi tiểu bang, giáo hội? Trong khi nước Úc theo thể chế tự do, bất cứ công dân Úc nào cũng có quyền đi lại, lựa chọn nơi cư trú tự do. Cái ” chế độ” hộ khẩu đâu có ở Úc, thế mà Phước Huệ muốn áp dụng.

Ngày 17 tháng 9 năm 1993, huề thượng Thích Huyền Tôn viết bức tâm thư gởi cho huề thượng Thích Phước Huệ, 6 trang đánh máy, với các điểm chánh:

-Lập Hội Đồng Quản Trị Chùa Quang Minh ( Melbourne).
-Cho biết chùa PHƯỚC HUỆ ( sydney) là ngôi chùa của giáo hội hay là chùa tư của riêng hòa thượng Phước Huệ?
-Giáo Hội công nhận ba thầy: Tâm Minh, Bổn Điền, Quảng Nghiêm vẫn là người trong giáo hội.
-Thu hồi thầy Minh Trí, trụ trì chùa Quang Minh về nơi cũ.

Huề thượng Huyền Tôn nhận là đã lầm lổi khi tôn phong thượng tọa Thích Tắc Phước, tức là Thích Phước Huệ lên ngôi vị Huề thượng ( sau nầy chính Thích Phước Huệ bảo các đệ tử trong cánh làm cái lễ gọi là SUY TÔN HUỀ THƯỢNG, được đài phát thanh SBS, do Ngọc Hân đánh bóng, ca tụng công đức trên toàn quốc, nghe lễ suy tôn, thính giả tưởng đâu là Ngài Phước Huệ là Giáo Hoàng vậy). Sự vận động ngầm, tổ chức của cánh Phước Huệ, nên vào ngày 25 tháng 10 năm 1993, có 4 người trong chùa Quang Minh gồm toàn là nữ: Nguyễn Thị Phú, Bùi Thị Hồng Nhung, Thái Ngọc Bích, Đoàn thị Kim Hoa, đồng ký tên gởi lên Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Úc Đại Lợi tố cáo huề thượng Thích Huyền Tôn có các tội như sau: chủ mưu bạo hành, hối mại quyền thế và hăm dọa…họ yêu cầu:

-Khai trừ thầy Huyền Tôn ra khỏi giáo hội.
-Yêu cầu thầy Huyền Tôn bồi thường.
-Yêu cầu can thiệp với Bộ Di Trú đưa nội vụ ra tòa.

Chiều ngày 4 tháng 11 năm 1993, bà NGUYỄN THỊ PHÚ cùng với một số Phật Tử của chùa Quang Minh tổ chức một cuộc biểu tình nhỏ ngay tại trung tâm thành phố Footsray với biểu ngữ bô nhọ huề thượng Thích Huyền Tôn, bà Phú chấp tay lạy những người đi đường để xin chữ ký, hình ảnh nầy chẳng khác nào cảnh đấu tố” trí, phú, địa, hào..” ở miền Bắc sau 1954. Đến ngày 5 tháng 11 năm 1993 ( ngày hôm sau), bà Nguyễn Thị Phú với thỉnh nguyện thư và 200 chữ ký gởi lên huề thượng Thích Phước Huệ, yêu cầu trục xuất huề thượng Huyền Tôn ra khỏi chùa Quang Minh.

Vào ngày 6 tháng 11 năm 1993, có một lá thư của một người không tiện nêu tên, gởi đến các tăng ni, chư tôn trong giáo hội, phân tích rất kỷ và coi cuộc biểu tình của bà Phú là ÂM MƯU của Cộng Sản, cần phải đạp tan, nếu không có hại cho đạo pháp. Đến ngày 8 tháng 11 năm 1993, ni cô HẠNH THẮNG viết một bức tâm thư gởi đến chư huề thượng, thượng tọa, đại đức, thư nói rõ về cô Nguyễn Thị Phú và Bùi Thị Hồng Nhung là ân nhân của cô; nhưng hai cô nầy định kéo cô vào con đường” Đồng tình luyến ái”, cô không chịu chiều theo, nên các cô kia ghen tức mà vu khống, đặt điều…

Sau nầy, sự thật phơi bày, ai tu thật, tu giả đều khó thoát khỏi” quả báo nhản tiền”, sau đó cánh Phước Huệ phát triển mạnh, từ thiện với quỷ VABAT, tổ chức quyên góp tiền về Việt Nam cứu trợ, mổ mắt cườm thoải mái ( có phổ biến và những cuộc điện đàm từ Việt Nam do các sư chùa Phước Huệ nói từ Việt Nam, đang làm việc từ tâm). Không cần dùng kiếng chiếu yêu, ma quái bị” kiếng thời gian” làm lộ nguyên hình, nên cái vụ Scandal của huề thượng Thích Phước Huệ là điều khó dấu, dưới ánh mặt trời không có gì bí mật, nhất là” cái cục cưng của anh….” tiết lộ trước công luận về:” con đường tình ta đi…” từ lâu và dĩ nhiên là huề thượng Thích Phước Huệ nay đã thấm thía câu ca:” Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần sầu..”. Tuy nhiên, từ vụ nầy mới lòi ra vài tờ báo ở Úc Châu vẫn còn” kính tăng Phước Huệ” như là người CÔNG ĐỨC đầy mình nay thành CỨT-ĐÔNG bay mùi thúi khắp nơi, dù các vị nầy được coi là những nhà báo nổi tiếng, kỳ cựu ở Úc Châu trước đây, nhưng bây giờ thì đã” Đổi Mới” theo thời cuộc” đón gió và hơi đồng” mà làm ra của cải vật chất và từng ra vào Việt Nam. Những người làm trong các ban chấp hành cộng đồng mà về Việt Nam làm ăn, có cơ sở, thì không thể tin được; những người làm chủ báo mà về Việt Nam thường xuyên, được thoải mái đi đây đi đó, thì đây không phải là những cơ quan truyền thông chống Cộng, có lập trường rõ ràng, toàn là thứ” xanh vỏ đỏ lòng” nên đế cao cảnh giác, không nên mua báo là ủng hộ cho chúng có tài chánh hoạt động ngầm cho Việt Cộng qua nghị quyết 36.

Vài tờ báo nầy được đồng hương Úc Châu biết rõ cái mục đích làm truyền thông” thương mại” nên có thể quảng cáo cho bất cứ dịch vụ, thương nghiệp nào để có tiền, như quảng cáo các dịch vụ cho Vietnam Airline, các đoàn văn công, đánh bóng cả con gái của tên Việt gian Nguyễn Cao Kỳ là Nguyễn Cao Kỳ Duyên ( có lần đang hình ả tươi cười khi về Việt Nam, có ý định đóng phim), họ” núp bóng văn nghệ” để làm lợi cho giặc Cộng. Từ đó, người ta đặt câu hỏi là: tại sao vài tờ báo nầy lại muốn nhận chìm xuồng vụ” Phước Huệ công đức tùm lum”? Nhưng đây cũng là” ngưu tầm ngưu, mả tầm mả”, họ binh vực nhau dù biết sai trái cũng đều có cái NHÂN thầm kính bên trong, chớ không phải tự nhiên mà có, bên trong ắt hẳn có sự quan hệ chằn chịt quyền lợi, làm ăn, nhất là có cơ sở tại Việt Nam. Hy vọng sẽ có nhiều chuyện” tùm lum khác” cũng lần lượt phơi bày trước công luận như chuyện giải mật văn khố của các nước dân chủ trên thế giới vậy./..

PHẦN ĐỀ NGHỊ:
Nhân đây, xin” gợi ý” cho những tiến sĩ, giáo sư, học giả, học thiệt, học chơi, học giỡn học dỏm, học nhiều mà không hiểu, có học mà đếch có hạnh…..của nhóm GIAO ĐIỂM có thêm những đề tài để đưa lên trang web, xin đề nghị sau đây:

-Nhiều tác giả có viết đề tài: ĐỐI THOẠI VỚI GIÁO HOÀNG JOHN PAUL ĐỆ NHỊ, nhưng có lẽ viết bằng tiếng Việt, mà đăng trên Giao Điểm là trớt quớt, ngay cả những người Việt cũng ít ai vào đây để tìm hiểu vì biết trang báo điện tử nầy rất rõ lập trường; mặt khác khi còn sống, đức Giáo Hoàng cũng không quỡn đọc, nhất là viết bằng tiếng Việt; chắc chắn là mục đích của Giao Điểm là nhằm” khiêu khích” những tín đồ Thiên Chúa và kích động chia rẻ giữa các tôn giáo. Ai cũng biết Đức Giáo Hoàng John Paul Đệ Nhị là người làm tan cả khối Cộng Sản Quốc Tế qua mắc xích Ba Lan, nên những tác giả nầy” oán đức Giáo Hoàng” lắm, làm sụp đổ cả” chỗ dựa vững chắc như thành đồng vách sắt” của” đỉnh cao trí tệ loài người” tại Bắc Bộ Phủ. Cho nên xin đề nghị những cây viết” có lắm bằng cấp cao của Giao Điểm” nên viết đề tài thực tế, bằng tiếng Việt, thì có nhiều người đọc như: ĐỐI THOẠI VỚI THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH hay là ĐỐI THOẠI VỚI HUỀ THƯỢNG THÍCH PHƯỚC HUỆ. ( sau vụ scandal nầy)

-Cũng nhiều tác giả Giao Điểm viết đề tài: TẠI SAO KHÔNG THEO ĐẠO CHÚA?, nay đề nghị viết đề tài: TẠI SAO PHẬT TỬ KHÔNG THÈM ĐI CHÙA?

-đề tài CÔNG GIÁO TRÊN BỜ VỰC THẨM của Charlie Nguyễn, xin đề nghị viết đề tài: PHẬT GIÁO TRONG THỜI MẠT PHÁP.
-đề tài CÔNG GIÁO HUYỀN THOẠI VÀ TỘI ÁC cũa Charlie Nguyễn, xin đề nghị viết để tài: PHẬT GIÁO VÀ SƯ HỔ MANG, DÂM ÁC TĂNG….

Chúc những cây viết Giao Điểm viết một cách trung thực, có luận lý của” người có học, có trình độ” văn hóa, để có thể tạm thuyết phục người đọc; chớ lối viết từ xưa đến nay theo kiểu” ngụy chứng, ngụy biện” theo tinh thần của các báo chí trong nước, là coi như thất bại, lòi ra cái dỏm trong đó. Nếu không cải thiện lối viết thì đề nghị nên mang bằng cấp về Việt Nam để” thân tặng” cho chủ nhân các Ao Cá Bác Hồ, cũng là góp một bàn tay phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa../.

Trương Minh Hòa

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 1 Comment »

Xúm lại đánh hội đồng, cướp tập thể !!!

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 3, 2008

Xúm lại đánh hội đồng, cướp tập thể !!!

Tại Việt Nam, ngoài quốc nạn tham nhũng trong hành chánh, ngu dân trong giáo dục, “cắt cổ” trong y tế… còn có quốc nạn “đào đường” trong giao thông. Ông giao thông vừa làm đường trơn tru bóng loáng, ông bưu điện đã vội đào lên đặt cáp quang, dây điện thoại. Bưu điện vừa lấp xong, ông cấp thủy lại vội xới tung lắp ống dẫn nước. Cấp thủy mới lấp lại, ông thoát nước đã vội nạy đường chôn ống cống xây hố ga… Tất cả chứng tỏ một sự bất phối hợp làm công quỹ hao hụt, giao thông tắc nghẽn, dân tình khổ sở điêu đứng. Tuy nhiên, bù lại, có một quốc nạn khác cũng làm dân tình điêu đứng, song có sự phối hợp rất ăn ý, rất thần tình, đó là quốc nạn ăn cướp của công và của tư. Một sự phối hợp giữa chính quyền, công an, báo chí, mặt trận mà nhân gọi là “xúm lại đánh hội đồng, cướp tập thể”. Xin đơn cử vài ví dụ tiêu biểu gần đây.

1- Trước hết là vụ công ty Tư vấn Quốc tế Thái Bình Dương (Pacific Consultants International PCI) của Nhật Bản (NB) mới bị báo chí NB phanh phui và tòa án NB xét xử về tội đã chi tiền huê hồng 15% cho cơ quan PMU của Việt Nam từ năm 2001 để được trúng thầu dự án Đại lộ Đông Tây dài 22 km ở Sài Gòn, một dự án thực hiện với đồng vốn ODA của NB. Công ty PCI đã phải nộp từ 800 ngàn đến 2 triệu đôla cho một quan chức CSVN mà báo chí Nhật bêu danh là Huỳnh Ngọc Sỹ, Phó Giám đốc Sở Giao thông Công chánh Sài Gòn, kiêm Giám đốc Ban Quản lý PMU Đại lộ Đông Tây.

Ngay từ tháng 06 năm nay, cơ quan công tố Tokyo đã nhờ Bộ Ngoại giao Nhật chuyển hồ sơ vụ PCI hối lộ sang Hà Nội để nhờ chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cộng tác trong cuộc điều tra. Thế nhưng viên thủ tướng kiêm trưởng ban bài trừ tham nhũng của đảng và nhà nước này chẳng hề hé miệng. Đến hôm mồng 10 tháng 07, trong một cuộc họp báo ở Hà Nội, khi được yêu cầu cho biết tình hình điều tra vụ PCI tới đâu rồi, phó Thủ Tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đã trả lời tỉnh bơ: “Chưa nhận được thông tin chính thức, cũng chưa nhận được yêu cầu của chính phủ Nhật về vụ việc”!

Sau khi công tố Nhật cho bắt 4 viên chức của PCI hôm mồng 04 tháng 08, báo Người Lao Động có đưa tin vụ này, nhưng ngay sau đó đã gỡ bài xuống. Và mọi tờ báo khác -với kinh nghiệm đắng cay về việc thông tin vụ PMU 18 tham nhũng vốn ODA của Nhật trước đây- cũng hoàn toàn câm miệng, đang khi báo chí NB và toàn cầu thì loan tin rùm beng. Hơn tuần sau, ngày 16 tháng 08, trong một buổi trả lời phỏng vấn, thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn trước hết ngoác miệng tuyên bố: “Là một nước nghèo, từng trải qua một thời gian dài bị chiến tranh tàn phá, hơn ai hết, Việt Nam biết quý trọng từng đồng vốn, nhất là những đồng vốn mà bạn bè quốc tế đã ưu ái dành cho Việt Nam. Thực tế chứng minh chính phủ VN đã quản lý và sử dụng rất có hiệu quả, rất đúng mục đích nguồn ODA của Nhật và của các nước khác” (!?!). Tiếp đó, thứ trưởng nhà ta còn dạy chính phủ và truyền thông Nhật một bài học về việc “đi lề bên phải”: “VN đề nghị phía NB trong khi vụ việc đang được điều tra, chưa có kết luận cuối cùng thì các cơ quan truyền thông đại chúng của hai nước đều không nên đưa tin”, rằng “VN lấy làm tiếc vì đến nay, thông tin mà các cơ quan chức năng NB cung cấp cho VN vẫn còn sơ sài và chưa phù hợp với các thủ tục pháp lý của VN… báo chí NB lại có một số bài viết không thật khách quan, thậm chí có thông tin không đúng sự thật…” Cuối cùng ông ta hăm dọa: “Cách viết như vậy không có lợi cho hai nước VN, NB…” Tới nay, đang khi các viên chức lãnh đạo PCI bị cầm tù thì Huỳnh Ngọc Sỹ -nhờ đã biết chia chác trên dưới và nhờ đồng bọn lớn nhỏ bao che- vẫn bình chân như vại. Đúng là cùng nhau xúm lại đánh hội đồng, cướp tập thể!!

2- Ví dụ thứ hai là vụ đất đai của Dòng Chúa Cứu Thế và Giáo xứ Thái Hà, Hà Nội, vốn có từ năm 1928 với diện tích hơn 60.000m2. Cơ sở tôn giáo này đã bị nhà cầm quyền CS chiếm dụng bất hợp pháp từ năm 1961, chỉ trừa lại cho 2.700m, rồi bị tư nhân hóa một phần năm 1994. Từ đó đến nay, nhà dòng đã làm đơn khiếu nại không biết bao nhiêu lần, nhưng nhà cầm quyền lẫn các tư nhân vẫn không chịu trả.

Ngày 5-1-2008, nhận thấy Công ty May Chiến Thắng vi phạm trên khu đất đang tranh chấp: phá các cơ sở vật chất của Nhà Dòng, làm đường, tiến hành xây dựng, giáo dân Thái Hà đã phản đối bằng cách dựng lều bạt, treo ảnh tượng và cầu nguyện bên ngoài khu đất, trong tinh thần tôn trọng pháp luật. Song song đó, các linh mục đang phục vụ giáo xứ tiếp tục kiên nhẫn làm đơn đòi lại công bằng. Nhưng rồi, ngày 11-4-2008, họ được mời đến “làm việc” với Đoàn Thanh tra liên ngành vốn chưa bao giờ gặp họ trước đó cả! Đoàn Thanh tra nói rằng ngày 24-10-1961 linh mục Vũ Ngọc Bích đã ký giấy bàn giao đất cho nhà nước quản lý và còn cho biết ngày 30-1-1961 (hơn 9 tháng trước đó), chính quyền đã có quyết định giao đất cho Xí nghiệp Dệt Thảm len Đống Đa (!?!). Nhưng xem lại thì ngày 24-10-1961 thật ra là ngày chính phủ bắt các cơ sở tôn giáo phải kê khai tài sản của mình. Việc kê khai đó không thể có nghĩa là bàn giao, hiến tặng! Đến ngày 30-6-2008, Quyết định số 2476 của UBND thành phố Hà Nội lấy lại y chang lập luận của đoàn thanh tra, rồi còn thản nhiên nói thêm: Linh mục Vũ Ngọc Bích đã ký biên bản “Hội nghị bàn giao nhà thống nhất quản lý vào Nhà nước” vào ngày 24-10-1961, là để “thực hiện Thông tư của Thủ tướng Chính phủ số 73/TTg ngày 07-07-1962” (xuất hiện 9 tháng sau đó !?!).

Bị các linh mục vạch trần những phi lý, mâu thuẫn, ngụy biện trong các văn bản và lập luận, nhà cầm quyền tạm rút lui để mưu đồ cách khác. Ngày 02-07-2008, Giáo xứ nhận được công văn trả lời của UBND thành phố phán rằng phần nhà đất của Giáo xứ đã bị các Công ty Điện lực, Vật tư Vận tải Xi măng và May Chiến Thắng chiếm dụng thì nay thành phố sẽ thu hồi toàn bộ, giao cho UBND quận Đống Đa quản lý và đầu tư xây dựng công trình công cộng. Thấy thế, ngày 14-08-2008, giáo dân Thái Hà đã kiệu tượng Đức Mẹ khu đất mà Công ty May Chiến Thắng đang chiếm dụng và bỏ hoang. Hôm sau, họ lại phá đổ một đoạn tường do công ty đã xây bất hợp pháp để dễ đi vào đó. Rồi ngày 19-08-2008, các Linh mục tu …sĩ lại gửi Đơn khiếu nại tới nhà cầm quyền, yêu cầu trao lại quyền sử dụng đất cho Dòng và Giáo xứ. Thế là báo chí công cụ của nhà nước rùm beng nhập cuộc. Hôm ấy, các đài Truyền hình VN và Hà Nội, các báo Hà Nội mới, An Ninh Thủ Đô và Nhân Dân đồng loạt đưa tin xuyên tạc sự thật (kết án việc làm của giáo dân, vu khống các linh mục tu sĩ) để có cớ giải tán việc họ đòi lại công bằng. Chưa hết, báo Tiền Phong số ra ngày 20-08-2008 còn tung thêm luận điệu: “Căn cứ vào Luật Đất đai năm 2003 của Chính phủ, căn cứ vào Nghị quyết số 23 ngày 26-11-2003 của Quốc hội… thì Nhà nước không xem xét lại chủ trương chính sách và việc thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo XHCN liên quan đến nhà đất đã ban hành trước ngày 1-7-1991”.

Bị giáo xứ phản bác rằng đất đai Thái Hà chưa bao giờ thuộc diện “cải tạo nhà” với lệnh trưng thu hay tịch thu, nhà cầm quyền xoay sang kế khác. Ngày 26-8-2008, UBND Hà Nội đã gửi tới Thái Hà cái gọi là “Bản gốc các tài liệu, hiện sở Tài nguyên Môi trường và sở Xây dựng TP đang lưu trữ” (tất cả có sáu) như là cơ sở để biến đất Dòng và giáo xứ thành của nhà nước rồi thành của tư nhân. Nhưng người ra đã thấy ngay rằng các loại tài đó toàn là ngụy tạo và vô giá trị vì trên ấy không hề có bất cứ con dấu nào của Dòng Chúa Cứu thế là sở hữu chủ, lại chỉ có chữ ký của một mình linh mục Bích là kẻ quản lý, rồi chỉ duy linh mục Bích bàn giao, mà không hề có bất cứ văn bản nào của người nhận bàn giao nào cả.

Bị các linh mục vạch trần âm mưu chứng cứ giả, nhà cầm quyền cuối cùng sử dụng hạ sách xưa nay của cộng sản: còng súng và nhà tù. Sáng ngày 27-08-2008, công an tay sai bắt đầu “khởi tố vụ án hình sự” tại 178 Nguyễn Lương Bằng về hai tội: “Hủy hoại tài sản và gây rối trật tự công cộng theo điều 143 và 245 Bộ luật hình sự”. Chiều cùng ngày, các giấy triệu tập đã gửi đi và ngay hôm sau, chẳng theo trình tự luật pháp, Cơ quan Điều tra quận Đống Đa đã dùng vũ lực (đánh đập gây đổ máu) để bắt tạm giam một số giáo dân ngay tại nhà của họ. Thế là chiều ngày 28-8, hàng trăm đồng bào công giáo kéo đến trước đồn công an cầu nguyện trong im lặng. Khoảng 20g đêm, họ bị “bạn dân” tấn công bằng dùi cui điện và đủ loại vũ khí khác. Rất nhiều người phải đưa vào bệnh viện. Hôm sau thì lãnh đạo công an Hà Nội họp báo, chối bai bải về hành vi tàn bạo của lính mình, còn y bác sĩ thì chỉ chữa trị mà chẳng viết giấy chứng thương! Song song đó, các trường học trong khu vực bắt đầu hăm dọa học sinh Công giáo. Nhiều đoàn hội của nhà nước như Hội Cựu Chiến binh, MTTQ, Phòng Giáo dục, Hội Chữ thập đỏ cũng đến nhà thờ làm công tác dân vận, yêu cầu Dòng và Giáo xứ rút lui!! Song tối 31-8-2008, sau khi cầu nguyện trên linh địa Đức Bà, một số giáo dân lại bị Công an xịt hơi cay vào mặt. Nhiều trẻ em và cụ già bị ngất tại chỗ phải đưa đi cấp cứu. Thế nhưng lực lượng tay sai và khối truyền thông công cụ vẫn cứ ngang nhiên xuyên tạc sự việc, cố biến các nạn nhân vô tội thành những phạm nhân. Còn đoàn thanh niên Cộng sản thì kéo nhau đến hiện trường gây rối sau khi xảy ra vụ việc.

3- Đúng là có một sự phối hợp ăn ý rất thần tình, xúm lại “đánh hội đồng, cướp tập thể” không hổ danh “chế độ cộng sản toàn trị”. Tất cả cho thấy chế độ quả là thành công trong việc biến nhân sự của bộ máy công quyền thành những viên chức tham lam và gian dối, biến lực lượng bảo vệ an ninh thành những tay sai mù quáng và tàn bạo, biến hệ thống truyền thông đại chúng thành những bồi bút mê muội và vô lương tâm, biến các tổ chức quốc doanh trong Mặt trận thành những nô bộc ngu trung và vô liêm sỉ. Việc tàn phá lương tâm con người như thế, tiêu diệt phản ứng lành mạnh của con người trước gian dối và bất công như thế, để đảng giữ mãi quyền lực, mới là nét ghê tởm xấu xa đích thực của chế độ cộng sản và mới là nỗi đau thương khôn cùng của dân tộc chúng ta!

BAN BIÊN TẬP
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 58 (01-09-2008)

http://thangtien.de/index.php?option=com_content&task=view&id=1842&Itemid=297 

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

CSVN Và Bọn Tay Sai Việt Tân Đã Ra Mặt Khiêu Khích Tập Thể Người Việt Tị Nạn Tại San Diego

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 3, 2008

CSVN Và Bọn Tay Sai Việt Tân Đã Ra Mặt Khiêu Khích Tập Thể Người Việt Tị Nạn Tại San Diego

Song Kiếm

Đã từ lâu, qua các diễn đàn điện tử, ngoài ra còn nhờ vào một số báo điện tử nổi tiếng có nhiều độc giả như: Tin Paris, Exodus, Hai Van News và Con Ong Việt; đặc biệt nhờ tờ báo giấy Con Ong Việt/SD, phát hành hàng tháng tại San Diego thông báo đầy đủ các chi tiết, mà cộng đồng Người Việt Tị Nạn ở đây mới biết rõ thêm một số tin tức về lý lịch của Lê Xuân Sơn, chủ nhân ông của trang Web « Hai Ngoai Phiem Dan ».

« Hải Ngoại Phiếm Đàn », được coi là diễn đàn điện tử của Lê Xuân Sơn, nguyên là một sĩ quan QLVNCH. Trước năm 1975, hắn đã từng làm quận trưởng quận Củ Chi, và hiện đã được tái định cư tại San Diego, CA, Hoa Kỳ. Được biết, trước đây khi còn giữ trách vụ quận trưởng quận Củ Chi, Lê Xuân Sơn đã từng hợp tác chặt che với bà Mười An, một nữ cán bộ kinh tài Việt cộng, và là trùm buôn lậu vùng biên giới Miền Đông Nam Việt, y thị chuyên đặc trách tiếp tế các loại nhu yếu phẩm và thuốc men cho bọn cộng sản trong khu vực.

Theo điều nghiên, chúng tôi được biết, « Hải Ngoại Phiếm Đàn » ngoài Lê Xuân Sơn (LXS) trực tiếp điều khiển, còn có một bọn người vô lại khác thuộc băng đảng Việt Tân tiếp tay lấy tin và viết bài cho hắn. Bọn đó toàn là một lũ người đã từng bán linh hồn cho VT; chúng tiếp tay nhau quấy nhiễu cộng đồng và đánh phá các hội đoàn và đoàn thể người Việt quốc gia tại nơi đây. Trực tiếp với LXS gồm có:

– Trần Chấn Hải, đại diện băng đảng Việt Tân/San Diego.
– Khiếu Như Long, một cán bộ công đoàn Xây Dựng B14 của VC, được sắp xếp đưa sang Mỹ dưới dạng mua con Lai, hắn núp dưới danh nghĩa Hội CSVSQ/Thủ Đức.
– Trần Văn Chương, một hạ sĩ quan Không Quân, từng làm hội trưởng hội Ái Hữu Không Quân nhiều năm, y chuyên sử dụng trang Web Hai Ngoại Phiem Đan của LXS để « đánh bóng » cho mấy tên Không Quân chạy theo VT.
– Đặng Văn Trí, hội trưởng hội Thủ Đức, nhưng thực chất Trí đã man khai, vì hắn chỉ là một viên hạ sĩ quan thiếu học, được đặc ân theo học khóa « Bổ Túc Sĩ Quan » tại Đồng Đế.
– Phan Anh Dũng, tên thật là Phan Trường An, người đã ngấm ngầm len lỏi vào các sinh hoạt hội đoàn, báo chí tại San Diego để lén lút phá hoại như việc bôi xóa quốc kỳ VNCH trên huy hiệu của Hiệp Hội Người Việt San Diego (HHNV).
Sự kiện nầy đã xảy ra trong nhiệm kỳ của dược sĩ Huỳnh Phước Toàn làm chủ tịch HH /SD. Bỏ bài viết của bọn văn công cộng sản trong nước vào Giai Phẩm Xuân của Hiệp Hội Người Việt/SD trước khi đem in vì thế bị nhiều người phản đối. Khi lay-out giai phẩm Xuân Tuổi Hạc của Hội Cao Niên/ San Diego cũng chính PAD khi lay-out đã bỏ hình vẽ một người chui đầu vào cầu tiêu (toilet) trong bài viết của Ông Nguyễn Văn Nghi, một nhân sĩ trong cộng đồng rất thẳng thắn trong việc tố cáo VT, và tay sai cộng sản. Được biết Phan Anh Dũng vượt biên khoảng năm 1979 trên một thuyền được tổ chức riêng cho các cán bộ CS, Phan Anh Dũng chỉ là tên giả để hoạt động sau khi định cư tại Tacoma tiểu bang Washington, rất ít người biết tên thật của PAD là Phan Trường An. Mãi khoảng năm 1994 – 95 PAD mới di chuyển xuống hoạt động tại San Diego. Trước khi vượt biên, Phan Anh Dũng đã làm việc cho công an cộng sản tại Ba Xuyên.

Theo các chuyên viên cho biết, Hai Ngoại Phiem Dan được dàn dựng trong nước, cơ sở chính tại Sài Gòn, và do con trai của LXS là Lê Trường An, một thương gia giàu có tại Sài Gòn quản lý. Tên này thường xuyên tới Mỹ để chỉ đạo cho bố nó là LXS về đường lối và các mục tiêu đánh phá người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ.

Dưới đây, chúng tôi xin sơ lược qua một số hành động và bằng cớ, mà trang Web của LXS thường sử dụng những ngôn ngữ hạ cấp, những câu « văn bắt thành cú » để ngày đêm rỉ rả chửi bới tất cả các tổ chức, nhân sĩ người Việt quốc gia và bất cứ những ai chống cộng và đám tay sai VT:

a-) – Vụ bầu cử Ban Chấp Hành Liên Hội Chiến Sĩ VNCH/SD vào ngày 7-10-07.
Được biết, băng đảng VT đã dốc hết lực lượng để chiếm cho được Liên Hội Chiến Sĩ (LHCS) đem về cho VT. Do đó, bọn này đã tung tiền ra vận động, thuê nhiều xe chuyên chở một số người mà từ trước chưa từng sinh hoạt trong các hội đoàn quân đội đến địa địa điểm để dồn phiếu cho VT thắng, thậm chí chúng còn dùng cả tiền để mua chuộc và lôi kéo một số người vốn chỉ thấy lợi trước mắt chạy theo bọn lưu manh nầy. Rủi thay, bọn này vì không tuân thủ theo đúng nội quy và quy định, không thi hành đúng luật lệ bầu cử ấn định sẵn trong Bản Nội Quy nên liên danh của VT đã bị Ủy Ban Bầu Cử loại bỏ. Thế là bọn chúng giận dữ la hét, phản đối Ban Bầu Cử. Xa hơn, bọn chúng còn muốn phá bĩnh cuộc bầu cử nhưng đã bị một số chiến hũu có mặt khống chế đành phải chịu lép vế xuống nước, rủ nhau ra về.

Trước thảm bại nầy, tên Đặng Văn Trí, một loại i-tờ-rít vội đi in truyền đơn và cho lên Web của LXS xuyên tạc vụ bầu cử. Trí trắng trợn nói láo là, « chỉ có Ba Mươi Mấy Người Tham Gia Bầu Cử » do đó không đúng nguyên tắc, và vì thế bọn chúng không chấp nhận kết quả bầu cử.

Và kể từ đó cho đến nay, Hai Ngoai Phiem Dan liên tục chửi bới tất cả nhũng ai đã tham gia vào công cuộc bầu cử. Ngoài ra, cũng trong cảnh thất bại chua cay buổi đó, Trần Chấn Hải, tay đầu sỏ đại diện VT/San Diego cảm thấy nhục nhã thua thiệt nên hắn giận dữ nhào ra xỉ v? một số người mà hắn kết tội là « Phá Hoại Cộng Đồng »; y còn ngu dại nói bừa. « Tại sao chống Việt Tân? VT có gì xấu đâu mà chống? » Quả thật do giận mất khôn; hơn nữa vì thiếu giáo dục, không được huấn luyện nên đã nói ẩu, vì hành động hồ đồ nầy nên chính nó tự tát vào mặt nó. Thử hỏi. Trần Chấn Hải và băng đảng VT, tại sao lại không tự suy xét để trang bị thêm cho lý luận của mình. Có mấy ai mà không biết VT là một băng đảng tội phạm; và mấy ai ở hải ngoại mà không biết đến những thành tích tội lỗi xấu xa của bọn chúngï.

VT vốn là một tổ chức giết người cướp của, và với những vụ lừa bịp trắng trợn mà chúng đã từng dàn dựng như, tổ chức kháng chiến ma, dựng lên chiến khu giả để lừa bịp đồng bào tị nạn lấy tiền cho vào túi của dòng họ Hoàng và băng đảng. Ngoài ra, còn tuyên truyền và phét lác nói láo, « Mặt Trận có hằng chục ngàn kháng chiến quân, và đã kết hợp được nhiều tổ chức chống cộng trong nước »; đó là chưa kể tờ báo Kháng Chiến đã tưởng tượng ra nhiều trận đánh kinh hồn táng đởm với VC. Nói láo mà không có sách, chỉ có quanh quẩn trên một mảnh đất thuê tại Thái Lan để bịp hòng kiếm bạc thế mà dám « phịa » ra hết đợt Đông Tiến nầy đến đợt Đông Tiến khác. Nói láo và phản bội là chủ trương và đường lối của băng đảng VT.

Đừng nói đâu xa hay nhắc lại chuyện cũ, mà cứ nhìn ngay trước mắt trong những ngày gần đây, khi thấy sự phản bội trắng trợn của tên Đỗ Hoàng Điềm, cái được gọi là chủ tịch đảng VT khi hắn báo cáo láo trước Thượng Viện Hoa Kỳ là « Kể từ thập niên ’80’, tại Việt Nam không còn có sự kỳ thị giữa quốc gia-cộng sản nữa ». Hành động phản bội lý tưởng quốc gia của Đỗ Hoàng Điềm cũng đủ trả lời câu hỏi của Trần Chấn Hải, và thường xuyên trên miệng của tên Đặng Văn Trí « VT có gì xấu đâu mà chống? ». Nên nhớ, chính vì sự bịp bợm của băng đảng VT mà đã làm cho bầu sinh hoạt chính trị của người Việt quốc gia bị hoen ố, và còn làm mất niềm tin của đồng bào hải ngoại.

b-) Phản ứng xấu xa của bọn VT trên Web của LXS trong vụ bầu cử Ban Chấp Hành Hiệp Hội Người Việt San Diego vào ngày 3-8-08.
HHNV/ SD là một tổ chức quy tụ được nhiều hội đoàn sinh hoạt trong cộng đồng, và đã từng gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp từ suốt hai mươi mấy năm qua; được chính quyền địa phương công nhận. HH là một thành trì chống cộng sản tại San Diego. HH chuyên lo giữ gìn và quảng bá truyền thống cổ truyền của văn hóa Việt Nam trong chiều hướng tìm cách giữ gìn Khối Đoàn Kết Của Người Việt Quốc Gia tại nơi đây. Ngày 3-8-08, theo đúng điều lệ nội quy, HH đã tổ chức bầu cử ban chấp hành cho nhiệm kỳ mới năm 2008-2010. Trước việc làm đúng đắn và đầy chính nghĩa của HHNV, thì trang Web Hai Ngoai Phiem Đan của LXS đã theo lệnh bọn cầm quyền trong nước thi hành NQ36, đua nhau lên tiếng chửi bới HH. Bọn đầu trâu mặt ngựa nầy không những dùng lời lẽ bẩn thỉu hạ cấp, chửi đồng bào tham dự bầu cử, thậm chí bọn khốn nạn nầy lại còn lôi tên các nhân sĩ, những người tự nguyện dấn thân gánh vác việc chung và thân bằng quyến thuộc của họ để bêu rếu. Thử hỏi, bác sĩ Lê Thế Dũng, một giáo sư tiến sĩ Đại Học UCSD, một nhân sĩ được coi như một « tờ giấy trắng », từ trước đến giờ chưa từng có một hành động nào sai trái. Ông là một người thường quan tâm đến cộng đồng, tuy bận công việc, nhưng ông và gia đình luôn luôn có mặt tham dự với đồng bào và chiến hữu trong các cuộc biểu tình chống cộng sản, cũng như các sinh hoạt khác. Bọn cộng sản và tay sai VT do quá căm tức, vì chúng biết rõ, ngày nào còn có những người Việt quốc gia chân chính như Bác sĩ Lê Thế Dũng chấp nhận dấn thấn, thì ngày đó bọn khốn nạn này không thể nào xâm nhập vào hàng ngũ quốc gia để quấy phá sự an vui của đồng bào.

Trên đây, chúng tôi vừa trình bày đến bạn đọc một số hành động quấy phá của bọn VT qua Hai Ngoai Phiem Dan của LXS trong thời gian qua. Đã có nhiều sự kiện được trang Web của LXS tung ra, (dù đã nghi ngờ nó là của VC) nhưng ít ai chú ý. Vì phần nhiều là những điều xuyên tạc, vả lại lời lẽ lại quá hạ cấp, nên không ai lưu ý, hoặc biết thì để ngoài tai. Nhưng thời gian vừa qua, một số đông đảo các chiến hữu còn quan tâm đến thời cuộc, còn hy sinh một ít thời giờ để sưu tầm, thì họ đã giựt mình lo ngai. Lý do: người ta cứ tưởng là bọn lưu manh chỉ sử dụng trang Web để chửi đổng hòng khiêu gợi sự tò mò của bạn đọc; vì bên ngoài chúng dùng nó để chửi bới một cách vô tội vạ, mục đích để « câu khách ». Nhưng bên trong, thì Hai Ngoai Phiem Đan chứa đựng toàn cả hệ thống tuyên truyền cho CSVN. Từ « lá cờ máu » của CSVN chính thức xuất hiện trên Hai Ngoai Phiem Đàn, cho đến các thành tích tưởng tượng và phóng đại của cái được gọi là « Quân Đội Nhân Dân », « Công An Nhân Dân », Ủy Ban Nhân Dân thành phố v.v… đều có mặt. Ngoài ra, trang Web còn trưng bày đầy đủ các hình ảnh các tên Việt gian CS như là Hồ Chí Minh, Pham Văn Đồng,Võ Nguyên Giáp và các sinh hoạt của bộ máy thống trị trong nước, trước sau đều được trang Web của LXS ghi chép đầy đủ.

Trước « tin nóng » nói trên, nhiều chiến hữu cấp thời báo động, và họ đã tự động thông báo cho nhau biết. Ngoài ra, họ còn không quản công, in ra hàng loạt tài liệu lấy từ trang Web của LXS trao cho nhau để cụ thể chứng minh, LXS và trang Web là một bộ phận của VC đang công khai khiêu khích người Việt tại đây.
Từ trước cũng có nhiều chiến hữu từng thắc mắc tự hỏi, tại sao tên LXS lại được bọn chạy theo VT đề cao và ca tụng đến thế. Đặc biệt trong các buổi ăn nhậu của một số tên chạy theo VT như, Hải Quân của tên Lực, Không Quân của Trần Văn Chương và Thủ Đức của tên dốt Đặng Văn Trí, thì LXS thường được « vinh danh » như một bậc thầy. Riêng trong các buổi sinh hoat gây quỹ và « Đại Hội Không Quân » thì LXS được trang trọng giới thiệu là chủ nhân chính của Hai Ngoai Phiem Đan, đồng thời LXS cũng được mời lên diễn đàn nhận bảng ban khen. Đúng là Việt Tân vinh danh Việt Cộng.

Trước hiện tượng nóng bỏng, công khai, và đầy khiêu khích nói trên của băng đảng VT, qua việc LXS dùng Hai Ngoai Phiem Dan công khai tuyên truyền cho CSVN, và thách thức người Việt quốc gia. Sự kiện nầy đã làm cho một số chiến hữu có nhiều suy nghĩ rồi tự mình đặt câu hỏi. Tại sao, trong hoàn cảnh hiện nay, bọn VT lại « gồng mình » húc đầu vào khối người Việt chống cộng, vốn thế lực mỗi ngày một vững mạnh. Trước câu hỏi đầy phức tạp nói trên, phần lớn các chiến hữu, đặc biệt những người có nhiều kinh nghiệm, am hiểu thời cuộc đều nghĩ đến một vài khía cạnh dưới đây:

– Biết đâu giữa Hoa Kỳ và bọn cầm quyền Hà Nội đã có một sự tương nhượng nào đó. Tuy biết rằng, về mặt chiến lược, Hoa Kỳ vẫn triệt để chống cộng sản. Song, trong chiến thuật vì muốn bảo vệ quyền lợi của người Mỹ, đặc biệt trong cơn sốt chạy đua tranh giành nguồn năng lượng dầu hỏa hiện nay tại Biển Đông, biết đâu Hoa Kỳ đành phải cho CSVN được hưởng thêm một vài đặc ân, tỉ như để cho chúng được dễ dàng công khai xâm nhập vào các tổ chức cộng đồng người Việt quốc gia mà không bị ngăn cản như một số thành phố tại Mỹ từng có luật lệ cấm Việt Cộng xuất hiện. Về phía cộng sản, bọn cầm quyền Hà Nội chắc hẳn đã thỏa thuận chấp nhận « diễn biến hòa bình » của Mỹ, vì lý do đó đại sứ Mỹ tại Hà Nội, ông Michael Michalak đã công khai tuyên bố là, đã có sự liên lạc chặt chẽ giữa tòa đại sứ Hoa Kỳ và Quốc Hội CSVN.

– Nguồn tin trong nước còn cho biết bọn cầm quyền Hà Nội vốn khinh thường bọn tay sai VT, vì chúng đánh giá bọn nầy quá ấu trĩ, đã phạm nhiều sai lầm trong những công tác giao phó. Trước hoàn cảnh nầy, bọn lãnh đạo VT quá mất mặt, vì nếu tình trạng nầy cứ kéo dài ắt sẽ mất điểm, và như thế, thì mong gì được bọn Hà Nội thí cho một ít ghế. Vì lý do nói trên, mấy tên đầu nậu VT buộc phải « đốt đít » bọn lâu la ở dưới, xúi bọn nầy phải trực diện xông tới khiêu khích đánh phá cộng đồng, dù bị bể đầu chảy máu. Suy nghĩ nầy cũng có phần đúng, vì LXS và lũ VT chỉ mới ló mặt trổ mòi tuyên truyền cho VC dù chỉ trong một thời gian ngắn, nhưng đã vội cất dấu, vì quá bị nhiều người phản đối, bọn chúng đành phải trở lại làm kiếp « chó sủa lỗ hoang ».

Đối diện với tình huống phức tạp kể trên, thử hỏi các chiến hữu chống cộng và tay sai, chúng ta phải ứng phó như thế nào? Trước hết, chúng ta nên nhớ là, Hoa Kỳ vì quyền lợi tư bản có thể có sự tương nhượng VC một vài mặt nào đó. Nhưng Mỹ vẫn triệt để chống cộng sản, rất cấm kỵ nạn khủng bố, và đặc biệt cương quyết bài trừ ma túy. CSVN và tay sai VT chỉ vấp phạm vào một trong những điều đó thì tới số.

Câu hỏi đặt ra bây giờ cho phía người Việt quốc gia là, trong hiện tại, liệu đồng bào hải ngoại của chúng ta còn giữ lập trường chống cộng, và còn giữ vững nhân thân tị nạn nữa không? Nhiệm vụ đó thuộc phần trách nhiệm của các chiến sĩ quốc gia. Riêng phần cựu chiến binh QLVNCH, trận tuyến mới ắt có phần khó khăn hơn, vì chúng ta thiếu phương tiện. Trái lại cũng có nhiều lợi điểm, vì chiến tuyến bây giờ đã rõ rệt. Trước đây kẻ thù còn núp trong bóng tối « đánh lén » ta, qua vụ LXS và Hai Ngoai Phiem Dan, chúng đã công khai khiêu khích, và chúng ta đã rõ biết VT là kẻ thù chính, nếu biết đoàn kết và có một lập trường nhất quán, chúng ta sẽ thắng.

Trước mắt, phải cương quyết tẩy chay bọn VT: không liên lạc, không tiếp xúc giao thiệp với bọn ma đầu nầy, thì trước sau chiến thắng cũng sẽ thuộc về ta.

Song Kiếm

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

THÁI HÀ ĐỔ MÁU ! RỒI SAO ?

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 3, 2008

THÁI HÀ ĐỔ MÁU ! RỒI SAO ?

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Vấn đề giáo dân xuống đường cầu nguyện đòi đất ở giáo xứ Thái Hà, Hànội đang trở thành đề tài thời sự nóng bỏng và lôi cuốn. Chuyện đòi đất ở đây không phải chỉ mới xẩy ra ngày một ngày hai, mà đã có từ mười mấy năm nay rồi. Vào dịp lễ Giáng Sinh năm ngoái (2007), giáo dân Thái Hà đã xuống đường đòi đất cùng lúc với việc đòi lại Tòa Khâm Sứ cũ, nhưng việc xẹp đi khi có sự can thiệp của đức HY Bertone, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Vấn đề thành nhì nhằng. Người đòi cứ tiếp tục đòi. Kẻ chiếm đất cứ ngang nhiên chiếm đoạt. Không cơ quan nào chính thức thụ lý vấn đề. Không pháp luật nào phân xử. Thế nhưng công an nhà nước thì lại ra mặt đứng ra bảo vệ bọn ỷ quyền chiếm đất. Chuyện Thái Hà đòi đất đang bùng nổ trở lại. Vấn đề trở nên sôi động và hấp dẫn dư luận vì ở đây máu đã đổ. Công an dùng hơi cay, dùi cui, roi điện đánh đập giáo dân trong lúc họ hát kinh cầu nguyện khiến nhiều người bể đầu, gẫy cẳng, hoặc bầm dập vì thương tích. Lần này tình hình xem ra có vẻ quyết liệt, nhưng vấn đề là sự việc rồi sẽ đi đến đâu. Có ai dám xác quyết đòi được hay không đòi được?

Thái Hà …Nơi Nao ….

Đối với phần lớn người miền Nam, nhất là người tỵ nạn ra đi từ dưới Vĩ Tuyến 17 thì cái tên Thái Hà xem chừng hơi xa lạ. Nơi đây chắc không trở thành một địa danh quen thuộc với họ nếu không xẩy ra vụ tranh chấp đất đai hiện nay. Nhưng đối với người công giáo Hànội và hầu hết giáo dân miền Bắc, thì Thái Hà lại là một cái tên rất thân thương. Đây có thể gọi là một trung tâm Thánh Mẫu nổi tiếng của người công giáo miền Bắc do các linh mục dòng Chúa Cứu Thế xây dựng nên, quen được gọi là đền Đức-Mẹ-Hằng-Cứu-Giúp (ĐMHCG) Thái Hà Ấp.

Trước năm 1954, mỗi tuần vào các buổi chiều Thứ Bẩy, giáo dân khắp nơi nườm nượp kéo nhau về khu nhà dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà để đọc kinh, nghe giảng, và tôn kính Đức Mẹ tại đây. Tuy không phải là dân Hànội, nhưng Thái Hà cũng không phải xa lạ gì đối với người viết. Mùa hè 1954, người viết lúc đó 15 tuổi, chạy loạn từ Thái Bình lên Hànội ở nhà một người bà con trong khu nhà thờ Hàng Bột. Nhà Thờ Hàng Bột và ấp Thái Hà cách nhau có mấy trạm xe điện trên con đường Hànội đi Hà Đông. Tuần nào người viết cũng nhẩy tầu điện đi Thái Hà để chầu Đức Mẹ và để học hát với linh mục Cân dòng Chúa Cứu Thế. Cha Cân nếu còn sống chắc bây giờ ngài đã già lắm rồi. Người viết không biết bây giờ ngài ra sao, nhưng tiếng hát của ngài vẫn còn luôn văng vẳng bên tai, nghe rất êm và rất thanh thoát: Giave ngự chín tầng trời, ngự chín tầng trời ….. sao mà bỏ tốn, sao mà bỏ trốn vào rừng dường chim nghe thấy quân địch chỉ tìm, tìm phương sát hại hãm kìm người ngay …..

Khi CS được quyền tiếp thu và quản lý miền Bắc theo Hiệp Định Genève 1954 cho phép, ấp Thái Hà chỉ một sớm một chiều trở thành nơi hoang địa. Nhà dòng, các cha các thầy kẻ đi tù, người chết dần chết mòn. Đền ĐMHCG vắng như chùa Bà Đanh vì giáo dân không còn được tự do tới kính viếng. Khu đất của nhà dòng biến thành hoang tàn cùng với cảnh hoang vu của một thứ chủ nghĩa hoang tưởng trong đó con người suốt ngày tay cuốc miệng ca “với sức người sỏi đá cũng thành cơm” để tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên thiên đường xã hội chủ nghĩa. Nhưng tiến được tới đâu? Tới nghĩa địa sớm thì có. Cho đến khi Nguyễn Văn Linh nhìn thấy quan thầy Liên Sô tiêu tùng, y ý thức được nguy cơ sụp đổ của chế độ, mới cuống cuồng vứt bỏ việc tiến nhanh, tiến mạnh và trở giọng “đổi mới hay là chết”. Đổi mới” hay “cởi trói” là ngôn từ thời đó. Nhưng đổi mới cái nỗi gì, và cởi trói được cho ai! Những ngôn từ sáo bịp đó chẳng qua chỉ là trò đánh tráo đường lối, từ một chế độ nô lệ hoang sơ rừng rú sang một hình thức nô lệ khác tinh vi hơn mà bọn cán bộ vô học thường huênh hoang gọi là chế độ “pháp quyền”. Chữ Pháp Quyền trong nền kinh tế người người chụp dựt, nhà nhà chụp dựt của VGCS thực tế chỉ có nghĩa là việc chuyển đổi quyền làm chủ các xí nghiệp, đất đai từ trong tay tập thể (sở hữu toàn dân hay sở hữu quốc gia) sang tay các cá nhân cán bộ CS. Đây là chính sách từ vô sản chuyên chính chuyển sang tư bản hóa toàn đảng một cách rất khoa học, tinh vi và thâm độc của VGCS. Đảng không còn phải là đảng của giai cấp vô sản nữa, mà biến thành đảng tư bản đỏ, danh từ mà người bình dân gọi đảng VGCS rất chính xác. Những xí nghiệp quốc doanh chuyên làm ăn lỗ lã, những khu đất xưa kia tưởng là đất chó ỉa như Thái Hà chẳng hạn không mấy chốc trở thành vàng khối, hoặc đô la xanh thơm phức được trao vào tay bọn cán bộ như những kẻ có chủ quyền thực sự. Cụm từ “làm chủ tập thể” từ nay đã biến mất khỏi miệng lưỡi của các cán bộ chính trị của VGCS. Cá nhân làm chủ khỏe hơn làm chủ tập thể biết bao nhiêu nên bọn cán bộ hùng hục đua nhau nhẩy vô làm chủ. Cũng từ ngày đó, CS không còn là CS nữa. Nó biến thành một tập đoàn Mafia cầm quyền. Mafia đã là một tổ chức xã hội đen rất nguy hiểm và đáng sợ. Tuy thế nó còn bị luật pháp quốc gia khống chế. Trong một đất nước, bọn Mafia nắm chính quyền trong tay thì nó trở thành hung hiểm và đáng sợ biết là chừng nào. Thứ Mafia này tự mình đẻ ra luật pháp rồi chính mình đứng ngoài và đứng trên pháp luật thì còn luật pháp nào khống chế được nó nữa. Nhìn vào thực tế VN hôm nay người ta sẽ thấy rõ thực trạng của vấn đề.

Sau khi đảng VGCS bãi bỏ chế đô làm chủ tập thể, bọn cán bộ đảng viên như đàn chó đói, được luật pháp che chở, nhào vô tranh nhau cướp dựt và chiếm đoạt tất cả những thứ gì béo bở nhất của xã hội. Một thiểu số cầm quyền chiếm trọn coi như mọi tài sản quốc gia làm của riêng. Bọn này trở thành các chủ nhân ông tân thời, người dân gọi là các “đại gia” đỏ. Đất Hànội là đất vàng, đất bạc, không còn là đất chó ỉa thời bao cấp nữa, nên Thái Hà trở thành nạn nhân trong trận bão cướp dựt này. Nếu Thái Hà là một nơi khỉ ho cò gáy nào đó, thì hẳn chẳng có ông trời con nào vào đấy mà giành giật. Nơi đây trở thành một địa danh nổi tiếng là vì vị trí đất hiện nay trong thời đất nước mở cửa cho tư bản ngoại quốc vào lam ăn. Đất của giáo xứ Thái Hà trở thành tài sản của một đại gia đỏ nào đó có thế lực bao trùm thủ đô không ai địch lại nổi. Có như thế nên công an và luật pháp mới phải gồng mình đứng ra bảo vệ bất chấp luật pháp, công lý, và lòng dân. Cả một hệ thống truyền thông khổng lồ của cái đảng ăn cướp cũng hè nhau ngày đêm oang oang sủa để bảo vệ chủ. Công ty cổ phần may Chiến Thắng chẳng qua chỉ là cái bung xung của ông trời con đứng đàng sau bên trong.

Chuyện Dài Dân Oan

Karl Marx lúc còn sinh thời đã tiên đoán rằng tư bản càng phát triển thì nạn người bóc lột người càng xẩy ra trầm trọng hơn, và chế độ tư bản sẽ giẫy chết vào một ngày không xa. Thực tế Marx là một tên nói láo ngu dốt. Ngược lại với những tiên đoán của Marx, tại những nước càng có nền kỹ thuật cao, quyền con người và sự công bằng xã hội càng được bảo đảm hơn. Lý do là vì ở đấy sự phát triển kỹ thuật có tự do và dân chủ đi kèm nên quyền con người được tôn trọng và công bình xã hội được bảo đảm. Ngược lại ở những nước mà sự phát triển thiếu tự do và dân chủ như VN thì mầm mống hỗn loạn luôn luôn đe dọa sự ổn định của xã hội. VN đang lâm vào tình trạng bất ổn đó. Khu đất Thái Hà là một điển hình của tình trạng một đất nước muốn vươn lên nhưng bị cản trở bởi thiếu tự do và dân chủ như vừa nêu. Dưới chế độ VGCS, mọi quyền tư hữu bị tiêu diệt. Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân. Khi nhà nước cởi trói, cho công dân được quyền xử dụng và khai khác đất đai thì tất nhiên người sở hữu tức chủ cũ phải được hưởng cái quyền đó ưu tiên nếu có nhu cầu mới là hợp lý. Những kẻ tới chiếm cư hoặc chiếm dụng về sau không phải là sở hữu chủ của miếng đất nên không thể được quyền ưu tiên hơn người chủ cũ. Đất Thái Hà là đất của giáo xứ do dòng Chúa Cứu Thế đứng chủ quyền. Quyền sở hữu đã được chứng minh đàng hoàng bằng các văn tự còn được lưu giữ. Giáo xứ Thái Hà có nhu cầu xử dụng đất đó. Công ty Chiến Thắng chỉ là kẻ đến chiếm dụng không thể đòi hỏi bất cứ thứ quyền gì trên khu đất đó dược. Trong cuộc tranh chấp giữa giáo xứ Thái Hà và công ty cổ phần may Chiến Thắng, nhà nước và công an CS lại đứng về phe kẻ chiếm dụng tức công ty Chiến Thắng thì pháp luật ở đâu mọi người đã thấy rõ. Các cuộc cầu nguyện đòi đất luôn diễn ra trong vòng trật tự, ôn hòa, và bất bạo động. Thế nhưng trong nhiều ngày qua, công an đã quá nóng lòng bảo vệ kẻ ăn cướp, ra tay đàn áp giáo dân bằng vũ lực. Máu của giáo dân Thái Hà đã đổ. Đấy là một sự thực mặc dầu công an vẫn quẹt mỏ leo lẻo chối bay.

Thái Hà không phải là vụ tranh chấp đất đai độc nhất tại VN. Vụ này nằm trong toàn bộ vấn đề quyền làm chủ đất của người dân trong nước mà phần lớn đang bị tranh chấp. Như trên chúng tôi đã nói, luật pháp VN hiện nay không thừa nhận quyền tư hữu đất đai, mà chỉ cho quyền được xử dụng đất. Đất đai, sông ngòi trên tòan quốc theo luật pháp của VGCS thuộc dạng sở hữu toàn dân. Nghĩa là mọi người dân đều là chủ đất hết. Nhưng vấn đề quan trọng là toàn bộ đất đai sông ngòi kia lại do nhà nước quản lý, và đảng lãnh đạo việc xử dụng. Vì thế mới có chuyện bọn lãnh đạo đảng tự tiện bán đất, bán biển cho ngoại bang một cách vô tội vạ như đã xẩy ra. Người ta đã nhìn thấu được cái thâm ý của VGCS trong việc chúng chủ trương tư bản hóa toàn đảng của chúng. Việc này đang tiến hành một cách rất có bài bản. Hiện nay là giai đoạn tư hữu hóa cho cán bộ đảng viên các công ty, xí nghiệp, và dịch vụ nòng cốt trong cả nước. Công việc diễn ra một cách êm thấm không gặp sự chống đối nào. Lý do đơn giản vì VN là một nước nông nghiệp, đa số người dân chỉ bám đất mà sống chứ không có người nào ngoài đảng làm chủ xí nghiệp hay các dịch vụ béo bở cả. Vả lại nếu có thì thành phần này cũng đã bị cái khẩu hiệu “tư bản bóc lột” lên án và tiêu diệt từ lâu rồi. Sau khi đã giải tư vào tay cán bộ đảng các công ty, xí nghiệp, và dịch vụ, việc tư hữu hóa đất đai là bước kế tiếp chỉ diễn ra khi nền công nghiệp tiến tới trình độ có khả năng thu hút nhân công cao. Khi người dân quê cảm thấy đi làm xưởng đỡ vất vả và có ăn hơn làm ruộng, họ sẽ bán ruộng để lên thành thị kiếm việc làm. Ruộng đồng lúc đó sẽ tập trung vào tay các cán bộ đảng lãnh chúa miền quê. VGCS sẽ tư hữu hóa đất đai cho đám cán bộ này. Bọn này sẽ trở thành những đại điền chủ nắm toàn bộ đất đai ở nông thôn như tại Hoa Kỳ. VGCS cho rằng việc tư hữu hóa đất đai trong điều kiện đó mới tiến hành suông sẻ được. Giai đoạn này là lúc CS sẽ cởi trới về chính trị. Trong khi lớp người chống cộng dứt khoát và có lý tưởng không còn nữa, VGCS sẽ từng phần thỏa mãn đòi hỏi đa nguyên đa đảng như người Mỹ mong muốn. Đây là sách lược hòa hợp hòa giải mà VGCS đề ra. Kế hoạch này trước hết sẽ giúp cho bọn cán bộ hạ cánh an toàn mà không sợ bị các chế độ hậu CS truy tố về các hoạt động ăn cướp của chúng. Hơn nữa trên chính trường VN, chúng còn có chỗ đứng vững chắc nếu không muốn nói là ăn trên ngồi trước thiên hạ, bởi vì chúng tin vào châm ngôn của người Mỹ: “kẻ nắm túi bạc sẽ là người chỉ huy”. Hiện nay, việc cướp đất, chiếm đất của bọn cán bộ đói ăn đều đi đúng đường lối chính sách của đảng VGCS, chỉ có điều là chúng làm ăn quá tham lam và lỗ mãng. Vì thế nên mới làm dấy lên làn sóng chống đối mà chúng ta thường gọi là “ phong trào Dân Oan”. Dân oan là những người bị cướp đất, hoặc bị chiếm đất một cách bất công mà không được giải quyết hoặc không được đền bù một cách thỏa đáng. Việc cưóp đất được coi là đúng chính sách nên cán bộ không bị trừng trị, và những nạn nhân bị cướp không bao giờ được giải quyết.

Có hai loại dân oan: cá nhân và tập thể. Dân oan tập thể thường là các tập đoàn tôn giáo, thí dụ như đền ĐM La-Vang, Quảng Trị, dòng Thiên An, Huế, dòng Thánh Giuse, Nha Trang, giáo xứ Thái Hà Ấp, Hànội v.v. Nhưng cũng có hình thức dân oan cá nhân trở thành tập thể của cả một khu vực như vụ chống tham nhũng của người dân tỉnh Thái Bình năm 1997 chẳng hạn. Điều đáng nói và như vừa nói trên là tất cả mọi vụ dân oan cá nhân hay tập thể từ trước tới nay không bao giờ được nhà nước VGCS giải quyết. Trái lại tất cả mọi vụ, dù lớn hay nhỏ đều bị dẹp yên một cách tài tình theo đúng sách lược trị an “giết người không tiếng kêu” của VGCS. Sách lược tuy cổ điển nhưng bao giờ cũng tỏ ra hữu hiệu. Đó là những thủ đoạn cài người, trà trộn, lũng đoạn, hứa hẹn, mua chuộc, đe dọa, và thủ tiêu mất tích. Những ngón đòn này VGCS xử dụng thường xuyên và công khai lộ liễu, người ta biết nhưng không sao tránh được.

Nhìn vào vấn đề dân oan hiện nay tại VN, người ta có thể rút ra được hai nhận định sau đây. Thứ nhất, nhà nước VGCS tự cho là không có trách nhiệm phải giải quyết những oan ức của người dân, bởi vì những oan ức xẩy ra đều là hệ quả tất yếu của đường lối, chính sách của VGCS. Nên biết là người CS tin rằng đường lối của đảng luôn luôn đúng. Bởi thế, mọi tiếng kêu oan ức dưới chế độ VGCS đều là những tiếng kêu trong sa mạc. Thứ hai, nhà nước VGCS đã có chuẩn bị sãn cả một ngàn lẻ một phương pháp hữu hiệu để dẹp tan các vụ dân oan dù lớn hay nhỏ mà chưa bao giờ thất bại. Thực tế tại VN đã chứng minh điều đó. Đó là điểm quan trọng cần lưu ý nếu muốn đấu tranh với VGCS.

Máu Đổ, Rồi Sao?

Trong vụ đòi đất Thái Hà, điều làm người ta ngạc nhiên là không hiểu tại sao công an ra tay sớm và quyết liệt như thế. Ủy ban quận mới hôm trước mời các cha dòng lên đàm đạo để tìm ra biện pháp giải quyết thì ngay hôm sau công an đã truy tố giáo dân ra tòa liền rồi. Và mới hôm trước công an truy tố giáo dân ra tòa thì ngay hôm sau họ liền trấn áp bằng roi điện, dùi cui, và lựu đạn cay. Thế là thế nào? Việc cả chính quyền thành phố và công an phản ứng nhanh và mạnh như thế chứng tỏ cái hậu cảnh của công ty cổ phần may Chiến Thắng không phải là tầm thường. Người ta có quyền nghi ngờ có cả một thế lực khủng khiếp đứng đàng sau mà nếu không giải quyết được, lãnh đạo sẽ mất mặt!!! Nhưng trong tình trạng đất đai như đã trình bầy trên thì bảo rằng VGCS giải quyết vấn đề là giải quyết thế nào. Giải quyết bằng hơi cay, dùi cui, roi điện chỉ có tính cách nhất thời. Vả lại, giáo dân lại phản ứng một cách quá can đảm. Họ tỏ ra không sợ sệt và coi thường cả cái chết thì làm sao giải quyết nổi. Không lý giết hết, giết sạch?

Rõ ràng là trả hay không trả đều bị kẹt phé cả. Nếu trả lại đất cho giáo xứ, chế độ sẽ vấp phải không ít các khó khăn chết người, chẳng hạn như sẽ tạo ra một tiền lệ nguy hiểm có thể nhìn thấy trước mắt đưa đến những bế tắc cho cả đảng và nhà nước VGCS. Một giây chuyền hàng loạt các vụ đòi đất khác của dân oan, cá nhân cũng như tập thể, theo sau buộc nhà nước cũng phải giải quyết luôn. Điều mà VGCS chắc chắn không muốn làm và cũng không thể làm nổi vì nó phá hỏng kế hoạch tư bản hóa toàn đảng của VGCS. Đàng khác nếu trả, sự thể có thể coi là đảng đã đầu hàng trước áp lực của dư luận. VGCS hẳn đã lão luyện trong nghề tranh đấu, thông thường bao giờ cũng tuần tự theo từng bước “được đàng chân lân đàng đầu”, chứ chẳng bao giờ dừng lại ở nửa chừng. Uy quyền của một chế độ độc tài toàn trị không cho phép VGCS chịu bị thách thức. Vả lại, tình hình chưa có gì khiến VGCS phải đầu hàng. Còn có những lý do nội tại của cuộc tranh đấu khiến VGCS tin rằng chúng sẽ không bao giờ phải nhượng bộ. Thứ nhất là mục tiêu đấu tranh chỉ là cục bộ, chưa đạt tầm mức chiến lược. Thứ hai là cuộc đấu tranh thiếu sự lãnh đạo ở thượng tầng.

1. Mục tiêu cục bộ – Như đã thấy, việc đòi đất cá thể của dân oan đã chẳng đi đến đâu. Lúc này dân oan muốn kiện ai cứ kiện, muốn đòi cái gì cứ đòi, ăn vạ ngoài đường cũng chẳng sao. Công an cho thoải mái lắm. Công an thay phiên nhau canh gác ngày đêm không mỏi mệt, chứ dân oan nằm vạ ngày đêm chỉ chịu đựng được một thời gian. Chán rồi cũng phải cuốn gói về và chấm dứt khiếu kiện. Dân oan tập thể (các giáo xứ) không vấp phải nhược điểm đó. Giáo dân thay phiên nhau cầu nguyện cũng chẳng vất vả gì. Họ có thể trường kỳ thi gan với công an được. Tuy nhiên họ cũng có những thế yếu khác. Cái thế yếu đầu tiên của các vụ đòi đất, đòi cơ sở của giáo hội CG là mục tiêu đấu tranh quá cục bộ và có tính cách địa phương. Giáo xứ nào đòi cái gì thì chỉ đòi cái đó và hầu như không có sự liên hệ để hỗ trợ nhau. Giáng sinh năm ngoái trong vụ giáo dân đòi tòa Khâm Sự, đã có một số tiếng nói muốn đưa mục tiêu tranh đấu lên một tầm mức cao hơn có tính cách chiến lược, tức là thay vì đòi VGCS phải trả những phương tiện vật chất thì đòi chúng phải thực thi công lý và công bằng xã hội, đòi tự do tôn giáo. Đáng tiếc là những tiếng nói đó không mấy được hưởng ứng. TGM Ngô Quang Kiệt hô hào giáo dân tranh đấu thì quyết liệt lắm: “anh em ai bị bắt, tôi đi ở tù thế”. Nhưng khi nghe đến chuyện đấu tranh đòi công lý và công bình xã hội, đòi tự do tôn giáo thì ông tỏ ra lạnh nhạt ngay, và lập tức tìm cách dẹp bỏ cuộc tranh đấu. Email sau đây của một linh mục gởi cho người viết xác nhận điều đó: “Toi moi nhan duoc nguon tin tu ben Roma: HY Tarcisio Bertone, Quoc-vu-khanh, nuoc Vatican, khoi dong nhu the (viet van thu goi TGM/HN) la do TGM/HN yeu cau giup do “cach nao” do de som rut chan ra khoi “vung lay” nguy hiem ay. ….. phu QVK nuoc Vatican, khoi dong nhu the la do TGM/HN yeu cau, de co ly do “vang loi” cap tren ma yeu cau giao si, tu si va giao dan cua minh ngung hanh dong (cau nguyen doi lai toa Kham-su) ma nhieu nguoi, trong do duong nhien co VGCS va be lu ma quy luon ket an la hanh vi chinh tri.” Rõ ràng là người lãnh đạo GH cao cấp này chỉ muốn giới hạn mục tiêu đấu tranh một cách cục bộ trong những đòi hỏi quyền lợi vật chất mà không dám nâng nó lên tầm chiến lược cao hơn là tranh đấu cho quyền con người. Chính vì thế đến khi vấn đề vượt khỏi tầm tay, thì TGM Ngô Quang Kiệt hoảng sợ, phải nhờ tay HY Bertone giúp giải quyết. Rồi khi giáo dân vâng lời không tụ họp cầu nguyện nữa thì TGM Kiệt lại tuyên bố: “nhờ lời cầu nguyện của anh chị em, nguyện vọng của chúng ta đã đạt được”. Nguyện vọng có đạt được hay không thì bây giờ đã rõ. Một vị TGM đưa Chúa ra để dối gạt giáo dân! Người ta thường nói “dụng nhân như dụng mộc”. Không biết VGCS dụng mộc tài giỏi ra sao, nhưng tài dụng nhân của chúng thì hết xẩy. Người của Chúa mà chúng xài dễ dàng như đồ chơi trong túi.

2. Thiếu lãnh đạo ở thượng tầng –

Xem quan điểm của những người đang lãnh đạo GHVN về vấn đề Đất-Thái-Hà thì có thể biết được cuộc tranh đấu của giáo dân Thái Hà có được lãnh đạo hay không.

Trong Thánh Lễ Chúa Nhật 31- 8 – 2008, TGM Ngô Quang Kiệt giảng:

Như thế từ bỏ không phải để mất mà để được, được lại một cách sung mãn, hoàn hảo và cao cả phong phú hơn gấp bội. Mất hiện tại để được tương lai. Mất đời này để được đời sau. Mất phàm tục để được thần thiêng. Mất tạm bợ để được vĩnh cửu. Thánh Phanxicô Khó Nghèo đã cảm nghiệm sâu xa chân lý này nên đã thốt lên lời ca bất hủ: “Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời… Do vậy, hạnh phúc không có sẵn nhưng phải phấn đấu mới đạt được. Bạn có tâm đắc điều này không?

Rồi đến Lá Thư Mục Tử ngày 01 – 9 – 2008, HY Phạm Minh Mẫn viết:

Ngoài những thông tin trên, là người Công giáo, chúng ta cần phải biết đến giáo huấn của Giáo Hội về lãnh vực này. Theo tinh thần của Công đồng Vaticanô II mà Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nêu rõ, và Đức Bênêđitô XVI nhắc lại, chủ trương của Giáo Hội là đối thoại với các bên liên hệ để giải quyết mọi vấn đề xã hội, đối thoại thẳng thắn với ý thức tôn trọng chân lý, công lý và bác ái. Chân lý là điều phản ánh thực tại cách trung thực. Công lý là điều phù hợp với đạo lý, lẽ phải và công ích. Bác ái là tình huynh đệ tương thân tương trợ nhằm phục vụ cho sự sống và hạnh phúc của mọi người trong cộng đồng dân tộc cũng như trong thế giới hôm nay. Việc đối thoại như thế sẽ dẫn đến sự hợp tác với nhau trong việc xây dựng và phát triển đất nước cách vững bền.

Qua 2 trích đoạn trên cho thấy: TGM Ngô Quang Kiệt đã xếp giáp đầu hàng VGCS. Ông khuyên giáo dân nên bỏ đi tất cả đời này cho CS để được lấy lại nhiều hơn đời sau trên Thiên Đàng. Nói như ông thì đã không có cuộc Thập Tự Chinh để thu hồi đất thánh. Và như thế thì tại sao Giáng Sinh năm ngoái ông lại hô con chiên xuống đường để đòi lại Tòa Khâm Sứ? Ông tự mâu thuẫn hay trí nhớ ông quá kém? Chuyện TGM Ngô Quang Kiệt nên được xấp vào category “Chuyện Cái Lưỡi” đã có sẵn trong văn học VN. Còn HY Phạm Minh Mẫn không biết chém vè lủi đâu mất trong thời gian qua. Nay lại thấy xuất hiện lên mặt thầy đời khuyên giáo dân Thái Hà nên đối thoại với VGCS. Giá mà HY mẫn học kinh nghiệm từ việc TGM Ngô Quang Kiệt đối thoại với Nguyễn Tấn Dũng về vụ Tòa Khâm Sứ thì hẳn ông đã không dám khuyên giáo dân Thái Hà đối thoại. Chuyện Cờ Vàng chưa xong, ông lại khơi chuyện đối thoại với VGCS. HY Mẫn dùng thuốc “thuần hóa tán” quá đô (dose) nên bị tẩu hỏa nhập ma rồi. Cũng lại chuyện Cái Lưỡi thôi. Nhưng lưỡi HY Mẫn là loại lười gỗ trong khi lưỡi TGM Kiệt là lưỡi không xương. Đấy là sự khác nhau trong các loại lưỡi, nhưng vẫn được xếp chung trong category “Cái Lưỡi”.

Nhìn vào khí thế đấu tranh của giáo dân Thái Hà và vào lập trường cương quyết của các linh mục dòng Chúa Cứu Thế đối, chiếu với quan điểm của mấy ông lãnh đạo GH nêu trên, người ta có thể nói ngay là không thể có được sự lãnh đạo thống nhất từ thượng tầng trong các vấn đề có hơi hướng đến chính trị hoặc xã hội trong Hội Đồng Giám Mục(HĐGM) Việt Nam hiện nay nói chung, và trong vụ Thái Hà nói riêng. Một số hồng y, giám mục còn hăng say múa may lúc này đều là thành phần đã bị thuần hóa trở thành quốc doanh như HY Mần, TGM Kiệt, GM Sang v.v. . Họ ăn cơm chúa nên phải múa tối ngày là chuyện đương nhiên. Còn lại đa số tuy đạo đức, thánh thiện nhưng nhát nên đành phải buông xuôi, mũ ni che tai để sống cho qua ngày. Đó là một thực trạng đau lòng hiện nay của Giáo Hội CG bất cứ giáo dân nào cũng nhìn thấy được nhưng không làm gì được.

Về vấn đề lãnh đạo trong đấu tranh, chẳng gì bằng ôn lại chuyện chống tham nhũng năm 1997 của người dân Thái Bình để mà học hỏi. Cuộc đấu tranh đó tuy rộng lớn trên địa bàn cả tỉnh, nhưng theo tìm hiểu thì nó được chuẩn bị tốt, được lãnh đạo đàng hoàng do những sĩ quan hoặc bộ đội đã phục viên giầu kinh nghiệm đấu tranh. Dù thế cuộc đấu tranh vẫn bị thất bại do bị cài người, bị mua chuộc, và nhất là bị trấn áp bằng những vụ thủ tiêu bí mật. Cuộc tranh đấu có tổ chức và có lãnh đạo như thế mà còn thất bại thì nói chi những kiểu đấu tranh tự phát và không có lãnh đạo.

Cũng cần nói thêm, một đòi hỏi cần thiết cho những ai đang đấu tranh với VGCS là phải hiểu cho thật tường tận CS là cái gì. Không thể nói khơi khơi rằng VN đã tó tự do tôn giáo, hay VGCS đã nới lỏng quyền tự do tôn giáo. Không! Nói thế là chết. Giáo điều CS trước sau như một vẫn không thay đổi: tôn giáo nói chung và công giáo nói riêng luôn luôn là kẻ thù không đội trời chung với CS. Khi CS bất lực không tiêu diệt nổi tôn giáo thì chúng tìm cách khống chế tôn giáo qua bọn lãnh đạo quốc doanh. Vấn đề đơn giản như thế thôi chứ chẳng làm gì có tự do tôn giáo trong chế độ CS. Từ chủ trương đó, chúng ta thấy việc VGCS đối xử với các tôn giáo diễn ra rất đa dạng và biến hóa khôn lường. Nơi nào tôn giáo cần phải bị tiêu diệt, chúng tiêu diệt thẳng tay. Nơi nào tôn giáo có lợi cho đảng, chúng cho thả dàn phát triển. Đừng lấy làm lạ, với một số giám mục, linh mục, cái chẳng cần xin VGCS cũng vẫn cho, và cái chẳng cần đòi chúng vẫn trả. Trái lại đối với nhiều vị, nói đến xùi bọt mép chỉ để xin xỏ một việc cỏn con thôi cũng không xong. Những vị tỏ ra cứng đầu cứng cố, tranh đấu đòi hỏi cái này cái nọ đến bể đầu xứt trán đừng hòng bao giờ được. Tất cả đều dựa vào tiêu chuẩn có thuần hóa được hay không. Tuy nhiên cũng cần sáng suốt để không bị nhầm lẫn. Có giám mục, linh mục đi theo CS nhưng họ làm như họ vẫn chống cộng. Họ cố giữ một khoảng cách đối với VGCS. Chớ lầm, vì đó là khoảng cách cần thiết để qua mắt sự nghi ngờ của Tòa Thánh mục đích là để được thăng quan tiến chức mà thôi.

Nhận Định Cuối Cùng

Tiêu đề của bài viết có ngụ ý không đưa ra kết luận cho vấn đề được nêu. Vì thế nhận định cuối cùng này sẽ thay cho phần kết luận. Bạn đọc cũng không cần phải đi tìm kết luận làm gì, mà chỉ nên đọc và tích luỹ thêm vào đó những kinh nghiệm đã thâu thập được để làm phong phú thêm sự hiểu biết về VGCS hầu biết mình biết người mới trăm trận trăm thắng.

Việc giáo dân đòi đất ở Thái Hà thiếu mất một số điều kiện cơ bản để thành công như đã phân tích ở trên, chưa kể đến việc gặp phải một kẻ thù quá hung hiểm là VGCS. Tuy nhiên cũng có nhiều yếu tố rất đáng khích lệ. Thứ nhất là giáo dân tỏ ra rất can đảm và kiên cường. Thứ hai, các linh mục dòng Chúa Cứu Thế rất khôn ngoan và quyết liệt. Mặc dầu bị đàn áp dã man, nhưng các cuộc xuống đường cầu nguyện mỗi ngày mỗi thêm đông đảo và khí thế. Điều đó chứng tỏ giáo dân Thái Hà có lý tưởng và được ơn Chúa thấm nhuần. Cuộc tranh đấu vì có đổ máu nên được hưởng ứng và ủng hộ tích cực từ khắp nơi trong cũng như ngoài nước. Vấn đề cần tránh là đừng để cho bất cứ tên quốc doanh nào trong hàng ngũ lãnh đạo GH xía vô lũng đoạn và phá rối. VGCS chắc chắn sẽ không bao giờ chịu thua. Nhưng trong trường hợp biết không thể thắng được, rất nhiều kinh nghiệm trước đây cho thấy chúng sẽ tự động hưu chiến để giáo dân hưu chiến theo. Nội vụ sẽ rơi vào tình trạng “đông đá”. VGCS lúc đó sẽ lui về thế trường kỳ mai phục để vào một thời điểm thuận tiện, chúng sẽ xuất kỳ bất ý tung đòn tấn công đoạt thắng lợi. Nhưng kết quả dù thế nào đi nữa thì nó cũng là một vết thương khó lành trên thân thể chế độ VGCS. Chế độ này đã là một con bệnh mắc đủ chứng nan y rồi. Mong có ngày, vết thương lại nhiễm trùng làm độc. Nếu vô phúc nhiễm phải vi trùng HIV dương tính thì nó sẽ được đi gặp “bác” nó là cái cẳng. Mong lắm thay!

Duyên-Lãng Hà tiến Nhất

http://www.hon-viet.co.uk/DuyenLangHaTienNhat_ThaiHaMauDoRoiSao.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »