Tudodanchu's Weblog

Freedom, Democracy, Human Rights, No Communism For Vietnam

Archive for Tháng Chín 6th, 2008

Vinh Danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 6, 2008

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Nông Đức Mạnh rất hèn trước Bắc Kinh

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 6, 2008

http://www.youtube.com/watch?v=7TduUpuaqzA

http://www.youtube.com/user/dadaovietcong2


Nông Đức Mạnh ươn hèn trước áp lực của Bắc kinh! Chúng ta phải làm gì?

Tác giả: Âu Dương Thệ

DC&PT – Thời Sự 2007
(Trình bày trong cuộc Hội thảo Paltalk ngày 23.12.07 với chủ đề:
“Trung quốc lấn chiếm Hoàng sa và Trường sa – Chúng ta phải làm gì?”)

Thưa Quí vị trong Ban điều hợp và Quí thính giả tham dự cuộc hội thảo qua làn sóng điện tử hôm nay

Ngày Chủ nhật 16.12 hàng trăm sinh viên và thanh niên VN biểu tình ở Hà nội và Sài gòn để kết án nhà cầm quyền Bắc kinh trước chính sách xâm lấn lãnh thổ VN trên các quần đảo Hoàng sa (HS) và Trường sa (TS). Chỉ hai ngày sau có hai tin rất đáng quan tâm được loan trên đài Bắc kinh và đài Tiếng nói Việt Nam. Trong khi Phát ngôn viên bộ Ngoai giao Trung hoa (TH) lên tiếng: „Trung quốc bày tỏ quan tâm chặt chẽ trước việc Việt Nam lại xuất hiện tình hình có hại đến quan hệ Trung Việt. Trung quốc mong chính phủ Việt Nam thiết thực áp dụng biện pháp hữu hiệu, đề phòng lại xảy ra vụ việc tương tự.“ Giữa khi ấy Nông Đức Mạnh, người đứng đầu chế độ toàn trị ở VN, đã tuyên bố tại Hội nghị Công an Toàn quốc: „lực lượng công an đã phối hợp chặt chẽ hơn với các lực lượng, các ngành chủ động tấn công làm thất bại nhiều âm mưu, kế hoạch chống phá của các thế lực thù địch, bọn phản động; ngăn chặn có hiệu quả hoạt động kích động biểu tình, gây rối, gây bạo loạn…“

Ở đây rõ ràng là, kẻ xâm lấn đã ra lệnh cho kẻ thừa hành là phải bằng mọi cách bắt dân mình phải câm miệng!

Ở đây ai cũng thấy, thủ phạm xâm lược là nhà cầm quyền CS Bắc kinh (BK), nạn nhân là dân tộc VN. Như vậy việc biểu tình phản đối Bắc kinh xâm lược là một hành động rất chính đáng và yêu nước của thanh niên, sinh viên VN. Người VN nào cũng phải ủng hộ, kể cả những người CS còn có tấm lòng yêu nước thực sự. Đặc biệt, đúng ra chính quyền VN phải khuyến khích và ủng hộ. Vì đây là trách nhiệm của một chính quyền biết đặt quyền lợi của đất nước trên lợi ích riêng của phe nhóm.

Nhưng ở đây Nông Đức Mạnh, người đứng đầu chế độ toàn trị ở VN, đã hành động ngược lại: Bảo vệ bọn xâm lược và cấm người dân không được biểu tình, không những thế còn chụp mũ và kết án những người trẻ VN yêu nước là „phản động“, „thù địch“! Nông Đức Mạnh và nhóm lãnh đạo hiện nay còn ngăn cản không cho báo, đài được thông tin về những sự xâm lấn lãnh thổ VN của BK và những cuộc biểu tình của sinh viên, thanh niên VN ở Hà nội và Sài gòn! Cụ thể như chúng ta biết, Ban Tuyên giáo Trung ương của ĐCS đã phạt báo điện tử VN Net 30 triệu đồng và đang tạo sức ép với Tổng biên tập Nguyễn Anh Tuấn của báo này, chỉ vì tờ VNN đã dám đưa một vài tin (dù chỉ rất giới hạn) tố cáo Trung Hoa!

Như thế đã quá rõ ràng, người đứng đầu chế độ toàn trị ở VN đã tự biến thành cái đuôi của bọn bành trướng Bắc kinh! Khi lãnh đạo CS Trung Hoa ra lệnh phải cấm biểu tình của thanh niên và nhân dân VN thì Nông Đức Mạnh chỉ như cái đuôi ve vẩy tuân lệnh chủ!

Thái độ của Nông Đức Mạnh đã cho thấy, nhóm cầm đầu chế độ toàn trị CSVN đang đứng về phía nào? Đứng về phía nhân dân yêu nước để bảo vệ lãnh thổ, hay đang nhu nhược và ươn hèn để cho Bắc kinh tiếp tục lấn tới chiếm thêm các hải đảo và bòn rút tài nguyên của VN?

Câu trả lời đã rất rõ ràng!

Như thế rõ ràng là, nhóm cầm đầu chế độ toàn trị không những không bảo toàn được lãnh thổ như Hiến pháp đã qui định: (Ðiều 13 Hiến pháp 1992 „Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm“) mà họ cũng không bảo vệ được sinh mạng của nhân dân. Cụ thể như trong thời gian qua, nhiều ngư dân VN đã bị các tầu chiến của hải quân TH bắn chết và làm bị thương trong cac khu vực thuộc hai quần đảo HS và TS. Cho tới nay không có một lần nào Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng hay Chủ tịch QH lên tiếng công khai phản đối các hành động tàn bạo của chính quyền một nước láng giềng và họ cũng không cho phép các báo, đài được đưa tin (Điều 112 của HP 1992 , nhiệm vụ của Chính phủ là „Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân“).

Giữa khi Bắc kinh cho thao diễn quân sự ở Hoàng sa, sát nhập hai quần đảo của VN vào lãnh thổ TH thì cuối tháng 11 vừa qua trong cuộc hội đàm với Thủ Tướng Trung Hoa Ôn Gia Bảo ở Singapor, Nguyễn Tấn Dũng đã vẫn ca tụng „16 chữ vàng“ và „tinh thần 4 tốt“ * và còn bảo rằng, quan hệ hai bên „đang phát triển rất tốt đẹp“ :

„Trong không khí hữu nghị, chân thành và hiểu biết lẫn nhau, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Ôn Gia Bảo đều khẳng định: Quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước thời gian vừa qua tiếp tục có nhiều tiến triển mới và đang phát triển rất tốt đẹp theo phương châm 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt…“! *

…*16 chữ vàng là : Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai!.
4 tốt : Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt!

Ở đây xin mở một dấu ngoặc: Vào đầu tuần này sau khi một người gốc Đức bị bắt cóc ở Afghanistan thì Bộ ngoại giao Đức, các đài truyền hình, truyền thanh và báo chí Đức đã thông tinh nhanh, đầy đủ và thường xuyên về việc này trong nhiều ngày liên tiếp. Điều này cho thấy, chính phủ Đức biết quí trọng sinh mạng của công dân họ, ý thức rõ trách nhiệm của chính phủ. Trong khi đó báo chí Đức thực hành nhiệm vụ và quyền thông tin và phổ biến tin tức một cách nghiêm chỉnh.

Cả hai lãnh vực này (chính phủ hiểu rõ trách nhiệm và quí mạng sống của người dân, đồng thời báo chí được độc lập và thông tin trung thực) thì hiện nay hoàn toàn vắng bóng ở VN. Chúng ta biết rằng, một khi báo, đài ở trong nước bị ngăn cấm thông tin về những việc này thì người dân sẽ không biết được tình hình thực sự và vì thế không thể có thái độ nhanh chóng kịp thời chống lại Bắc kinh một cách hữu hiệu. Ngoài ra, nhà cầm quyền CSVN cũng bưng bít thông tin đối với các cơ quan truyền thông quốc tế và các chính phủ các nước trên thế giới về việc này. Vậy thì làm sao chính giới và dư luận quốc tế có thể kết án BK và ủng hộ VN?

Do đó, không thể tin tưởng và chờ đợi nhóm cầm đầu chế độ toàn trị được nữa! Những người dân chủ VN, trong đó có sinh viên và thanh niên, phải mạnh dạn vạch rõ con đường đấu tranh chung cho mọi khuynh hướng, kể cả những người CS tiến bộ là, muốn bảo vệ hữu hiệu lãnh thổ của tổ quốc thì chỉ có giải pháp duy nhất là, phải đẩy lùi và chấm dứt quyền hành của nhóm độc tài bảo thủ càng sớm càng tốt.

Một điều kiện căn bản tối yếu để bảo toàn lãnh thổ được hữu hiệu là phải có sự đoàn kết một lòng của toàn dân, mọi thành phần xã hội, kể cả các cộng đồng VN ở nước ngoài ngày càng lớn mạnh. Vì độc quyền lãnh đạo, nên chế độ CSVN ngày càng bị cô lập đối với đại đa số nhân dân và đang bị phân hóa rất trầm trọng ngay trong hàng ngũ trung ương. Vì thế họ càng ngày càng lệ thuộc vào BK, áp lực của BK ngày càng mạnh trên mọi lãnh vực chính trị, kinh tế, quân sự và ngoại giao.

Muốn giải nguy đất nước thì phải giải tỏa những gì đang làm cản trở lòng yêu nước và ý chí đấu tranh của nhân dân trong và ngoài nước. Điều 4 Hiến pháp (HP) 1992 của chế độ toàn trị đã chủ trương độc quyên yêu nước vào tay một nhóm nhỏ. Nhưng chính những người này đang tỏ ra bất lực và bị ngoại bang chèn ép, mua chuộc. Sự tồn tại của Điều 4 HP là một hành động ngang ngược đối với toàn thể dân tộc VN, kể cả những người CS tiến bộ. Chính cựu TT Võ Văn Kiệt gần đây đã lên tiếng công khai kết án thái độ độc quyền yêu nước của nhóm độc tài bảo thủ!

Vì thế, hủy bỏ Điều 4 HP sẽ tạo ra một sinh khí mới, một thời đại mới vinh quang cho dân tộc. Bỏ Điều 4 HP sẽ làm cho mọi tài năng và ý chí được hội tụ và kết hợp với nhau, nó mở ra cơ hội để mọi khuynh hướng và mọi thành phần xã hội được tự do và bình đẳng tham gia vào việc bảo vệ lãnh thổ và xây dựng đất nước.

Như vậy, đối với những người yêu nước thực sự thì việc bỏ Điều 4 HP không phải là „tự sát“ như Nguyễn Minh Triết đã nói gần đây; trái lại, đây sẽ chứng tỏ sự khôn ngoan, bản lĩnh cao và lòng yêu nước trong sáng! Nó sẽ mở ra thời kì mới cho dân tộc VN vươn lên bảo toàn lãnh thổ và hưng thịnh đất nước. Do đó, bỏ Điều 4 HP phải coi là mục tiêu và nhiệm vụ đấu tranh trung tâm và cấp thiết của tất cả các đoàn thể, khuynh hướng và thành phần xã hội, kể cả những người CS tiến bộ và có lòng yêu nước trong sáng. Nó là tiếng gọi và trách nhiệm của lương tâm và lương tri mọi người VN ở trong và ngoài nước!

Do đó, trước các hiểm họa xâm lấn của BK và thái độ nhu nhược, khúm núm hiện nay của nhóm cầm đầu CSVN, chúng ta quyết tranh đấu và tập trung vào các đòi hỏi cấp thiết và căn bản sau đây:

1. Đòi chế độ toàn trị phải chấm dứt ngay các chính sách bưng bít thông tin, không cho người dân biết một cách đầy đủ và nhanh chóng sự xâm lấn lãnh thổ VN của BK cũng như các tình hình liên quan tới đời sống của nhân dân.

2. Đòi chế độ toàn trị phải để các báo, đài được tự do trong việc săn tin, viết tin và phổ biến tin tức liên quan tới sinh mạng và đời sống nhân dân, lãnh thổ, hải đảo và tài nguyên trên biển của VN bị xâm phạm…

3. Đòi nhà cầm quyền CSVN phải thông tin nhanh, đầy đủ và rộng rãi trước dư luận quốc tế về những chính sách gây hấn, cưỡng chế và xâm phạm lãnh thổ và tài nguyên VN của nhà cầm quyền CSTH trên đất liền, hải đảo và biển của VN. Vì khi dư luận quốc tế hiểu rõ thì sẽ sẵn sàng ủng hộ mạnh mẽ VN.

4. Trong tư cách là một Hội viên trong Hội đồng Bảo an LHQ từ đầu năm 2008, yêu cầu nhà cầm quyền CSVN phải đưa ra trước HĐBA về quyết định ngang ngược và đơn phương mới đây của BK sát nhập hai quần đảo HS và TS của VN vào TH.

5. Đòi nhóm lãnh đạo CSVN hiện nay phải để cho mọi người dân, trong đó có những thanh niên và sinh viên VN, được quyền tự do công khai biểu lộ tinh thần yêu nước trước các hành động xâm lấn hải đảoVN của BK.

6. Đòi hỏi nhà cầm quyền CSVN phải để cho mọi thành phần dân tộc, mọi tổ chức, bất kể khuynh hướng chính trị, được tự do, bình đẳng tham gia vào việc bảo vệ lãnh thổ và xây dựng đất nước. Chấm dứt ngay các chủ trương „độc quyền yêu nước“ bằng cách trả tự do cho cac tù chính trị và tôn giáo!

7. Độc quyền yêu nước của một nhóm độc tài bảo thủ đã và đang đưa đến thất bại trong việc bảo vệ lãnh thổ, tài nguyên và biển của đất nước. Phải hủy bỏ tức khắc và vô điều kiện Điều 4 của HP 1992. Vì chính nó đang cản trở và phá hoại sự đoàn kết dân tộc và sự thống nhất ý chí chung của toàn dân!

Mục Thời sự Tạp chí Dân chủ & Phát triển điện tử: www.dcpt.org hay www.dcvapt.net

http://www.vantuyen.net/index.php/index.php?view=story&subjectid=19162

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Tại sao toàn đảng, toàn dân, toàn quân, và hơn 700 tờ báo trong nước “chửi” một ông sư già?

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 6, 2008

Tại sao toàn đảng, toàn dân, toàn quân, và hơn 700 tờ báo trong nước “chửi” một ông sư già?

» Tác giả: phothuongdandom

Tại sao toàn đảng, toàn dân, toàn quân, và hơn 700 tờ báo trong nước “chửi” một ông sư già?

Bài viết của “nick phothuongdandom” đăng trên trang mạng X-cafevn.org

Cái nguyên nhân mà Đảng, nhà nước và nhân dân ta đồng loạt chửi một ông sư già không có một tấc sắt hết sức là nhất quán và giản dị.

Nó nhất quán không chỉ trên yếu tố không gian (toàn đảng, toàn dân, toàn thể các tờ báo, các tổ chức mặt trận từ phụ nữ cho đến bô lão) mà nó còn nhất quán về mặt thời gian (từ thuở Đảng ta ra đời ở cái gốc đa Tân Trào hay chi mô đó cho đến hôm nay bác Kiệt đã qua đời, ba hồi chơi với Tàu bốn hồn đánh lộn năm hồi theo vuốt Mỹ… thì cái tinh thần cơ bản của đảng ta là bất chấp thủ đoạn miễn sao được làm lảnh đạo là sướng rồi, cái tinh thần hy sinh làm lảnh tụ đó chưa bao giờ thay đổi).

Nó nhất quán nên hòa thượng Quảng Độ trong bài chỉ ra các sai lầm của đảng ta, lão hòa thượng có kể một câu chuyện xảy ra năm hòa thượng chừng đâu 18 tuổi. Đó là năm 1945, dân ngoài Bắc đói rả. Lúc đó sư phụ của hòa thượng thấy thế động lòng, nhờ mối quan hệ với ông tổng đốc Hà Đông, sư cụ mới xin được gạo để đem phát chẩn cho dân nghèo. Chỉ tưởng đó là chuyện bình thường. Nào ngờ đối với đảng ta thì đó là tội ác trời không dung đất không tha. Phá kho thóc để phát cho dân là đặc quyền duy nhất của bác Hồ, phải để bác Hồ làm cho nhân dân nhớ Bác, thờ Bác thay vì thờ Phật, thờ Chúa. Nay lão thầy chùa già kia giành mất cái phần vinh dự, đảng và toàn dân ta nổi điên.

Thế là hòa thượng Quảng Độ kể lại một ngày nọ, các anh bộ đội Cụ Hồ vào lôi cổ lão hòa thượng sư phụ của thầy Quảng Độ ra mà đấu tố. Bảo quì xuống, sư cụ không quì, bèn quại ngay vào mồm một quả. Sư phụ phun máu phì phì, các anh bộ đội bước đến kê súng vào đầu lão già mà đòm luôn mấy phát. Rồi đời một tên chuyên buôn thuốc phiện của quần chúng. Mác bảo thế. Bác bảo thế. Toàn dân ta phải tin như thế.

Hình ảnh đó không nhạt phai trong lòng anh chàng tấp tễnh xuất gia được đặt pháp danh là Quảng Độ. Vài mươi năm sau, thầy Quảng Độ bấy giờ là thượng tọa Quảng Độ thư ký Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Thượng tọa Quảng Độ nổi tiếng vì ngoài việc ông được thỉnh giảng ở đại học, thông thạo chữ Hán, mà còn vì cái tính cương trực của ông. Và rồi y như toàn thể nhân dân Bắc Cờ Di Cơ, Bắc Kỳ di cư, thầy Quảng Độ cũng hết hồn hết vía khi thấy những kẻ hôm nào đòm vô đầu lão sư phụ của thầy giờ đây đã “tiến về Sài Gòn”. Dân di cư một phen xuống tàu há mồm mà lánh xa thiên đường, giờ đây không dè thiên đường lại lù lù tới theo bước xích xe tăng.

Đức đệ tam tăng thống hòa thượng Đôn Hậu từ chiến khu trở về cứ tưởng Phật Giáo ngon lành vì có nhân vật quan trọng đi theo cách mạng, ai dè chổ thân tình hòa thượng tăng thống nói nhỏ
“Có đi theo chi mô. Hồi mậu thân bộ đội cụ Hồ vô chỉa súng bắt cóc, không đi nó bắn bỏ !”

Và lại nhất quán nữa, cái tinh thần chỉ có ta là yêu nước, mọi thứ phải đặt dưới sự lãnh đạo của ta, thằng nào không chịu cho ta lãnh đạo thằng đó là phản động lại được áp dụng. Phật Giáo phải thống nhất ! Thống Nhất (dưới sự lãnh đạo của Đảng).

Sự đời bao giờ cũng thế. Khi thịnh thì đoàn kết một lòng, lúc có biến thì kẻ thế này người thế khác. Giáo Hội cũng vậy. Lập tức chia ra ba bốn phe:
1. đức tăng thống ngoài Huế không chấp nhận thống nhất, nhưng ngài không dám công khai phản đối, kêu gọi phản đối, ngài cáo bệnh khước từ hết mọi lời mời
2. Các hòa thượng trí tịnh, minh châu nhảy ra theo nhà nước cổ súy thống nhất
3. hòa thượng trí thủ, viện trưởng viện hóa đạo biết rõ dã tâm của nhà nước, nhưng liệu thế không chống nỗi, nên trá hàng, cho rằng thà thống nhất mà còn có thể làm việc, xoay chuyển dần tình thế còn hơn bị đàn áp.
4. hòa thượng Quảng Độ, Thiện Minh, Huyền Quang là những người phản đối mạnh mẽ, không chấp nhận thỏa hiệp chi hết, cho rằng nhà nước phải đứng bên ngoài việc lãnh đạo tăng chúng.

Kết cục, hòa thượng Thiện Minh tổng vụ thanh niên ra đi và vĩnh viễn không ai biết vì sao công an mời họp mà không thấy về. Ai có hỏi thì nhà nước bảo tại họp lâu lắm.

Hòa thượng QUảng Độ và Huyền Quang cũng đi luôn, đi đày mà không biết án đó là cái gì.

Giáo Hội PGVN nằm trong mặt trận ra đời.

Chuyện đời cứ tưởng đã rồi đời, mây trôi nước chảy.. Ai ngờ bức tường Bá Linh nó sụp. AI dè có một ngày Đảng ta lại ngán mấy thằng tư bổn, dân chủ, không phải sợ vì nó có súng, có B52 mà vì muốn năn nỉ nó đầu tư. Khổ cái bọn chó chết đó hay hạch hỏi cái nhân quyền, thành ra dầu ít, dầu nhiều cũng phải đàn áp ít hơn xưa.

Trong hoàn cảnh đó, thầy Quảng Độ cóc thèm ở Thái Bình nữa mà ra bến xe mua vé đi vô Nam. Thầy HUyền Quang thì hiên ngang ra dự đám tang đức đệ tam tăng thống, và tại đây, nhận di chúc của đức đệ tam tăng thống, thầy thề sẽ phục hoạt giáo hội PGVNTN.

Đại hội Nguyên Thiều ra đời, tại đó thầy Huyền Quang được suy tôn làm đức Đệ Tứ tăng thống. Thầy QUảng Độ là viện trưởng viện hóa đạo.

Cái tưởng chết thế mà lại hồi sinh.

Thế thì cho hỏi Đảng và nhân dân ta có tức trào máu hay không ?

Tức chứ, tức điên lên được. Nói thật nếu mà nhà nước Liên Xô vĩ đại đừng có bị tiêu tùng, nói thật nếu mà phe XHCN đừng có thoái trào thì lập tức công an sẽ vào đòm chết bố hết bọn thầy chùa cứng đầu rồi. Chỉ tiếc là hoàn cảnh hiện nay không cho phép làm thế. Nhưng không được làm thế, mà cái bản chất thích làm lảnh tụ của đảng ta vẫn y như thế, thì đảng ta phải làm sao ?

Đấy, chúng ta mới đi đến cái câu trả lời. Là chửi ! ra lệnh cho toàn đảng toàn dân, toàn quân, toàn các nhà báo cứ thi đua mà chửi. Chửi đúng cũng được, chửi sai cũng chẳng sao, miễn có chửi là tốt rùi.

Cho nên mới ngạc nhiên là hòa thượng Quảng Độ cứ hỏi nhà nước xin cho một cái lệnh là cấm Giáo Hội PGVNTN hoạt động, có lệnh đó thì xin dẹp giáo hội ngay. Thế mà nhà nước có ra chỉ thị đâu. Cho nên báo chí cứ chửi lão Quảng Độ như rươi nhưng chẳng có cái tòa án nào xử ông thầy cả. Bảo ông ta là xách động biểu tình. Nhân dân lên án, thế nhưng không có cái tòa nào xử cái tội xách động đó cả, chỉ toàn đoán mò mà chửi thôi.

Còn vì sao nâng bi thầy Huyền Quang mà vùi dập thầy Quảng Độ trong khi hai thầy là bạn đồng tu, đồng chí nguyện ?

Giản dị lắm. Đó là gây chia rẻ. Mưu của đảng ta là như thế. Thầy HUyền Quang thì mấy năm gần đây sức khỏe yếu lắm, sự hoạt động của thầy cũng ít đi. Kế đến, sự thực thì thầy Huyền Quang không nghi ngờ nhà nước bằng thầy Quảng Độ. Thầy Quảng Độ thì như đã nói từ hồi thanh niên đã tận mắt chứng kiến sư phụ của mình bị bộ đội cụ Hồ đòm đòm, nên thầy kinh cung chi điểu. Rồi cuộc đời của thầy khi ỏ Thái Bình thầy cũng ngó thấy nhiều thứ và quan trọng hơn hết là thầy rút ra một cái kết luận nguy hiểm đại khái như thế này

Cái pháp nạn mà PGVN đang chịu đựng thực chất là quốc nạn. Cái đau khổ mà các thầy đang chịu đựng thực chất là cái đau khổ mà tất cả mọi người việt nam từ bắc chí nam đang chịu đựng (trừ cán bộ). Cái đau khổ đó là bị cai trị trong một chế độ độc tài, thiếu dân chủ, đảng trị thay vì pháp trị. Cho nên lời giải bài toán giáo hội chỉ có được khi giải bài toán của dân tộc. Giáo hội không thể thoát pháp nạn khi dân tộc đang chịu khổ nạn. Do đó, thầy Quảng Độ đã kêu gọi dân chủ, đa nguyên, đa đảng. Thầy Huyền Quang chỉ tranh đấu cho giáo hội nhưng thầy chưa kêu gọi đa đảng.

Và đó là cái lý do, đối với đảng ta thầy Quảng Độ là tên phản động nguy hiểm bậc nhất.

Nên nhà nước và đảng ta đưa ra một kế sách thế này:

1. Ưu tiên một là bóp chết giáo hội PGVNTN
2. Nếu không bóp cho nó chết được thì loại bỏ cho bằng được nhân vật Quảng Độ
3. Không loại bỏ được thì cô lập QUảng Độ, mua thời gian chờ cho hắn già khú và viên tịch luôn thế là xong.

Nên trở lại cái lý do nhất quán và đơn giản vì sao đảng ta hành xử như thế. Lý do đó là Tham, Sân, Si.

Tham là tham làm lảnh đạo. Khoái ngồi chiếu trên. Có đổi mới thế nào đi nữa, nhưng đừng hòng đảng ta đổi màu, chấp nhận tự do và dân chủ

Sân là chủ trương bạo lực. Bất kể thủ đoạn, dù có đê hèn. Nên nhớ đảng đã từng bắn, từng giết, từng lôi đầu địa chủ ra mà đập để giữ cái quyền lãnh đạo. Hôm nay, phải ngửa tay nhận tiền tư bổn, bắn giết như thế hơi bị khó, nhưng cái bản chất bạo lực vẫn y nguyên, nên nó biến thể thành sai du côn đón đường, sai đàn em chửi bậy, có khi còn sai chị em phụ nữ lấy cứt trét vô nhà người ta nữa. Chuyện đó dễ hiểu.

Si là ngu quá xá cỡ. Đặt quyền lợi của mình lên trên lợi ích của dân tộc và lẻ phải. Nên nhớ, để được làm lảnh đạo, đảng sẵn sàng dâng hiến hoàng sa cho đồng chí của đảng. Thì lợi ích của một tôn giáo chẳng có nghĩa lý gì. Đảng có hiểu được cái ích lợi của tôn giáo độc lập trong cái ý nghĩa Tự Do – Công Bằng – Bác Ái đâu. Đảng đâu có biết rằng khi tôn giáo thoát khỏi thế quyền thì nó có thể giúp thế quyền rất nhiều trong việc giáo dục đạo đức, xoa dịu những nỗi đau của bất công mà bất cứ một xã hội nào cũng có đâu ? Đảng chỉ mong thấy Bác Hồ lên ngồi cạnh ông Phật là sướng rồi, và cho đó là nhân đạo vì Phật được ngồi cạnh Bác, cứ khi xưa thì đừng hòng.

Cái Tham, Cái Sân, Cái Si đó nó chưa bao giờ thay đổi trong bụng đảng, trong lòng đảng. Và như thế thì có nhìn thấy những chuyện như bồ nói thì cũng là chuyện bình thường. Bình thường vì nó đã xảy ra không chỉ ở VN mà là trên bất cư nơi nào đảng Cộng Sản nắm quyền lảnh đạo, dù là ở Trung Quốc, hay Ba Lan, hay Tiệp Khắc, hay Campuchia.

Chúng ta hãy mừng và đừng ca thán. Bởi dù sao cũng là đỡ lắm rồi. Nếu bức tường Bá Linh không sập thì còn khủng khiếp nữa.

Ngày xưa, sư phụ của thầy Quảng Độ vì cứu trợ dân đói đã bị bác Hồ đòm đòm chết tươi. Ngày hôm nay, thầy Quảng Độ cứu trợ dân oan, chỉ bị toàn đảng và nhân dân chửi tắt bếp, so ra là đã nhân đạo lắm rồi.

Cái công lao làm đảng nhân đạo đi một chút mặc dù tham sân si vẫn y chang đó, tôi xin dành cho những người Ba Lan, người Đức, người HUng Ga Ry, những thanh niên Trung Quốc đổ máu ở Thiên An Môn, những con người vinh danh tự do trên toàn thế giới.

Và có sinh thì có diệt. Bùi ngùi nghe tin thầy Huyền Quang viên tịch. Còn nói thiệt cái chuyện Phật Giáo Bình Định lo tống táng thầy thì chẳng nên quan tâm. Nếu mà thầy thích thì mấy mươi năm trước thầy đã theo gương “nhẫn nhục” mà nghe lời nhà nước răm rắp thì có thể Phật Giáo cả nước làm lễ chớ chẳng riêng gì Bình Định đâu. Nhưng con đường thầy đi là do thầy chọn.

Nhớ tới mấy câu Thủ Lăng Nghiêm đọc mà dâng lên cúng dường thầy

Như nhứt chúng-sanh vị thành Phật
Chung bất ư thử thủ nê-hoàn.
Ðại-hùng đại-lực đại-từ-bi
Hi cánh thẩm trừ vi-tế hoặc
Linh ngã tảo đăng vô-thượng giác
Ư thập phương giới tọa đạo tràng
Thuấn nhã đa tánh khả tiêu vong
Thước-ca-ra tâm vô động chuyển.

Hễ còn một chúng sanh đau khổ, thì con nguyện không vui riêng tự tại. XIn đức đại từ bi, đại lực đại hùng hãy ban cho con khả năng trừ sạch mọi tham sân si vi tế. Để con có thể quảng độ mọi chúng sanh đến chổ an vui. Thế gian này, hư không này có thể tiêu tan, nhưng tâm nguyện kiên cố quyết không thể nào dời đổi.

phothuongdandom (X-cafevn.org)

2008-07-13 18:23:05

http://baodoi.net/index.php?view=story&subjectid=846

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Sĩ Ngoáy em xin có mấy nhời hỏi các bác trí thức!

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 6, 2008

Sĩ Ngoáy em xin có mấy nhời hỏi các bác trí thức!

» Tác giả: Sĩ Ngoáy

Kinh thưa các bác trí thức VN! Trước khi em có nhời với các bác, em xin tư giới thiệu em tên là Phó Ngoáy! Vâng Phó ngoáy chứ không phải là Sĩ Ngoáy!!! Vì cái tên Sĩ Ngoáy là em tự mạo nhận cho oai vậy thôi! Chứ thú thật với các bác, cái loại em thuộc thành phần mù dở mù dang, chữ nghĩa có ra gì, cái bằng Ditlom thời tây cũng không xong thì làm gì đươc xếp vào hàng Sĩ. Bởi thấy thiên hạ người ta giáo sư, kỹ sư, tiến sĩ, viện sĩ vv.. chức danh ầm ầm ra, mình chẵng có bằng cấp gì, viết bài không có chức danh, phẩm tước kèm theo chẳng ma nào nó thèm đọc! Thôi thì thấy thiên hạ người ta quẫy đuôi, em cũng đành ngoe ngẩy để cho thức thời một tí, đành đỏ mặt ngượng ngùng trong e ngại gắn cái chữ sĩ cho oai. E ngại vì sợ vi phạm pháp luật về tôi xử dụng bằng cấp giả, nên lửng lơ chỉ dám lấy chữ sĩ, chứ không dám gắn chữ Tiến hay Viện đằng trước (Đã gian rồi thì phải biết đường mà che đậy)

Còn cái chữ ngoáy thì thực ra bà cụ đẻ ra em, nói là ngày xưa em ở trong bụng cứ ngó ngoáy nghịch ngợm, bà cụ đau quá về sau để trả thù em, cụ đặt tên em là “cu ngoáy” cho bỏ tức. Lên cái tính khí em nó cũng ngỗ ngược, việc làm của em nó cũng hơi “đối lập” với thiên hạ, chẳng hạn thiên hạ người ta đều ngoan ngoãn mà em thì lại hư hỏng, cứ nhăm nhe gây rối mất trật tự nơi công cộng.

Thiên hạ người ta tỉnh táo, tất cả đều chấp hành đi theo đường lối chính sách, mà mình lại say say, dở dở hay đi chọc ngoáy nói xấu…đảng và nhà nước. Thiên hạ người ta đi lề đưòng bên phải, còn một mình mình thui thủi đi bên lề trái. Mỗi lần em phá bĩnh như vậy thấy thiên hạ người ta nhìn em cứ như “người ngoài hành tinh” xa lánh sợ lây em như lây hủi… rồi trước khi bỏ đi họ còn lẩm bẩm “Đúng là thằng hâm!Việc nhà không xong đi lo việc thiên hạ.”

Thật xấu hổ cho cái thân em! Người ta chửi cho là phải, cứ hay chọc ngoáy vào việc của người khác…Nhưng cái số kiếp em sinh ra đã ngang ngạnh như vậy, chẳng biết phải làm sao. Lên thôi, đàng nào cũng bị mang tiếng rồi, lại bị người đời khinh rẻ phân biệt, không thèm phong cho cả cái chức thường dân, thì đành tự nhận mình là “phó thường dân” gọi tắt là phó ngoáy vậy!

Vâng, thưa các bác trí thức VN kính mến! Em thường nghe nói ngày xưa ông đồ là bậc “kẻ cả” trong làng, được cả làng trọng vọng. Sĩ phu là bậc “trí giả” trong thiên hạ được cả nước ngưỡng mộ. Được cái danh ông nghè, cụ đồ thì oai lắm, cả làng cả tổng cả nước, đâu đâu cũng có lòng kính cẩn kẻ có đầy bồ chữ, thèm muốn cái duyên được thánh hiền ban chữ của họ. Năm hết tết đến, hay có việc hiếu hỉ, đại sự, xin được cái chữ của các cụ nho thì là cả cái sự vinh dự, mở mày mở mặt với xóm làng. Đi đâu có việc gì đến cửa quan, hay không hiểu việc gì!! Nghèo thì nghèo cũng phải có mà sắm cái lễ đến nhờ vả cụ đồ dạy bảo để mở mang cái đầu óc tăm tối.

Và các bác trí thức ngày nay cũng vậy, nghe nói các bác là bậc lương đống, là báu vật nguyên khí, chất xám vv.. của quốc gia! Em cũng ngưỡng mộ các bác trí thức thời nay lắm.Tuy các bác trí thức thời nay không dược oách như thời các cụ, nhưng lời các bác trí thức đã tuôn ra thì thiên hạ ngỏng cổ ra mà nghe. Miêng các bác tuy không “có gang có thép” như miệng các quan, nhưng lời của “kẻ trí giả “dù sao vẫn được trọng vọng! Chính vì vậy em cũng rất ngưỡng mộ các bác, thấy các bác trí tuệ phi phàm, trên trời dưói đất cái gì cũng biết, không cái gì là không đúng, không hay ! Nhân đây, thông wa mạng in tờ net em cũng xin hỏi các bác một đôi điều mà em thấy nó cứ ngắc ngứ day dứt mãi???? Không làm sao có lời giải thích thoả đáng??? Mong bác trí thức nào làm ơn chỉ giáo dùm em mấy điều bận tâm như sau:

Thưa các bác! trước khi đi vào việc chính hỏi các bác, em cũng không quên có lời khâm phục gởi tới các bác trí thức nhà ta. Chả là em thấy hơn 60 năm qua! Được sự dìu dắt chỉ đường dẫn lối của đảng và bác Hồ kính yêu, các bác trí thức đã một lòng đi theo cách mạng! Đến nay dưới chế độ XHCN đội ngũ trí thức đã không ngừng lớn mạnh cả về lượng và chất, đóng góp một phần không nhỏ vào công cuộc phá hoại đât nước! À quên, xin lỗi.. xây dựng đất nước. Vâng! đúng là xây dựng đất nước… điều đó không ai phủ nhận, ngay đến cả em đây hay bới chuyện là thế cũng phải thừa nhận sự đóng góp to lớn của tầng lớp trí thức các bác đối với đất nước…

Nhưng có những điều làm cho em thấy áy náy lắm các bác trí thức ạ?? Em cứ thấy nó măng mắc thế nào ấy ấy?? Bởi các bác đã là tầng lớp trí thức, là tinh hoa, là bậc lương đống, là báu vật của dân tộc rồi, mà những chất xám đó lại còn được sự diù dắt của đảng và bác thì em thấy đảng và bác, nhất là bác kính yêu của chúng ta chắc phải là bậc “siêu trí thức”! Mà đã là “siêu” thì ắt phải được phong lên bậc thánh rồi. Đã là thánh rồi thì khỏi phải nói, bác phán cái gì, dạy bảo cái gì nhất nhất đều đúng cả, chớ có sai hoặc nếu có thì sai ít lắm…

Quả là em cũng phaỉ thừa nhận bác kinh yiu của chúng ta là con người toàn năng sáng suốt, thật hiếm có ai sánh kịp với tầm vĩ đại của bác. Ngay cả đến ông Lenin, ong Sitninnin gì đấy và ngay cả cái ông Mao chủ xị oan xay cũng không nhỉnh hơn tầm vĩ đại mà bác của chúng ta lao bao! Kẻ tám lạng người nữa cân. Thật hết chê!

Công ơn của bác đúng là như trời như biển. Ngoài việc có công đưa đất nước ta thoát khỏi ách nô lệ của thực dân phong kiến, bác còn có công hạ đo ván hai tên đế quốc đầu sỏ là Pháp và Mỹ! Kinh thật! Bác đúng là võ sĩ vĩ đại hơn cả Mohamet Ali. Trông bác xương xương vậy sao mà khoẻ thế ???

Ngoài cái công như trời biển trên, bác còn ra sức dạy dỗ dân ta, như vua thần nông xưa kia dạy dân trồng lúa. Từ lời ăn tiếng nói… Từ người già cho đến trẻ con… Từ tầng lớp trí thức cho đến các lực lượng vũ trang… Đâu đâu cũng thấm nhuần lời day của bác. Những lời dạy đó thật sâu xa súc tích, không câu nào trật đường tàu…. Không chê vào đâu và đáng được nêu danh sử sách. Nhưng có lẽ em tâm đắc nhất là 6 điều bác kính yêu dạy LL “công an nhân dân” của chúng ta. Em thấy tâm huyết nhất là lời dạy đầu tiên của bác “Đối với đảng phải tuyệt đối trung thành”và câu thấu tâm can “đối với địch phải cương quyết khôn khéo”. Sao mà chí lý thế!

Thật là may mắn cho cái dân tộc Annammit này, may mà có vị “cha già” chỉ đường dẫn lối mới đi lên được thiên đường như ngày nay, không thì không biết sẽ ra sao. Nếu không có “vị cha già dân tộc” chỉ đường dẫn lối, thì có lẽ mỗi người dân AnNam đã bị gắn thêm cái “Vĩ” đằng sau đít rồi, đi đâu cũng phải che che, giấu giấu không thì nó lòi cái biển số IQ ra thì khổ lắm!!!

Đó là cái trí tuệ siêu nhiên của bác đã thể hiện. Nhưng khi em đọc wa cái lý lich của bác.. em không thấy nhắc đến việc học hành khoa bảng nổi đình nổi đám nào của bác. Mà chỉ thấy nói qua loa sơ sài đến việc gõ đầu trẻ ở cái trường sau luỹ tre của thày giáo Nguyễn Tất Thành, cho đến khi bác bôn ba ra đi tìm đường cứu nước…

Vậy thì xin hỏi các quí bác trí thức! Trong thời gian di làm cách mạng, bác có học trường nào ỏ nước ngòai không và có phải bác được cái ông Lenin, trong thời gian ở nước Nga xô viết truyền thụ cho không? Sao mà bác phán câu nào cũng hay thế, chuẩn thế! Có phải bác của chúng ta là “siêu trí thức” như vậy không? Hay có ai đó mớm nhời cho bác????

Mong quí bác trí thức nào giải trình giúp em với!

…Nhưng khi em nghe các cụ xưa có nói câu ”

Thôi thì em không dám mon men bàn tới sự đúng sai về những “công lao trời biển” của bác (vì thấy người ta cứ xì xào nói ra nói vào, người bảo bác có công kẻ nói bác có tội.. .không biết đâu mà lần.. .nghe ai cũng có cái lý đúng). Tuy tò mò nhưng em thì đầu tóc ngu tối, chưa đủ tầm với, không dám luận bàn chuyện đại sự quấc gia, mà nếu có mạnh dạn hỏi các bác trí thức thì cũng không biết hỏi các bác như thế nào cho phải, bắt đầu từ đâu??? Từ thời chống Pháp, thời cải cách, cải tạo vv.. hay thời Mậu Thân chống Mỹ cứu nước vv… Đúng sai ra sao thôi thì nó lằng nhằng rối rắm lắm!

Bởi vậy em chỉ dám xớ rớ xem xem những lời bác dạy khi xưa nó sâu sắc thâm thuý đến cỡ nào!!! Nhưng khi đọc lại những lời kêu gọi, dạy dỗ của bác thì em thấy nó vướng vướng thế nào ấy. Cái đầu óc ngu tối của em nó không thông suốt được!!! Thôi thì em cứ lấy mấy câu hô hào kêu gọi, hay lời dạy bảo bất hủ của bác ra để hỏi các bác trí thức xem sao!

+ Chẳng hạn như câu bác hô hào kêu gọi toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến chống Pháp: THÀ HY SINH TẤT CẢ CHỨ KHÔNG CHỊU MẤT NƯỚC! KHÔNG CHỊU LÀM NÔ NỆ.

Câu này của bác hay lắm, nhưng em thấy nó thế nào.. ấy! Chẳng hạn đã hy sinh tất cả, có nghĩa chết hêt cả rồi, thì cái nước mà không có dân thì có còn gì là cái nước nữa không? Hay chỉ là đất vô chủ khi không còn dân, là quận huyện của ngoại bang khi hết dân bị nó chiếm????

Mong các bác trí thức cắt nghĩa giùm em cái lời kêu gọi bất hủ này với!

Riêng ngoaì lề câu hỏi này em xin có ý kiến nho nhỏ với các bác không người khác nghe thấy cho em là phản động thì chết: Em không biết người khác thế nào, chứ với bản tính sợ chết, nếu mà cho em lựa chọn, em chấp nhận xin làm nô lệ cho Pháp…còn hơn là chết!V ì chí ít làm nô lệ Pháp thì còn có quyển truyện hay như “Tắt đèn” đáng để đọc. Hay Mỹ càng tốt, vì em nghe thấy ối nước nó muốn làm “nô lệ” cho Mỹ mà không được! Em nghĩ “nô lệ” cho Mỹ, ít ra cũng không phải hít thở bầu không khí “trong lành” như ở Hà Nội hiện nay.

Ấy! ấy nhưng nếu làm nô lệ cho Tàu cộng thì em xin được thà chết… vì không những bị khổ mà còn nhục lắm, vì nó coi mình không bằng con chó, thà chết vinh còn hơn sống nhục. Còn nếu dở ương dở chín, chẳng ra nô lệ chẳng ra độc lập như hiện nay, thì em xin sống tạm để mà qua ngày đoạn tháng, để xem cái giời đất này nó ra sao các bác trí thức ạ! (Câu này không bị coi là phản động)

+ Câu thứ hai mong các bác trí thức diễn giải dùm em câu dặn dò giáo huấn này của bác: CÁC VUA HÙNG ĐÃ CÓ CÔNG DỰNG NƯỚC-BÁC CHÁU TA PHẢI CÙNG NHAU GIỮ LẤY NƯỚC. Cứ theo lời dạy bảo chí tình này của bác, thì các vua Hùng đã có công dựng cái nước này, còn bác cháu chúng mình hiện nay chỉ cần giữ nước thôi!!! Giữ có nghĩa là chỉ có nhiệm vụ làm sao cho tồn tại mà thôi! Nhiệm vụ của thời đại chúng ta là chỉ cần làm sao giữ được thôi, chứ không cần phải phát triển, phát triển để dành cho đời sau nó gánh vác…không lên làm tranh việc của đời sau… có phải vậy không thưa các bác trí thức?

Em mong chờ cao kiến của các bác!

+ Câu thứ ba xem xin các bác trí thức mở mang cái đầu óc tăm tối hộ em với, rằng lúc sinh thời bác có dạy dỗ chúng ta: VÌ SỰ NGHIẸP 10 NĂM TRỒNG CÂY-VÌ SỰ NGHIỆP 100 NĂM TRỒNG NGƯỜI. Vậy em hỏi các bác trí thức! Cứ như lời dạy bảo trên của bác, thì có nghĩa là CHỈ BIẾT TRỒNG CÂY-TRỒNG NGƯỜI MÀ KHÔNG CHĂM SÓC!! Liệu cái cây đó, con người đó sẽ ra sao, như thế nào hả các bác???

Đấy! Có bác trí thức nào giải thích dùm em ba câu hỏi đơn giản trên thì hay wá!

Em thì em cho rằng nếu lời nói của bác kính yiu có sai, thì đã được đội ngũ trí thức giúp bác điều chỉnh rồi, hoặc giả các bác là trí thức, là chất xám thì phải phát hiện ra điều đó, chứ đâu phải đợi hơn 40 năm sau, đến lượt cái thằng em nêu ra!

Nhưng trí tò mò của em nó cứ thôi thúc! Nếu được bác trí thức nào giải thích thoả đáng em xin đa tạ và lần sau lại mạn phép xin gửi tới các bác trí thức những câu hỏi về sự lãnh đạo tài tình sách suốt của đảng trước kia và hiện nay? Rồi đội ngũ trí thức bây giờ là của ai??? Của dân hay của đảng vv và đảng đối với trí thức như thế nào? Trí thức đối với đảng ra sao vv…? Để giúp cho em sáng mắt sáng lòng các bác nhé!

Em trân trọng cám ơn và xin chờ câu trả lời của các quí bác trí thức!

Bye!Bye các bác hen!

HNTuday 5/9/2008
P.Ngoáy

TB: Bài viết gửi các bác trí thức phải dùng bút danh thật, không các bác cho là phạm thượng thì chết!

2008-09-06 11:45:03

http://baodoi.net/index.php?view=story&subjectid=1246

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Nhân Quyền Và Độc Tài Toàn Trị Không Thể Cùng Tồn Tại

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 6, 2008

Nhân Quyền Và Độc Tài Toàn Trị Không Thể Cùng Tồn Tại

» Tác giả: Lý Đại Nguyên

Cuộc tranh đòi lại nhà đất thuộc Dòng Chúa Cứu Thế của Giáo Dân xứ Thái Hà với nhà cầm quyền Hà nội mỗi lúc một thêm trầm trọng, mà không lối thoát. Bên giáo dân thì căn cứ vào số nhà đất của Dòng Chúa Cứu Thế vốn thuộc quyền Tư Hữu hợp pháp, mà mình đã thủ đắc trước khi có cái chế độ Việt cộng độc tài tham nhũng hiện nay. Nên việc đòi lại đất bị mất là hợp tình, hợp lý. Còn Việt cộng thì nhân danh chế độ Công Hữu, do đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, dân làm chủ (hờ) để tịch thu nhà đất của nhà thờ, nhà chùa, hay bất cứ của công dân nào, rồi tùy tiện phân phối cho những đối tượng mà đảng cho là được quyền xử dụng, hay bán cho ngoại nhân, hoặc chia nhau hưởng lợi thì cũng là hợp pháp đối với họ. Vì đảng quyết định là luật rồi. Cũng giống như thời Phong Kiến “ý Vua là ý Trời”. Lệnh Vua là công lý. Chính vì vậy, mới có cảnh Dân Oan đi khiếu kiện suốt cả đời mà không được giải quyết. Trường hợp của giáo xứ Thái Hà cũng không ngoại lệ.

Thế nhưng với cuộc đấu tranh quyết liệt đòi công lý hiện nay của Giáo Dân Thiên Chúa trong Giáo Phận ở ngay Thủ Đô Hà nội, trước sự chứng kiến của con mắt quốc tế, nhất là dư luận Hoa kỳ và thế giới đang đòi Việt cộng phải Tôn Trọng Nhân Quyền, Tự Do Tôn Giáo, Dân Chủ Hoá chế độ để đưa kinh tế Việt Nam thoát khỏi cảnh suy thoái trầm trọng, do di lụy của thứ kinh tế Thị Trường theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa chết tiệt hiện nay tạo ra. Đây không còn là cảnh Dân Oan khiếu kiện bình thường nữa, mà là một tập thể Tôn Giáo có tổ chức, quyết liệt đấu tranh, chỉ cần Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, tự thắng được chính mình, nhận trách nhiệm, cùng với Dân Oan, cùng với các Giáo Hội đòi thay đổi Chế Độ Công Hữu thành Chế Độ Tư Hữu, thì mới mở được lối thoát cho Việt Nam. Như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã theo đuổi suốt 33 năm nay.

Sau ngày chính thức tiếp nhận quyền lãnh đạo tối cao Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống, kiêm Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN đã công bố Bản Tuyên Cáo của Hội Đồng Lưỡng Viện về Nhân Quyền cho Người Sống, Linh Quyền cho Người Chết và Dân Chủ cho Xã Hội. Với nhận định: “Ngày nay, tổ quốc đang lâm nguy vì nạn xâm lấn đất và biển cùa ngoại bang, mà 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là nỗi đau nhức nhối. Trong khi ấy chính quyền tại vị nhu nhược nếu không nói là đồng lõa. Nên GHPGVNTN kêu gọi toàn dân trong và ngoài nước mau chóng kết thành một khối để bảo vệ non sông và nòi giống…”. Đòi nhà nước Việt cộng phải: “1- Thay đổi chính sách thù nghịch tôn giáo đối với các tôn giáo tại Việt Nam, thể hiện bằng sự công nhận sinh hoạt độc lập và phi chính trị của các tôn giáo, phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo Hôi Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và các tôn giáo chưa được thừa nhận…”; “2- Áp dụng triệt để Công Ước Quốc Tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị, mà Việt Nam tham gia ký kết tại LHQ năm 1982, và tiêu chuẩn hóa pháp luật Việt Nam theo Công Ước Quốc Tế về Nhân Quyên, Tự Do, Dân Chủ của LHQ”; “3- Loại bỏ điều 4 Hiến Pháp tạo điều kiện cho sự tham gia cứu quốc và kiến quốc của toàn dân, của mọi thành phần dân tộc, mọi gia đình, tôn giáo và chính trị”; “4- Triệu tập Hội Nghị Toàn Dân, bao gồm các tôn giáo và đảng phái dân tộc ra đời từ đầu thế kỷ XX cho đến nay, khai mở cuộc hóa giải các tranh chấp, hận thù nẩy sinh từ những ý thức hệ ngoại lai gây nên tấm thảm kịch bản địa suốt sáu mươi năm chưa dứt, hầu đặt cơ sở cho việc trao quyền lãnh đạo cho toàn dân trong một thể chế dân chủ tam quyền phân lập và đa đảng…”

Bản Tuyên Cáo của Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN nói lên ý nguyện thiết tha của toàn dân Việt Nam, ở trong và ngoài nước. Đúng với nhu cầu Dân Chủ Hóa chế độ, đòi Cộng đảng phải trả lại quyền tự chủ xây dựng, phát triền xã hội, kinh tế, và tham gia chính trị cho toàn dân. Nhằm giành lại chủ quyền cho Dân Tộc trên trường quốc tế, để Quốc Dân Việt Nam chủ động hội nhập với tiến trình Toàn Cầu Hóa, mà vẫn duy trì được bản sắc Văn Hóa Dân Tộc trong thời đại Nhân Chủ Nhân Văn Toàn Thế Giới. Cụ thể bước đầu là Việt Nam phải bỏ điều 4 Hiến Pháp của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, mà Cộng đảng đã ngang nhiên cướp quyền lãnh đạo của toàn dân, để đứng trên Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, mà tùy tiện điều hành quốc gia. Từ đó đại biểu chính thức của toàn dân viết ra bản Hiến Pháp Dân Chủ thực sự làm “mẹ” cho luật pháp quốc gia để đưa ra Trưng Cầu Dân Ý. Thay cho bản Hiến Pháp lạc hậu phi dân chủ hiện hành, cho phép dùng luật tùy tiện của Cộng đảng, để giới hạn quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do lập hội hiến định của người dân. Cộng đảng đã biến hiến pháp và luật pháp của chúng thành công cụ thiết lập chế độ độc đảng, độc tài, toàn trị tại Việt Nam. Thế nên trong chế độ độc đảng, độc tài toàn trị này không có chỗ đứng của Nhân Quyền, cho dù toàn dân, cả thế giới và người bạn lớn mới của Việt cộng là chính phủ Hoa kỳ có đòi hỏi cách mấy thì Việt cộng vẫn cứ ì ra đó.

Nhưng cũng may, Hoa kỳ là nước Dân Chủ trọng pháp. Để cụ thể hóa vấn đề Nhân Quyền, nhất là đối với những nước hậu Cộng sản vô tôn giáo. Quốc Hội Hoa kỳ 1998 đã biểu quyết thành Đạo Luật Tự Do Tôn Giáo Thế Giới. Từ đó chính phủ Mỹ lấy vấn đề Tự Do Tôn Giáo làm chính sách ngoại giao của mình. Quốc Hội Mỹ cho thành lập Ủy Ban Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế, để theo rõi chính sách ngoại giao tôn giáo của chính phủ. Việc chính phủ Mỹ đã đặt Việt Nam vào trong danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt – CPC- theo các khoản đề ra trong đạo luật về tự do tôn giáo quốc tế. Nhưng vì nhu cầu nhập nội Việt Nam, năm 2006, Chính quyền Bush đã rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách “phong ác thần” đó, để Mỹ giúp cho Việt Nam được gia nhập WTO, với hy vọng Việt cộng biết điều hơn về Tự Do Tôn Giáo ở Việt Nam. Nhưng chứng nào tật ấy. Sau khi được vào WTO, và tiếp TT Bush tại Hà nội, Việt cộng lại thẳng tay đàn áp tôn giáo và tiêu diệt nhân quyền. Nên “Ủy Ban Hoa Kỳ đặc trách vấn đề Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế – USCIRF – hôm thứ Hai, 25-08-2008 đã công bố một phúc trình có tựa đề “Trọng Điểm Chính Sách về Việt Nam”, ghi nhận những sự kiện Ủy Ban tìm hiểu được trong chuyến đi thăm Việt Nam năm 2007, đồng thời nêu rõ những hành động gây phiền nhiễu, bắt giữ và tù đầy được chính phủ (VN) bảo trợ, nhằm vào cá nhân và lãnh tụ các cộng đồng tôn giáo khác biệt trong nước”. Nên, “Ủy Ban kêu gọi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đặt Việt Nam trở lại vào danh sách các quốc gia đáng quan tâm đặt biệt” – CPC – Trong khi đó Dự Luật Nhân Quyền cho Việt Nam hy vọng sẽ được Thượng Viện Hoa Kỳ thông qua thành Luật vào đầu tháng 09-2008 này. Đạo luật này là một áp lực mạnh đối với Việt cộng. Theo ông Đại Sứ Mỹ tại Hà nội, Michael Michalak thì:”Hoa kỳ cũng sẵn sàng giúp đỡ kỹ thuật cho Quốc Hội Việt Nam, và sẽ tiếp tục các cuộc đối thoại và tham khảo ý kiến công khai với Việt Nam để bảo đảm quyền tự do phát biểu tư tưởng, tự do tôn giáo và tự do báo chí, đồng thời cải thiện tình trạng trong sáng, để có thể chống tệ nạn tham nhũng trong nước một cách tốt đẹp hơn”. Xem thế Hoa kỳ cả Lập Pháp lẫn Hành Pháp cũng nhìn rõ chế độ độc tài tham nhũng toàn trị của Việt cộng không thể cùng tồn tại trước nhu cầu nhân quyền của toàn dân và toàn cầu.

Lý Đại Nguyên

2008-09-05 08:27:45

http://baodoi.net/index.php?view=story&subjectid=1242&chapter=1

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Những món nợ máu

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 6, 2008

Hoàng Cơ Minh

Hoàng Cơ Minh

Hoàng Cơ Minh
Hoàng Cơ Minh

Những món nợ máu

» Tác giả: Lữ Giang

Trước hết, chúng tôi xin nói rõ, những tài liệu chúng tôi công bố trong bài “Cuộc đời sóng gió” nói về con đường chính trị của Hoà Thượng Huyền Quang mới chỉ là những điểm chính. Vì toàn bộ tài liệu quá dài, chúng tôi không thể công bố tất cả trong một bài được. Có người đã hỏi: “Làm thế nào ông lại có được “Bản tự khai” (Bản khẩu cung) do “chấp pháp” lập trong khám. Như vậy ông tự tố cáo ông là ai rồi!”

Chúng tôi hiểu đây là một trong những cố gắng ngụy biện và chụp mũ theo thói thường của các thành phần cực đoan nhưng thiếu kiến thức để biện minh cho những gì không thể biện minh được. Trong bài nói trên, chúng tôi đã nói rõ trong phiên xử ngày 8.12.1978. Viện Kiểm Sát có đọc “lời tự thú của Hoà Thượng khi bị giam ở công an”. Lời tự thú này đã được ông Võ Văn Ái cho đăng lại trên Tạp Chí Quê Mẹ số 125 và 126 tháng 10 và 11 năm 1993, trang 70. Như vậy Võ Văn Ái cũng đã “tự tố cáo mình là ai rồi”?

Hôm nay chúng tôi xin tiếp chuyện với đảng Việt Tân, vì trong những ngày vừa qua, đảng Việt Tân bắt đầu quậy lại. Trước đây, nhóm “Việt Tân cha” đứng ra quậy và đã bị đồng bào nhận diện hết rồi, nên nay đảng Việt Tân lại cho đám “Việt Tân con” nhảy ra quậy dưới nhiều tên khác nhau. Hình như đảng Việt Tân không thể từ bỏ được cái tập quán xấu đã đưa đảng Việt Tân ngày càng rời xa khỏi quần chúng và các tập thể khác.

Chuyện đảng Việt Tân quá nhiều, hôm nay chúng tôi sẽ đưa ra ánh sáng một số chuyện mà chúng tôi thấy rằng đảng Việt Tân cần trả lời cho đồng bào biết trước khi nói đến các chuyện khác.

THẮC MẮC THƯỜNG NGHE

Rất nhiều người hỏi chúng tôi: “Việt Tân” là tổ chức nào? Chúng tôi chỉ trả lời vắn tắt: Đó là Mặt Trận Hoàng Cơ Minh. Lại thắc mắc thêm: “Tại sao không gọi là Mặt Trận Hoàng Cơ Minh mà gọi là Việt Tân?”

Trong cộng đồng người Việt hải ngoại, gần như ai cũng biết Mặt Trận Hoàng Cơ Minh nhưng ít người biết Việt Tân, vì thế chúng tôi phải cố gắng giải thích cho họ.

Chúng tôi nhắc lại, ngày xưa khi muốn xâm chiếm miền Nam, đảng CSVN đã cho hình thành một tổ chức lấy tên là “Mặt Trận Quốc Gia Giải Phong Miền Nam” để làm chiêu bài.

Nhóm Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh nghĩ rằng muốn thắng Cộng Sản phải lập một đảng và một mặt trận gióng như Đảng CSVN đã làm và phải độc tài hơn Cộng Sản mới có thể thắng họ được. Do đó, nghe nói một “Đại Hội Dựng Đảng” đã được tổ chức vào ngày 10.9.1982 tại một “khu chiến trong vùng rừng núi Đông Dương” để thành lập một đảng gióng như đảng CSVN và gọi tên là đảng VIỆT TÂN và Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh được suy cử là Chủ Tịch Đảng. Điều lệ của đảng Việt Tân rập khuôn gần gióng điều lệ của đảng CSVN. Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh cũng mặc áo bà ba quàng khăn rằn gióng hệt Hồ Chí Minh.

Để “giải phóng Việt Nam”, ba tổ chức là Mặt Trận Người Việt Tự Do, Tổ Chức Phục Hưng và Lực Lượng Dân Quân Việt Nam đã họp lại và thành lập một mặt trận có cái tên gióng hệt “Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam” của đảng CSVN đó là “Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam”. Vì mặt trận do Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh làm Chủ Tịch nên thường được gọi là “Mặt Trận Hoàng Cơ Minh”. Về sau, nhóm Hoàng Cơ Minh độc chiếm tổ chức này.

Giải thích như vậy chắc bà con cũng có thể nắm được những nét chính rồi.

KHÔNG NGÔN CHÁNH DANH THUẬN

Sự thành lập và hoạt động của đảng Việt Tân đã xẩy ra một vài chuyện lạ khiến đồng bào thắc mắc.

Chuyện lạ thứ nhất: Tên đảng Việt Tân là tên viết tắt của tên “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng”.

CANH TÂN (renovation) có nghĩa là cải tiến, sửa đổi lại, làm cho tốt hơn. Còn CÁCH MẠNG (revolution) là phá vỡ trật tự cũ và thiềt lập một trật tự mới hoàn toàn khác hẵn với trật tự trước đó (establishment of a new order radically different from the preceding one).

Như vậy canh tân và cách mạng không thể đi đôi với nhau. Trong một cuộc phỏng vấn, Bác Sĩ Nguyễn Trọng Việt, một ủy viên trung ương của đảng Việt Tân, cho rằng chủ trương của đảng Việt Tân là thay đổi “để làm cho công việc đó tốt hơn”. Như vậy đảng này chỉ là một đảng canh tân chứ không phải một đảng cách mạng như đảng CSVN.

Chỉ đọc cái tên Việt Tân thôi chúng ta cũng có thể biết những người lập đảng này chưa biết họ phải làm gì. Hành động mà không xác định được mục tiêu thì chỉ là xuẩn động.

Chuyện lạ thứ hai: Theo điều 44 của Bộ Dân Luật VNCH, phải khai sinh với hộ lại trong hạn 8 ngày tròn sau khi sinh. Đảng Việt Tân được nói là đã được đẻ vào ngày 10.9.1982 tại một “khu chiến trong vùng rừng núi Đông Dương” thế mà đến ngày 19.9.2004 mới làm lễ ra mắt tại Bá Linh. Như vậy đảng Việt Tân đã để 22 năm sau mới khai sinh!

Chuyện lạ thứ ba: Theo điều 51 của Bộ Dân Luật VNCH, khi một người qua đời, phải làm giấy khai tử trong vòng 48 tiếng đồng hồ. Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh đã tự trận tại chiến trường Lào ngày 28.8.1987, thế mà dến ngày 20.7.2001 Mặt Trận Hoàng Cơ Minh mới chính thức ra thông báo các chiến hữu Hoàng Cơ Minh, Lê Hồng, Trần Thiện Khải và Võ Hoàng đã “anh dũng hy sinh trên bước đường tranh đấu giải phóng Tổ Quốc”. Như vậy Tướng Hoàng Cơ Minh qua đời 14 năm sau mới được khai tử!

Chỉ đọc một vài chuyện lạ đó, đọc giả cũng có thể thấy được đảng Việt Tân hành động không ngôn chánh danh thuận.

BẮT CHƯỚC KHÔNG GIÓNG

Nhiều lần chúng tôi đã đề cập đến Mặt Trận Hoàng Cơ Minh hay đảng Việt Tân với hy vọng tổ chức này sẽ đi vào chính đạo và thực hiện những công tác hữu ích cho đất nước. Nhưng hình như đảng Việt Tân cho rằng phải mưu mô đàng điếm như đảng CSVN mới đoạt được chính quyền nên chẳng những không cải tiến mà còn đưa đám “Việt Tân con” ra phản pháo hay tiếp tục quậy phá. Vì thế, chúng tôi buộc lòng phải tiếp tục lên tiếng.

Tuy là phỏng theo đảng CSVN và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nhưng đảng Việt Tân và Mặt Trận Hoàng Cơ Minh đã không nắm vững kỷ thuật tổ chức và hành động như đảng CSVN nên đã đi từ thất bại này tới thất bại khác.

Trước năm 1941, đảng CSVN cũng “biểu dương khí thế” lung tung như đảng Việt Tân hiện nay, nên bị Tây bắt quá nhiều. Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế phải ra lệnh cho nhóm CSVN không được để lộ tung tích, ai để lộ sẽ bị tội phản đảng (tử hình). Vì thế, đảng CSVN phải thành lập Mặt Trận Việt Minh và nấp dưới danh nghĩa đó để hành động.

Đảng CSVN cho lập các hạ tầng cơ sở trong nước trước, thường là các “tổ tam tam”, sau đó mới đưa các toán từ hải ngoại về. Khi các toán ở hải ngoại về, họ thường đi từng người hay nhiều nhất là từng ba người. Toán trở về đông nhất là toán của Hồ Chí Minh vào năm 1944, đem theo cũng chỉ 20 cán bộ, vì có sự yểm trợ của Tàu, Pháp và Mỹ. Họ trở về để được Mỹ huấn luyện chống Nhật!

Mặt Trận Hoàng Cơ Minh đã làm ngược lại hoàn toàn. Trong khi chưa bí mật tổ chức được các cơ sở hạ tầng ở trong nước, Mặt Trận đã tổ chức lễ ra quân rầm rộ ở Washington, sau đó qua Thái Lan lập “Khu Chiến” và cho người đi các trại tỵ nạn tuyển quân và đưa về huấn luyện. Đây là cách “thưa ông tôi ở bụi này” nên mọi đường đi nước bước của Mặt Trận đều bị địch theo dõi và nắm vững. Ba cuộc Đông Tiến được phát động từ 1985 đến 1990 đều sa vào ổ phục kích của định, vì quân số, ngày xuất quân, lộ trình hành quân và hướng dẫn viên người Lào… đều năm trong tay địch. Kết quả: Kháng chiến tan rã.

ĐƯỜNG LỐI SAI LẦM

Từ bỏ kháng chiến, Mặt Trận củng cố lại tổ chức và tăng cường các cơ sở kinh tài để “đấu tranh chính trị”. Nhiều người hy vọng Mặt Trận sẽ xây dựng được các cơ sở dân sự ở trong nước để những cơ sở này tự đứng lên đòi hỏi chính quyền phải thay đổi và thực thi dân chủ. Mặt Trận chỉ đứng đàng sau yểm trợ.

Để thực hiện công tác này, Việt Tân phải bám chặt các thành phần ly khai, các đảng viên đang bất mãn, các thành phần trí thức không chấp nhận chế độ, những thành phần trẻ muốn xây dựng một xã hội mới… để đặt nền móng cho các cơ sở hoạt động. Trái lại, Việt Tân lại chủ trương đặt cơ sở trong các khu Công Giáo di cư quanh Sài Gòn, Xóm Mới, Hố Nai, Gia Kiệm…, nhưng Việt Tân đã thất bại vì những lý do chính sau đây: (1) Thành tích của Việt Tân không đáng tin cậy. (2) Cán bộ Việt Tân đi móc nối rất vụng về. (3) Nhiều người nghi ngờ Việt Tân là tổ chức chống cộng cò mồi của Công An được đưa đến để gài bẩy. Có linh mục đã nhắn ra hỏi chúng tôi: Việt Tân là tổ chức nào? Có phải là tổ chức chống cộng cò mồi của Công An không? Trong hai năm 1975 và 1976, Mai Chí Thọ đã cho thành lập Mặt Trận Phục Quốc giả để gài bắt những thành phần có tinh thần chống cộng, nên ai cũng phải cảnh giác.

Vã lại, dù có lập được một số cơ sở trong giới Công Giáo di cư đi nữa, Việt Tân không thể xử dụng các cơ sở này để đấu tranh chính trị, vì những nơi đó không phải là môi trường để phát động đấu tranh chính trị.

Mặt Trận là tổ chức đầu tiên đã đầu tư vào Linh Mục Nguyễn Văn Lý, nhưng sau đó bị hai bà tranh nhau cướp mối của Mặt Trận để kiếm ăn, Mặt Trận bị loại ra. Mặt Trận cũng có đầu tư vào một số tổ chức đối kháng nhưng không thành công. Các nhà ly khai tránh né Mặt Trận vì sợ Công An theo dõi. Nhìn chung, không tổ chức đối kháng nào dám liên kết với Việt Tân vì sợ bị kết án là cấu kết với tổ chức nước ngoài. Báo Công An Nhân số ra ngày 29.3.2007 cho biết Bộ An Ninh đã liệt đảng Việt Tân vào tổ chức phản động.

Ông Lý Thái Hùng, Tổng Bí Thư đảng Việt Tân, có cho đài BBC biết Việt Tân đang có những hạ tầng cơ sở ở Việt Nam được xây dựng dưới thời của Mặt Trận Hoàng Cơ Minh trước đây. Nếu những cơ sở đó nếu quả thật có thì đó là những cơ sở kháng chiến, không phải là cơ sở đấu tranh chính trị.

Ở hải ngoại, Việt Tân cũng than phiền rất khó mời được một linh mục công giáo tham gia các hoạt động “biểu dương khí thế” của họ, vì các linh mục Việt Nam không muốn dây dưa đến những chuyện tranh chấp trong cộng đồng. Trước những thất bại này, Việt Tân quay lại chống Công Giáo.

Thời Bác Sĩ Võ Tư Nhượng còn sống, gần nhưng trong bất cứ phiên họp nào của Mặt Trận ở Orange County, ông cũng đều đem Công Giáo ra phỉ báng. Các cán bộ khác ngồi nghe với thái độ biểu đồng tình. Bác Sĩ Võ Tư Nhượng vốn là một đảng viên đảng Cần Lao ở Bình Định trở cờ. Trong “ba năm xáo trộm” (1964 – 1966) ông lãnh đạo Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc Bình Định đi lùng bắt Cần Lao! Ông Lê Văn Diện là một trong những nạn nhân. Một cán bộ Việt Tân cho chúng tôi biết vì nghe Bác Sĩ Võ Tư Nhượng cứ lặp đi lặp lại điệp khúc chống Cộng Giáo, cán bộ này phải từ bỏ đảng Việt Tân!

Trong một văn thư được đưa lên các diễn đàn Internet ngày 2.7.2008, ông Nguyễn Ước ở Toronto, Canada, có kể lại chuyện nhóm Mặt Trận chiếm lễ đài trong Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới tại Canada. Chúng tôi xin tóm lược như sau:

Trong Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới được tổ chức tại Canada năm 2002, Giáo Dân Việt Nam ở Toronto có lập một “Làng Công Giáo Việt Nam”. Một nhóm liền đến treo cờ vàng ba sọc đỏ quanh lễ đài và buộc các Giám Mục và Linh mục phải chào cờ mới được làm lễ. Hôm đó, chính bản thân ông trực tiếp đề nghị mấy “tổ chức chính trị”, trong đó có Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, nên gom cờ vàng ba sọc đỏ vào một khu. Họ đã không chịu nghe mà còn hăm dọa hành hung ông!

Nếu chỉ đem cờ vàng ba sọc vào đại hội thì chẳng có gì đáng nói. Việc một nhóm đã chiếm lễ đài và treo cờ rồi buộc các Giám Mục và Linh mục VN phải chào cờ rồi mới được dâng thánh lễ là vi phạm tội trespass, tức tội xâm nhập.

Vì lo ngại nhóm cán bộ Việt Tân sẽ đến quấy phá như ở Canada năm 2002, Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới ở Sydney phải tìm cách đề phòng.

MUỐN “XÀI BẠC GIẢ”

Thất bại trong việc thành lập các cơ sở dân sự đối kháng ở trong nước, các nhà lãnh đạo Việt Tân quyết định “xài bạc giả”. Một mặt Việt Tân tìm cách đánh chiếm các tổ chức trong cộng đồng người Việt ở Mỹ để nói với Anh Hai rằng Việt Tân là tổ chức đấu tranh lớn nhất ở hải ngoại. Nếu Việt Cộng có dành cho Việt kiều những ghế đại biểu trong quốc hội thì xin nhớ đến “em”. Mặt khác, Việt Tân cho một số cán bộ cao cấp từ hải ngoại về trong nước giả ngồi xếp truyền đơn vào phong bì có logo Việt Tân để cho Công An bắt và nói với đồng bào hải ngoại và dư luận quốc tế: “Chúng tôi có cơ sở đang hoạt động ở trong nước đấy”!

Chuyện đại biểu Mặt Trận có thể về làm “đại biểu quốc hội” ở trong nước là chuyện khó xẩy ra. Lý do thứ nhất là Anh Hai chủ trương không xài các phần tử của VNCH hay của các tổ chức do các nhóm VNCH lưu vong thành lập để tránh những vướng mắc quá khứ. Anh Hai chỉ xử dụng các thành phần mới do họ đào tạo sau này mà thôi. Do đó, Việt Tân chỉ được Anh Hai xử dụng như một đoàn thể áp lực như các tổ chức đấu tranh khác ở hải ngoại. Lý do thứ hai là Việt Tân đã bị Bộ An Ninh của CSVN xếp vào loại tổ chức phản động, nên không bao giờ chấp nhận cho đại diện của Việt Tân về làm đại biểu Việt kiều hay đại biểu của các đoàn thể đối lập. Do đó, mơ mộng của Việt Tân chỉ là mơ mộng hảo huyền.

Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy đa số người Việt hải ngoại thường ghép thêm chữ “Mafia” trước chữ Việt Tân và gọi là “Đám Mafia Việt Tân”!

Nếu Việt Tân không thay đổi đường lối, rồi cũng sẽ đi vào ngỏ cụt như nhiều tổ chức đấu tranh khác ở hải ngoại.

NHỮNG MÓN NỢ MÁU

Điểm đặc biệt mà chúng tôi muốn nói với đảng Việt Tân là những món nợ máu mà họ đã gây ra với các chiến hữu, với thân nhân của các nạn nhân và với đồng bào.

Vì rập khuôn theo tổ chức và chủ trương của đảng CSVN, trong “Khu Chiến” Mặt Trận đã cho áp dụng những biện pháp sắt máu đối với các chiến hữu đã dấn thân phục vụ đất nước, khi có một vài bất đồng chánh kiến.

Trong cuốn hồi ký về “Bí Mật Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh”, anh Phạm Hoàng Tùng, một kháng chiến quân trong Mặt Trận Hoàng Cơ Minh có kể lại ba cái chết thê thảm do thanh toán trong nội bộ tại Khu Chiến của Mặt Trận, đó là cái chết của Bác Sĩ Nguyễn Hữu Nhiều, Nguyễn Văn Huy và Lê Tuấn Hùng. Trong bài này, chúng tôi sẽ nói đến cái chết đau thương của Bác Sĩ Nguyễn Hữu Nhiều.

Phạm Hoàng Tùng cho biết trong khóa học Quân Chính II, có một sự kiện mà đến giờ anh vẫn còn nhớ, đó là câu hỏi của chiến hữu Nguyễn Hữu Nhiều dành cho chiến hữu Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh. Hôm đó trong lúc thảo luận về công tác lãnh đạo của Mặt Trận, anh Nhiều bỗng giơ tay xin hỏi chiến hữu Chủ Tịch: “Mặt Trận có bao giờ chuẩn bị nhân vật nào thừa kế cho Chủ Tịch Mặt Trận trong trường hợp vị lãnh đạo tổ chức quá vãng hay không?” Vì ngồi ở đầu bàn, tôi thấy chiến hữu Chủ Tịch mặt hơi biến sắc, tuy nhiên sau đó ông lại ôn tồn trả lời cho cả lớp, mặc dù không đi ngay vào câu hỏi của chiến hữu Nhiều.

Anh Phạm Hoàng Tùng kể lại câu chuyện thảm sát Bác Sĩ Nhiều đã xẩy ra sau đó như sau:

Anh biết chiến hữu Nhiều qua khóa học Quân Chính, đây cũng là lần đầu và lần cuối anh gặp Bác Sĩ Nhiều tại Khu Chiến. Sau khi thụ huấn xong khóa Quân Chính II, anh trở về căn cứ 27 tiếp tục công tác tại đài Phát Thanh Việt Nam Kháng Chiến một thời gian. Còn chiến hữu Nhiều trở về công tác tại trạm xá ở căn cứ 81 như trước đây. Bẵng đi một thời gian, chừng vài tháng sau, có tin anh Nhiều đã bị Mặt Trận tuyên án tử hình tại căn cứ 81. Theo tin đồn trong các anh em kháng chiến quân trong Khu Chiến, có lẽ anh Nhiều bị tử hình vì “chống đối và định bỏ trốn”. Những tin này xuất phát từ căn cứ 81, nơi chiến hữu Nhiều công tác, đặc biệt là những tin do các anh em trong toán thi hành kỷ luật tiết lộ ra.

Cái chết của anh Nhiều sau này cũng được báo chí cộng sản khai thác như một bằng chứng về chính sách “khắc nghiệt và tàn ác” của Mặt Trận. Họ đã căn cứ vào bản án tìm thấy trong túi xách của Trần Thiện Khải để rêu rao chuyện này. Bản án ghi rõ Bác Sĩ Nguyễn Nhiều bị tử hình vì “bất tuân thượng lệnh”.

Theo những thông tin trong khu chiến, Bác Sĩ Nhiều tốt nghiệp Bác Sĩ Y Khoa tại Sài Gòn năm 1974 và làm việc tại Bệnh Viện Nguyễn Văn Học ở Gia Định. Khoảng cuối năm 1984 đầu năm 1985, Bác Sĩ Nhiều cùng gia đình vượt biên đến trại tị nạn đường bộ ở sát biên giới Thái – Cambodia. Mặt Trận đã đến tiếp xúc và thuyết phục anh tham gia Mặt Trận. Bác Sĩ Nhiều có đặt vấn đề với Mặt Trận: Nếu Mặt Trận giúp cho vợ con anh đi định cư tại hải ngoại, anh sẽ lên đường vào Khu Chiến. Mặt Trận đồng ý.

Sau khi dự khóa học về kháng chiến quân, Bác Sĩ Nhiều được điều động vào làm việc tại trạm xá của căn cứ 81. Trong thời gian ở đây, anh Nhiều có huấn luyện về chuyên môn cho các anh em kháng chiến quân đang phụ trách về công tác quân y. Anh rất được cấp trên trọng dụng.

Tại trạm xá căn cứ 81, có những kháng chiến quân đang điều trị bịnh sốt rét, nên khẩu phần dinh dưỡng cho trạm xá tương đối đặc biệt, so với các đơn vị khác hay các tiền đồn. Trạm xá được tiếp tế rau cải tươi đều đặn, có phần thịt tươi hàng ngày hoặc hàng tuần, thêm ít bánh trái, đường cát trắng, sữa hộp và quà cáp. Riêng chiến hữu Nhiều được cung cấp cả thuốc thơm Samit, một loại thuốc lá nổi tiếng và đắt tiền ở đất Thái vào thời đó.

Theo tin đồn ở căn cứ 81, anh Nhiều có vẻ bất mãn khi không được Mặt Trận giao cho nhiệm vụ tương đương với chức vụ Ngoại Trưởng. Nhưng đây có thể là tin đồn do Mặt Trận đưa ra để bêu xấu anh. Bác Sĩ Nhiều không bao giờ có tâm tình như vậy. Tuy nhiên, sau một thời gian được trọng đãi, bỗng nhiên chiến hữu Nhiều bị thất sủng!

Chưa ai rõ chuyện gì đã xẩy ra giữa anh Nhiều và bộ chỉ huy của Mặt Trận, nhưng thành thật mà nói anh Nhiều đôi khi cũng có thái độ tự cao tự đại. Ít lâu sau, anh Nhiều bị hạ tầng công tác. Anh không còn được làm việc tại trạm xá căn cứ 81 như một Bác Sĩ chuyên nghiệp, anh bị điều đi làm công tác gác cửa hàng ngày ở vòng rào của căn cứ 81!

Từ khi bị hạ tầng công tác, anh Nhiều ngày càng sa sút tinh thần, sắc diện đổi hẵn. Anh thường nói những điều bất mãn về Mặt Trận.

Để nắm vững tình hình của anh Nhiều, Mặt Trận đã cho một thanh niên trẻ khoảng 17 đến làm việc chung với anh Nhiều và lấy tin tức. Anh Nhiều thường tâm sự với cậu này. Theo cậu ta kể lại, anh Nhiều đã có lần tỏ ý muốn trốn khỏi Khu Chiến và rũ anh đi theo để tìm cuộc sống khác. Nhận được những tin tức này, bộ chỉ huy của Mặt Trận đã quyết định áp dụng các biện pháp kỷ luật đối với anh Nhiều.

Một số anh em kháng chiến quân tại căn cứ 81 cho biết, một hôm khi đang ngồi gác cổng như thường lệ, chiến hữu Nhiều được một toán công tác đến báo tin cho biết có lịnh bảo anh phải đi công tác xa với toán này. Một người trong toán công tác thi hành kỷ luật này có thể là Trần Văn Quốc. Anh là người tỉnh Sông Bé, thuở nhỏ từng làm giao liên cho Việt Cộng. Bỗng nhiên anh bỏ đảng và vượt biên qua Thái, rồi sau đó tham gia Mặt Trận. Anh Quốc rất gan dạ, khỏe mạnh, chấp hành kỷ luật tốt, giỏi nghề đi rừng và bẫy thú rừng.

Theo một số kháng chiến quân kể lại, toán hành quyết đã dẫn anh Nhiều tiến vào rừng sâu, đến một nơi có đào sẵn một cái hố. Tới đây, các chiến hữu thi hành kỷ luật mới báo cho anh Nhiều biết Mặt Trận đã quyết định xử tử anh. Trước khi hành quyết anh, họ đã mời anh hút một điếu thuốc.

Khi biết tin như vậy, anh Nhiều đã quì xuống khóc than, van xin các kháng chiến quân đừng bắn anh. Nhưng ba kháng chiến quân có nhiệm vụ thi hành kỷ luật cương quyết thi hành lệnh. Sau khi bắn, họ đã chôn anh vào cái hố đã đào sẵn. Lúc đó Bác Sĩ Nhiều chỉ mới 40 tuổi.

Trong những bài tới chúng tôi sẽ tường thuật những trường hợp khác.

TÌM CÁCH CHỐI QUANH

Khi những sự kiện như đã nói trên được các kháng chiến quân của Mặt Trận tường thuật lạI, Mặt Trận và Việt Tân thường tìm cách chối quanh.

Trong một cuộc phỏng vấn của đài BBC do Nguyễn Hùng thực hiện, ông Lý Thái Hùng đã bác bỏ toàn bộ cuốn hồi ký “Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh” của kháng chiến quân Phạm Hoàng Tùng.

Khi phóng viên của đài BBC hỏi về những cáo buộc của kháng chiến quân Phạm Hoàng Tùng về việc Mặt Trận đã giết hại những người đổi ý định không chịu đi theo Mặt Trận. Ông Lý Thái Hùng nói rằng hồi ký đó đã đưa ra nhiều cáo buộc về những hành động vốn gây cho ông bất bình. Tuy nhiên, ông đã bác bỏ những cáo buộc này. Ông nói:

”Những chuyện mà anh Phạm Hoàng Tùng kể là anh nghe lại chứ đối với Việt Tân những chuyện đó không hề xảy ra.

“Trong toàn bộ cuốn sách mà anh viết và tôi có đọc thì sự hư cấu và suy diễn nhiều hơn. Và nhiều khi sự hư cấu và suy diễn đã làm mất đi tính trung thực của cuốn sách.”

Trước cơ quan pháp lý và trước công luận mà phủ nhận một cách khơi khơi như vậy chẳng ai chấp nhận. Muốn phản chứng phải đưa ra các bằng chứng cụ thể để chống lại. Thí dụ trong vụ Bác Sĩ Nguyễn Hữu Nhiều bị tuyên án tử hình và bị hành quyết, Việt Tân phải đưa ra các nhân chứng để chứng minh lời tường thuật của Phạm Hoàng Tùng là sai và chứng minh Bác Sĩ Nguyễn Hữu Nhiều hiện nay ở đâu, và nếu đã chết thì chết như thế nào và xác đang chôn ở đâu. Việt Tân phải cho gia đình nạn nhân biết nơi chôn cất để gia đình có thể đến hốt cốt. Một cuộc giảo nghiệm tử thi và chung quanh nơi chôn cất sẽ đưa ra ánh sáng những sự thật. Mặt Trận không thể chối quanh theo kiểu ông Lý Thái Hùng được.

Lữ Giang

2008-07-24 14:08:10

http://baodoi.net/index.php?view=story&subjectid=929

 

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Hoàng Cơ Minh, Anh Hùng hay Thiên Cổ Tội Nhân?

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 6, 2008

Hoàng Cơ Minh, Anh Hùng hay Thiên Cổ Tội Nhân?

– Kim Âu –

Dẫn nhập:Trước khi rời khỏi Washington D.C, chia tay những anh em cùng trong ban lãnh đạo cuộc biểu tình chống Phan văn Khải ngày 21 tháng 6 năm 2005 trước tòa Bạch Ốc, tôi tặng cho mọi người hai câu thơ tếu:

Hãy nghe chúng chửi như nghe hát
Chúng chửi om sòm bởi chúng thua.

Đúng như tiên liệu, bọn Phở Bò Việt Tân gấp rút mộ được mấy tên thí thân kiếm cháo, ra rả chửi bới những người quốc gia chân chính qua hệ thống đài phát thanh hố xí hai ngăn TNT của chúng.

Chửi người, người chẳng thèm nghe
Hóa ra bọn chúng một bè chửi nhau.

Theo một số người thuật lại thôi thì hết Chị Ba Chú Ía, Dì Năm Chuồng Chó, Anh Hiệp Thụt Két, chú Đông Gián Mối, chị Hạnh Mặt Dầy, anh Mãng Đầu Khấc, Hùng Anh xổ số bịp. Độ Mặt Méo..v..v tranh nhau dí mõm vào những cái hố xí hai ngăn TNT để bài tiết vào tai nhau.
Chỉ khổ cho cái lỗ tai của các thính giả bị tặng cái hố xí hai ngăn TNT sau khi sửa xe hay mua hàng nên bị ảnh hưởng tối đa. Thật là tai họa, tức HỌA VÀO TAI. Buổi sáng đi làm cứ phải rửa tai ba bốn lần vì sợ gây ô nhiễm môi trường, bạn đồng sở phải bịt mũi ghê tởm.

Bọn Việt Cộng thành công qua lối tuyên truyền trắng nhờ vào độc quyền thông tin một chiều. Nhưng trong những xã hội dân chủ cái trò tuyên truyền trắng đó chẳng mảy may tác dụng vì thông tin quá phong phú, đa dạng.


Nếu sống vào thời này, bà mẹ của Tăng Sâm chẳng cần phải bỏ khung cửi mà chạy bởi những lời bịa đặt, bịp bợm ngay lập tức bị bóc trần.

Đại khái như việc một bọn gian nhân hiệp đảng tụ tập lại với nhau, diễn trò tưởng niệm tên đại bịp Hoàng Cơ Minh để chuẩn bị cho một trò bịp mới thì thay mặt cho những người quốc gia chân chính, chúng tôi đã sẵn sàng VẠCH MẶT bọn chúng.


Thật ra nếu bọn Phở Bò Việt Tân không bày trò bịp bợm thì chúng tôi chẳng tốn công lên tiếng. Đối phó với trò bịp xưa chỉ cần một bài viết cũ. Nói là cũ nhưng thật ra vẫn mới với những người chưa hề được đọc.

Năm năm trước, bài viết này chỉ in ra được một nghìn năm trăm bản. Ngày hôm nay MT Phở Bò Việt Tân yên tâm. Bộ mặt bẩn thỉu của Tên Đại Bịp Hoàng Cơ Minh sẽ được vạch trần và quảng bá sâu rộng đến hầu hết đồng bào năm châu, bốn biển.

Chuyện Hoàng Cơ Minh bày trò Kháng Chiến Bịp, Lừa Đảo ôm trọn Những Đồng Tiền Xiết Máu Đồng Bào, chúng tôi đã muốn cho vào quá khứ. Nhưng con người vốn mau quên và có nhiều đồng bào mới đến cũng chưa được biết trò Kháng Chiến Bịp này do khiếm khuyết thông tin. Trong khi bọn Cộng Sản và tay sai chuyên nghề đổi trắng, thay đen; đảo ngược phải trái tạo ra những huyền thoại giả dối để bày trò móc túi đồng bào.

Đồng tiền vốn quý vì khó kiếm nên những đồng tiền từ tâm chia ba, xẻ bảy càng quý hơn. Nếu để từ tâm của đồng bào bị bọn chơi bạc bịp lợi dụng kiểu kêu gọi đóng góp cho Kháng Chiến thì Kháng Chiến Bịp; tổ chức Xổ Số thì không người trúng; tiền quỹ hội đồng hương, Hội Tình Thương đóng góp được đem bỏ túi tiêu xài vô tội vạ thì cũng là một sự vô tâm đáng trách.
Điều đáng nói hầu như tất cả những tên bịp bợm đều có chung một cái lò đào tạo là Mặt Trận Phở Bò Việt Tân. Bởi thế nếu ngưng tay vạch mặt bọn này sẽ là một sai lầm lớn. Một khi chúng tôi đã ra tay tất nhiên loại “cỏ đuôi chó” chỉ là tiểu tiết, phụ đề. Tuần này để đáp lại bài báo tưởng niệm tên đại bịp, mời quý độc giả sang trang để đọc bài viết về tên Thiên Cổ Tội Nhân Hoàng Cơ Minh và trang uế sử của cái gọi là Mặt Trận Kháng Chiến Bịp tức đảng Việt Tân hiện nay./.

Nguyễn Triều với “chính sách bế quan tỏa cảng” thiển cận đã dẫn tới việc Thực Dân Pháp xâm chiếm và biến Việt Nam thành thuộc địa hơn 100 năm.

Trong khoảng thời gian Pháp thuộc đó nhiều cuộc kháng chiến chống thực dân đã nổ ra nhưng tinh thần ái quốc không mạnh hơn sức mạnh của vũ khí – sản phẩm của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ở Châu Âu – nên hầu như không thành công mà chỉ để lại trong lịch sử thêm một số vị anh hùng, liệt sĩ “thành nhân”.


Đến thời kỳ đệ nhị thế chiến Pháp bị Đức đánh bại và cũng trở thành một dân tộc bị trị nên hệ thống thuộc địa cũng suy yếu phải để cho quân đội của Nhật vào Việt Nam chia xẻ quyền lợi rồi sau đó làm một cuộc đảo chánh chỉ trong 24 tiếng lật đổ toàn bộ hệ thống cai trị của Pháp ở Đông Dương giành lấy thế chủ động.

Nhưng không lâu sau đó, hai quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagasaki đã kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến. Toàn thể Đông Dương lúc đó cùng một lúc hai thứ xiềng xích nô lệ tự đứt. Cuộc Cách Mạng Mùa Thu vào ngày 19- 8- 1945 thật ra chỉ là việc nhặt lại một chính quyền được thả nổi và việc Hồ Chí Minh được đề cử đọc Bản Tuyên Ngôn Độc Lập vào ngày 2 – 9 – 1945 cũng chỉ là kết quả của một sự thỏa hiệp bất đắc dĩ giữa những kẻ đầu cơ thời cuộc mà lực lượng của các bên đều nhỏ bé và yếu kém chưa thanh toán được nhau.


Sự do dự của các lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng – sai lầm lớn nhất của các đảng phái và lực lượng quốc gia thời đó – đã gây ra đại họa kinh hoàng cho dân tộc Việt Nam dài hơn nửa thế kỷ, đến nay còn chưa chấm dứt.

Ba mươi năm đấu tranh Quốc Cộng cũng là ba mươi năm đọ sức của Thế Giới Tự Do và Quốc Tế Cộng Sản dẫn tới chung cuộc bất hạnh 30 – 4 – 1975 của dân tộc Việt Nam là nguyên cớ chính đưa một khối lớn người Việt Nam yêu Tự Do không đội chung trời với Cộng Sản tỏa ra sinh sống khắp nơi trên thế giới.

Trong lịch sử của nhân loại, có lẽ đây là cuộc di thực lớn nhất, đau thương nhất và bi thảm nhất. Nước mất, nhà tan. Gần như chẳng có gia đình nào toàn vẹn. Cả nước gông cùm. Kẻ đào thoát được, ngoài một thiểu số ăn trên, ngồi trốc, hút máu dân lành, chiến hữu mới có được tài sản giúp họ khả dĩ sống an nhiên tự tại.


Số còn lại mặc nhiên trở thành loại người ăn nhờ, ở đậu. Tất cả đều làm thân nô lệ xứ người.

Mấy năm đầu tiên từ 1975 cho đến cuối 1978. Chưa hoàn hồn vì cuộc đào tẩu, không mấy ai nghĩ đến chuyện nước non mãi cho tới 1979, Cuộc Chiến Tranh Biên Giới giữa Trung Cộng với Việt Cộng nổ ra, kèm theo đó việc ly khai của Hoàng Văn Hoan, Trương Như Tảng bộc lộ những mâu thuẫn trong tập đoàn Cộng Sản, lúc đó hải ngoại mới dấy lên phong trào tập hợp lực lượng nhằm phục quốc.

Nhiệt vọng phục hận lúc này thức tỉnh bởi mọi người đã thấm thía nỗi nhục nhằn qua mấy năm bươn chải để thích nghi với cuộc sống lưu vong đã gây ra lắm chuyện đau lòng.
Có tiếng vang nhất trong giai đoạn đó là Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam nhưng trên thực tế không có hoạt động gì đáng kể ngoài vấn đề tai tiếng về những trò bịp bợm trước và sau khi Hoàng Cơ Minh thảm tử.

Tìm hiểu kỹ sự việc, chúng tôi thấy trong khi những anh em Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa đang bị đày đọa trong những nhà tù Cộng Sản thì tại hải ngoại có một nhóm người lợi dụng Tinh Thần Ái Quốc của đồng bào và chiến hữu – đang còn nhiệt vọng phục hận – bày ra trò Kháng Chiến Bịp để quyên góp, thậm chí cưỡng ép đồng bào nộp tiền cho họ làm giàu tắt.
Đầu trò của tổ chức này là cựu Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh và hầu như tất cả mọi phần vụ quan trọng khác của tổ chức này đều do gia đình, dòng họ Hoàng Cơ nắm giữ.

Đặc biệt Vụ Tài Chánh do Hoàng Cơ Định – một người mà cả Ban Đại Diện Sinh Viên và Giáo Chức tại trường Cao Đẳng Hóa Học, Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ đứng lên tố cáo về tội tham nhũng, bị đưa ra Giám Sát Viện cách chức từ năm 1970,- giành phần quản lý.

Khởi đầu, Mặt trận Kháng Chiến Bịp này vốn thoát thai từ một tổ chức có tên là Lực Lượng Quân Nhân Việt Nam ở Miền Đông và Miền Tây hình thành từ năm 1978 sau cải danh thành Lực Lượng Quân Dân Việt Nam và nhờ vào quyết định sai lầm của cựu tướng Nguyễn Chánh Thi (cũng do xảo kế của Hoàng Cơ Minh lừa cả Nguyễn Chánh Thi và Phạm Văn Liễu nhằm khuynh loát tổ chức để loại bỏ Lục Phương Ninh, Đinh Thạch Bích.v.v) trong vai trò Chủ Tịch Hội Đồng Trung Ương Ủy Viên đã ký quyết định giải tán tổ chức này để sát nhập với Tổ Chức Phục Hưng, Tổ Chức Người Việt Tự Do thành Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam vào ngày 1- 8 – 1981.

Lúc đó, ông Nguyễn Chánh Thi đương nhiên trở thành Chủ Tịch của tổ chức mới. Ông Phạm Văn Liễu làm Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hải Ngoại và Hoàng Cơ Minh là Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Quốc Nội.

Sự xếp đặt này cũng hợp lý theo đẳng cấp từ chế độ cũ vì khi Hoàng Cơ Minh vào học trường sĩ quan Hải Quân 1955, ông Liễu đã đeo lon thiếu tá được 3 năm đang là Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến. Ông Nguyễn Chánh Thi thì đang là Tư lệnh phó Liên đoàn Nhảy Dù.

Sau cuộc khuynh loát tổ chức nói trên, ngày 18 – 8 – 1981 Hoàng Cơ Minh đi Bangkok. (Nhóm 9 người- Hoàng Cơ Minh (tự Chính), Lê Hồng (tự Hiếu) Nguyễn Trọng Hùng (tự Huy), Trương Tấn Lạc (tự Lộc), Nguyễn Văn Thành (tự Thông), Phan Văn Phúc (tự Phút). Trần Thiện Khải (tự Khanh), Nguyễn Đức (tự Đài), Nguyễn Thành Tiễn (tự Tín) – sau bỏ về Hawaii đã từng bị mưu sát hụt. – có cựu Đại tá Nguyễn Hữu Duệ tháp tùng đã không vào được Thái Lan. Duy nhất chỉ một mình ông Duệ có quốc tịch Hoa Kỳ là được chấp thuận. Mãi đến tháng 10 – 1981 qua Richard Armitage được Tướng Sutsai giới thiệu nhóm HCM mới được nhận vào Thái làm công tác phỏng vấn, dò la tin tức về POW – MIA và cho ở tại Ubon từ tháng 11 – 1981.

Tại tỉnh Ubon thuộc vùng Đông Bắc cách Bangkok khoảng 500km, Minh được cho mướn một mảnh đất làm “Chiến Khu Quốc Nội ” tại làng Bultharit còn khoảng 15 cây số tới biên giới Miên Thái (báo VNTP số 233).

Đến lúc này âm mưu lừa bịp của Hoàng Cơ Minh càng lộ rõ. Nhóm Người Việt Tự Do như đã viết phần trên sau khi hòa nhập vào với MT đã giới thiệu cho tờ báo Nhật Seikai -Nippo đăng bản văn kêu gọi của Lực Lượng Kháng Chiến Việt Nam ngày 27 tháng 12 năm 1981 trong khi Hoàng Cơ Minh và nhóm tiên phong chỉ vừa mới vào được Thái có hai tháng.

Sau đó, Hoàng Cơ Minh tiếp tục tiến hành bịp bợm một cách có hệ thống, bài bản.

Hắn nhờ ký giả Hoàng Xuân Yên bút danh Hoàng Xuyên viết bài tường thuật về thăm chiến khu trong nước (viết láo là về tận Đà Lạt) tham dự Ngày MT Công Bố Cương Lĩnh 8 – 3 – 1982, đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong tới 6 kỳ [ từ số 151 (ngày 1/5/1982 đến số 156 (ngày 16/7/1982)] tạo thành một cơn sốt Kháng Chiến trong tất cả mọi nơi có Người Việt Quốc Gia cư ngụ (gần đây Hoàng Xuyên sau nhiều năm im lặng đã lên tiếng vạch trần bộ mặt xảo quyệt, đểu cáng của Hoàng Cơ Minh qua trả lời phỏng vấn của Ký giả Tân Dân đăng trên Hải Ngoại Nhân Văn từ số 18 – 19 tháng 10 /1999).

Ngay cả “cameraman” Nguyễn Ngọc Ấn (lúc đó đang làm cho CBS) cũng được chi tiền để làm cuốn phim “Hoàng Cơ Minh Trail” và lừa cả cấp trên trong CBS để đưa lên phần tin. Sau đó, cuốn phim Vidéo Kháng Chiến “Dĩa Giấy, Lính Lào, Rừng Thái Lan” được lưu hành như một bằng chứng Kháng Chiến để đoàn viên MT mặc sức lừa bịp đồng bào

Tiếp thêm xảo kế, tờ báo Kháng Chiến (Bịp) (ra số thứ nhất ngày 1- 4 – 1982) đã loan tải những bản tin thất thiệt đến độ hoang tưởng về những trận đánh ở trong nước. Những trò bịp bợm, xảo quyệt có hệ thống, lớp lang đó tất nhiên làm nức lòng đồng bào dẫn tới việc thành lập Phong Trào Quốc Gia Yểm Trợ Kháng Chiến ngày 3 – 4 – 1982 do ông Phạm Ngọc Lũy làm Chủ Tịch để quyên góp tài chánh cho kháng chiến?!!? (Nguyễn Ngọc Bích phụ trách phần Việt Ngữ đài Á Châu Tự Do hiện nay đã về hưu là người viết diễn văn và soạn thảo cương lĩnh phần chuyển ngữ sang Anh Văn do Nguyễn Hữu Vinh).

Thời đó, hầu như tất cả đồng bào Việt Nam tại hải ngoại đã bị rơi vào mưu mô quỷ quyệt của dòng họ Hoàng Cơ và trở thành nạn nhân của việc buôn bán, bịp bợm Tinh Thần Ái Quốc nhân danh Kháng Chiến.

Lúc này Phạm Văn Liễu ở Hoa Kỳ gần như đồng tình với những thủ đoạn xảo quyệt của Minh nên khi Hoàng Cơ Minh lẳng lặng cho Nguyễn Chánh Thi về vườn tiếm chức Chủ Tịch, Liễu cũng im lặng hùa theo.

Cuối năm 1982, chính Phạm Văn Liễu mới phát giác ra Hoàng Cơ Định không hề gởi tiền sang Thái. Cựu đại tá Phạm Văn Liễu khai trước tòa ngày 19 – 12 – 1994 : “Tôi thấy buồn vì tiền bạc thu được nhiều như thế, tôi tưởng Hoàng Cơ Định đã gởi về nhưng chẳng có chi nhiều ở căn cứ”.

Sau mới biết được rằng Định có gởi về khoảng 160.000USD nhưng Hoàng Cơ Minh gởi trả lại, bảo em giữ lại số tiền ấy ở Mỹ.

Lẽ dễ hiểu Richard Armitage tức Trần Văn Phú đã trả lương cho công tác dò la tin tức POW – MIA rất sòng phẳng, đậm đà bằng mật phí.

Như vậy tất cả tiền bạc của Mặt Trận xiết máu trực tiếp kiếm chác được của đồng bào hay do Phong Trào Quốc Gia Yểm Trợ Kháng Chiến quyên góp đều ở lại Mỹ và nằm trong “hầu bao ” của gia đình Hoàng Cơ Minh và phe đảng.


Tính sơ sơ…khoảng chừng từ 18 đến 22 triệu USD (tài liệu của Nguyên Vũ)

Điều đó có nghĩa là ngay từ phút đầu tiên cho đến khi thảm tử, Hoàng Cơ Minh đã có manh tâm, chủ tâm và chuyên tâm làm một cú bịp lớn.

Trong cuốn Hồi Ký Một Đời Người, ông Phạm Ngọc Lũy đã ghi lại những lời nói của Hoàng Cơ Minh trong lúc thuyết phục Dược Sĩ Huỳnh Ngọc Anh cho vợ là nữ Luật Sư Nguyễn Thị Truyện tham gia MT như sau:’ Một khi chúng ta về được trong nước rồi, những người ngoài này không còn cần thiết nữa sẽ bỏ đi hết” (tập I, trang 400 – dòng thứ 10 – 11 sđd HKMĐN).

Hoàng Cơ Minh có trở lại Hoa Kỳ vào ngày 16 – 4 – 1983 để tham gia Đại Hội Chính Nghĩa từ ngày 28 – 29 /30 – 4 – 1983.


Tại đây, Minh trơ tráo tuyên bố thống hợp được 36 tổ chức qui tụ được hơn 10.000 Kháng Chiến Quân??!?!?

Cựu Đại Tá Trần Minh Công đã vô cùng lúng túng phải trả lời là: “Tôi không có ý kiến…” khi nữ ký giả báo The Register hỏi:” Ông là phát ngôn viên, ÔNG NGHĨ SAO VỀ LỜI TUYÊN BỐ CỦA Chủ Tịch MT?” Phần ông Nguyễn Bích Mạc, đảm trách ngoại vận của MT nhìn rõ sự giả dối nên cương quyết không chịu phổ biến những con số trên. Tất nhiên sau đó Nguyễn Bích Mạc bị ghép tội phản bội?!!! (tr 122 HKMĐN. Phạm Ngọc Lũy).

Thật là Đại Bịp, ngồi không trong rừng Ubon mà dám tuyên bố như vậy để xây dựng cho mình một hào quang giả dối chỉ nhằm vào mục đích dơ bẩn cuối cùng như ta đã thấy : Tiền!.
Hỡi ơi! Thật mỉa mai! Thật đáng thương cho Dân Tộc Việt Nam chúng ta!

Cả một khối hơn 5.000 người đầy nhiệt vọng, thành tâm với quê hương từ năm châu, bốn bể, đến tham dự Đại Hội Chính Nghĩa đã trở thành những đào thương, kép hát, quân hầu của vở tuồng Kháng Chiến Ma.

Đúng là chuyện “Nghìn Năm Bia Miệng”. Đại cuộc của cả một dân tộc đã bị hủy diệt bởi một kẻ vong thân trong vòng lửa của địa ngục dối trá.

Đọc những dòng hồi ký của ông Phạm Ngọc Lũy thật đau lòng cho Tổ Quốc và Dân Tộc.
Quả thật những năm cuối cùng của Thế Kỷ 20 nằm trong thời Suy Mạt của Dân Tộc Việt Nam nên mới nẩy sinh ra tên đại bịp Hoàng Cơ Minh – người đã hủy diệt lòng khả tín vào những tổ chức cứu quốc của toàn thể đồng bào và chiến hữu tại hải ngoại- người coi Hồ Chí Minh là thần tượng cả về hình thức lẫn nội dung và tự hoang tưởng cho mình là hậu thân của Hồ Chí Minh qua cách phục sức quần áo bà ba đen, khăn rằn, để râu chòm.

Công Thức ba mẫu tự HCM = HCM cũng được Nguyễn Tường Bá xử dụng làm vũ khí tuyên truyền.

Nếu thật sự HCM 1 = HCM 2 thì chúng ta đâu có cần gì phải chống Cộng mà nên khăn gói trở về để xây dựng đất nước Xã Hội Chủ Nghĩa cho xong. Có điều chúng ta còn hận chưa dẹp bỏ được hậu quả của tên chó chết HCM gây ra thì lại nảy sanh thêm một tên đại bịp khả ố HCM nữa.
Điều này cũng chỉ rõ một vấn đề là đám chính khứa “tea room” lường thưng, tráo đấu trong lãnh vực chính trị đã một thời nắm giữ vận mệnh quốc gia chỉ là một đám người “úy tử tham sinh”, “ái quốc tại khẩu ” chứ chẳng bao giờ chịu dấn thân thật sự để phụng sự đại cuộc của đất nước.

Chính quyền VNCH bại vong. Lỗi ở họ. Chuỗi ngày lưu vong thất thổ kéo dài lỗi cũng ở họ, do thói cả nể dung dưỡng những hành vi lừa gạt, xảo trá. Kèm theo đó bản chất “chính khách salon” vốn ngại gian nguy nên dẫu chỉ một vé máy bay khứ hồi sang một đất nước thanh bình không tiếng súng, cũng chẳng chịu lên đường kiểm tra cho rõ thực hư.


Một số người khi thấy Hoàng Cơ Minh bị thảm tử do chính những hành động tự diệt của ông ta, cho đó là người có lòng ái quốc và đã hy sinh vì đại cuộc nhưng như chúng tôi đã phân tích làm gì có đại cuộc trong đầu Hoàng Cơ Minh bởi mấy từ ngữ xa xỉ dùng để bịp bợm như : Chiến Khu Quốc Nội, Biên Thùy Đông Dương, Hội Đồng Kháng Chiến Quốc Nội, Ủy Ban Kháng Quản, Đông Tiến v..v.. tất cả chỉ là sản phẩm của những bộ óc lừa đảo, xảo quyệt.

Đại Cuộc và Chính Nghĩa ở đâu khi ngay bước khởi đầu đã là những trò dối trá, bịp bợm?
HÀO KHÍ VÀ HÙNG KHÍ Ở CHỖ NÀO KHI CHIẾN KHU QUỐC NỘI CHỈ LÀ MẤY CĂN NHÀ Ở TRÊN ĐẤT THÁI? Chẳng lẽ hàng đêm CHỐNG MUỖI ĐỐT ĐỂ KHỎI SỐT RÉT LÀ KHÁNG CHIẾN Ư?

Kiểm chứng lại cho kỹ những bài phỏng vấn ông Trần Văn Sơn, Đỗ Thông Minh, Huỳnh Lương Thiện, Phạm Văn Liễu, Trần Minh Công – những nhân vật chính trong vở tuồng Kháng Chiến – chúng tôi thấy những nhân vật này vẫn chưa dám nói hết Sự Thật.

Bởi chính họ đã tiếp tay thần tượng hóa một con người bằng những trò lừa bịp, dối trá nên không đủ can đảm để nhận lãnh trách nhiệm trước SỰ THẬT.

Diễn biến từ buổi khởi đầu cho chúng ta thấy rõ Hoàng Cơ Minh chỉ thực sự nổi lên nhờ vào những trò dối trá. Hắn chưa từng đặt chân lên đất Mẹ, ngay cả khi vong mạng vì hậu quả của vở tuồng Kháng Chiến Bịp .

Không ai có quyền nhân danh “Phục Vụ Đại Cuộc” để biện minh cho những hành vi lừa đảo, dối gạt quần chúng.

Trải mấy nghìn năm lịch sử quá nhiều thăng trầm, biến động nhưng cho dù mất hàng nghìn năm nô lệ giặc Tàu và hàng trăm năm nô lệ giặc Tây, cuối cùng dân tộc Việt Nam vẫn trường tồn và phát triển do biết dùng “Chí Nhân để thay Cường Bạo, biết lấy Đại Nghĩa để thắng Hung Tàn.”

Vận nước gặp thời Suy Mạt nên mới nẩy sinh ra chuyện lẫn lộn giữa Chính Trị với Tà Trị, Anh Hùng với Đại Gian Hùng.

Mười ba năm đã trôi qua kể từ ngày Hoàng Cơ Minh thảm tử nhục nhã tại Tây Bắc Lào do bị trục xuất khỏi đất Thái. Bọn Kháng Chiến Ma vẫn trơ tráo xem như hắn còn sống, vẫn nuôi dưỡng âm mưu tiếp tục lừa bịp và làm phân hóa Cộng Đồng Việt Nam hải ngoại bằng những trò “ma nớp” chính trị.

Nếu Người Việt Quốc Gia chúng ta không đủ dũng khí lên tiếng vạch trần Sự Thật thì chắc chắn giới trẻ Việt Nam sẽ tiếp tục bị những tổ chức bịp bợm dẫn dắt vào con đường sai trái không còn biết đâu là đại cuộc của dân tộc.

Một phần tư thế kỷ đã qua, nhiều tổ chức yêu nước vẫn tiếp tục trên đường tranh đấu. Có những người đã nêu tấm gương sáng, đã anh dũng hy sinh như Liệt Sĩ Trần Văn Bá (từ hải ngoại về), Nguyễn Thành Sĩ, Hà Xuân Hùng, Thái Thanh Hùng, Phan Ngọc Nhất Linh, Nguyễn Công Ích (tại quốc nội) v..v.v.

Tổ Quốc và Dân Tộc tri ơn những anh hùng.

Nhưng riêng với sự việc nổi đình, nổi đám, nặng phần trình diễn nhất của MTHCM, xét về thực chất lại chính là vụ việc bẩn thỉu và ô nhục nhất trong lịch sử chống Cộng của người Việt lưu vong.

Người ta có thể lừa dối được một người mãi mãi. Có thể lừa dối một số người một ít lâu nhưng không ai có thể lừa dối được tất cả mọi người.

Trong bối cảnh lịch sử vừa qua và hiện nay hành vi nhục nhã Lừa Dối Tinh Thần Ái Quốc của khối người lưu vong là một Đại Tội Không Thể Tha Thứ. Như vậy tên Đại Bịp Hoàng Cơ Minh không thể là Anh Hùng mà chính là Thiên Cổ Tội Nhân./.

KIM ÂU
18 -8 -2000

Tài Liệu tham khảo:

Mặt Thật – Cao Thế Dung
Hồi Ký Một Đời Người – Phạm Ngọc Lũy
Tạp Chí Văn Nghệ Tiền Phong
Đặc San Hải Ngoại Nhân Văn..v..v..

 

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Lê Xuân Sơn, Cựu Quận Trưởng Củ Chi, một tên ” nội tuyến ” CS nằm vùng tại San Diego đã xuất đầu lộ diện

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 6, 2008

Lê Xuân Sơn, Cựu Quận Trưởng Củ Chi, một tên ” nội tuyến ” CS nằm vùng tại San Diego đã xuất đầu lộ diện

– Hải Sơn –

Tinparis. Chúng tôi cho đăng bài viết dưới đây của một đọc giả ở SanDiego, cho biết về các hoạt động của Lê Xuân Sơn ,tức Lê Vũ bí danh là Nguyễn tiến Đạt, một tên « nội tuyến CS “. Tưởng không ai hay biết, và đến lúc tổng tấn công Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại, Lê Xuân Sơn vẫn ngoan cố dùng văn chương và một diễn đàn điện tử của bọn cán bộ chính trị trong nước để đánh phá những cộng đồng người Việt Tị Nạn CSVN ở hải ngoại. Đã đến lúc, chúng ta cần phải « vạch mặt chỉ tên » những kẻ « nằm vùng CS» dù cho chúng có là bà con, bạn thân hay “thượng cấp ngày xưa” của chúng ta đi nữa.

Bị thất bại nặng nề sau cuộc bầu cử Liên Hội Chiến Sĩ VNCH vào ngày Chủ nhật 7-10-07 vừa qua; bọn băng đảng Việt Tân hoảng hốt quay cuồng sủa càn như những con chó điên, vừa viết láo vừa viết bậy, viết hoàn toàn không trung thực; điển hình như tên hội trưởng hội Thủ Đức Đặng Văn Trí, một tên i-tờ-rít đã dám phịa là chỉ có «ba mươi mấy người đi bầu», trong khi đó Trần Trọng Nghĩa, cái được gọi là «Giám đốc Đài Tiếng Nước Tôi» ngồi chứng kiến từ đầu đến cuối cuộc bầu cử, y đau xót lắm mới phải thú thật trên đài TNT, là liên danh Hoàng Văn Nhạn, liên danh đại diện cho tầng lớp quân nhân chống cộng sản đã đắc cử 74 phiếu thuận và 02 phiếu trắng, sau khi một số đồng bọn do VT chở tới để dồn phiếu để tranh thắng thấy thất bại, không thắng được phải ra về.

Sau một loạt bài viết bậy, văn bất thành văn, cú không ra cú; ngụy tạo nhiều điện thư giả dối nhưng không lừa gạt ai mà còn bị dư luận chê cười, bọn đại diện Việt Tân San Diego như Trần Chấn Hải, Trần Trung Nghĩa, giám đốc đài TNT đành quay đầu phủ phục dưới trướng của tên Lê Xuân Sơn, để nhờ viết bài, nhờ sử dụng web site của hắn ( site web «Phiến Đàn Hải Ngoại» http://haingoaiphiemdam.com ) tung tin thất thiệt đánh phá người Việt quốc gia. Chính Lê Xuân Sơn, tức Lê Vũ , bí danh Nguyễn tiến Đạt, ( đã từng làm cho Báo ” Con Ong Việt / San Diego ” vào những năm 99-2001) là người dùng nhiều tên giả, đạo diễn, ngụy tạo ra rất nhiều nhân vật trên diễn đàn và email để chửi bới và tuyên truyền láo khoét cho bọn VT và bọn nằm vùng cộng sản.

Được biết tên Lê Xuân Sơn là một tên cộng sản nằm vùng, đã được mai phục tại thành phố San Diego từ lâu, hắn không bao giờ dám xuất đầu lộ diện bất cứ nơi đâu, kể cả hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia mà hắn là khóa 21 nhưng không bao giờ dám góp mặt trong các cuộc họp thân hữu.

Lê Xuân Sơn, nguyên là Quận trưởng kiêm Chi khu trưởng Chi khu Củ Chi, có một người vợ tên là Vàng con gái bà «Mười An», một tay kinh tài đắc lực của CSVN tại các tỉnh Miền Đông Nam Phần.

Bà MƯỜI AN là Ai ?
Trong quyễn sách ” Cuộc chiến thắng bị bỏ lỡ ” ( tr 397) của Stephen Young và Nguyễn Mạnh Hùng, tr 397, có nói về Ông Quận Trưởng và Bà Mười An :
” Ông Quận có quan hệ mật thiết với tướng Tư lệnh Vùng (Đỗ Cao Trí ), và Bà Mười An vừa mới tặng ông ta một chiếc Peugeot 404 mới toanh..”
Lúc bấy giờ, một chiếc Peugeot 404 là món quà lớn lắm.

Ngoài ra, trong quyển sách ” Khúc quanh Định Mệnh ” của Lê Hữu Cương, Sĩ Quan Khóa 16 Đà Lạt cũng đã xác nhận Bà Mười An là tay trùm buôn lậu giữa biên giới Việt Miên, giữa các tỉnh Tây Ninh và Hậu Nghĩa, tay kinh tài của CSVN. Lê hữu Cương bàn giao chức vụ ” quận trưởng Củ Chi ” cho Lê Xuân Sơn ( tr.282).

Lê Xuân Sơn, Quận Trưởng Củ Chi, là người như thế nào?
Lê Xuân Sơn sinh năm 1945, Di cư vào nam cùng với gia đình năm 1954 được cấp phát nhà đất định cư tại Trung Chánh, tốt nghiệp khóa 21 VB Đà Lạt, ra trường năm 1966 đổi về Sư đòan 25 BB làm Đại Đội trưởng Trinh Sát, chấn giữ ngay trên tuyến đường buôn lậu từ Cam Bốt sang Việt Nam thuộc Gò Dầu Hạ và đã được Bà « Mười An » mua chuộc ngay từ lúc đầu để cộng tác trong việc buôn lậu, tiếp tế lương thực, thuốc men và các nhu yếu phẩm vào mật khu của Việt Cộng. Bà « Mười An » còn gả người con gái tên Vàng cho Lê Xuân Sơn, mặc dù lúc đó cô Vàng đã là vợ có 2 con với một thiếu tá cảnh sát. Bà Mười An có quan hệ mật thiết với tướng Vùng Đỗ Cao Trí, nên chạy lon rất nhanh cho Lê Xuân Sơn, cuối cùng chạy lon thiếu tá và mua chức Quận Trưởng Củ Chi cho Lê Xuân Sơn, một quân lỵ quan trọng, cả về mặt quân sự và buôn lậu, là của ngõ từ biên giới Cam Bốt vào Sài Gòn. Mọi người ai cũng nghe danh Địa Đạo Củ Chi của Việt Cộng.

Dù là quận trưởng nhưng là con rể bà Mười An, có tướng Vùng bao che, nên LXS rất cao ngạo, không coi Tỉnh Trưởng ra gì. Y thường liên lạc trực tiếp với cấp Vùng. Cũng chính y đã từng khoe với bạn bè là đã gài được cha Sở để thâu băng lén trong cuộc mạn đàm với gái để làm áp lực cha phải tuân theo sự sai khiến của y.

Việt Cộng an toàn đào được “địa đạo nổi danh Củ Chi ” là nhờ ở sự che chở của ông Quận Lê Xuân Sơn. Tại sao VC đào hàng chục km địa đạo mà sáng ra không thấy dấu vết? Địa Phương quân đi hành quân không thấy gì khả nghi? Câu trả lời là ông Quận có công chăm lo tu sửa đường xá, hàng đêm cho xe quân vận của Quận, xúc đất, chở đất, sửa đường, đắp đường, đắp đê cho dân chúng được hưởng tiện nghi. Ai nói Lê Xuân Sơn làm giàu bằng tiền buôn lậu là không đúng lắm, tiền buôn lậu không thấm gì với tiền đổ đất. Ông Quận đặt một ván bài bằng một chiếc xe 404 dễ dàng và thua chiếc “xe” đứng dậy cũng dễ dàng như chẳng có gì xảy ra. Không biết bao nhiêu xương máu của chiến sĩ , và bạn bè đồng khóa đã chết một cách gián tiếp qua các địa đạo đó, ông Quận LXS ( một kẻ sát nhân ) nhỉ ?
Các bạn đồng khóa với ông thường nhắc đến ông bằng câu chuyện “Bảy Đ “, 7 chữ Đ có nghĩa là ” Đào Địa Đạo, Đất Đổ Đi Đâu ? “.

Khi người tài xế thân tín của LXS bị lộ là “CS nằm vùng”, An ninh Quân Đội bắt phải giải giao về tỉnh để điều tra, LXS tìm cách đi theo trực thăng giải giao.Trên chuyến bay, y đóng kịch ” Tarzan nổi giận” và đạp người tài xế nầy rơi khỏi trực thăng cho chết để bịt miệng.

Ngay sau ngày 30.4.1975, theo lờI kể của LXS, thì tên tài xế sau cùng cũng chính là cán bộ Việt Cộng giữ nhiệm vụ liên lạc, giao liên giữa LXS và Việt Cộng mang lon thượng Úy đến chào và đã lo cho LXS mọi thứ tiện nghi, được biết LXS cũng phải đi học tập cải tạo, thời gian bao lâu không rõ, nhưng cuối cùng lại được đưa về đúng quận Củ Chi và sống rất thoải mái. Do đó, LXS có ở tù VC cốt để mờ mắt bên ngoài , nhưng bên trong để có ” chứng chỉ ở tù CSVN ” hầu sang Mỹ tiếp tục ” mai phục ” chiến lược.

Những anh em sĩ quan quen biết với LXS khi ra khỏi tù, nghèo đói đến gặp LXS đều được tiếp đải niềm nở, nuôi ăn đầy đủ, thịt cá ê hề tại nhà của y ở ngã ba ông Tạ chứng tỏ rằng dù là sau năm 75, LXS vẫn còn giầu lắm, có thể tài sản còn nguyên, chỉ che dấu bề ngoài. Hiện nay cả gia đình LXS, kể cả hai người anh Lê Trung Dung, Lê Phan ở Sai Gòn đều giầu có khủng khiếp, nhà của có cả ở Sai-Gòn Đà-Lạt, những biệt thự đồ sộ, thường có cả piscine trên sân thượng. Việc qua Mỹ của LXS, lãnh tiền trợ cấp tàn phế, sống một cuộc sống bình dị, là chuyện đáng phải đặt nghi vấn. Sau năm 75, LXS học tiếng Tàu nên y đọc nói, và viết tiếng Tàu rất giỏi. Phải chăng đó là một cán bộ VC thuộc cánh TC ?

Đến năm 1994, LXS sang Mỹ với Bà vợ hiện nay tên là Đào. Xin nhắc lại trước đây khi LXS làm QT Củ Chi ăn ở với Cô Vàng thì Bà Đào ở Saigon và không bao giờ được phép xuống Quận Củ Chi.

Tuy Lê Xuân Sơn qua Mỹ, nhưng trưởng nam của hắn là Lê Trường An ( trên dưới 40 tuổi) vẫn «trụ» lại Việt Nam, trước là để quản lý cái gia tài đồ sộ của Lê Xuân Sơn, thứ đến là tiếp tục kinh doanh với đám Công An. Có người ở Mỹ về thăm nhà LXS tức Lê Trường An thì nhà và cơ sở của LTA rất đồ sộ, nhà nào cũng có đến 2, 3 chiếc xe Mercédès đâu đằng trước, và 5/6 người bảo vệ an ninh thường trực cùng công an. Qua những lời tiết lộ trong gia đình của Bà Mười An người ta nghi vấn là Lê Trường An có thể là con của Bà Mười An với LXS chứ không phải là con của cô Vàng hay bà Đào hiện nay.

Ngoài ra, Lê Trường An qua Mỹ thăm LXS rất thường và dễ dàng bất cứ lúc nào , bất kể chi phí. Như lúc đám tang cô Hợp, con gái của LXS, Lê Trường An và vợ lại còn dẫn theo cả người “yêu ” của em gái mình ngày trước từ VN sang Mỹ để dự đám tang.

Riêng về LXS, người ta tự hỏi tại sao LXS sang Mỹ để làm gì trong khi gia tài của hắn ở VN rất kếch xù? Phải chăng để tẩu tán tài sản hay bị bắt sang Mỹ theo lệnh trên để nằm vùng tiếp tục phá hoại như trước đây ?

Bây giờ thì chúng ta đã thấy rõ là LXS đã xuát hiện đánh phá cộng đồng với nhiều tên giả như Lê Vũ, Nguyễn tiến Dạt, v;v.. với site Web http://www.haingoaiphiemdam.com thực hiện từ bên trong nước VN.
( nếu muốn biết rõ hơn xin bấm vào đây để đọc chi tiết nầy ).

Để kết luận, LXS là một tên ” nội tuyến ” làm việc cho Việt Cộng vì tiền bạc, vì danh vọng và gái ( đúng là mẫu người để được chọn làm tình báo!). Chính hắn đã góp công đắc lực để thực hiện công tác đào ” địa đạo nổi danh Cũ Chi “, và giết hại chiến sĩ và đồng bào cùng đóng góp làm sụp đổ chế độ VNCH. Lương tâm của chúng ta có cho phép chúng ta khoanh tay đứng yên nhìn LXS một lần nữa phá nát cộng đồng người việt Quốc gia tại San Diego nầy hay không? LXS chính hắn là CS nằm vùng tại San Diego, chính nó là kẻ thù của chúng ta. Xin yêu cầu đồng bào, các anh em trong hàng ngũ QLVNCH hảy can đảm mạnh dạn loại trừ tên nầy ra khỏi Cộng Đồng San Diego của chúng ta.

 

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Siêu Quậy – Người Hậu Nghĩa Và Ông Cựu Quận Trưởng Củ Chi Lê Xuân Sơn

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 6, 2008

Siêu Quậy – Người Hậu Nghĩa Và Ông Cựu Quận Trưởng Củ Chi Lê Xuân Sơn

Con Ong Việt số 89 tháng 1-2008

Một buổi sáng, khoảng cuối năm 1994, niên trưởng Hoàng A. khóa 20 đến tìm gặp tôi nói nhỏ:
– Ngày mai thằng Sơn, Lê Xuân Sơn khòa 21 nó đến, tôi bảo lãnh nó về San Diego, nó là em họ bên bà xã tôi , mai nhờ D. đi với tôi ra phi trường đón, gia đình 5 người.
Tin thật bất ngờ, tôi im lặng vài giây, thoáng nghĩ về mối quen biết với Lê Xuân Sơn khoảng ba mươi năm về trước, thuở còn là học trò. Quả thật, quả đất tròn, mà lại nhỏ, lanh quanh rồi lại gặp nhau ở đây, một nơi xa với khung trời Sài Gòn cả nửa vòng trái đất.
Để dò xem niên trưởng A đang nghĩ gì và có biết gì nhiều về Lê Xuân Sơn không. Tôi nhìn thẳng vào mắt niên trưởng A. nói bâng quơ:
– Một con cọp dữ khóa 21 về San Diego!
Niên trưởng A. có lẽ hiểu ý câu nói của tôi nên trầm tĩnh trả lời:
– Nó được một thời thôi D. ạ! Sau 75 có lẽ nó cũng hết rồi, cũng đi tù và bây giờ qua đây chắc cũng “start” lại từ đầu như mọi người thôi. Trong đám Võ Bị, ngoài tôi là họ hàng, nó không muốn một ai biết và không muốn liên lạc với bất cứ ai. Không hiểu tại sao nó biết có D. ở đây và có nhắc đến D. nên tôi mới rủ D. mai ra phi trường đón nó. Bỏ qua mọi chuyện đi, đừng nghĩ gì cả, coi như mình đón một anh em Võ Bị đến định cư, giống như những lần trước.

Gia đình tôi và gia đình Lê Xuân Sơn cùng quê ở Ninh Bình Bắc Việt, nhưng vào trong Nam, tôi mới được biết sơ qua về gia đình LXS. Ngày bé có một vài lần đi theo các anh lớn của tôi đến chơi nhà LXS, ban đầu ở Trung Chánh Hóc Môn, sau ỡ ngả ba Ông Tạ, ngay bên cạnh lò Heo Chánh Hưng. Cuối năm 1964, anh kế của tôi và LXS rủ nhau cùng nộp đơn đi Võ Bị khóa 21 nhưng đến khi giấy gọi trình diện thì anh tôi đã đi Pháp. Năm ấy tôi vừa xong tú tài một, cầm giấy gọi trình diện nhập học Võ Bị của anh tôi, tôi đã quyết định chọn con đường binh nghiệp cho đời tôi. Tôi viết hai lá thư, một cho ông anh bên Paris đại ý nói năm tới xong tú tài hai tôi sẽ đi Võ Bị thế cho anh, sau này làm tướng sẽ cấp giấy chiếu khán cho anh về. Và, một cho Lê Xuân Sơn theo địa chỉ trường Võ Bị, hỏi thăm về đời sống quân trường và hẹn sẽ vào khóa 22. Nhận được hai lá thư trả lời đều trái ngược với dự đoán của tôi. Thư trả lời của anh tôi: “Xong phần hai, cố lo giấy tờ đi Pháp. . .”. Thư trả lời của Lê Xuân Sơn: “kinh hãi, không nên vào, D. chịu không nổi đâu, năm tới vào gặp tôi, tôi phạt chết. . .”

Cuối năm 1966, tôi mới trốn nhà vào khóa 23 Võ Bị. Ngày LXS mãn khóa là ngày tôi nhập trường.
Chỉ khoảng một năm sau khi Lê Xuân Sơn ra trường, cuối năm 67, đầu năm 68, tiếng đồn Lê Xuân Sơn đã về đến trường Võ Bị. Không phải như của các đàn anh khác đem tin chiến thắng, vinh thăng về trường cho đàn em phấn khởi, mà là tiếng đồn xấu, LXS làm ăn, chùm buôn lậu vùng biên giới! Đàn anh khòa 22 lên bục chấn chỉnh đàn em đã xa gần mỉa mai:
– Quân trường này dậy chiến trận, dậy cách sống hào hùng, dậy xanh cỏ hay đỏ ngực, không dậy buôn lậu. . .”
Suốt 4 năm học, tôi nín thinh không bao giờ thố lộ với ai là có quen biết với Lê Xuân Sơn, họ đã coi Lê Xuân Sơn như một tỳ vết, con dòi, con bọ của khóa, của trường.

Cuối năm học thứ hai, tôi về Sài Gòn học nhẩy dù, ngày chủ nhật đi phép từ trại Hoàng Hoa Thám, nhân tiện đi ngang ngã ba Ông Tạ, tôi ghé nhà tìm thăm Lê Xuân Sơn. Lê Xuân Sơn không có nhà, Bác N. ba của LXS tiếp tôi rất ân cần, hỏi thăm gia đình tôi, hỏi thăm anh tôi và cả ông chú T. của tôi bên Pháp. Tôi nửa thật nửa đùa chỉ cái xe hơi bọc kín đậu trước của nhà:
– Cháu nghe nói anh Sơn làm ăn khấm khá lắm phải không bác?
Ông cụ nhăn mặt:
– Nó vẫn là thằng nghịch tử, không dậy được, phá làng, phá xóm, trộm cắp từ ngày bé. . . của phi nghĩa cháu ạ.
Từ ngày ấy tôi không gặp LXS cũng không có dịp thăm hai cụ thân sinh ra LXS nữa. Nhưng, được nghe rất nhiều chuyện về LXS, về gia đình LXS, họ ăn nên làm ra, xây sửa nhà cửa, xây cổng, làm tường ngăn cách với hàng xóm. Ông bà cụ thân sinh ra LXS đã thay đổi, hách dịch hơn xưa, hơn cả thời làm điền chủ ở ngoài Bắc với những người trong họ và những người quen biết, bà cụ đi hụi hè, đi đánh chắn đã có tài xế đưa đón . . . . Và, LXS không còn bị coi là thằng nghịch tử, mất dậy nữa mà đã thành quý tử, cột trụ của gia đình, mua sắm, xây nhà , sửa nhà, hỏi vợ, lấy vợ cho anh, cho em. . . . Thường khi “của” còn ít, cha mẹ anh em chê, cho là của phi nghĩa, đến khi của ngập nhà thì của phi nghĩa biến thành của có nghĩa! Ông bà cụ, anh chị em trong nhà đã vui vẻ ngồi chung chiếu, ăn cùng mâm với LXS. . . mâm cỗ có xương, có máu chiến sĩ, có những mưu toan, giết người, lừa lọc, buôn lậu. Không biết khi nhắm mắt lìa đời ông cụ thân sinh của LXS có kịp nghĩ rằng, ngày xưa, có một lần mình lỡ chửi LXS, chửi cả chính mình ăn phải của phi nghĩa!.
Cũng từ đó, LXS không còn là của trường Võ Bị Quốc Gia, không còn là của khóa 21. Khóa 21 họp khóa ngay ở ông Tạ, bên kia đường, xế nhà LXS vài cái ngõ cũng không mời gọi LXS , không cho phép LXS tham dự. Lê Xuân Sơn đã vấy bùn lên thanh danh một quân trường. Không cần phải đợi người đuổi, tự LXS đã phải lẳng lặng cúi đầu tránh xa. Cho dến hôm nay ở xứ tị nạn này, quyền thế danh vọng ai cũng mất cả rồi, gia tài chỉ còn là tình đồng đội, nghĩa đồng môn, còn chút dư hưởng hào quang của quá khứ và niềm hãnh diện về quân trường ấy. LXS không có được gì cả! không có trường mẹ, không có đồng môn, đồng đội, chỉ lủi thủi, chui trốn, lánh mặt mọi người, núp trong tối ném đá dấu tay, phá hoại cộng đồng người Việt quốc gia ở hải ngoại, để bảo toàn tài sản của mình, của con trai Lê Trường Ân và của anh em dòng họ còn ở Việt Nam. Vợ con Lê Xuân Sơn không có niềm hãnh diện sánh vai với gia đình các bạn đồng môn, đồng khóa. Ngay ở San Diego này, các cựu sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam sinh hoạt mật thiết với nhau trong hội, không ai biết đến LXS, không ai biết mặt LXS ngoại trừ tôi và một niên trưởng khóa 21. Không ai nhắc nhớ là có Lê Xuân Sơn Khóa 21 Võ Bị Đà Lạt.
Đời cha ăn mặn, đời con khát nước. Những người con gái của LXS rất ngoan hiền. . . ngoan hiền như cam chịu số phận khát nước, gánh chịu cho cha những oan nghiệt cha đã gây ra trong cuộc đời này. . Và, cháu Hợp đã đau đớn, ra đi khi còn quá trẻ, ra đi với lời chăn chối rằng. . . . con xin gánh trả giùm cho cha những oan nghiệt, những ác nghiệp cha đã gây ra trong cuộc đời này.
Phần câu chuyện liên quan giữa tôi và Lê Xuân Sơn còn rất dài, nhất là những chuyện xảy ra hiện tại, Lê Xuân Sơn lộ diện nằm vùng, xử dụng một website thực hiện từ trong nước, ban biên tập từ trong nước để quấy rối, đánh phá cộng đồng người Việt Quốc Gia ở San Diego. Nhưng, tôi xin tạm ngưng ở đây để nhường phần cho Người Hậu Nghĩa. Hẹn quí vị trong những bài viết kế tiếp.
Nếu quí vị muốn biết thêm về những hành động của LXS trong quá khứ và hiện tại, quí vị có thể đọc những bài đã phổ biến trên nguyệt san Con Ong Việt hoặc trong websites http://www.Tinparis.net , http://www.conongviet.com , http://www.chinhnghia.com , http://www.haivannews.com

Sau đây là phần trích dẫn từ bài viết của Người Hậu Nghĩa viết về LXS.

Người Hậu Nghĩa.

Tôi là ân nhân tình cờ của Lê Xuân Sơn, tình cờ thôi rồi cách ly nên không bị mưu sát như ông Q.Nam hiện đang định cư ở WA!. Cũng lại tình cờ, tôi biết rất nhiều chuyện về LXS, nhiều hơn ông Q.Nam nên lẽ ra ngày ấy tôi đáng chết, đáng bị ám sát hơn ông Q.Nam.

Bây giờ tôi đã gần tám mươi, thì quý ông Con Ong có thể đoán được, LXS đối với tôi ngày ấy chỉ là hàng em út, hàng con cháu, nhưng Lê Xuân Sơn là loại rất nguy hiểm và ngày ấy, tôi có thể mất mạng như chơi. Tôi không biết phải dùng danh từ nào để gọi LXS, gọi là con quái vật? thằng bệnh hoạn? Thằng khốn kiếp hay là Nhạc Bất Quần? . . . nó là một con vật tối nguy hiểm trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngày ấy, tham danh, tham tiền, tham gái . . . Nó ra đời có sẵn bản chất thủ đoạn, độc hiểm, gian manh mà trời lại cho nó cái miệng lưỡi lém lỉnh. Lê Xuân Sơn vào đời, hại đời bằng những ưu khuyết điểm ấy. . . .
. .
Tôi không xử dụng computer và cũng không phải là người hay viết lách, ngoài việc ngày xưa biết thảo văn thư hành chánh, nên tôi chỉ có thể viết nháp các sự việc, các sự kiện liên quan đến Lê Xuân Sơn, có thể là lộn xộn, không theo thứ tự thời gian rồi tùy qúi ông sử dụng, sắp xếp. Những chuyện tôi viết ra đây về LXS là tai nghe mắt thấy, giấy tờ công văn của chính tôi và lời kể có kiểm chứng của những nhân viên dưới quyền tôi . . ..
. . . . . . ( đoạn này cắt bỏ sẽ đăng ở một bài khác) . . .
. . . . . . . . . . . .
Bà Mười An ngày ấy khỏang 40, trông rất trẻ, gọn gàng, lanh lẹn, vui vẻ ( nhan sắc . . . rất thường) , bà giao thiệp với cấp lớn tướng tá của cả hai bên, từ tư lệnh vùng, sư đoàn trưởng, lữ đoàn trưởng, tỉnh trưởng. Giới làm ăn thường gọi tắt là “Chị Mười”. Cả hai phe đều có ăn chịu với bà cả về việc quân đến các dịch vụ buôn bán trên trục lộ từ Cao Miên về Sài Gòn. Rất nhiều người biết chuyện, có thể cả an ninh quân đội cũng biết, nhưng mọi việc vẫn được dàn xếp ổn thỏa bằng những thế lực lớn ở bên trên. Việc kín đáo nhất mà tình báo Mỹ theo dõi không phải là việc thương lượng, tiếp tế buôn bán với phía bên kia mà là buôm lậu bạch phiến. Sao này có một vị tướng tư lệnh vùng bị tử nạn (tôi không muốn nhắc đến tên người đã khuất, một người có nhiều ưu điểm về quân sự nhưng cũng có rất nhiều khuyết điểm và tai tiếng), người ta nghi ngờ ( không tìm được tài liệu kiểm chứng) là có dí nh dáng đến bà Mười An, đường dây buôn bán bạch phiến và tình báo Hoa Kỳ.

Ngày ấy, thiếu úy, trung úy non choẹt như Lê Xuân Sơn không có cân lượng nào với “chị Mười”, chỉ như loại em út, khi có việc cần thì chị dúi cho ít tiền tiêu xài, chia chác với anh em để bà sai bảo mà thôi. Nhưng LXS có duyên may được gặp bà Mười An thường xuyên và theo hộ tống bà trong nhiều dịch vụ làm ăn. Mồm mép Bắc Kỳ dẻo kẹo, ngọt ngào, lại ma lanh khôn khéo, nên Lê Xuân Sơn lấy được cảm tình, từ chị chị em em, vòi vĩnh, xin xỏ, đến đùa dỡn, cợt nhả thân thiện. . . (lính tráng trong vùng ai cũng biết về củ chỉ thân mật giữa LXS và chị Mười) . Đùng một cái, có tin đồn, rỉ tai nhau rằng chị Mười “vướng . . . bầu” với Lê Xuân Sơn. Và LXS phải nhận lời lấy cô Vàng con gái chị Mười, lúc ấy cô Vàng mới khoảng 19,20 tuổi nhưng đã lấy một thiếu tá cảnh sát từ mấy năm trước và đã có hai con, như một trao đổi công việc làm ăn cho mẹ ( trai tráng vùng Gò Dầu Hạ, Tây Ninh chê Cô Vàng xấu ma chê, quỷ chạy). Tù sau ngày làm con rể bà Mười An, LXS lên như diều gặp gió, làm đại đội trưởng trinh sát, từ trung úy lên đại úy, lên thiếu tá trong vòng hơn hai năm, rồi bà Mười An mua luôn cho chức Quận Trưởng Củ Chi. Bà còn than với nhiều người rằng: “Tiếc là lon nó (Lê Xuân Sơn) còn nhỏ quá!”.

Những người quen biết và giới thân cận của bà Mười An cho biết, từ sau ngày LXS làm quận trưởng, nó lấn lướt, sai khiến được bà Mười An vì nắm được nhiều bí mật của bà, phải nói là hai mẹ con bà Mười An nể sợ và nghe lời Lê Xuân Sơn. Công việc làm ăn sau này đa phần do LXS quyết định. Lê Xuân Sơn có đường dây báo cáo và chung trực tiếp lên tướng vùng, không qua hệ thống tỉnh như các ông quận và tỉnh trưởng khác. LXS còn bắt liên lạc, điều đình thẳng với phía bên kia qua một huyện ủy và tỉnh ủy của Việt Cộng. Nghe nói là An ninh sư đoàn biết và có theo dõi nhưng không làm gì được vì thế lực của LXS dựa vào bà Mười An và một ông tướng vùng rất lớn. Ở San Diego có trưởng ty an ninh quân đội tỉnh Hậu Nghĩa Thiếu Tá H.M.S chắc chắn biết rất rõ về Lê Xuân Sơn, sao các ông Con Ong không hỏi?.

Một câu chuyện kể lại qua một bà tỉnh trưởng là: – LXS không bao giờ đem vợ (cô Vàng) đi dự bất cứ một buổi lễ lạc nào trên tỉnh, lúc nào ghế của bà quận cũng bỏ trống. Một lần ông tỉnh trưởng hỏi sao không đem phu nhân đến tham dự. Lê Xuân Sơn dù chỉ là quận trưởng nhưng phách lối, coi thường cả tỉnh trưởng, hất mặt trả lời: – “Vợ tôi chỉ được quyền biết có hai việc, trên giường và dưới bếp”.

Phải nói tên LXS là một con quái vật, nhiều mưu mẹo gian ác và xảo quyệt. Tôi còn biết một vụ thưa kiện của một gia đình tại quận Củ Chi, vì bị tình nghi là giao liên nên bị thẩm vấn điều tra nhiều lần, cả năm sau, ông bố mới biết là cả hai cô con gái của mình trong những lần lên hỏi cung đã được ông quận đặc biệt mời gặp riêng, ân cần chỉ bảo, giúp đỡ và cả hai cô đều đã bị ông quận . . . làm thịt. . . . Không biết thế lực của ông quận lớn đến mức nào, mà khi đơn kiện lên đến tòa tỉnh thì ngày tháng xảy ra những sự việc bị sửa đổi, rơi vào thời gian còn trách nhiệm của ông quận trưởng nhiệm kỳ trước, Lê Xuân Sơn ung dung thoát nạn . . .
Còn cả trăm việc có vấy xương, vấy máu quân dân miền Nam mà trách nhiệm trực tiếp hay gián tiếp từ bàn tay con quái vật Lê Xuân Sơn này gây ra. Nếu quý ông Con Ong không chê, tôi sẽ dần dần, mỗi tuần viết gửi các ông, miễn phí.

Còn Tiếp. ….. . . .

Người Hậu Nghĩa.

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội giả mạo giấy tờ?

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 6, 2008

Tổng hợp từ nhiều nguồn

Vừa qua, UBNDTP Hà Nội đã phổ biến trên báo đài (cũng như gởi cho Dòng CCT Thái Hà) 4 bản photcopy 4 giấy tờ của LM Vũ Ngọc Bích đã ký và khẳng định LM Bích đã BÀN GIAO khu đất đang tranh chấp.

1. Bản kê khai tổng số nhà giao nhà nước quản lý (ký ngày 10/11/1961)

2. Bản mẫu kê khai nhà quản lý (ký ngày 09/11/1961)

3. Đơn xin bàn giao đất của linh mục Vũ Ngọc Bích (ký ngày 27/05/1963, số năm trong ngày ..tháng.. năm bị sửa chữa)

4. Văn bản của cha Vũ Ngọc Bích gửi ban chủ nhiệm Hợp tác xã Dệt thảm Đống Đa về việc xác nhận đã nhận của Ban chủ nhiệm Hợp tác xã 40 triệu đồng năm 1991 .

Những nhận xét lâu nay chỉ chú ý đến lý lẽ, sự sửa lại ngay tháng năm, chữ ký giả của Lm Bích. Sự tranh luận này đã tạo sự chú ý cho ngươi ngoài cuộc và không ít người đã cho rằng UBNDTP Hà Nội có đủ chứng lý hợp pháp về sự bàn giao đất (đặc biệt tờ giấy bàn giao ký năm 1963 – dù có sự sủa chữa và nghi ngờ chữ ký).

Tuy nhiên, một chi tiết quan trọng vưa được phát hiện, khẳng định UBNDTP Hà Nội đã ngụy tạo những giấy tờ bàn giao của LM Vũ Ngọc Bích:

Giấy Bàn Giao Đất của LM Bích ký ngà 27/5/1963 đã được đánh máy trên máy vi tính, sử dụng font chữ của Microsoft Word – cho thấy giấy này không thể có từ năm 1963 – khi mà công ty Microsoft chưa được thành lập .

Qua sự giả mạo này, giáo dân Thái Hà có thể thưa UBNDTPHN về sự giả mạo giấy tờ để sang đoạt tài sản đất đai của nhân dân.

Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội giả mạo giấy tờ?

Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội giả mạo giấy tờ?

Mẫu giấy và font chữ đánh máy (typewriter) năm 1961

Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội giả mạo giấy tờ?

Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội giả mạo giấy tờ?

Các dấu hiệu khác chứng tỏ giấy tờ bị giả mạo:

Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội giả mạo giấy tờ?

Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội giả mạo giấy tờ?

Nhà nước nói:

“Ngày 24/10/1961, linh mục Vũ Ngọc Bích đã ký biên bản bàn giao cho Nhà nước toàn bộ đất do Dòng Chúa Cứu Thế quản lý tại 116 Nam Đồng, trừ diện tích nhà thờ, trong đó có khu đất do xí nghiệp Thảm len.”

Nhưng thực tế:

Trước đó, ngày 30/01/1961, Sở quản lý nhà đất Hà Nội đã có văn bản giao phần đất trên cho Xí nghiệp dệt thảm len.

Bình luận:

Trong năm 1961, tháng 10 có trước tháng 01. Không thể, ngay các cháu học tiểu học cũng biết không bao giờ lại như thế. Như vậy, Sở quản lý nhà đất Hà Nội đã tự cướp đất của DCCT để giao cho Xí nghiệp dệt thảm len.

Thực tế cha Vũ Ngọc Bích không hề ký văn bản nào để bàn giao như chính ngài xác nhận trước lúc chết. Điều này còn được minh bạch hơn khi các cha ở Thái Hà đòi Nhà nước công bố văn bản và chữ ký của cha Bích, thì được trả lời là tài liệu “mật”.

Cha bề trên DCCT Hà Nội còn công bố sự thật rằng: “Cho đến năm 1973, linh mục Vũ Ngọc Bích vẫn cư trú tại tòa nhà chính của tu viên Thái hà nằm sát nhà thờ, là một trong hai tòa nhà chính của tu viện mà nay cả hai được dùng làm bệnh viện Đống Đa”.

Như vậy Nhà nước đã tự dựng ra luận điệu: “Ngày 24/10/1961, linh mục Vũ Ngọc Bích đã ký biên bản bàn giao cho Nhà nước toàn bộ đất do Dòng Chúa Cứu Thế quản lý tại 116 Nam Đồng, trừ diện tích nhà thờ, trong đó có khu đất do xí nghiệp Thảm len.”

Điều đáng tiếc là tối thứ hai, 18/08/2008, chương trình thời sự của Đài truyền hình VN đã dựa trên thông tin ngụy tạo để sản xuất tin, mà không hề làm một nghiệp vụ tối thiểu của báo chí là kiểm chứng tính chính xác của nguồn thông tin.

An Thanh, CSsR

Hình ảnh người dân các nơi đổ về cùng sát cánh hiệp thông cầu nguyện với giáo dân Thái Hà ngày 2/9:

Cầu nguyện buổi tối 3/9:

Nguồn: http://vietcatholic.org/News/default.htm

http://www.x-cafevn.org/node/1124

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

THƠ CON CÓC VÀ THƠ ” CĂN-CỌT ” DƯỚI NHẢN QUAN NGUYỄN HƯNG QUỐC (ÚC) – NHÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC” THỜI THƯỢNG”.

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 6, 2008

THƠ CON CÓC VÀ THƠ ” CĂN-CỌT ” DƯỚI NHẢN QUAN NGUYỄN HƯNG QUỐC (ÚC) – NHÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC” THỜI THƯỢNG”.

-TRƯƠNG MINH HÒA –

” VƯƠNG CHĂNG chữ nghĩa, VĂN CHƯƠNG ra.
THẾ SỰ sinh ra THỨ XỆ mà.
ĐI THƯỜNG gieo vận ĐƯỜNG THI khó.
LẠC BÚT đề thơ LỤC BÁT là.
CÓC CON số một, thơ CON CÓC.
CĂN-CỌT tuyệt vời CON-C…. a?
THỜI ĐẦY những kẻ THẦY ĐỜI lắm!
HOA VẮNG trong vườn VĂN HÓA ta.”

Trong giới thi sĩ, thi sỡi, thi hèo, thi roi, thi cuốc, thi xẻn, thi vá, thi đua…hay thi đủ thứ, kể cả” thi nhăn”, được coi là một trong những cái thói quen” cơ bản” mà giới làm thơ hay nhăn mặt, chau mày để lấy trớn hầu đưa đến hệ quả:” biến suy tư thành vần điệu” sàn lọc chữ một cách sáng tạo, tối tạo để thành thơ, nhất là lúc ngồi” tìm nguồn cảm hứng làm thơ” ở ao cá Bác Hồ để bàn chuyện giải phóng Cứt ra khỏi hậu môn, vừa phù hợp với” đệ tứ khoái” và cũng vừa đóng góp công sức xây dựng một” nước Việt Nam giàu đẹp muôn năm” cụ thể với kho tàng” vàng dẻo” vô tận, đời đời bền vững do những thứ mà chủ địt Hồ Chí Mồng dạy cán ngố rằng:” con người là tư bản quí báu”, được động viên, động cục, động hòn theo công thức phát triển đất nước theo duy vật chủ nghĩa, ngoài chuyện” bàn tay ta làm nên tất cả” thì mặt mạnh là:” lấy kinh tế CẦU ỈA theo định hướng xã hội chủ nghĩa”…đó là những nguồn” tư liệu chất lượng” mà một số người thích” nàm thơ” với những thể loại thơ như lục bát, song thất lục bát, Đường ( không kể thơ Muối, là món rất cần cho các bửa ăn, nhưng giới bị bịnh áp huyết cao thì không nên ăn nhiều, theo lòi khuyên bác sĩ nếu hổng muốn sớm giả từ gác trọ), thơ tự do, thơ phổ nhạc, thơ bút tre, thư bút sắt, thơ bút chì, thơ bút nguyên tử, bên Tàu có thơ bút lông; nếu ngày nay ai làm thơ trên máy computor với bàn máy đánh chữ, thì ngoại lệ, thơ làm trên máy điện toán thuộc giới thơ HIỆN ĐẠI, nhưng ngồi lấy ý làm thơ lâu cũng HẠI ĐIỆN lắm, đã vậy mà con tốn thêm tiền nếu hổng chịu tắt máy sau khi xài, là điều mà nhiêu cơ quan bảo vệ” khí thải”, chính phủ thường quan tâm, cảnh báo đặc biệt (có đăng nhiều tờ báo, đài phát thanh, truyền hình)…. Nhờ những người có tâm hồn thi nhăn, thi nhó, đóng góp tích cực vào sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, nên đã để lại cho đời vô số những bài thơ hay có dỡ có, cà chớn có ( như thư Tố Hữu). Tuy nhiên, tất cả các” NOẠI THƠ” nêu trên, dưới nhản quan” cực kỳ chất lượng” của nhà phê bình văn học hải ngoại lừng danh, giáo sư Nguyễn Hưng Quốc” phát hiện” là loại thơ con cóc cũng là” chất lượng” cao nhất trong các” thể NOẠI thơ” và thẩn hay thẩn và thơ; đây là một khám phá vô tiền khoán hậu, từ hàng ngàn năm qua trong lịch sử văn học, văn hóa, thế mà chưa ai biết đến, quả xứng đáng có một chỗ ngồi trong” chiếc chiếu manh văn học Việt Nam” sát cánh cùng các bậc tiền bối trong văn học sử với hơn 4 nghìn năm văn hiến, đúng như câu nói của người đời:” hậu sanh khả quái”. Tài năng hiếm quí nầy rất cần được ban Văn Hóa Tư Tưởng Trung Ương ghi nhận, vinh danh, cũng xứng đáng được mời vào Hội Nhà Văn Yêu Nước lắm cơ!. Có thể nói mà” hổng sợ trật” là” chất xám văn hóa hải ngoại”, rất cần thiết để góp một bàn tay xây dựng đất nước trong việc duy trì văn hóa, văn chương, văn minh, văn nghệ, văn gừng, nhiều khi cũng” văng miểng” tứ tung như hỏa tiển tầm xa 122 ly rót vào khu đông dân cư mà Việt Cộng thường dùng để khủng bố tinh thần….vân vân và vân vân….

Có thể nói là người đời” gốc Việt Nam” từ thời ngàn xưa đến nay, chưa có ai thưởng thức cái hay, lẫn tuyệt về cái bình dân học vụ, nền văn minh miệt vườn, miệt rừng, núi, bưng biền, miệt vườn chuối, miệt Cầu Ông Lãnh, Ngả Ba Chú Ông Tạ, miệt Nhà Bè…..kể cả những nhà phê bình” văn họt” thuộc” đỉnh cao trí tệ nòi người” ở Việt Nam từ khi” có đảng, có Bác, mới biết làm thơ” và được xuất bản dài dài do các nhà xuất bản của nhà nước quản lý, đảng lãnh đạo; chắc chắn là các thi sĩ ” cao cấp” nầy luôn được dân chúng kèm theo chữ NÔ đi theo cho phù nạp với bản sắc” nàm thơ” theo chính sách, gieo vần ” theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, lấy ý” theo chủ nghĩa Marx Lenin, tư tưởng Hồ Chí Mén” và đương nhiên là loại thơ nầy được dân chúng chiếu cố tận tình, có khả năng thay giấy nhật trình khan hiếm trong nhiều” sự cố” cấp bách như: làm giấy hút thuốc, gói đồ, lót đít cho các cháu nhi đồng còn ọ ẹ trong nôi, chưa biết gì, các mụ vườn cũng cần thứ giấy nầy để lót ở dưới chỗ nằm của sản phụ và ngay cả các chủ ao cá Bác Hồ” vĩ đại” cũng cần đến nhưng lúc nào cũng cảnh báo” âm mưu diễn biến hòa bình của những người làm ẩu, vứt đại giấy có những bài thơ chất lượng xuống ao” và đặt các giỏ bằng tre kế bên, với lời dặn ân cần như lời dạy của Hồ Chủ Tịt:” nhớ bỏ giấy vào giỏ”, vì Cá Vồ không thể” tiếp thu” những bài thơ quá hay, lại được in trên giấy từ giới làm thơ” nghiệp chuyên lẫn nghiệp dư” trong” chuẩn” thiên đàng Cộng Sản, là cái xã hội chủ nghĩa ưu việt, thế” giái” đại đồng” tàn dư” sau khi ông” Liên Thô” và toàn bộ các nước Đông Âu sụp đổ, bèn lội ngược dòng về con đường” tư bản phản động”.

Tuy nhiên, các thi hèo, thi nô, thi nhăn, thi nhó…như khỉ ăn ớt để” biến chữ nghĩa thành cung điệu” mà người ta gọi là” vườn thơ”, ở nước ngoài quá nhiều, lạm phát nên được gọi là” farm thơ”… cũng phải chào thua nhà phê bình văn học, tên họ, chữ lót được dính liền phần đầu là” tiến sĩ, giáo sư Nguyễn Hưng Quốc” và thường được đài phát thanh SBS ở Melbourne do Phượng Hoàng hay trước đây ở Sydney với cô Ngọc Hân, mỗi lần giới thiệu công trình” điều nghiên” văn học, trịnh trọng gắng thêm cái đuôi” nhà phê bình văn học”. Viết nguyên câu theo mục đích yêu cầu là” giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc, nhà phê bình văn học”, cũng dài dòng lòng thòng như” cọng rau muống đồng bò trên mặt ruộng” khi nhắc đến cái nước” Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam-Độc lập-Tự do-Hạnh Phúc” vậy.

Trong xã hội loài người, từ Đông sang Tây, có một số danh hiệu với chữ SĨ, SƯ đi kèm để nói về những người bỏ ra công sức ăn và học, được cho là:” có công mài sắt, có ngày nên kim” xuất thân từ các trường đại học như tiến sĩ, bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ, kỷ sư, giáo sư….thì có nhiều thứ Sĩ không cần phải” kinh qua” bất cứ trường đại học nào, đó là thi sĩ, văn sĩ, cư sĩ (ở nhà trốn lính mà cũng có chữ sĩ mới tài), chiến sĩ ( là những người hơn tất các thứ sĩ khác, dám đem mạng số ra hành nghề)…ngoại trừ LÒI SĨ thì nên đi đến phòng mạch NHA SĨ là chắc ăn, nếu không muốn bị thiên hạ cười là có” hàm răng cá sấu”.

Cho nên những thứ sĩ không cần học mà có, có thể nói theo nền văn minh Trường Sơn là:” kẻ sĩ không người lái”. Do đó cái danh hiệu” nhà phê bình văn học” cũng hổng có trường lớp” đại học” hay” độc hại” nào đào tạo, cũng là cái” quân hàm học vụ không người lái”, xa hơn nữa là có thêm cái danh hiệu khác:” tự biên tự diễn”. Dù hổng ai bầu, không ai giao phó và cũng hổng ai cần…thế mà các nhà phê bình văn học lại đóng vai trò của một” chánh án tòa án nhân dân” như các” quan tòa” ở nước Dân Chủ Cộng Hòa miền Bắc sau 1954 với chiến dịch cải cách ruộng đất, hay sau năm 1975 ở miền Nam, để” gõ viết” bằng thuật ngữ, luận lý, tự nhận” tư cách thầy đời” mà phê bình, khen chê văn thơ của người khác. Rồi in sách khen chê, tuy nhiên nhiều khi nhà phê bình văn học lại không có trình độ” thưởng thức” những món ăn văn hóa, không hiểu ý của người khác, không có khả năng viết như người bị phê bình, mà lại phê bình thoải mái, cứ thế mà phát huy và được một số người” nhất trí”, nếu là nhà văn, nhà thơ, nhà báo…thì danh hiệu” nhà phê bình văn học” mới được tín nhiệm. Thế mới biết là giới tự nhận” nhà phê bình văn học” đúng là” đỉnh cao trí tuệ văn học”, cũng như các” đỉnh cao trí tệ nòi người” ở trong nước, nhất là những ai từng tốt nghiệp trường chính trị Nguyễn Ái Quốc, xuất thân từ Viện nghiên cứu Marx Lenin là số một La Mã.

Tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp, gốc gác, thường trú, nguyên quán và quá trình hoạt động của nhà đại phê bình văn học” một thế kỷ mấy vầng thơ phê và tự phê” nầy chưa được biết nhiều, nhưng nghe đâu” trú quán” ở tận tiểu bang Meo-Bình, xứ Kan-ga-Ru ( nói giỡn cho vui chớ hổng có ý châm biếm là: Cu- Căn- Ra), thôi thì nên để cho” quần chúng….biết” để vinh danh, chớ hổng phải như lão nhạc sĩ già dịch vật ham vui, cà giựt, thích đón gió, hay trở cờ tên là PHẠM DUI, rồi khi nhìn thấy cái quá trình dê xồm từ thuở thanh niên, có vợ con đàng hoàng mà lại trốn vợ” ĐI ĂN CHÈ” cách” cơ ngơi” không xa, nên tên gã được người đời thêm thắt cho có phần” văn nghệ sĩ tiền bối” như Phạm Dúi hay Phạm Dụi; nay đã” động não, động cỡn” trở về Việt Nam tình nguyện là công dân chân dép” râu” ( chớ chưa chắc là công dân CHÂN chính, chân tám..) của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, dúi hay dụi con chim không cánh vào hang Pác Pó của những phụ nữ nhà nghèo đành phải nhắm mắt đưa chân, vì hoàn cảnh mà trở thành TRÒ CHƠI chất lượng cao khi bán thứ TRỜI CHO cho tên nhạc sĩ già Phạm Dui, được biết ông nầy là người từng phát biểu là” chống Cộng từ trong bụng má”, bổng vì ham cái” tình già trên đồi cỏ non” mà trở về” Hà Lội ta tham nhũng giỏi”, chớ hổng phải” Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” của Nguyễn Tuân, vang bóng một thời” tem phiếu”.

Theo tin” báo cáo khí tượng thủy văn” được đài phát thanh sắc tộc SBS giới thiệu rất nhiều lần, có thể nói là hơn 10 năm rồi, từ trưởng đài Ngọc Hân ở Sydney lúc” ĐỜI THƯƠNG” nhan sắc lúc” ĐƯƠNG THỜI”, nay đã vui thú điền viên, đến phó đài SBS ở Melbourne là Phượng Hoàng, thì nhà phê bình văn học, giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc, làm vẻ vang dân Việt với cái job là giáo sư trường đại học” dạy tiếng Việt” cho sinh viên lẫn sanh viên Úc, Việt ở trường đại học tiểu bang nầy, nhiều lần trở thành” Việt kiều hồi hương”, hổng biết ngoài mục tiêu” vác càng tôm về thăm quê hương”, nhà phê bình văn học lừng danh nầy còn có những quan hệ” văn học hữu cơ” với các nhà văn, thơ trong nước?. Nhưng qua tin tức có đài phát thanh loan truyền, được chính nhà văn học” thành thật khai báo” là có về Việt Nam nhiều lần mà hổng sao hết, kể cả chuyện vị” giáo sư dạy tiếng Việt cho người ngoại quốc” nầy chính là người có công rất lớn trong việc hướng dẫn người nước ngoài về tận” cơ sở đỉnh cao trí tuệ nòi người” để trao dồi, tu nghiệp tiếng Việt, y chang như thời cu thủ tướng môi vảnh Phạm Văn Đồng hồ hởi phấn khởi theo” nhời” dạy của Hồ Chủ Tịch là” giữ gìn trong sáng trong tiếng Việt”. Muốn ăn hamburger thì phải vào nhà hàng Mc Donald, chớ vào nhà hàng Tàu thì làm sao tìm được? Chắc có lẽ do” sự cố” nầy mà giáo sư, tiến sĩ nhà ta đã hướng dẫn các sinh viên của mình về Việt Nam, thay vì học hỏi ngay trong cộng đồng người Việt hải ngoại, ngay cả sang thủ đô người Việt tỵ nạn ở Little Saigon, cũng có thể học được” nhiều thứ tiếng Việt trong sáng” mà.

Có thể nói là từ ngày thành lập đến nay, hệ thống đài phát thanh SBS tiếng Việt ở Úc Châu, sau gần 2 thập niên giao lưu từ ngữ, thỉnh thoảng có mời các cán bộ trong nước lên đài phát biểu, dùng những từ ngữ trong văn chương đấu tố, đánh tư sản, bần cùng hóa nhân dân, bắt dân làm việc bằng hai, ba sức mình, hầu làm giàu cho cán bộ như: tình huống, sự cố, chất lượng, thời thượng, phát hiện, triển khai, giản đơn, khắc phục, cự ly,…v….v….gần đây đài phát thanh SBS lại” hiện đại hóa” từ ngữ làm sao để phục vụ các” sinh viên du học” hơn là phục vụ cho hàng trăm người Việt tỵ nạn ở Úc, đóng thuế để” nuôi đài sống”, trả lương cho nhân viên….nên đài đã dùng một số từ lạ tai, mới nghe qua cũng đành phải ú ớ như” ĐỘNG THÁI, TRANG CỤ, CÁCH TÂN….” như vậy trong tương lai cũng có thể xài thêm một số từ” được các nhà làm văn hóa trong Ban Văn Hóa Tư Tưởng sáng tạo như: ĐIỀU KINH, GIAO HỢP, HÀNH TRỢ, PHÂN CUỘC, GIẢI PHỤ, BÌNH PHÊ, KINH TRƯỜNG, ….khiến người nghe chắc là phải đi tìm tự điển của các học giả của Việt Nam Cộng Hòa biên soạn cũng hổng bao giờ tìm thấy.

Mặt khác ở cái nhà trường đại học với giáo sư tiến sĩ giảng dạy” tiếng Việt cho sinh viên người Úc”, chưa cung ứng đủ những từ ngữ” trong sáng” thuộc đỉnh cao trí tuệ nòi người nêu trên…….nên sinh viên ngoại quốc cần phải” điều nghiên” thêm một số từ mới mang tính cách” thời thượng” thuộc đỉnh cao văn hóa cao siêu như xưởng đẻ, xưởng đéo ( Bắc gọi là xưởng địt, là từ dùng chỉ các nơi thuộc về sexual industry), nhà hàng có gái hầu ( gọi là nhà ăn ôm), quán cà phê có gái ngồi cùng ghế với khách là” cà phê ôm”, phòng tắm hơi gọi là” tắm ôm”; các sinh viên, học sinh thuộc giai cấp” con cháu các cụ trong đảng”, muốn thi đổ cao mà hổng tốn nhiều thời giờ, mướn gái về” vừa học vừa ôm” cho mau tiếp thu, gọi là” học ôm”….hay những từ ngữ mang đầy bản chất” cách mạng” như: địa tặc (ăn cắp đất), lâm tặc (ăn cắp cây), cẩu tặc (ăn cắp chó), miêu tặc( ăn cắp mèo), lung tung tặc (ăn cắp đa mục tiêu, ăn cắp đa văn hóa), thi tặc (ăn cắp thơ người khác)…nhưng Hồ tặc thì có học mà đừng phát biểu tại các nơi thụ huấn là” big trouble” đó nghe các sanh viên Úc muốn học tiếng Việt ở tận hang hùm Hà Lội. Đó là những nhu cầu mà sinh viên nước ngoài muốn học tiếng Việt thì phải về tận” hang Pác Pó” mà thụ giáo, thì chắc chắn sau nầy cũng dể trở thành” cán bộ văn hóa vận” lắm, đương nhiên là đạt tiêu chuẩn” ở nhà Tây, ăn fast food, nói như lãnh tụ đảng” là đạt được mục đích yêu cầu của thầy dạy, chớ học văn hóa theo” bọn phản động người Việt nước ngoài” là làm sao có thể tiếp thu được văn hóa, văn chương của Tố Hữu, tư tưởng Hồ Chủ Tịt.

Hy vọng là nhờ những” sinh viên” ngoại quốc học tiếng Việt do giáo sư, tiến sĩ, nhà phê bình văn học đào tạo, sẽ có khả năng” giao lưu văn hóa” tiếng Việt trong xã hội Úc dể dàng hơn, thì ở Việt Nam, nhà nước giảm bớt chi phí cử người sang làm công tác” văn hóa vận”, đa phần là hổng kết quả, hay đạt” chất lượng công tác”. Nghe đâu có nguồn tin ở Hoa Kỳ, không biết do gián điệp nằm vùng đi lòn vào xã hội” tư bản phản động” và tác động vào chính giới Hoa Kỳ với lý luận:” bây giờ chấm dứt chiến tranh lạnh” rồi, thì nên mở rộng cho những người Cộng Sản làm việc ở đất Mỹ và như vậy thì có thể các trường dạy tiếng Việt ở Mỹ cũng có khả năng nhận luôn các” kỷ sư tâm hồn” từ trong nước, hoặc người Cộng Sản để giảng dạy cho con cháu người Việt tỵ nạn, thế là” sân sau” cũng đang bị tấn công như phong trào phản chiến trước kia đấy, hảy đề cao cảnh giác trước những mưu mô xảo trá, gian manh của người Cộng Sản. Mặc dù cuộc chiến tranh lạnh dù chấm dứt sau sự sụp đổ của Liên Sô, nhưng đó chỉ là” bước thoái trào cách mạng”, nay Trung Cộng lẫn Việt Cộng đang chuẩn bị bước lên ba bước trong” cao trào cách mạng”, thì hiểm họa Cộng Sản vần còn và thế giới đang đương đầu với hai mặt trận: chống khủng bố và hậu chiến tranh lạnh.

Về hoài thì đôi khi cũng ngán bị thiên hạ, dân tỵ nạn” hiểu lầm hay hiểu trúng” là” nối giáo cho Vẹm”, hổng chừng còn có người nghi ngờ là” hạt giống đỏ” đang nẩy mầm như cuốn bang nhạc B 40 của trung tâm Thúi Nghe. Một” sự cố” khá nổi bật ở Úc Châu là: một số thầy cô giáo người Việt, dạy tiếng Việt cho con cháu người Việt tỵ nạn Cộng Sản ở các trường dạy Việt ngữ các tiểu bang như N.S.W ( sydney), Victoria ( Melbourne), muốn lợi dụng” học bổng” hàng năm của chính phủ Úc để về Việt Nam” tu nghiệp” hầu mang kiến thức mới từ trong nước qua giảng dạy, nên bị các tổ chức cộng đồng, đồng hương phản đối quyết liệt, khiến cho các” giáo gian” nầy chùng bước và được phụ huynh cảnh báo; vì không ai muốn con cháu tiếp tục được” giáo dục” hệ tư tưởng Hồ Chí Minh, thơ Tố Hữu, Huy Cận, văn Nguyễn Tuân….

Do đó, năm 2006, đột nhiên đài phát thanh SBS la lên, rần rộ lúc đầu cho đến” trực tiếp phỏng vấn” bản tin” giựt con mắt” là giáo sư, tiến sĩ, nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc, vừa dẫn một mớ sinh viên Úc về Việt Nam” tu nghiệp và sưu khảo” bị chận bắt và trục xuất khỏi Việt Nam, làm khó dễ đủ thứ, mà hổng thèm nêu lý do chánh đáng, dù nhà văn học nầy cho biết là cũng đã gọi điện thoại” quan hệ hữu cơ” với các bạn bè trong nước ( chắc chắn cũng là giới văn hóa, văn học nhân dân?). Theo lời phát biểu trên đài, giáo sư, tiến sĩ, nhà phê bình văn học tỏ ra tức giận” cành hông” lên án chế độ Cộng Sản là vi phạm nhân quyền, không có dân chủ… Được biết, chế độ Cộng Sản tại Việt Nam là hổng bao giờ có nhân quyền, dân chủ, khỏi nói ai cũng biết hết, về hoài mà không nhận thức ra hay sao?.

Tuy nhiên, đám học trò thì vẫn được ở lại để tiếp tục” nấu sử sôi kinh….theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Tin nầy làm chấn động cả Úc Châu thời đó và hình như mãi đến nay, nhà phê bình văn học nầy hảy còn được một số người có cảm tình qua sự kiện” về nước và bị Việt Cộng trục xuất”, tức là thành phần” phản động nước ngoài quan trọng, là đối tượng của đảng” dưới chính sách trước sau như một của đảng Cộng Sản Việt Nam…. đây là điểm son, thật phù hạp với tư cách tỵ nạn Cộng Sản, lập trường của những người bỏ nước ra đi tìm tự do, theo Nguyễn Du trong Kiều thì đúng là:” chữ TRINH còn ở chỗ nầy”. Vụ nầy thì các thầy cô giáo ở Úc nên học hỏi rút tỉa kinh nghiệm, để sau nầy trở về nước” tu nghiệp” với học bổng của chính phủ Úc, sau khi tu nghiệp xong, bèn áp dụng câu:” giả mù sa mương”, cho công an vài chục Úc kim và nhờ họ làm ơn” cầm giữ” dùm cái Hộ Chiếu vài giờ, ban lịnh trục xuất về Úc là vừa” được cả chì lẫn chày”, biết đâu được đài phát thanh phỏng vấn và vài tổ chức nâng cấp là” nhà dân chủ” thì hay quá cở thợ mộc!

Thật là tuyệt chiêu, đáng được gắng thêm danh hiệu” nhà dân chủ”, dám về và cũng dám bị trục xuất lắm đấy! Nhà phê bình văn học nầy có mở trang Web TỀ,VIỆN, à xin lổi, Tiền Vệ, dù chưa phổ thông nhưng cũng được Phượng Hoàng SBS phỏng vấn, giới thiệu và được ngài giáo sư, tiến sĩ, nhà phê bình văn học hồ hởi như Cao Bá Quát” trong thiên hạ có 4 bầu chữ, thì ta đã chiếm hết 3, 999 bầu, còn lại là tải rác phân phối cho thiên hạ”. Theo lời phát biểu trên đài, khiến thính giả có cảm tưởng trang Web Tiền Vệ là nơi qui tụ những” đỉnh cao trí tuệ nòi người” từ trong nước và hải ngoại, nhà phê bình văn học cho biết một cách dứt khoát là: những người viết nổi tiếng, gởi bài chưa chắc đăng; nhưng có những tác giả vô danh, mà bài viết” chất lượng cao” cũng được chiếu cố, quảng bá. Muốn biết những” đỉnh cao trí tuệ văn chương, thơ phú” trong nước, thì nên mở trang Web Tiền Vệ là hy vọng thỏa mãn nhu cầu. Được biết, nhà phê bình văn học cũng có xuất bản và ra mắt tập sách mang tên cũng là” Tiền Vệ” tại Úc Châu….những ai mê văn thơ, hay tìm đọc, mại vô, mại vô….lẹ tay thì còn, mà chậm tay cũng hy vọng chưa hết đấy!

Tạm ngừng nói về thân thế sự nghiệp, chút quá trình hoạt động của nhà phê bình văn học vĩ đại, tài sản hiếm quí vô vàng kính yêu của kho tàng văn hóa, văn minh miệt vườn, nay nói về đỉnh cao thơ con cóc, mà theo nhà phê bình, tiến sĩ, giáo sư Nguyễn Hưng Quốc thì” thơ con cóc hay nhất trong các thứ thơ, từ cổ chí kim”. Nghe qua, có nhiều người muốn” xếp bút nghiên theo nghiệp CẦN CÂU” thà đi câu cá còn có ăn, chớ làm thơ mà thua cả thơ con cóc là coi như” đời tàn thi sỡi”. Rồi cũng có người muốn có nhả ý đem những tập thơ của đại thi hào Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Đình Chiểu….tặng cho chủ nhân” ao cá Bác Hồ” bằng cách gởi về theo đường hàng không” Vietnam Airline”, chớ làm thơ mà không đạt như con cóc là đời ta đã mất hết ý nghĩa” thơ phú từ nay ta chào mi”, rồi phải làm sao in thiệt bự, treo ở phòng khách, phòng ngủ, nhà tắm, nhà cầu….bài thơ con cóc, là” cơ sở” văn học, đáng cho con cháu ta đời đời học hỏi mà hổng sợ bị” mất gốc”, trở thành vong bản, vong thân, vong…mạng:

” Con cóc trong hang.
Con cóc nhảy ra.
Con cóc ngồi đó.
Con Cóc nhảy đi”

Nội bao nhiêu đó cũng đã chứa cả” càn khôn vũ trụ”, với gia tài văn học NHỚN, vĩ đại như” gia tài của Mẹ” của thiếu tá quân đội NHĂN RĂNG” ung hành” Trịnh Công Queo. Bài thơ con cóc thật là tuyệt vời, cũng dám được giới binh dân học vụ phổ nhạc, trở thành loại nhạc đi” sát đáy…quần chúng” là nguồn gốc” văng quá” ( chớ hổng phải VĂN HÓA) cao khỏi đầu người, như cuốn sách tựa đề là” Về Nguồn” của nhà xuất bản SỰ THẬT Hà Lội phát hành trước 1975 ở miền Bắc, thiên đàng của văn hóa lừa đảo, văn chương lếu láo nhất thế kỷ:

” Con gì kia, nó ngồi, ngồi trong hang.
Nó đưa cái lưng ra ngoài, đó là con cóc.
Con cóc nó ngồi chông ngóc, nó đưa cái lưng ra ngoài.
Đó là cóc con”.

Thơ con cóc quả là tuyệt vời và có tầm vóc văn học” thế giái, thế háng, thế nách, thế hang Pác Pó”, nên sự khám phá” chất lượng” và đầu tiên từ sau hàng nghìn năm ” văng quá” của văn học” tiếng Việt” do nhà đại phê bình, giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc, quả là công trình to tác, cực kỳ chất lượng như chủ tịch Mặt Giận Dân Tộc” phỏng dái miền nam” Nguyễn Hữu Thọ, cũng được gắng ở đầu hai chữ” luật sư”, nhưng ông nầy đã có sáng kiến và sáng tạo pha trộn luật các nước” tư bản phản động” và thứ” luật rừng” có từ thời Bộ Lạc để biến thành thứ luật” con cóc” sau khi được đảng cử, dân bị bắt phải bầu vào chức vụ” đại biểu quốc hội” sau năm 1975, ông đưa ra một lý luận” con cóc” về luật như sau:” Quốc hội nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là của nhân dân, nên không có ĐỐI LẬP, ai đối lập là chống lại nhân dân”, nghe qua mà điếc cả con rái, giựt cả con mắt hay” són đáy trong quần”, thế mà được” vổ tay rầm rầm” tán dương, có báo chí trong nước đăng ca tụng, cũng phù hạp với tư tưởng Hồ Chí Minh thôi. Theo tin tức khí tượng cho tàu chạy ven biển hay ngày nay là” báo cáo, báo chồn…khí tượng thủy văn” cho hay là: chủ tịt Mặt Trợn Phản Dân Tộc, Phỏng Dái miền Nam, NỤC SƯ Nguyễn Hữu Thọ, người theo gương chủ tịch Hồ Chí Minh dạy đĩ:” sống địt bậy, đéo bạ, theo gương Bác Hồ”, nên Nguyễn Hữu Thọ nghe đâu cũng đã cùng với Trần Bạch Đằng giải phóng tiếp bà Quyên, là vợ của tên khủng bố Nguyễn Văn Trổi, mới cưới 1 tháng mà đã về chầu” Mác- Lê” quá sớm, bà nầy tưởng các” đồng chí” của chồng minh là tốt, nên bị dụ đưa vào bưng và đã được” giáo dục” từ miền Nam ra Bắc, qua tay cả Hồ Chủ Tịch, cho đi sang tận Cu Ba ” học tập” với đồng chí Fidel Castro thêm 5 tháng nữa, mới trở về nước thành” hộ lý”. Nghe đâu Nguyễn Hữu Thọ có tới 6 bà vợ như ai, con cái thì khó” kiểm kê” vì ông ta chưa tiện” đăng ký” với toàn dân, đó là quá trình” giải phóng” của Nục Sư Thọ (thời quốc gia, chưa vô bưng, Nguyễn Hữu Thọ từng bị ra trước vành móng ngựa về tội hiếp dâm), cũng là truyền thống làm KÁCH MẠNG của chủ địt Hồ Chí Manh và đồng đảng vậy.

Thơ con cóc, là loại thứ” cao cấp đấy”, tác giả vô danh, nhưng nhờ nhà phê bình văn học, giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc” phát hiện” ra cái” chất lượng” cao cấp của nền thơ mang tính cách văn học; đi” sát đáy quần….chúng” từ giới” quần hồng đến quần tà lỏn”, là một kỳ công, nên có lần ” qui mã” dự đại hội văn hóa, văn gừng, văn tỏi, văn hành, văn giềng, nghe đâu là được tổ chức tại hội trường của Nhật Báo Người Việt ở thủ đô người Việt tỵ nạn; có sư tham dự cua cả những nhà văn, thơ lừng danh như Viễn-Phó, Nguyễn Mạt-Giống…nhà đại phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc đã lên” phát biểu” trước cử tọa, nếu có đi tập ở các Gym thì cũng là CỬ TẠ để phòng bịnh tim mạch, máu mở….có phát thanh thu âm và được phát lại trên đài phát thanh SBS nữa.

Nghe nói là bài thơ con cóc được nhà phê bình viết thành sách, Vân vân và vân vân…. được biết nhà phê bình văn học lừng danh thế giới trong các cộng đồng người Việt tỵ nạn nầy từng là người giới thiệu và phê bình một nhà văn nữa, cũng nhiều lần về Việt Nam du lịch, sau đó viết bài, được đài phát thanh SBS ở Melbourne đọc, ông nhà văn” chất lượng” nầy, là người có lời phê bình:” những người chống Cộng quyết tâm” là:” bọn chống Cộng lưu manh”, sau khi những ” nhà văn, nhà báo đời đón gió, gián điệp” có nhả ý chụp mũ những người có tấm lòng, quyết tâm diệt Cộng cứu nguy cho sơn hà là” Chống Cộng CỰC ĐOAN, QUÁ KHÍCH”, nếu ở trong nước thì được gọi là PHẢN ĐỘNG. Nhà văn nầy, đã từng được nhà phê bình văn học, giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc nhiệt liệt khen trong một quyển sách tựa đề” ba mươi năm văn hóa nghệ thuật Úc Châu, đánh dấu 30 năm văn hóa, của tác giả Ngô Lâm” là:” ngòi bút thông minh. Hơn nữa, thông minh một cách tinh quái….”. Được biết nhà văn được” nâng cấp nầy” bị nhiều người đăng báo Saigon Times để” giáo dục” đương sự, hổng biết là nhà văn thứ thiệt hay thứ dỏm, nghi ngờ là hạt giống đỏ lắm cơ?.( trên take 2 tango cũng có nhiều người nhắc nhở đến nhà văn mà có câu đầu tranh luận là:” bọn chống Cộng lưu manh”)

Tuy nhiên, cuộc hội thảo văn hóa, văn chương có lần tập hợp tại đất Mỹ nầy, được giới thiệu trên đài phát thanh SBS, dường như nằm trong phạm vi của những” chàng trai đất Ngũ Phụng” như những nhà văn, thơ, phê bình nêu trên được tập hợp nhau để” phê bình và tự phê, rút tỉa cái tinh hoa văn học” mà hổng ai hay biết gì cả, rồi nhờ có đài phát thanh phổ biến mà nổ lớn, thành ra là” đại hội văn học mang phạm vi thế giái” nhưng với cử tọa” khiêm nhường” mà họ có thể cho là” thành phần tham dự chọn lọc” để quan trọng hóa toàn là” đỉnh cao trí tuệ văn hóa”; cho nên người ta cũng nhiều lần” giựt con mắt” khi nghe những nhà đại văn thơ, phê bình, phê phán, phê và tự phê thơ…nhóm hợp, có đài phát thanh” lăng xê” qua thâu âm, cũng thấy tầm vóc như Hồ Chí Minh viết hai quyển sách: vừa đi vừa kể chuyện lấy bút hiệu Tuyết Lan và Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, lấy tên là Trần Dân Tiên. Được biết, câu chuyện về” đất ngũ phụng” cũng phê và” nhiêu khê” lắm, số là năm Mậu Tuất 1898, nhằm lúc Thành Thái thứ 10, kinh đô Huế có mở khoa thi Hội, sau khi chấm, thì các giám khảo nhận thấy người đủ điểm quá ít so với” chỉ tiêu” của triều đình, ngoại trừ chỉ có một người là Nguyễn Tự Như là đủ điểm. Do đó, các giám khảo bèn làm tớ sớ tấu lên vua, xin ban ân huệ” VỚT” thêm người dưới điểm với 8 thí sinh đổ tiến sĩ và 9 đổ phó bản. Tổng cộng 17 ông đậu vớt có tới 5 người đất Quảng Nam, gọi là” chàng trai ngũ phụng”. Năm chàng đậu vớt là: Phạm Liệu, Phạm Quang, Phạm Tuấn, đổ tiến sĩ và Ngô Truân, Dương Hiển Tiến, đổ phó bản. Vụ nầy làm hãnh diện nên mới có chuyện nầy. Thật ra thì 5 chàng trai làm vinh danh xóm làng cũng chả đóng góp gì nhiều cho đất nước, nhất là con phụng đầu đàn Phạm Liệt, người có công mật báo với Pháp về cuộc khởi binh của Quang Phục Hội do Vua Duy Tân lãnh đạo, nên hai nhà ái quốc Thái Phiên và Trần Cao Vân bị chém đầu, vua Duy Tân bị đài ra đảo Réunion.

Thơ con cóc đã chất lượng cao, thì thơ CĂN-CỌT còn vượt chỉ tiêu,và mang tính cách” quần chúng”, đây là lối thơ bàn bạc trong dân gian, có mặt từ lâu trong sinh hoạt nhân loại, đại khái chan chứa trong” hang Pác Pó và Bác Hồ” là hai thứ rất cần thiết để duy trì nói giống, thơ căn-cọt linh động, biến thể và đương nhiên là” đi sát đáy quần chúng, từ quần hồng đến quần tà lỏn” mà trong văn minh Á Đông là” âm-dương” biến hóa khôn lường trong càn khôn, hay là càn ngu vũ trụ, nhờ thơ căn cọt mà nhân loại mới không tuyệt chủng, có sanh mà hổng có diệt, như hai câu:

” Nếu biết rằng em đã có chồng.
Thì thôi, người ấy có buồn không?”

Hoặc linh động như:

” Người ơi, gặp gỡ làm chi?
Trăm năm biết có duyên gì hay không?”

Thơ căn-Cọt được dân miền Bắc sau 1954 động não thành:

” Mỗi năm ba thướt vải thô.
Làm sao che được Bác Hồ em ơi!”.

Hay giới bình dân học vụ, văn chương bến xe đò, tàu thủy, có cả Bến Nhà Rồng, đánh dấu từ thuở Bác ra đi tìm đường bán nước 1911 và cái Bến Thủy nơi gã đánh xe Bù Ệt Lê Duẫn bắt đầu sự nghiệp làm trùm ăn cướp sau nầy.

” Bác Hồ Xử- Lý khi NẮNG CỰC.
Pác Pó động-viên, lúc LỘN LÈO”.

Thơ căn cọt hay mà lại ho nữa và đương nhiên là siêu đẳng hơn cả thơ con cóc, nhưng giáo sư, tiến sĩ, nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc chưa” phát hiện ra” và làm một màng” phân tích, phân ly, phân giải, phân chuồng, phân xanh, phân bò, phân heo, phân ngựa, phân người, phân bèo hoa dâu, phân hữu cơ, phân hóa học….vân vân và vân vân” để đóng góp thêm phần chủ yếu của nền” văn họt HIỆN ĐẠI”, khi làm thơ căn-cọt thì không cần ánh sáng, chắc chắn là không HẠI ĐIỆN phù hạp với phong trào bảo vệ môi sinh, khí thải nhà kín, trái đất giảm bị hâm nóng đấy!.

Thơ Căn-Cọt bao la, rải rác, trải rộng khắp toàn cầu, ngay cả trong việc” tìm về cõi Niết” cũng được coi là nguồn cảm hứng vô biên, mang đầy tính giác ngộ, dác hơi, cạo gió, cắt lễ, châm cứu, bấm huyệt đạo… trong việc tu hành” tu đạo hay đạo tu” của môn Thiền Tiếp Hiện ở Làng-Môn do nhà sáng lập kiêm tối lập vĩ đại chính là Thiền Xu Thích Nhất Vẹm, có công biến” căn- cọt” thành một triết lý hành động trong việc tu hành cho mau đạt tới cõi” non bồng nước nhược” ở ngay chốn thế gian; thiên thai không ở đâu xa, chỉ ở trong căn phòng kín đáo, hổng ai dòm thấy, nhất là kỵ bị” tape” mà mang đi phổ biến trên internet để” hoằng hóa” môn tu nầy khắp thế giới, tu mau kẽo trễ, tu hú, tu chai, tu miệng, tu lưỡi, tu thân, tu thể, tu đủ thứ…. để đường tu mở rộng, cùng nhau” tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên thiên đàng khoái lạc” mà” lòng phơi phới một tương lai” cho mau đắc quả; thiên thai chỉ là cái” tịnh thất” để cho chưởng môn Thích Nhất Vẹm cùng với Thích Nữ” Fleurette” cùng” ngồi thiền” cho nhuyễn” đêm bảy ngày ba, ra vào hổng kể” hầu đạt tới trình độ” tu đạo” với kết quả cho ra” hai quả nghiệp”, đánh dấu sự thành đạt của môn tu học nầy; nói một cách cụ thể là: thiền ông cùng thiền bà ngồi thiền, sau 9 tháng 10 ngày thì có khả năng tạo ra” thiền con” dễ dàng, là đắc quả đó quí vị chán tu ơi!….tức là những người thuộc” đỉnh cao trí tệ tu học” nầy đã nắm vững nguyên tắc của loại thơ” căn-cọt” mà áp dụng thành công, nếu hổng lên được Niết Bàn, thì hy vọng cũng lên tới Niết Ghế” là coi như thành đạt viên mãn cả đạo lẫn đời. Nói cụ thể hơn, đại khái cũng giống thơ con cóc, thơ căn cọt như sau:

” Căn cọt trong háng.
Căn cọt ngõng lên.
Căn cọt nắng cực.
Căn cọt vào hang,
Vào hang pác pó”

Làm thơ căn cọt cũng phải thuộc nhiều bài hát cụ thể như: bác cùng chúng cháu hành quân, tiến quân trên đường dài, nhất là bài”tiếng chày trên sóc Bam Bo” ( với tiếng giã gạo ban đêm với một mãnh tình ra, ta với ta). Hy vọng nhà phê bình văn học tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc sẽ được” gợi ý” về thơ căn cọt. Thơ nầy từng được toàn đảng, bác, ngay cả tay sai áp dụng một cách sáng tạo trong việc mời các tay đực rựa già, tàn tật, hay các tay tú ông ở các nước lân bang: Đài Loan, Nam Hàn, Miên, Trung Cộng…. đến để mang về làm” nô lệ tình dục” qua luật pháp, được các hạt giống đỏ, du học các nước dân chủ mang về, pha trộn, biến thành” luật buôn bán phụ nữ” phù hạp với luật di trú quốc tế, thế mới là” ngày xưa du học, ngày sau buôn người”….Nếu sau nầy, hy vọng nếu có cả đưa con trai của người vợ thứ 5 của Nguyễn Hữu Thọ, nếu là nhà phê bình văn học ngoài nhà phê bình, giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc…vân vân va vân vân…. để nói thêm về thơ căn- cọt là một sự đóng góp rất lớn cho nền văn hóa, văn học ngàn năm may bay.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, miền Nam Việt Nam khắp nơi từ thành thị đến nông thôn tràn ngập những” chiếc nói tai bèo, nón cối, dép râu” với” vai mang túi dết kè kè” và có kèm theo khẩu AK 47, CKC, k 54 (nếu là cán ngố). Với trình độ cao cấp trong hệ văn minh miệt vườn, văn hóa Trường Sơn, nên dân chúng cảm thấy” bức xức” mà làm thành hai câu ca dao:

” Năm đồng đổi lấy năm xu.
Thằng khôn đi học, thằng ngu dạy đời”.

Đó là giai tầng ưu việt, là” đỉnh cao trí tuệ nòi người”, chữ viết, đọc không thông, phần lớn từng tốt nghiệp đại học sơ cấp trường làng, nhưng có tài nói về chính trị, chỉ với chủ nghĩa Marx Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh….và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, thì theo thao bất tuyệt như cái thu âm được vặn lên, phát hoài đến khi” rewind” mà vẫn chưa muốn ngưng:” nói nói, nói dài, nói dai, nói dỡ, nói dối…không ngừng nghỉ”. Những” đỉnh cao” nầy tập hợp dân chúng, trong trại cải tại là quản giáo, dạy cho tất cả người nào bị tập trung để nghe, cử tọa có nhiều thành phần, có bằng tiến sĩ , bác sĩ, kỷ sư, cử nhân, tú tài….thứ thiệt, họ ngồi im lặng để” tiếp thu” những lời vàng ngọc có kèm theo” chất thép” của cán bộ, không ai dám hó hé hay nói khác đi đề tài” bác, đảng”. Cán bộ tha hồ mà” giáo dục” quần chúng bất cứ cái gì mà họ muốn, nếu họ chỉ con nhái mà nói là con ếch, con chuột… cũng được vổ tay tán dương rầm rầm như là chân lý không bao giờ thay đổi, dù cho sông có căn, núi có thể mòn; điển hình về lịch sử oai hùng nước Việt được dạy rằng:” vua Quang Trung đánh với Nguyễn Huệ, hai Bà Trưng thấy vây nhảy ra can, không được, tức quá bèn nhảy xuống sông Hát tự tử”….lối dạy lịch sử nầy cũng như nhà phê bình văn học thời danh hải ngoại cho ” thơ con cóc” là hay nhất, nằm trong chính sách và mục đích:” đưa nền văn học nước Việt tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc vào cái thời kỳ mà nhà truyền giáo Alexander Rhode chưa sang nước ta truyền đạo và sáng tạo ra chữ quốc ngữ”.
Thật vậy, thơ con cóc là thơ” quần chúng” nên người làm thơ chẳng cần phải là người có bằng cấp cao, dốt nát càng tốt, cứ nhìn thấy con cóc tuông cảm hứng là cứ” đặt thơ” là không sai chút nào. Loại thơ nầy cũng được những” đỉnh cao trí tuệ nòi người” tiếp thu, tiếp quản rất lẹ, khỏi cần động não suy tư mà cũng khó quên, hể nhìn thấy con cóc là nhớ cả bài, nên thơ con cóc là thơ hay nhất chớ sao! Tuy nhiên, ở hải ngoại, nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc, dù có bằng tiến sĩ, cái job giáo sư đại học” dạy tiếng Việt cho người nói tiếng Anh”, cho thơ con cóc là hay nhất, cũng như quản giáo cán bộ trong nước dạy” lịch sử” Việt Nam qua câu chuyện điển hình” vua Quang Trung đánh với Nguyễn Huệ” cũng còn phải coi lại. Ở trong hệ thống trại cải tạo, trong nước, cán bộ nói gì cũng hổng ai dám cải, nhưng ở hải ngoại, không phải dựa vào bằng cấp cao, muốn nói gì thì cũng tin, nghe, phục là sai đấy giáo sư ơi!

Như vậy các nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nhà thẩn, nhà lầu, nhà trệt, nhà xe, nhà hàng…..có cùng” nhất trí” với nhà phê bình văn học, tiến sĩ, giáo sư Nguyễn Hưng Quốc:” thơ con cóc là thơ hay nhất” không?. Tuy nhiên,qua sự kiện nhà phê bình văn học muốn” giáo dục” văn học hải ngoại y như lối giáo dục trong nước, các trại cải tạo, cũng nhằm để” cải tạo văn học hải ngoại” sao cho phù hạp với trình độ, nhận thức cao, để cho giai cấp” đỉnh cao trí tuệ nòi người” tiếp thu và phát huy truyền thống văn thơ đại chúng…nói thơ con cóc là hay nhất trong các bài thơ thì quả là dưới mắt nhà phê bình văn học nầy, coi đám” đỉnh cao trí tuệ nòi người” là những nhà thơ, thưởng thức thơ; nhưng dân làm thơ, thưởng thức các loại thơ khác là” nạc hậu, nổi thời, phản động” và hổng có đủ trình độ thưởng thức phải không?.

Một điều ngạc nhiên và” cự kỳ” lý thú là khi nhà phê bình văn học nầy đứng lên phát biểu trước” cử tọa chọn lọc” trong đại hội văn học ở Mỹ trước đây, hay phát hành sách phê bình văn học” từ lâu, mà ai cũng biết đa số là” nhà văn, nhà thơ thứ thiệt” có tai tiếng, có sách xuất bản, vậy mà ai cũng im lặng là vàng và cùng nhau” nhất trí, thơ con cóc là hay nhất” vân vân và vân vân…từ nhiều năm qua, thì quả là nền văn hóa ở hải ngoại đã bị nhà phê bình văn học” cải tạo” thành công vượt bực, thật là tài! Nói một cách cụ thể thì tất cả các nhà văn, thơ, báo, phê bình văn học tiếng Việt hải ngoại đã được giáo sư, tiến sĩ, nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc” dắt tay nhau đi theo tấm bản chỉ đường của thơ con cóc”, thật là lý thú.

Tóm lại, nhờ sự chỉ giáo, chỉ tên, chỉ điểm….mà dân tộc Việt Nam mới biết được thơ con cóc là thơ cao nhất trong tất cả các thứ, THỂ NOẠI THƠ. Sự đóng góp công trình NGHIÊN CỨU nhưng cũng có khi là NGƯU KIẾN của nhà đại bình phê” văng quá” cao nầy là khám phá” cực kỳ nghiêm túc, chất lượng, thời thượng”, là phù hạp với văn minh miệt vườn, văn hóa miệt ao, mương, Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây và nhất là nền văn học” Ao cá Bác Hồ”. Hảy vinh danh người còn Thở, như nhờ khuyến cáo của nhạc sĩ Phạm Dui, hay Phạm Dúi, hay Phạm Dụi…nhưng cũng nên chờ loại thơ căn cọt được đưa lên” bàn mổ văn học” thì mới hào hứng đấy! vân vân và vân cân….Tuy vậy, thì nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc cũng là người có công rất” nhớn” đưa thơ con cóc lên hàng đầu” lãnh đạo” trong lãnh vực thi thơ gì đó; cũng giống như Đảng Cộng Sản đưa đám chăn trâu, du thủ du thực, trôi sông lạc chợ lên làm lãnh đạo từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở tự nhận là” ưu việt” nên tự coi là lãnh đạo cho hơn 83 triệu người. Đây cũng có thể được coi là” cuộc đổi đời văn học hải ngoại” mà nhà phê bình văn học tài ba, giáo sư, tiến sĩ là người tiên phong làm cuộc” cách mạng thi ca”, với” con cóc vùng lên để đổi đời”, hay quá cỡ thợ…” điện”./.

( Người viết bài nầy đếch phải là nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà du lịch, nhà du hý, nhà du dâm như nhiều nhà Du khác về Việt Nam cặp kè ăn nhậu, bắt tay với lũ du đảng, du côn Việt Cộng…..nhưng chắc chắn là nhà binh của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, từng sống ở” NHÀ tù cải tạo”, nên hổng có gì để ngán, hoảng, sợ, kỵ…. nhà phê bình văn học” không người lái, tự biên tự diễn” dành cho vài hàng bình phẩm” vân vân và vân vân”, do đó xin được mạo muội dám cả gan múa rìu qua mắt thợ, làm hàng giả, hàng dỏm trước mặt các hãng xưởng của Trung Cộng ở Hoa Lục, mà viết cái bài nầy, với hy vọng người đọc và cả nhà phê bình văn học sẽ có được một trận cười; dù phải cười ra nước mắt, cười thắt cả ruột, cười tuột cả quần, cười rần cả dái, cười đáy ra quần, cười đần cả mặt, cười cặt dái teo, cười nheo cả mắt….vân vân và vân vân…)./.

Trương Minh Hòa

 

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Tưởng niệm 40 năm Mậu Thân

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 6, 2008

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Yêu nước

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 6, 2008

Yêu nước

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

TÀI LIỆU TÌNH BÁO VỀ VỤ CSVN BÁN NƯỚC

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 6, 2008

TÀI LIỆU TÌNH BÁO VỀ VỤ CSVN BÁN NƯỚC
(Vài sự kiện dẫn đến bán nước của csvn)

Sau vụ CSVN bán nước cho Trung Cộng, theo lời ông Hoàng Minh Chính cho biết thì không ai biết được ai trong bộ chính trị đã ký tên trong vụ bán nước nầy . Bộ chính trị CSVN đã dấu nhẹm chuyện nầy và BÍ MẬT ĐÃ được BẬT MÍ và sau đây là những diễn biến về cuộc BÁN NƯỚC NHƯ SAU:

1) Lê Khả Phiêu bị Trung Quốc gài Mỹ Nhân Kế lấy cô Trương Mỹ Vân (Cheng Mei Wang) lúc Lê Khả Phiêu sang thăm Trung Quốc năm 1988 và sanh được một bé gái. LKP không đem con về vì sợ tai tiếng đưa đến nhiều lần Trung Cộng gửi văn thư đòi lấn vùng biển vào tháng 1 năm 1999. Đồng thời đòi đưa ra ánh sáng vụ nầy nếu LKP không hợp tác. Và buộc Lê Khả Phiêu phải hạ bút ký bản hiến biển ngày 30 tháng 12 năm 1999.

2) Ngày 31 tháng 12 năm 1999 phái đoàn Trung Quốc cầm đầu do ông Tang Jiaxuan và tình báo TQ sang Việt Nam, họ gặp kín ông Lê Khả Phiêu bàn thêm về vấn đề hiến đất .

3) Ngày 25 tháng 2 năm 2000, Lê Khả Phiêu phái Nguyễn Duy Niên sang Trung Quốc, ông Nguyễn Duy Niên cho biết Lê Khả Phiêu đã đồng ý việc hiến thêm đất.

Trung Quốc nghe tin rất hoan hỉ mở tiệc chiêu đãi Nguyễn Duy Niên một cách nồng nhiệt với nhiều Cung Tầng Mỹ Nữ ở nhà khách Diao-yu-tai ăn nhậu cùng ông Ngoại Trưởng Tang Jiaxuan .

4) Bộ Trưởng Trung Quốc Tang Jiaxuan gửi thư kín nhắn tin muốn gặp Bô. Trưởng CSVN tại ThaiLand khi ông viến thăm nước nầy. Ngày 26 tháng 7 năm 2000. Ông Nguyễn Duy Niên đáp chiếc Air Bus bay từ phi trường Nội Bài vào lúc 6 giờ 47 sáng sang ThaiLand gặp Bộ Trưởng Ngoại giao Trung Quốc tại khách sạn Shangri-La Hotel Bankok phía sau phòng Ballroom 2. Cuộc gặp rất ngắn ngủi. Tang giao cho Niên một chồng hồ sơ đòi CSVN hiến thêm đất, biển trong hồ sơ ghi rõ TQ đòi luôn 50/50 lãnh hải vùng Vịnh Bắc Việt, đòi VietNam cắt 24,000 sp Km vùng biển cho TQ. Ngày 28 tháng 7 bộ chính trị nhóm chóp bu họp kín.

5) Sau hai tháng họp kín và bàn bạc. Bộ chính trị CSVN cử Phan Văn Khải qua gặp mặt Lý Bằng. Phan Văn Khải bay chuyến máy bay sớm nhất rời Việt Nam ngày 26 tháng 9 năm 2000 qua Bắc Kinh và được xe Limo chở từ phi trường Bắc Kinh về Quảng Trường Nhân Dân vào trưa hôm đó. Nhìn thấy mặt Khải tỏ vẻ không hài lòng và hoan mang về vụ hiến đất (Điều nầy chứng tỏ Khải không rõ chuyện nầy). Lý Bằng cho Khải biết là hai tay Lê Khả Phiêu và Giang Trạch Dân đã gặp nhau 2 lần cho vụ hiến đất rồi. Lý Bằng ôm chặc PVK và khen DCSVN làm việc rất tốt và ông cho biết là đã có Nông Đức Mạnh (lúc đó là chủ tịch Quốc Hội DCSVN) đã đi đêm sang Trung Quốc vào tháng 4 năm 2000 và Lý Bằng đã gặp lại Nông Đức Mạnh, vào tháng 8 năm 2000 ở New York Hoa Kỳ. Lý Bằng cho biết Nồng Đức Mạnh phải được cử làm Bí Thư DCSVN sau khi Lê Khả Phiêu xuống, nếu không thì sẽ bị Trung Quốc “đòi nợ cũ” . Khải trước khi về vẫn khước từ vụ hiến vùng biển VN và nói với LB là sẽ xem lại sự việc. Lý Bằng nhăn mặt bắt Khải ngồi chờ, vào gọi điện thoại, nói gì trong đó và trở lại nói là Chủ Tịch Giang Trạch Dân muốn gặp Khải tại Zhong-nai-hai và sau đó Khải được đưa đi gặp GTD và cho ông Zhu Rongji hù dọa Khải nói: Trung Quốc đã nắm trong tay Lê Khả Phiêu, Nồng Đức Mạnh …nếu không nghe lời TQ Khải sẽ bị tẩy chay và coi chừng bị “chích thuốc”. Khải cuối đầu và run sợ, sau đó đòi về. Trước khi Khải về, một lần nửa Giang Trạch Dân nhắn Khải gửi lời thăm Lê Khả Phiêu và Nồng Đức Mạnh chứ không nhắc tới tên người khác trong Quốc Hội CSVN. Khải không được khoản đải như một vị quốc khách vì tính tình bướn bỉnh vì không nghe lời đàn anh ………

6) Vào ngày 24 tháng 12 năm 2000 , Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao VN Lê Công Phụng được Trần Đức Lương phái âm thầm đến Trung Quốc gặp ông tình báo của Trung Quốc là ông Hoàng Di, ông nầy là cánh tay phải của Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc. Ông ta nói tiếng Việt rất rành. Hai bên đã gặp nhau ở một địa điểm X gần biên giới Việt, (Tỉnh Móng Cái Việt Nam). Theo bản báo cáo cho bộ chính trị CSVN, ông Lê Công Phụng Cho biết lúc đầu ông Hoàng Di vẫn khăn khăn đòi chia 50/50 với Việt Nam về vùng biển Vịnh Bắc Việt “Beibu Bay” đòi lấy luôn đảo Bạch Long Vĩ sau đó ông Phụng, được bộ chính trị dặn trước là xin lại 6% của Vùng biển gần khu vực Bạch Long Vĩ vì đã được lâu đời là của Việt Nam . Kết Qủa cuộc đi đêm Việt Nam còn lại 56% Vịnh Bắc Việt và mất đi 16,000 sq Km vùng vịnh cho Trung Quốc.

7) Ngày 25 tháng 12 năm 2000, ông Trần Đức Lương rời Hà Nội qua Bắc Kinh gặp Giang Trạch Dân và được đưa về Thành Bắc của Quảng Trường Nhân Dân, theo tài liệu lấy được của tình báo Trung Quốc. Trần Đức Lương và Lê Khả Phiêu chính thức quyết định thông qua bản hiệp ước hiến đất bất chấp lời phản đối của Khải và nhiều người trong quốc hội. Phe thân Nga và Phe Miền Nam đã không đủ sức đấu với Lê Khả Phiêu và Trần Đức Lương. Bản hiến chương hiến đất cho Trung Quốc được chính Giang Trạch Dân và đảng CSTQ trả cho số tiền là 2 tỉ US Dollar được chuyển cho Việt Nam qua hình thức Đầu Tư. DCSTQ chỉ thị cho DCSVN sẽ phải làm gì trong kỳ đại hội đảng thứ 9 vào tháng 3 năm 2001 sắp tới. Trần Đức Lương được khoảng đải ở Thành Bắc QTNN.

8)) Ngày 26 tháng 12 năm 2000 vào lúc 2 giờ trưa, Lý Bằng được cận vệ đưa tới gặp Trần Đức Lương ở Quảng Trường Nhân Dân. Lý Bằng cho Lương biết là số tiền 2 tỉ dollar để mua 16,000 sq km vùng vịnh Beibu của Việt Nam là hợp lý. Trần Đức Lương cám ơn DCSTQ về số tiền nầy. Số tiền 2 tỉ đồng nầy được Lương đem về để làm bớt sự phẩn nộ của Khải, Kiệt và những nhân vật khác trong quốc hội CSVN. Ông Lý Bằng nhắc lại chuyện Trung Quốc đã bán vũ khí và hổ trợ cho đảng CSVN trong thời gian chiến tranh và số nợ trên Trung Quốc dùng để trao đổi mua lại vùng đất Bắc Sapa của Việt Nam, Ải Nam Quan, Bản Dốc, Cao Bằng…. Thêm lần nữa Lý Bằng chỉ gửi lời thăm Lê Khả Phiêu và Nồng Đức Mạnh !. Sau đó Lương được mời lên xe Limo và đưa về Zhong-nan-hai để gặp Zhu Rongji . Zhu Rongji không nói gì khác hơn là nhắc lại số tiền 2 tỉ đồng sẽ được giao cho Việt Nam sau khi Lương trở về nước.

9) Ngày 26 tháng 2 năm 2001 Nguyễn Mạnh Cầm bay sang Trung Quốc để gặp ông Qian Qichen tại đảo Hải Nam. Nguyễn Mạnh Cầm cám ơn Trung Quốc đã mua vùng Vịnh Bắc Việt của Việt Nam (Beibu Bay) với giá 2 tỉ US Dollar.

Yahoo search:
http://www3.fmprc.gov.cn/eng/3808.html

General Secretary Le Kha Phieu Met with Foreign Minister Tang Jiaxuan (31/12/1999)

On December 31, 1999, General Secretary of the Communist Party of Vietnam Le Kha Phieu met with Chinese Foreign Minister Tang Jiaxuan in Hanoi, during which Foreign Minster Tang conveyed the cordial greetings from President Jiang Zemin. He indicated that we had just experienced an important moment in the history of the Sino-Vietnamese relations. The Treaty of Land Border between China and Vietnam had been officially signed at long last after 20-plus years of negotiations. This was a major event that merited celebration in the bilateral relations. He attributed the settlement of land border disputes, first and foremost, to the foresight and able guidance of the leaders of the two countries, the General Secretaries of the Communist Parties of the two countries in particular who pointed out the direction for and gave impetus to the negotiations. Your contributions were irreplaceable. The official signing of the Treaty of Land Border symbolized that we would bring peace, amity and stability along the land border between the two countries into the 21st century. This would not only benefit the two peoples and the coming generations, but also contribute to the advancement of the relations between the two countries and two parties, the bilateral cooperation in all dimensions and peace and stability of the region at large. The achievements of the land border negotiations had been hard-won. This would provide an example for the settlement of the questions left over from history between the two countries. At the same time, it also demonstrated to the world that China and Vietnam were capable of resolving all the outstanding questions left over from history through friendly consultations.

General Secretary Le Kha Phieu said that the signing of the Treaty of Land Border was of great significance to the friendly relations and cooperation of the two countries built on the basis of mutual-trust and was the result of the painstaking efforts of both sides. It marked a step forward in the good-neighborly, friendly relations of solidarity of the two countries and would exert positive impact to peace and stability of the region.

Foreign Minister Tang Jiaxuan said that the relations between the two countries and the two parties were enjoying sound momentum of development. Mutual trust was enhanced and solidarity stepped up through the frequent contacts of state and party leaders, which played a guiding role in the furtherance of the relations between the two countries and two parties. He went on to say that mankind would embark on a new millennium in some 10 hours’ time. We should value all the more the peaceful environment, which did not come easily and treasure the traditional friendship between the two countries, the two parties and the two peoples. We had every confidence that the 21st century would see even better Sino-Vietnamese relations.

General Secretary Le Kha Phieu indicated that one of the highlights of Vietnam-China relations was that the leaders of the two countries reached an agreement on putting a complete end to the past and building a future featuring friendship and mutual trust. It was the consistent policy of Vietnam to develop good-neighborly and friendly cooperation with China. The friendship between Vietnam and China would enjoy further development and would be carried on generation after generation. The spirit of cooperation manifested during the land border negotiations was bound to give impetus to the development of bilateral relations in all the fields. Meanwhile, we would move up the settlement of other outstanding questions left over from history between the two countries by drawing on the experience of this round of negotiations.

The two sides also exchanged views on the current regional and international situations. General Secretary Le Kha Phieu thought highly of the independent foreign policy of peace pursued by China and expressed appreciation to China that attached importance to the development of good-neighborly and friendly relations with its surrounding countries. He maintained that Vietnam was not in favor of a uni-polar world, and the world should be characterized by variety.

General Secretary Le Kha Phieu asked Foreign Minister Tang Jiaxuan to convey his best wishes to General Secretary Jiang Zemin and other Chinese state and party leaders.

Prior to this, Foreign Minister Tang Jiaxuan met with President Tran Duc Luong of Vietnam. Tang conveyed the warm regards from President Jiang Zemin, to which President Tran Duc Luong expressed his gratitude. He also expressed his belief that the Chinese people would achieve greater success in the new century under the leadership of President Jiang Zemin.

Google
http://www.fmprc.gov.cn/eng/wjb/zzjg…631/t15493.htm

MSN.com

http://www3.fmprc.gov.cn/eng/4470.html

http://www.chinaembassy-canada.org/e…631/t15493.htm

http://community.vietfun.com/showthr…75#post2749175

 

http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?p=209651

Posted in TÀI LIỆU TÌNH BÁO VỀ VỤ CSVN BÁN NƯỚC | Tagged: | 2 Comments »