Tudodanchu's Weblog

Freedom, Democracy, Human Rights, No Communism For Vietnam

Archive for Tháng Chín 8th, 2008

Những gì Cộng sản đã làm

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 8, 2008

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Ai chủ mưu phơi thây bác Hồ ngoài Ba Đình?

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 8, 2008

Ai chủ mưu phơi thây bác Hồ ngoài Ba Đình?

(Trích đăng nguyệt San Con Ong Việt số 95 tháng 7, 2008, mục Mỗi Kỳ Một Chuyện Tào Lao của Trần Bì)

Hôm trước đi Việt Nam về, Trần Bì tôi có rất nhiều chuyện để kể ra đây nhưng lu bu quá, bữa nay rãnh rỗi mới đem ra.

Có thể bạn ngạc nhiên khi nghe tôi kể về những bí sử, chỉ được truyền khẩu một cách âm thầm trong giới cán bộ, đảng viên, vì nếu lộ ra, hậu quả không thể lường được. Đã có nhiều đồng chí, đồng rận bị ngộ độc hoặc bị xe tung đến bỏ mạng vì vô ý để cho mấy tên chó săn nghe. Hễ “Cục bảo vệ chính trị” ra tay là rồi đời!

Thực ra, bọn hưu trí già chúng tôi làm sao biết được những chuyện nầy, hơn nữa, bọn tôi, thời chống Mỹ đang nằm ở Trường Sơn đưa lưng lãnh bom B52, đâu đủ tư cách mà biết chuyện gì xảy ra ở Hà Nội. May mắn là sau nầy, nhiều đồng chí có con cái, nhờ lý lịch của bố mà chen lấn được với bọn con ông cháu cha trong trung ương đảng, làm việc trong các cơ quan chóp bu ở Hà Nội, nghe lóm, về kể lại cho bố nghe.

Trước hết là chuyện. Tại sao bác Hồ bị phanh thây, moi óc, móc ruột, rồi đem phơi xác cho bá tánh đến xem?

Ngày xưa, thời phong kiến, tội nặng lắm mới bị phanh thây, bêu đầu trước cửa kinh thành cho bá tánh thấy mà khiếp sợ. Trước hết là tội phiến loạn. Phiến loạn không có nghĩa là làm loạn mà là bị thua trong cuộc tranh giành ngai vàng. Được là vua, thua là giặc. Đã là giặc thì đương nhiên bị bêu đầu, tru di tam tộc. Khoảng thế kỷ 12, Trần Thủ Độ đã tru di nhà Lý, cả mấy trăm mạng người trong hoàng tộc nhà Lý bị chôn sống.

Ngày nay, trong chế độ Cộng Sản Việt Nam, những cuộc tru di thường xuyên diễn ra, tuy âm thầm nhưng rất tàn nhẫn. Khi Lê Duẫn chết, trong đám tang, lũ con cháu, dâu rể của Lê Duẫn đã hỏi cựu bí thư thành ủy Hải Phòng rằng:

– “Bố chúng cháu mất rồi, chúng nó có giết chúng cháu không, bác?”.

Nhờ đồng chí cựu bí thư nầy tiết lộ câu hỏi trên mà lũ con cháu Lê Duẫn chưa bị thanh toán. Nhưng “Hãy đợi đấy!”

Bây giờ qua chuyện bác Hồ.

Nguyên nhân cũng chỉ vì bác quá thâm độc, thấy tên đàn em nào muốn chiếm quyền lãnh đạo của bác là bác cho đi tàu suốt. Hai tay nguy hiểm nhất, cận kề bác nhất là Trường Chinh và Lê Duẫn. Đó là nỗi lo mất ăn mất ngủ của bác. Nhưng bác chả dại mà trực tiếp ra tay, hơn nữa, khi phát hiện những tên đàn em đang âm mưu cướp ngôi thì đã quá trễ, chân tay chúng đầy dẫy chung quanh, đánh hơi, thấy nguy hiểm là chúng ra tay trước. Nhưng nghề của bác là mượn tay người khác thanh toán giùm. Điển hình như vụ tướng Nguyễn Bình thời chống Pháp. Lúc bấy giờ Nguyễn Bình là xếp chúa miền Nam. Nguyễn Bình trực tính, nghĩ gì nói nấy, nên khi biết được Nguyễn Bình có ý muốn tách lực lượng kháng chiến Nam Bộ khỏi sự khống chế của “bọn Bắc Kỳ” thì bác liền dàn dựng một màn thanh toán rất đơn giản. Một lần bác tiếp kiến một tay đầu não tình báo Liên Xô. Bác than phiền là công cuộc kháng chiến chống Pháp đang gặp khó khăn, khó có thể thực hiện được sách lược bành trướng xuống vùng Đông Nam Á của Liên Xô vì gặp phải bọn tiểu tư sản trong lực lượng kháng chiến có đầu óc độc lập dân tộc, điển hình là tướng Nguyễn Bình. Bác cũng tiết lộ là có gọi Nguyễn Bình ra Bắc nhận chỉ thị của trung ương. Rồi làm như vô tình, bác tiết lộ luôn lịch trình và cả lộ trình mà tướng Nguyễn Bình sẽ về Bắc. Đương nhiên tay tình báo nầy hiểu ý bác. Thế là Liên Xô thông báo cho tình báo Pháp. Pháp cho phục kích, và Nguyễn Bình, thay vì ra Bắc lại đi luôn xuống địa ngục sau khi lãnh một băng đạn Thompson.

Lê Duẫn thù bác vì nhiều lần bác gài cho Lê Duẫn sập bẫy công an chính quyền miền Nam, bằng cách, cũng vô tình tiết lộ tông tích của Lê Duẫn. Một lần Lê Duẫn mò về vùng bàn cờ ở Sài Gòn để gọi là công tác, nhưng thực sự là về với mụ vợ bé, cũng là đồng chí đồng rận nằm vùng. Nhờ linh tính, chơi xong, Lê Duẫn vừa mặc quần vừa chạy, chỉ năm phút sau, công an Sài Gòn vây khu bàn cờ, nhưng Lê Duẫn thoát nạn. Lúc đầu Lê Duẫn nghi cho các đồng chí nằm vùng, nghi nhất là con vợ nhỏ, chắc nó theo trai mà quên nhiệm vụ, nhưng sau khi truy tìm thủ phạm, hóa ra, nguồn tin bị tiết lộ là từ cấp cao trong B (mặt trận miền Nam). Từ đó, Lê Duẫn nhiều lần thoát nạn là nhờ biết đề phòng. Đang họp, Lê Duẫn bỏ ra ngoài, chạy một mạch vào rừng với mấy tên cận vệ. Các đồng chí đầu não ngồi họp với Lê Duẫn không hiểu chuyện gì? Thấy thủ trưởng chạy cũng chạy bừa, mỗi đứa một nơi. Một lát sau, bom B52 lặng lẽ từ trên trời rơi xuống, chôn vùi hàng nghìn cán bộ, bộ đội bố trí an ninh chung quanh. Tình báo Mỹ lúc nào cũng chờ sẵn, hễ nghe “đồng chí nội gián” báo là B 52 cất cánh ngay. Lê Duẫn biết mình đã được kêu án tử hình, nhưng chưa biết chủ mưu là ai? Vì sao? Tại sao vừa đến nơi ngồi chưa nóng đít là bị B 52 đến ngay? Lê Duẫn rất cảnh giác, mỗi khi di chuyển đều thông báo theo lối loại suy, nghĩa là, cho (riêng) đồng chí A biết mình sẽ đến điểm X, rồi cho (riêng) đồng chí B biết mình sẽ đến điểm Y… Cứ làm như thế, cho đến khi bị B52 dập ở điểm (đến) nào là biết ngay tên nào đã báo cho địch biết. Thế là Lê Duẫn đem tên nội tuyến nầy ra hỏi tội. Khi biết bác ra lịnh, Lê Duẫn không dám làm lớn chuyện. Lúc bấy giờ Lê Duẫn rất có uy tín trong bộ chính trị, nhưng chưa có vây cánh, vì thế, sau đó hắn mới liên kết với Trường Chinh để sống còn (chứ chưa dám nghĩ đến chuyện trả thù).

Trường hợp Trường Chinh thì quá rõ ràng. Trường Chinh không những là tay uyên bác về chủ nghĩa Mác mà vừa là tay thực hành đường lối, chính sách giỏi hơn bác. Ngay trong giai đoạn chống Pháp 1945 – 1954, Trường Chinh chỉ muốn bác làm bù nhìn thôi, mọi việc phải để cho hắn giải quyết. Bác thất thế, không dám hó hé vì biết không ai tàn nhẫn hơn Trường Chinh, thế nên, bác để tâm đề phòng.

Trong vụ cải cách ruộng đất, bác bắt Trường Chinh phải đem bố mẹ ra đấu tố để làm gương. Đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Trường Chinh hận vì bác muốn cho hắn ta trở thành tên bất hiếu, mất tư cách và sẽ mất uy tín, không còn cách nào ngoi lên mà hất được bác. Trường Chinh ngậm đắng nuốt cay đem bố mẹ ra cho bọn khố rách áo ôm, bọn đầy tớ … xỉ vả, đấu tố, đánh đập, bợp tai, giựt tóc, nhổ nước bọt, đái lên người hai ông bà già (bố mẹ Trường Chinh) rồi tuyên án là địa chủ ác ôn, phải đào tận gốc, trốc tận rễ. Vì là cha mẹ của một bí thư bộ chính trị, nên cuộc đấu tố đã được quay phim, đem chiếu khắp miền Bắc để nhân dân học tập. Tuy sau đó, hết cải cách ruộng đất, cuộn phim bị cấm chiếu, nhưng trong các thư viện các nước xã hội chủ nghĩa anh em, còn lưu giữ đến ngày nay.

Chưa xong đâu. Bác còn chơi Trường Chinh một đòn chí tử nữa. Trong vụ cải cách ruộng đất, gần hai trăm nghìn đồng bào vô tội bị đấu tố đến chết. Oan khiên ngất trời, tiếng kêu than ngày đêm vang lên khắp thôn xóm. Nhân dân quần chúng oán hận đảng ta, chỉ chờ có dịp là đem đảng và bác ra hỏi tội. Chờ cho nhân dân quần chúng sôi sục căm hờn đến cao độ, bác đem Trường Chinh ra làm vật tế thần. Một lần nữa, Trường Chinh phải nhận tội trước nhân dân, trong lúc đó bác khóc lóc, đổ tội cho Trường Chinh là thủ phạm, còn bác vẫn là cha già dân tộc. Bác để bàn tay lên chỗ trái tim “Miền Nam, miền Trung, miền Bắc, miền nào cũng nằm trong tim ta”.

Từ năm 1966, bác đã yếu lắm. Yếu cả thể chất lẫn thần thế. Bác được Trường Chinh và bộ chính trị cho làm bù nhìn. Đúng ra, đây là dịp cho Trường Chinh ra tay, nhưng chiến tranh chống Mỹ còn rất ác liệt nên Trường Chinh chưa vội. “Hãy đợi đấy!”.

Từ khi thất thế, bác Hồ buồn lắm, chỉ cầu cho được chết già, khỏi bị bọn đàn em kể tội rồi đem ra thanh toán. Vì biết thân phận nên bác viết rất nhiều di chúc, chia đều các di chúc cho mấy tên đàn em còn trung thành. Hiện nay, nhiều cán bộ lão thành đang cất giữ di chúc bác, nhưng không dám tiết lộ, sợ mất mạng, chỉ dặn con cháu, khi nào đổi đời hãy công bố.

Theo di chúc, bác muốn được thiêu xác sau khi chết, tro đem rải khắp nơi. Bác biết tội mình đối với đồng bào quá lớn, đã giết hàng mấy trăm nghìn người vô tội trong cải cách ruộng đất, đã phát động chiến tranh xâm lăng miền Nam theo lịnh Nga Tàu, lùa hàng chục triệu thanh thiếu niên vào Trường Sơn cho đế quốc Mỹ rải thảm B52 đốt chết. Bác suy nghĩ, khi chết mà xác không đốt thành tro thì sau nầy nhân dân quần chúng sẽ đem thây ma ra mà kể tội.

Nhưng sự việc không như bác yêu cầu. Trường Chinh đã bàn trước với Lê Duẫn, phải trị tội bác, đúng ra phải làm sao cho bác còn nguyên vẹn để sau nầy, nhân dân quần chúng được chỉ tận mặt (xác thối rửa) bác, hỏi tội bác, hay ít ra, thấy thây bác phơi trước quảng trường Ba Đình ngày nầy qua tháng khác, cũng nguôi ngoai nỗi hận phần nào. Trước hết, theo yêu cầu của Liên Xô, bộ óc của bác được chuyên gia Liên Xô bửa đầu, lấy ra, đem về Mác-cơ-va nghiên cứu, xem sự gian xảo của con người phát triển ở định vị (vị trí) nào trên não bộ. Người bình thường thì không biết được, nhưng người xảo quyệt xuất sắc như bác, bộ phận đó trên não đương nhiên sẽ không bình thường, hoặc lớn hơn hoặc nhỏ lại. Riêng quả tim và bộ lòng (lòng dạ con người bác), Lê Duẫn và Trường Chinh nhất trí là phải mổ bụng, moi ra đem đốt thành tro, vì sợ rủi lây lan đến nhiều người thì thành đại họa cho dân tộc. Toàn dân Việt mà vướng phải vi trùng tàn ác, gian xảo, vô luân của bác thì sẽ không còn là người Việt nữa, nhiễm thứ vi trùng đó thì lúc nào cũng say máu căm hờn, không cần chào cờ đỏ sao vàng, mọi người lúc đó, sẽ vẫn hát suốt ngày “Thề phanh thây uống máu quân thù”, thấy người nào làm ruộng cũng lôi ra đấu tố “đào tận gốc trốc tận rễ”, để gọi là “biến đau thương thành hành động”.

Nhưng ở đời không có gì giữ bí mật được nữa, nhất là khi có người thứ hai cùng tham gia. Mấy đồng chí trung thành với bác, khi biết được ý đồ thâm độc của hai tên đàn em phản trắc nầy, hận lắm nhưng không dám hé răng, vẫn phải đem thây bác ra phơi ngoài Ba Đình. Đến khi hai tên nầy mất hết quyền lực, chúng mới ra lịnh cho cục bảo vệ chính trị ra tay. Trường Chinh bị đập đầu, bể sọ chết, tìm không ra thủ phạm, Lê Duẫn thì “ngộ độc” mà vong mạng, con cháu Lê Duẫn và báo chí được thông báo là bịnh nặng mà chết. Tuy Lê Duẫn đã bị đền tội, nhưng con cháu vẫn sợ, nên hỏi cựu bí thư thành ủy Hải Phòng câu hỏi trên.

Chuyện về cái chết của bác chưa xong đâu. Đàn em, tay chân của Trường Chinh, Lê Duẫn chưa chết hết đâu. Chúng mà vùng lên, thì các đồng chí đảng ta không có đất để chôn. Bởi vậy, đảng ta mới bố trí cả một sư đoàn để “bảo vệ lăng bác”. Đó là trên danh nghĩa thôi, cái lăng chút xíu đâu cần đến cả một sư đoàn, một tiểu đội thôi cũng không có chỗ đứng. Thực chất là bảo vệ bộ chính trị đảng ta, còn sư đoàn “bảo vệ thủ đô”, chỉ có nhiệm vụ bảo vệ vành đai Hà Nội mà thôi, không đồng chí bộ đội nào có quyền mang súng vào thủ đô cả.

Vì giới hạn bài báo, tôi tạm ngưng. Nhưng bây giờ bạn hết thắc mắc tại sao Hà Nội lại có đến hai sư đoàn bảo vệ, nhất là về “sư đoàn bảo vệ lăng bác” rồi, phải không?

Trần Bì

http://www.conongviet.com/

Posted in Ai chủ mưu phơi thây bác Hồ ngoài Ba Đình? | Tagged: , | 2 Comments »

Tại Sao Có Quá Ít Người Dám Đấu Tranh

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 8, 2008

Tại Sao Có Quá Ít Người Dám Đấu Tranh

Nguyễn Chính Kết

Trong chế độ Cộng sản, chẳng có dân chủ cũng chẳng có tự do, người dân bị áp bức đủ điều. Ai cũng biết điều ấy. Mà Việt Nam, trong 4000 năm lịch sử, nổi tiếng là một dân tộc bất khuất: tuy nhỏ bé, bị Trung Hoa xâm lược, đô hộ, tìm cách đồng hóa cả ngàn năm, bị Pháp cai trị cả trăm năm, nhưng Việt Nam vẫn bảo tồn được nòi giống, văn hóa cá biệt của mình. Vì thế, nhiều người nghĩ rằng, trong hoàn cảnh bị Cộng sản áp bức hiện nay, ắt hẳn phải có rất nhiều người đứng lên tranh đấu chống lại cơ chế áp bức ấy. Theo lý luận tự nhiên, kết luận như vậy thật hết sức lôgích! Nhưng trong thực tế, số người tranh đấu chống lại áp bức quả hết sức ít ỏi. Tại sao? Đó là một thắc mắc chính đáng mà không ít người chỉ nêu lên, nhưng chưa có câu trả lời tương đối đầy đủ, tạm thỏa mãn.

Thật vậy, gần 50 năm kể từ 1954 đến nay ở miền Bắc, và suốt 30 năm kể từ 1975 đến nay tại miền Nam, dù sống dưới ách chuyên chế vô cùng khắc nghiệt của Cộng sản, số người trong nước dám lên tiếng tranh đấu cho tự do dân chủ quả quá ít so với 80 triệu dân đang sống trên mảnh đất chữ S này. Phản ứng của người dân trước cuộc đấu tranh quyết liệt cho tự do tôn giáo do linh mục Nguyễn Văn Lý khởi xướng là một trắc nghiệm thật hùng hồn về tình trạng “không dám” ấy của đại đa số người dân trong nước.

Phải nói rằng từ khi Việt Nam có chế độ Cộng sản đến nay, chưa có ai dám lên tiếng cách mạnh mẽ và được cả một cộng đồng Việt Nam hải ngoại – khoảng 3 triệu người – ủng hộ hết mình và “rầm rộ“ như linh mục Nguyễn Văn Lý. Đây quả là một cơ hội vô cùng hiếm có để người dân trong nước có thể ủng hộ cuộc đấu tranh cho quyền tự do và quyền làm chủ đất nước của mình hầu tạo nên một áp lực mạnh mẽ và hữu hiệu buộc chế độ Cộng sản phải thay đổi chính sách, đặc biệt chính sách đối với các tôn giáo. Thế nhưng số giám mục, linh mục hoặc tín hữu trong nước dám công khai lên tiếng ủng hộ cuộc tranh đấu ấy để bênh vực một quyền lợi hết sức chính đáng của mình chỉ đếm được trên đầu ngón tay. So với 6 triệu người Công giáo, con số ấy quả ít ỏi đến mức đáng ngạc nhiên [1].

Số người tranh đấu cho tự do tôn giáo ở trong nước chỉ được khoảng 20 người [2]. Cứ cho người có tôn giáo chiếm khoảng 2/3 dân Việt thì số tín đồ phải là 50 triệu. 20 người so với 50 triệu tín đồ quả là quá ít [3]. Số người lên tiếng tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền ở trong nước mà quốc tế biết đến trong 30 năm qua, kể từ 1975, chưa đầy 50 người [4]. So với 80 triệu dân, thì con số trên quá nhỏ nhoi: phải hơn một triệu người mới có được một người dám công khai lên tiếng [5], dù chỉ là lên tiếng một cách ôn hòa, hợp pháp chứ chưa nói tới chuyện làm gì hơn thế nữa.

Đó là một thực tế rõ rệt mà ai – nếu được hoàn toàn tự do phán đoán theo lương tri – cũng đều công nhận. Như vậy, phải chăng dân Việt ngày nay không còn dũng khí, không còn anh hùng như cha ông ta ngày xưa nữa? Thời Pháp thuộc cách đây chưa đầy 100 năm, dân chúng đâu đến nỗi bị cai trị cách hà khắc và độc đoán như trong chế độ Cộng sản, thế mà có biết bao người dám đứng lên mộ quân, khởi nghĩa, chứ không chỉ lên tiếng phản đối hay đấu tranh cách ôn hòa. Chẳng lẽ dân Việt ngày nay – thời đại internet, là thời mà người dân có thể cứ ngồi trước máy vi tính ngay trong nhà mình cũng có thể lên tiếng tranh đấu – không còn có những con người anh hùng, đầy dũng khí như Đề Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, v.v… nữa sao ?

Là một người ở trong nước có phần nào góp phần vào việc tranh đấu cho tự do tôn giáo, tôi hiểu được và rất thông cảm với sự im lặng của hầu hết người dân trong nước nói chung, và các nhà trí thức trong nước nói riêng. Quả thực, ngày nay, người dân trong nước muốn lên tiếng thì phải đắn đo hơn xưa rất nhiều. Người Cộng sản có thể dở hay hèn kém về nhiều mặt, nhưng phải công nhận họ rất khôn ngoan và vô cùng hữu hiệu trong việc ngăn cấm người dân tranh đấu, nhất là cản trở người dân liên kết lại với nhau để chống lại họ. Mọi mầm mống hay âm mưu chống lại họ đều khó có thể hình thành, và nếu hình thành được thì rất dễ dàng bị đập vỡ ngay từ trong trứng nước. Họ làm được điều này hữu hiệu hơn tất cả những chế độ quân chủ hay dân chủ trước đó, không phải vì họ tài giỏi hơn cho bằng họ vô đạo đức hơn, quỷ quyệt hơn, độc ác hơn. Chủ trương vô thần của họ phần nào là nguyên nhân của tính vô đạo đức này [6].

Sau 1975, nhất là từ khi Việt Nam cần bang giao với các nước, việc bắt bỏ tù và âm thầm thủ tiêu những người tranh đấu không còn thực hiện được dễ dàng như trước, vì họ bị đòi hỏi phải làm theo luật pháp, của chính họ cũng như của quốc tế. Vì thế, để làm cho các tiếng nói tranh đấu trong nước phải im tiếng, chính quyền đã sử dụng những biện pháp mềm dẻo hơn, ít mang tiếng hơn, nhưng không phải là kém phần hữu hiệu. Sau đây là một số phương pháp họ đã dùng với mục đích trên.

1. Bao vây kinh tế, sách nhiễu, đe dọa
Điều đáng sợ khiến nhiều người dù uất ức, muốn phản kháng tới đâu cũng phải im lặng, đó là sự bao vây kinh tế của nhà nước đối với những người tranh đấu. Để tranh đấu cho quê hương đất nước, những người yêu nước có thể chấp nhận bị phiền nhiễu, phải vào tù, bị tra tấn, thậm chí chết, mặc dù họ cũng như mọi người, rất sợ những thứ ấy. Thắng được nỗi sợ ấy là việc mà một số người – tuy không nhiều, nhưng không đến nỗi quá ít – có thể làm được. Tuy nhiên có một điều thật đáng sợ, làm người ta ngần ngại hơn nhiều, đó là sợ làm liên lụy đến người khác. Thật vậy, người ta không sợ chết, sợ tù cho bằng sợ việc tranh đấu của mình làm cho nhiều người bị liên lụy, khổ sở: trong đó có vợ con, cha mẹ, anh em, bạn bè, hay cộng đoàn mà mình đang có trách nhiệm.

Xin đan cử trường hợp mới đây nhất là trường hợp của anh Phương Nam Đỗ Nam Hải. Khi còn du học ở Úc, anh đã viết 5 bài nhận định, phân tích, phê bình về chính sách cai trị của đảng Cộng sản hiện nay tại Việt Nam, đồng thời đề nghị hay vạch ra một phương hướng tốt đẹp hơn cho đất nước. Khi về nước đầu năm 2002, anh bắt đầu phổ biến rộng rãi những bài viết của anh trên Internet. Đến tháng 8-2004, anh bắt đầu bị công an mời đi làm việc hàng chục lần tại nhiều nơi khác nhau, có những lần bị giữ lại hơn hai ngày. Và đầu tháng 2-2005, anh đã bị mất việc anh đang làm để sinh sống tại ngân hàng. Tôi có dịp tiếp xúc với anh Hải nhiều lần, anh cho biết: Khi sách nhiễu nhiều lần và đủ kiểu như thế, điều chính quyền nhắm không phải là làm lung lạc tinh thần anh, vì họ biết họ làm không nổi, mà nhắm làm lung lạc tinh thần gia đình anh. Họ hy vọng những người trong gia đình anh – vốn không vững tinh thần như anh – bị căng thẳng và chịu không nổi những sách nhiễu ấy, sẽ tác động đến anh khiến anh phải im tiếng.

Tôi cũng xin kể trường hợp của tôi. Khi bắt đầu lên tiếng cho tự do tôn giáo vào đầu năm 2001, tôi đang làm trưởng một hội đoàn ở Việt Nam, hội Kolping [7]. Vì sợ hội đoàn của tôi bị liên lụy, nên khi vừa bắt đầu lên tiếng, tôi đã tự nguyện từ chức hội trưởng. Ấy thế mà nhiều cộng đoàn nhỏ bé của tôi đã bị khó dễ, nghi ngờ. Một số hội viên bị mất việc làm chỉ vì là hội viên Kolping. Chẳng hạn một hiệu trưởng trường cấp ba ở An Giang bị giáng chức xuống làm giáo viên thường, một nhân viên của trường ấy bị đuổi việc. Đương nhiên khi giáng chức hay đuổi việc những người này, chính quyền luôn luôn dựa vào một lý do khác, nếu không có thật thì cũng ngụy tạo ra, để có cớ mà đuổi. Một số cộng đoàn Kolping ở tỉnh này tỉnh nọ phải làm việc với công an và bị theo dõi vì bị nghi ngờ…

Riêng tôi thì bị bao vây kinh tế và bị sách nhiễu nhiều lần. Tôi sống và nuôi gia đình được là nhờ dạy học và dịch sách. Lúc đó tôi đang dạy triết học cho 5,6 nhà dòng ở Sàigòn và dịch các sách về tôn giáo (thần học, tu đức). Sau khi lên tiếng cho tự do tôn giáo thì tất cả các nhà dòng tôi đang dạy đều không còn dám nhờ tôi dạy nữa, mặc dù ở một vài nhà dòng có những môn tôi đang dạy chưa xong. Tôi thắc mắc: không hiểu công an có ra lệnh gì cho các nhà dòng đó không ?! Khi công an quận hỏi tôi: có phải anh nhận dịch sách ở tòa Tổng Giám Mục không? Tôi nhận đại cho khỏi lôi thôi. Thế là khoảng 3 tháng sau, anh công an tôn giáo quận đến hỏi tôi: “Anh đâu có nhận dịch ở tòa Tổng Giám Mục, vậy anh nhận dịch ở đâu?“ Lúc đó tôi đang dịch một cuốn sách do một người bạn ở Pháp nhờ dịch, nên tôi trả lời thẳng: “Tôi nhận dịch từ ngoại quốc!“ Điều đó cho thấy công an đã đến tòa Tổng Giám mục hỏi về việc cung cấp bài dịch cho tôi để tôi có việc làm, chắc chắn chỉ với mục đích bao vây kinh tế hầu tôi không còn cách nào để sống. Có lẽ chính quyền nghĩ rằng nếu không còn cách nào để sống, gia đình bị thiếu thốn, đói khổ, con cái không đủ tiền để đi học… thì những người tranh đấu làm sao có thể tiếp tục lên tiếng được ?

Một trí thức nọ rất thân với tôi cũng bức xúc về sự im lặng của mình. Anh rất muốn lên tiếng, nhưng không dám. Anh tâm sự: “Nếu tôi lên tiếng, thì trước hết tôi mất việc làm đã đành, mà mấy con của tôi cũng có thể bị mất việc. Lúc đó làm sao tôi có đủ tiền để nuôi bản thân, nuôi vợ và những đứa con còn nhỏ của tôi? Và những đứa đã có gia đình mà bị mất việc thì tôi làm sao có đủ tiền để nuôi cả mấy gia đình chúng nó nữa?“ Nếu cứ nghĩ thế thì chắc chắn chẳng ai dám lên tiếng tranh đấu. Vì vấn đề không phải chỉ là đau khổ cho riêng bản thân mình, mà còn liên lụy tới bao người thân yêu của mình nữa. Trường hợp của tôi rất may là một vài người bạn đã tìm cách giúp tôi có những tài liệu về kinh tế để dịch thường xuyên với giá rất cao nên tôi và gia đình vẫn tạm sống qua ngày được, nhờ đó tôi mới có thể tiếp tục lên tiếng. Nếu không nhờ sự giúp đỡ ấy, chắc chắn tôi đã phải “tịt ngòi“ từ lâu! Làm sao tôi có đầu óc để viết những bài tranh đấu khi nhìn vợ con mình đói, nheo nhóc, đau khổ? Làm sao tôi có thì giờ để viết bài tranh đấu khi tôi, vì bị mất việc làm, phải dành hết tâm lực và thì giờ để tìm cách nuôi sống gia đình mình trước đã?

Nói tới đây tôi mới thấy chính sách quản lý thật kỹ dạ dày và các nhu cầu thiết yếu nhất của người dân là một chính sách tuy dã man, nhưng rất hiệu nghiệm để dẹp tan tất cả những mầm mống nổi loạn ở trong nước vào những năm đầu tiên sau 1975, hầu ép người dân phải chấp nhận chế độ Cộng sản. Nhà nước quản lý dạ dày và các nhu cầu thiết yếu nhất của người dân bằng hộ khẩu, bằng việc cấp phát các nhu yếu phẩm theo tiêu chuẩn đầu người trong hộ khẩu. Mọi chuyện cho phép hay cấp phát của chính quyền đối với dân chúng đều căn cứ trên hộ khẩu: xin phép chính quyền bất cứ điều gì đều phải trình thẻ chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu. Chính quyền cấp dưới khi đề nghị lên cấp trên giải quyết điều gì cho ai đều phải chứng nhận đương sự có thường trú, tức có hộ khẩu tại địa phương. Không có hộ khẩu thì hầu như tiên thiên không được giải quyết. Vì thế, người dân hoàn toàn bị lệ thuộc mọi mặt vào tờ hộ khẩu của mình.

Sống ở Việt Nam hai thập niên đầu sau 1975 mà không có hộ khẩu thì vô cùng vất vả! Chỉ người dân nào có hộ khẩu mới được mua các nhu yếu phẩm cần thiết cho sự sống bằng giá đặc biệt, phù hợp với mức lương vô cùng thấp của người dân lúc ấy. Có hộ khẩu mới có thể cư ngụ tại địa phương một cách hợp pháp, không bị khó dễ, mới có thể xin việc làm, xin đi học, xin đăng ký hôn nhân, xin di chuyển, xin xây cửa sửa nhà, v.v… Không có hộ khẩu thì dù có ở ngay trong chính ngôi nhà mà mình đã từng ở cách hợp pháp mấy chục năm và dù mình không hề phạm một tội gì, thì cũng là cư trú bất hợp pháp. Cư trú bất hợp pháp thì chẳng hưởng được một quyền lợi nào cả, có muốn tìm việc làm chính thức thì cũng chẳng ai dám nhận. Vì thế, có những người phải chạy chọt để được nhập hộ khẩu với giá cả một cây vàng. Một cây vàng những năm sau 1975 là một giá trị rất lớn: lương của rất nhiều người dân làm việc suốt cả năm cộng lại không được một cây vàng! [8]

Chính sách hộ khẩu nghiệt ngã đến nỗi, nếu không có hộ khẩu, người dân không thể thực hiện các quyền căn bản của mình như: cư trú, làm việc, kết hôn, sở hữu hay mua bán tài sản, v.v… nói chung là mọi thứ cần thiết của cuộc sống. Không có hộ khẩu thì chẳng khác một tội nhân sống ngoài vòng pháp luật, không làm được gì cả. Do đó người dân mà hó hé biểu hiện một chút gì “phản động“ thì không thể sống nổi tại địa phương của mình đã đành, mà đi đâu cũng không sống nổi, vì không có hộ khẩu làm sao kiếm được việc làm mà sống? làm sao mua được gạo và các nhu yếu phẩm khác mà ăn, mà dùng? Và ai dám chứa người bất hợp pháp trong nhà mình?

Nếu có ai “phản động“, chống lại nhà nước, thì người thân của người ấy phải có trách nhiệm “giáo dục“ người ấy, nếu không thì cả người thân ấy cũng sẽ phải chịu một biện pháp chế tài nào đấy! Một bằng chứng cụ thể mới đây là trường hợp ông Huỳnh Hữu Nghĩa, hiệu trưởng một trường tiểu học ở Bạc Liêu, là em ruột của Thượng tọa Thích Thiện Minh [9], một người tranh đấu cho tự do tôn giáo. Ông em của thượng tọa đã nhận được nhiều cú điện thoại hăm dọa sẽ bị đuổi khỏi trường hoặc bị tai nạn xe cộ nếu không khuyên nhủ anh mình chấm dứt việc lên tiếng cho tự do tôn giáo và nhân quyền [10]. Trường hợp này, nếu ông Nghĩa đang chủ yếu sống bằng lương của hiệu trưởng và phải nuôi vợ con chỉ bằng số lương ấy, thì thượng tọa quả là khó xử. Ông Nghĩa có thể chấp nhận bị mất việc vì lý tưởng của anh mình, nhưng còn vợ con ông thì sao? Vợ con ông có chấp nhận cho ông hy sinh sự bình an và no ấm của cả gia đình cho lý tưởng cao cả của người anh ông không? Đối với thượng tọa, nếu vì những hành động yêu nước, yêu tôn giáo của mình mà em mình có thể bị tai nạn, cả gia đình em mình bị thiếu thốn, khốn khổ, thì liệu ông có đủ nhẫn tâm đối với gia đình em mình để tiếp tục những hành động yêu nước ấy không? Thượng tọa có yêu nước, yêu đạo pháp, có dũng cảm đến đâu, gặp trường hợp này thì đành phải chịu thua thôi! Và quả thực, thượng tọa đã phải im tiếng luôn từ lúc ấy đến nay! Phương pháp này quả là hữu hiệu!

2. Đổi chác
Để đạt được sự im lặng hay cộng tác từ một nhân vật nào đó trong Giáo Hội, việc đổi chác quyền lợi cũng là một kế rất hay. Tôi nhượng cho anh cái này, thì đổi lại anh phải nhượng cho tôi cái kia. Tôi cho anh cái này, anh phải cho tôi cái kia. Gặp trường hợp này, một nhà đạo đức nhất vẫn có thể phải chấp nhận sự trao đổi, không phải chỉ để khỏi bị hại hay được lợi cho cá nhân mình, mà còn để cho cả tập thể của mình khỏi bị hại hay được lợi. Chẳng hạn một chủng sinh chỉ cần chấp nhận cho biết một số tin tức nào đó trong Giáo Hội mà một cách chủ quan anh ta cho là vô hại đối với Giáo Hội, thì anh sẽ được chính quyền chấp nhận cho vào chủng viện hay được làm linh mục. Nếu chỉ như thế thì dại gì mà không làm? Vì nếu được làm linh mục thì ngoài việc thăng tiến cá nhân, anh còn có thể làm lợi cho Giáo Hội biết bao nhiêu, cứu được biết bao linh hồn! Chỉ một linh hồn thôi cũng đáng giá gấp bội để có thể bù đắp sự thiệt hại do mình gây ra qua việc cung cấp những thông tin mà anh nghĩ là vô hại kia! Hay một linh mục chấp nhận mất đi một mảnh đất của giáo xứ thì việc xây nhà thờ sẽ được chấp nhận dễ dàng hơn, được mở các lớp giáo lý… Một giám mục cũng có thể chấp nhận cho chủng sinh học lý thuyết Marxism trong chủng viện để việc phong chức hay bổ nhiệm nhân sự trong giáo phận, hay việc xin cho một số linh mục xuất ngoại du học… được chính quyền chấp thuận dễ dàng hơn. Như vậy không chỉ thuận lợi cho mình mà còn vì lợi ích của Giáo Hội và các linh hồn nữa! Nhưng than ôi, một khi đã nhượng bộ trong một trường hợp nhỏ, thì sẽ có nhiều cám dỗ để tiếp tục nhượng bộ những trường hợp lớn hơn. Tương tự như để nuôi một lời nói dối, đôi khi phải tiếp tục nói dối trong nhiều trường hợp khác. Chỉ cần chấp nhận lần đầu tiên đổi chác một cách nhẹ nhàng như thế là có thể bắt đầu đi vào quỹ đạo mà chính quyền mong muốn. Người Pháp có câu: “il n’y a que le premier pas qui coute” (chỉ bước đầu tiên là quan trọng), người Việt cũng thường nói: “đầu xuôi, đuôi lọt” mà!

Chúng ta đừng vội kết án các chủng sinh, linh mục hay giám mục đã chấp nhận những đổi chác như vậy. Tốt nhất hãy tự đặt mình trong hoàn cảnh ấy xem mình sẽ hành động thế nào? Phải thật thánh thiện, phải thật sự khôn ngoan theo cách của Thiên Chúa (chứ không phải cách của người trần), phải dám tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa và phải có thật nhiều ơn Chúa mới có thể giải quyết thật vuông tròn không gì đáng trách trong những trường hợp như thế! Rất tiếc đâu phải ai cũng được như vậy!

3. Phương pháp “cây gậy và củ cà rốt”
“Cây gậy và củ cà rốt” là một phương pháp cổ điển nhưng rất hữu hiệu mà mọi người có thế lực cũng như mọi chính quyền đều dùng để làm chủ tình hình, bắt buộc hay lái mọi người làm theo ý mình. Trong một quốc gia mà luật pháp rõ ràng, thì việc sử dụng phương pháp này sẽ bị hạn chế. Nhưng trong những quốc gia theo luật rừng, theo chế độ “xin-cho“ tùy tiện, thì phương pháp này rất dễ thực hiện và rất hữu hiệu.

Ai cũng sợ khổ, sợ gặp khó khăn, phiền nhiễu, sợ lâm vào thế kẹt, sợ chết, và ai cũng ham lợi, ham sướng, muốn thuận lợi, thích dễ dàng… Phương pháp này triệt để áp dụng định luật tâm lý ấy. Để tránh khổ, tránh phiền phức, để được dễ dàng trong đời sống, rất nhiều trường hợp phải xin phép chính quyền (chẳng hạn xin xây sửa nhà, xin đăng ký kết hôn, xin vào chủng viện, xin xuất ngoại, xin di chuyển…). Ở các quốc gia khác, người dân xin phép chính quyền điều gì, nếu điều đó chính đáng theo luật pháp, thì chính quyền có bổn phận phải cho phép. Nếu không, người dân có quyền kiện cáo chính quyền. Nhưng tại Việt Nam, chính quyền có cho phép hay không, điều đó không hoàn toàn dựa trên luật mà phần nào dựa trên sự tùy hứng và tùy nhiều thứ của người có quyền cho phép. Và sự tùy tiện này là điều kiện rất thuận lợi để kẻ có quyền sử dụng phương pháp “cây gậy và củ cà rốt“: nếu anh cứng đầu không chịu nghe lời tôi, không làm theo ý tôi, thì tôi cũng cứng đầu không chấp thuận điều anh xin. Cùng cứng đầu với nhau xem ai thiệt hơn ai? Đương nhiên là người dân phải chịu thiệt. Nếu không muốn chịu thiệt, thì phải chấp nhận “mềm đầu“ thôi!

Áp dụng trong phạm vi tôn giáo, nếu lãnh đạo tập thể tôn giáo tỏ ra cứng đầu thì cả tập thể sẽ phải chấp nhận sự kìm kẹp chặt chẽ hơn, xin phép gì cũng khó được chấp thuận. Chẳng hạn, nếu các giám mục hay linh mục cứ nhất định giữ vững lập trường của mình, không chịu làm theo đề nghị của nhà nước, hoặc dám lên tiếng về tình trạng thiếu tự do tôn giáo cho dù ôn hòa cách mấy, thì hậu quả sẽ là: các sinh hoạt tôn giáo trong giáo phận hay giáo xứ mình sẽ bị giới hạn lại, mọi chuyện xin phép cho dù chính đáng cũng đều trở nên khó khăn… Cụ thể là Giáo Hội Công giáo, Giáo Hội Tin Lành Việt Nam nhờ các vị lãnh đạo Giáo Hội im lặng dẫu bị đàn áp, dẫu bị tịch thu đất đai tài sản, và chấp nhận dễ dàng một số yêu cầu của chính quyền mà các sinh hoạt tôn giáo bề ngoài (lễ lạy, xây nhà thờ, dạy giáo lý…) hoặc việc xin xuất ngoại, du học được thuận lợi. Còn giáo phái Tin Lành Mennonite và các Hội Thánh Tin Lành Tư Gia [11] hễ bị đàn áp là lên tiếng đấu tranh, là “la lên“ cho cả thế giới biết, nên bị chính quyền gây khó dễ trăm chiều, bị bắt bớ, bị đánh đập… thậm chí bị đe dọa tiêu diệt. Những Hội Thánh này chủ trương thà bị bắt bớ, bị khó dễ chứ không chấp nhận thỏa hiệp [12].

Ta thử đặt mình vào địa vị của các vị lãnh đạo các Giáo Hội mà suy nghĩ xem: nếu mình cứ cứng đầu thì thiệt hại sẽ về ai? Về mình thì không nói làm gì, nhưng con chiên của mình mới bị thiệt hại nhiều, mà thiệt hại về phần hồn mới là khó chấp nhận. Ích lợi hay thiệt hại phần linh hồn là điều mà các giám mục, linh mục, hay các mục sư, truyền đạo vốn đặt rất nặng. Có nhiều Kitô hữu, mục sư, linh mục hay giám mục cho rằng dù chỉ một linh hồn cũng giá trị hơn những miếng đất rộng bao la, hơn những cơ sở vật chất khang trang đầy tiện nghi rất nhiều. Một linh hồn giá trị đến nỗi Đức Giêsu, là Thiên Chúa, đã sẵn sàng chịu bao đau khổ, sẵn sàng đổ máu mình ra đến nỗi chết để cứu chuộc cơ mà! Vì thế, nếu phải chịu đủ mọi khó khăn, thiệt thòi, chịu mất miếng đất này cơ sở nọ mà cứu được dù chỉ một linh hồn thôi thì cũng đã bõ công lắm rồi! Do đó khi cân nhắc lợi hại của việc cứng đầu, các ngài đành phải chấp nhận xuống nước thôi… Quan niệm của nhiều người bên Kitô giáo là như thế! Nên các vị lãnh đạo bên Công giáo hay Tin Lành thường không quá cứng đầu thì cũng dễ hiểu thôi! Đó cũng là lý do để chúng ta thông cảm cho các ngài. Còn quan niệm như thế là đúng hay sai thì đó là suy nghĩ của mỗi người.

Vì thế, xin đừng hiểu lầm, vấn đề không phải là các vị lãnh đạo bên Kitô giáo [13] coi Giáo Hội riêng của mình quan trọng hơn cả tổ quốc. Hoặc coi trọng những điều kiện thuận lợi cho tôn giáo mình hơn cả tình trạng đau khổ và chịu đầy dẫy bất công đàn áp của dân chúng. Vấn đề là các ngài coi giá trị của linh hồn cao hơn, và cao hơn rất nhiều so với những mất mát vật chất, những khó khăn của hoàn cảnh bên ngoài… Chính vì quan niệm như vậy, mà ngày xưa các giáo sĩ thừa sai đã sẵn sàng chấp nhận mọi gian khổ, kể cả hy sinh mạng sống, để đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng… chỉ với mục đích cứu các linh hồn. Vì mọi linh hồn đều là vô giá! Người đứng ngoài lãnh vực đức tin Kitô giáo khó có thể hiểu và chấp nhận được lập trường này của các ngài.

Vì thế, các ngài đã chấp nhận nhiều hy sinh – bị mang tiếng là hèn nhát, là im lặng đồng lõa với Cộng sản, với bất công… – chỉ vì muốn tạo điều kiện thuận lợi cho việc cứu rỗi các linh hồn, là điều quan trọng nhất trong sứ mạng hay bổn phận của các ngài. Sứ mạng hay bổn phận này ngầm đòi hỏi sự phát triển và thăng tiến của Giáo Hội, như đào tạo, phong chức và bổ nhiệm các chức sắc, lập chủng viện và chiêu sinh, cử người du học, xuất ngoại, quan hệ ngoại giao với Giáo Hội toàn cầu, mở các lớp giáo lý, đào tạo giáo dân, xây sửa nhà thờ, v.v… Tất cả những sinh hoạt này ở các nước tự do và dân chủ thì không phải xin phép vì chúng đều thuộc quyền căn bản của con người. Nhưng trong chế độ Cộng sản, muốn làm những việc chính đáng này thì đều phải xin phép và phải chờ chính quyền cho phép mới được làm [14]. Tự do theo nghĩa của Cộng Sản là vậy! [15] Nếu tỏ ra cứng đầu với nhà nước thì tất cả những nhu cầu trên đều bị hạn chế hay gặp khó khăn. Và sự thiệt hại trước mắt là về phía các linh hồn, mà trên nguyên tắc đối với các ngài là sự thiệt hại không gì bù đắp được. Vì thế, việc tỏ ra ngoan ngoãn đối với chính quyền để đỡ bị thiệt hại cho các linh hồn một cách nào đó theo quan niệm của các ngài là một thái độ khôn ngoan.

Tuy nhiên, xét theo khía cạnh khác, thì thái độ ngoan ngoãn, im lặng và có vẻ như thỏa hiệp này là một hình thức đồng lõa, làm mất bản chất ngôn sứ của Giáo Hội. Dần dần Giáo Hội trở thành một công cụ ngoan ngoãn trong tay của nhà nước. Và để có được tình trạng dễ thở phần nào trong Giáo Hội, thì Giáo Hội đã phải đánh mất phần nào bản chất quý giá của mình. Như vậy được cái này thì mất cái kia… Vấn đề là cái nào quan trọng hơn cái nào? Điều này tùy quan điểm của mỗi người. Người ta có thể dựa vào những lý do chính đáng nhất để biện hộ cho hành động của mình.

4. Áp dụng pháp luật cách tùy tiện (để hỗ trợ phương pháp “cây gậy và củ cà rốt”)
Một trong những cách rất hữu hiệu để hỗ trợ phương pháp “cây gậy và củ cà rốt” là dùng sự lỏng lẻo và tùy tiện khi áp dụng pháp luật. Ta thấy những luật lệ về tôn giáo – chẳng hạn pháp lệnh tôn giáo mới ban hành – có những điều khoản thật gắt, thật chặt, khiến người đọc cảm thấy không còn một khoảng trống nào cho tự do nữa. Theo pháp lệnh này, tất cả mọi tập thể tôn giáo đều phải được nhà nước công nhận thì mới hợp pháp và mới được hoạt động. Hầu hết mọi sinh hoạt tôn giáo đều phải xin phép mới trở thành hợp pháp. Nhưng luật lệ gắt gao ấy giống như một cái thòng lọng mà nhà nước có thể tùy nghi thắt chặt hay nới lỏng theo từng đối tượng. Đối với những đoàn thể được nhà nước công nhận, sẵn sàng chấp nhận khuôn phép, thì nhà nước có thể làm ngơ cho những sinh hoạt đáng lẽ phải xin phép mà không xin phép. Nhưng đối với những đoàn thể tôn giáo không được nhà nước công nhận thì mọi sinh hoạt như thế đều có thể bị kết án là vi phạm luật pháp.

Tương tự như có luật quy định rằng mọi công dân khi vắng nhà ban đêm đều phải xin phép chính quyền địa phương. Nhưng trong thực tế, người dân bình thường có thể vắng nhà không xin phép cả tháng cũng không hề gì, chính quyền địa phương có biết cũng làm ngơ. Nhưng một người tranh đấu cho dân chủ bị chính quyền lưu ý theo dõi, chẳng hạn như tôi, dù chỉ vắng nhà một đêm không xin phép mà bị chính quyền phát hiện, thì lập tức sẽ bị xử lý theo pháp luật. Thỉnh thoảng chính quyền vẫn đến nhà tôi ban đêm để kiểm tra hộ khẩu, xem tôi có mặt ở nhà hay không. Nếu vắng nhà không xin phép hay trình báo, chính quyền có thể kết án tôi vi phạm pháp luật một cách hết đường chối cãi. Vì thật sự là có luật như thế đã được ban hành rồi và vẫn còn đang có hiệu lực. Trên nguyên tắc thì đối tượng của luật này là tất cả mọi công dân trong nước, nhưng trong thực tế thì chỉ áp dụng cho những đối tượng đặc biệt mà thôi!

Rất nhiều luật được lập ra nhưng có những người vi phạm thậm chí thường xuyên cũng không sao, nhưng có người vi phạm chỉ một lần mà bị phát hiện thì sẽ bị xử lý nghiêm khắc. Đó cũng là một cách hữu hiệu để hạn chế và gây khó khăn cho những tiếng nói tranh đấu ở trong nước.

5. Gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ nhau
Người ta biết rõ một số trường hợp cụ thể chính quyền đã gài người vào trong một số tập thể nào đó. Thế là trong cả những tập thể khác liền có sự nghi ngờ lẫn nhau, không biết ai là người được chính quyền gài vào tập thể mình.

Một mục sư Tin Lành cho tôi biết: trong một buổi họp chỉ gồm những người đứng đầu hay đại diện các giáo phái Tin Lành để bầu các chức vụ trong hiệp hội các giáo phái, vừa bầu xong thì chỉ mấy phút sau vị mục sư mới đắc cử chủ tịch liền nhận được điện thoại của ban tôn giáo thành phố chúc mừng ông trúng cử. Việc chính quyền biết ngay tức khắc kết quả cuộc bầu cử khiến các mục sư nghi ngờ rằng đã có ít nhất một người trong nhóm làm nội ứng cho họ. Và vị này đã dùng điện thoại di động mở sẵn như một máy ghi âm để truyền thanh trực tiếp buổi bầu cử ấy cho chính quyền. Làm sao biết được ai làm chuyện ấy? Vì thế, trong tập thể lập tức phát sinh tình trạng người này nghi ngờ người kia. Về sau, trong các buổi họp, tất cả các mục sư đều được yêu cầu tắt điện thoại di động và để điện thoại ngay trước mặt. Nhưng biện pháp này chẳng hữu hiệu chút nào, vì nếu ông mục sư “hai mang“ mang hai điện thoại di động đi thì ai mà biết được?

Trong tình trạng nghi ngờ nhau như thế, làm sao các vị lãnh đạo tôn giáo có thể đoàn kết với nhau, có thể hoạch định với nhau một việc gì cần kín đáo để phát triển Giáo Hội được? Biết bao chuyện kín đáo trong nội bộ tôn giáo đã được báo cáo cho công an nhờ những tay “hai mang“ đắc lực này! Chuyện xảy ra trong tập thể này, thì chắc chắn cũng đã, đang và sẽ xảy ra trong các tập thể khác.

Vì thế, chúng ta không nên lấy làm lạ tại sao HĐGMVN nhiều khi không thể thống nhất với nhau một đường lối mạnh mẽ để bảo vệ Giáo Hội và để đối phó với chính sách phá hoại tôn giáo của nhà nước. Tốt nhất hãy thông cảm với các ngài hơn là kết án! Một giám mục nọ muốn biểu lộ sự ủng hộ của ngài đối với việc lên tiếng cho tự do tôn giáo của tôi, cũng phải nói với tôi một cách kín đáo, phải ngó trước ngó sau rồi mới nói, mặc dù cả hai chúng tôi lúc đó đang ở trong sân một chủng viện. Phải chăng các ngài đã từng có những kinh nghiệm chua chát, đau thương về chuyện này?

Chỉ cần biết chắc trong tập thể có một hai người làm nội gián mà không xác định rõ được ai, thì chuyện làm việc chung với nhau liền trở nên rất khó khăn. Nhất là khi cần đi tới những quyết định chung quan trọng mang tính đối phó với nhà nước. Chỉ cần nhà nước biết nội dung quyết định ấy thế nào thì quyết định ấy đã bị vô hiệu hóa rồi, chưa nói đến sẽ có nhiều người bị phiền nhiễu trong quá trình thực hiện quyết định ấy!

Và đương nhiên những ai dám hành xử theo lương tâm đi ngược với chính sách nhà nước sẽ được các tay “hai mang” báo cáo cho công an để họ nắm vững và lên phương sách đối phó. Đương sự có thể sẽ bị cô lập, sách nhiễu hoặc bị gây khó khăn để không làm gì được. Trong một hoàn cảnh khó khăn như thế, nhiều người cho dù thiện chí và can đảm cũng đành phải buông xuôi… vì mọi cố gắng của mình chẳng đi đến đâu, mà chỉ có hại cho bản thân, gia đình và tập thể mình lãnh đạo thôi.

Chỉ người ở trong cuộc mới có thể hiểu hết những khó khăn và hạn chế của mình. Đôi khi đành phải chấp nhận mang tiếng là hèn nhát để tập thể mà mình phụ trách đỡ bị thiệt hại. Chấp nhận mang tiếng xấu như thế quả là một hy sinh to lớn. Nói thế không có nghĩa là tôi muốn loại trừ những trường hợp có những giáo sĩ, giáo dân – thậm chí rất cao cấp hay rất trí thức – vì hèn nhát mà không dám lên tiếng tranh đấu cho Giáo Hội. Hoặc sẵn sàng làm những việc trái ngược với lương tâm, với quyền lợi của Giáo Hội hay quê hương mình, như làm tay sai cho chế độ, chỉ điểm cho công an những người dám tranh đấu bảo vệ Giáo Hội, chống áp bức bất công, hoặc dám chống lại chính sách đàn áp tôn giáo của nhà nước… Điều này đã từng xảy ra không ít trong các nước Cộng sản ở Đông Âu, Trung Hoa, như đã từng được mô tả trong những tác phẩm viết về tình trạng các tôn giáo bị đàn áp trong chế độ Cộng sản [16].

6. Gài bẫy
Một trong những phương cách rất hữu hiệu để những nhân vật có uy thế phải im lặng hoặc trở thành tay sai cho chế độ, đó là gài bẫy để họ phạm phải một lầm lỗi nào đó. Dễ dàng nhất là sử dụng mỹ nhân kế.

Đây là một kế tuyệt vời, rất hữu hiệu, có khả năng làm tê liệt tức khắc những tiếng nói oanh liệt trong Giáo Hội. Vì bất cứ ai đang có uy tín trong Giáo Hội mà vướng phải những lầm lỗi liên quan đến phụ nữ, đến điều răn thứ sáu [17], không ít thì nhiều, đều bị mất uy tín, không chỉ với giáo quyền, mà còn với dân chúng nữa. Giáo dân Công giáo thường có quan niệm rất khắt khe về vấn đề này, khiến cho người lỡ phạm lỗi phải cố gắng che dấu lầm lỡ của mình. Và để che dấu, người ta có thể chấp nhận dễ dàng những điều kiện mà kẻ gài bẫy đưa ra như một lối thoát.

Kế này cũng rất dễ thành công, vì nó đánh vào một điểm rất yếu của con người, cũng là một nhu cầu tự nhiên và rất lớn thuộc bản năng con người. Nhất là khi con người đã ở trong một tình trạng ít nhiều mất sáng suốt, kém tự chủ, chẳng hạn trường hợp uống rượu say, hay dùng phải một chất kích thích hoặc một loại thuốc kích dục được pha trộn trong thức ăn đồ uống… Trong tình trạng mất sáng suốt, lại ở một nơi có vẻ kín đáo, bảo đảm không ai thấy, một người nam bị cám dỗ bởi một người nữ vừa đẹp lại vừa khêu gợi, nếu không thuộc loại bản lãnh siêu cường thì hầu như chắc chắn phải sa ngã. Và trong một cuộc gài bẫy, những hành động của người ấy ắt nhiên được ghi lại cách nào đó để làm bằng chứng tội phạm.

Để những bằng chứng này được giữ kín, nạn nhân sẽ phải chấp nhận một số điều kiện nào đó mà người gài bẫy đưa ra. Chẳng hạn im lặng không lên tiếng, hoặc có một thái độ chấp nhận dễ dàng hơn những đề nghị của chính quyền, hoặc chấp nhận làm một công tác nào đó. Người Việt Nam có tính “sĩ diện”, coi danh dự của mình là quan trọng, nên nếu không có lương tâm ngay thẳng và mạnh mẽ, sẽ rất dễ chấp nhận những điều kiện mà chính quyền đưa ra, để những lầm lỡ của mình được ém nhẹm. Tôi rất phục linh mục Nguyễn Văn Lý trong việc phá được kế này, không để cho việc lầm lỡ của mình (có thể do bị gài bẫy) và việc bảo vệ uy tín của mình về chuyện này khiến mình phải câm lặng trước những bất công sai trái của chế độ. Bất chấp bị đưa ra trước công luận lầm lỡ của mình, linh mục vẫn lên tiếng một cách mạnh mẽ.

Một nhà tranh đấu nọ cho tôi biết là ông rất lấy làm lạ khi thấy người bạn cùng tranh đấu với ông trong một vụ nọ, đã tự nhiên thay đổi lập trường, trở nên dễ bảo hơn, dễ chấp nhận những yêu cầu của chính quyền hơn, sau khi ông chấp nhận lời mời đi ăn uống với các nhân viên chính quyền. Ông nghi ngờ người bạn này đã bị gài bẫy mỹ nhân kế kết hợp với việc sử dụng chất kích dục, vì quả khó mà nghĩ ra một cách nào khác giải thích sự thay đổi đột ngột ấy. Con người vốn bị cám dỗ nặng nề về tính dục, nếu để tự nhiên thì chỉ khi có điều kiện thuận tiện mới sa ngã. Nhưng nếu bị chất kích dục kích thích, thì tùy theo nồng độ, con người có thể đi đến những hành động sàm sỡ công khai ngay trước mặt mọi người.

Đây là một kế rất hữu hiệu và tương đối dễ thực hiện. Hầu như chính quyền nào cũng áp dụng kế này, nhưng nhất là chính quyền Cộng sản, vốn không từ một mưu kế nào để thực hiện điều mình muốn, nên việc sử dụng kế hữu hiệu này là chuyện khó tránh khỏi. Các chính quyền khác phải e dè những nguyên tắc đạo đức, phải sợ dư luận của quần chúng hay của phe đối lập, còn những chính quyền vô thần, độc tài độc đảng thì đâu có những ngăn trở như vậy mà phải sợ.

7. Cho phép lạm quyền, vi phạm luật… để có thể sai khiến
Để có thể khống chế và sai xử dễ dàng những cán bộ thuộc quyền, nhà nước có thể làm ngơ cho những sai phạm hay vi phạm pháp luật của họ, nhưng ghi nhớ và lưu trữ bằng chứng. Chẳng hạn hiện nay, biết bao quan chức trong nước làm văn bằng giả mạo (từ tiểu học cho đến tiến sĩ), hối lộ tham ô, chiếm đất đai của dân chúng cách bất công, hoặc hiếp dâm phụ nữ… Chính quyền dù có biết rất rõ cũng vẫn làm ngơ, dung túng để họ trung thành với mình. Nếu cần sai xử những cán bộ này thực hiện điều gì mà họ không chịu làm, hay khi họ lên tiếng tranh đấu mà muốn bắt họ im lặng, thì nhà nước có thể dùng những bằng chứng vi phạm pháp luật này để đe dọa truy tố. Hoặc họ có thể bị biến thành những “con dê tế thần“ hầu xoa dịu sự phẫn nộ của dân chúng khi bị dân chúng kêu ca quá đáng. Vì thế, muốn được yên thân thì những kẻ đã phạm lỗi này phải biết điều, phải làm theo lệnh trên, hoặc phải im lặng… Vì thế, những cán bộ đã từng vi phạm pháp luật, đã tham ô, đã nhận hối lộ, đã xài bằng giả, v.v… dẫu có giác ngộ con đường dân chủ, dẫu có muốn đứng về phía dân chúng, thì cũng không dám lên tiếng, vì “há miệng mắc quai”.

8. Nắm cho được người đầu. Đập giập đầu rắn
Một trong những chính sách đối với tôn giáo của nhà nước Việt Nam là: làm sao nắm được người lãnh đạo tập thể. Một khi đã nắm được người lãnh đạo của một tôn giáo, một đoàn thể, một giáo phận, một giáo xứ… thì kể như là nắm được toàn thể tập thể đó. Sở dĩ như vậy là vì nói chung, người Việt Nam vẫn có truyền thống tôn sư trọng đạo, luôn luôn kính nể và tuân phục người lãnh đạo mình, khi người lãnh đạo còn tỏ ra ít nhiều xứng đáng, thậm chí không còn xứng đáng nữa… Tính chất này còn rõ rệt hơn nơi các tín đồ tôn giáo, nhất là các tín hữu Công giáo. Các tín hữu Công giáo thường coi các linh mục, giám mục như những vị đại diện cho Thiên Chúa ở trần gian. Vì thế, họ sẵn sàng nghe theo lời chủ chăn, cho dù lời của chủ chăn ngược với ý họ, hay họ thấy chủ chăn không được đúng hay hợp lý cho lắm. Số người chủ trương “vâng lời tối mặt” cũng còn chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong các cộng đồng Công giáo. Vì thế, nhà nước Cộng sản luôn luôn quan tâm tới việc làm sao nắm được người lãnh đạo các tập thể trong Giáo Hội, mà quan trọng nhất là các giám mục.

Một linh mục nọ kể lại cho tôi lời của một anh công an nói với ông: “Trong một giáo phận, chúng tôi chỉ cần nắm được giám mục giáo phận ấy là kể như giáo phận ấy không còn vấn đề gì đáng ngại nữa“. Tôi nghĩ anh công an ấy đã rất thành thực khi nói câu ấy. Vì thế, một trong những nỗ lực rất lớn của chính quyền là chi phối các giám mục để có thể điều khiển được cả giáo phận. Nếu những nỗ lực đó thành công, lúc ấy nhà nước nói thì giám mục nghe, giám mục nói thì linh mục nghe, và linh mục nói thì giáo dân nghe, thế là cả giáo phận đều làm theo ý nhà nước. Đương nhiên không dễ gì mà làm cho một giám mục nghe theo ý nhà nước hoàn toàn, nhưng nghe được nhiều chừng nào thì tốt chừng nấy. Tuy nhiên cũng có những chủ chăn “yếu bóng vía”, hay “sợ bóng sợ gió”, chưa dọa đã sợ, hoặc có một lỗi nặng nào đó muốn che dấu mà nhà nước biết được. Những vị này nhà nước nắm đầu thật dễ dàng.

Đó chính là lý do tại sao nhà nước lại nhất định phải can thiệp vào việc bổ nhiệm giám mục, bề trên các chủng viện hay tu viện. Họ dành quyền “phủ quyết“ trong lãnh vực này. Dù Tòa Thánh có bổ nhiệm một người tài đức cách mấy làm giám mục, nếu chính quyền thấy vị này thuộc loại cứng đầu, không dễ gì nắm đầu được, thì vị này khó mà được họ chấp nhận. Họ chỉ chấp nhận những người nào mà họ hy vọng có thể “nắm” được, ít nhất là một phần nào. Để “nắm” được những người lãnh đạo này, chính quyền có thể dùng những phương cách đã kể trên: từ bao vây kinh tế, sách nhiễu, đe dọa, đến đổi chác, gài bẫy, v.v… Và chúng ta cũng nhận thấy họ đã phần nào thành công khi các giám mục, linh mục Việt Nam đã giữ được một thái độ im lặng, thụ động trong một thời gian rất lâu. Cho dẫu nhiều người trong Giáo Hội bị tù đày hay quản chế cách bất công và phi luật pháp, cho dẫu Giáo Hội bị đàn áp, bị khó dễ, bị mất mát tài sản, quyền lợi. Bất chấp những lời tha thiết van xin các ngài lên tiếng của một số con chiên bức xúc về tình trạng Giáo Hội… Cũng may về sau có một vài vị lên tiếng, nhưng chỉ lên tiếng cách rất dè dặt và ôn hòa.

Nếu có một tôn giáo, một giáo phái, một giáo phận nào không chấp nhận sự kiểm soát, khống chế của họ, dám tỏ thái độ bất khuất, dám lên tiếng phản kháng… thì họ phải tìm cách triệt hạ hoặc hạn chế tầm hoạt động của vị lãnh đạo ấy. Trường hợp Tổng giám mục Nguyễn Kim Điền, Hòa thượng Thích Huyền Quang, Hòa thượng Thích Quảng Độ, Mục sư Nguyễn Hồng Quang… là những thí dụ điển hình và cụ thể. Đây là một phương cách cổ xưa như trái đất: “Đánh rắn thì phải đánh vào đầu”. Đức Giêsu đã lấy lại lời của ngôn sứ Dacaria để nói lên chiến thuật ấy: “Hãy đánh mục tử thì đàn chiên sẽ tan tác (Dc 13,7; x. Mt 26,31; Mc 14,27; Cv 5,36). Triệt hạ mục tử cũng là cách dằn mặt những mục tử kế nhiệm để các vị này tránh vết xe cũ – là dám cứng đầu, đối kháng – mà chấp nhận một đường lối mềm dẻo hơn.

9. Tiệm tiến, tiến từng bước một
Để có thể ngày càng hạn chế số người lên tiếng tranh đấu đòi dân chủ và tự do, đòi tự do tôn giáo và nhân quyền, đồng thời gia tăng số người ủng hộ chế độ, nói tốt cho chế độ lên, nhà nước đã yêu cầu các cán bộ của mình phải biết mềm dẻo và tiến tới từng bước một, thậm chí có thể “lùi một bước để tiến hai bước“. Phải chấp nhận thời gian khi muốn thay đổi lòng người, không thể đốt giai đoạn, vì “dục tốc bất đạt”. Nghĩa là họ phải hoạt động làm sao để:

người đang chống thì bớt chống hơn, và không liên kết với nhau được.
người đang cứng rắn thì trở nên ôn hòa, mềm dẻo hơn.
người đang lên tiếng thì trở thành im lặng, thụ động, chấp nhận làm ngơ trước bất công, đàn áp, trước những trái tai gai mắt, trước những vi phạm tự do tôn giáo, nhân quyền.
người đang thụ động im lặng thì nói thuận theo, ủng hộ chế độ.
người đang nói thuận theo thì trở thành người hoạt động tích cực.
người đã hoạt động thì trở thành tay sai, “hai mang“, làm nội gián, tự động báo cáo cho công an những gì nhà nước muốn biết…
Để thực hiện được từng bước tiến một như thế, các cán bộ cần phải biết áp dụng kết hợp những phương cách trên tùy theo tình huống cụ thể. Và cứ tiệm tiến từng bước như thế trong một thời gian dài, người cán bộ có thể dần dần biến một người từ chống đối mãnh liệt trở thành người hoạt động tích cực cho chế độ. Quá khứ cho thấy họ đã thành công trong việc biến đổi một số khá đông người theo chiều hướng họ muốn. Thật vậy, họ đã biến được một số linh mục từ chống đối hoặc không chịu cộng tác đến chỗ dường như hoàn toàn nói theo lập trường Cộng sản, dù biết đó là sai sự thật: chẳng hạn đã có những linh mục sẵn sàng sang Hoa Kỳ để giải độc cho Cộng sản về tự do tôn giáo, hoặc sẵn sàng viết những bài báo ca tụng chế độ…

10. Dùng pháp luật, tòa án để dập tắt những tiếng nói tranh đấu
Trước áp lực quốc tế, và để có thể nhận được những quyền lợi từ các nước khác (chẳng hạn được gia nhập WTO, được vay tiền, được viện trợ…), chính quyền Việt Nam bị buộc phải tôn trọng nhân quyền, đặc biệt tự do tôn giáo. Bị các thế lực nhân quyền quốc tế lên án quá nhiều, họ không còn có thể bắt bớ người một cách vô cớ như những thập niên đầu sau khi chiếm thêm được miền Nam năm 1975. Vì thế, họ đã dùng pháp luật kiểu “luật rừng“ để đàn áp những người lên tiếng tranh đấu: thay vì bỏ tù hay giết họ cách lén lút, thì đưa ra tòa án xét xử, nhưng thường là xét xử một cách lén lút, không công khai, vì họ không cho ai ngoài người thân nhất của bị can tham dự. Để có thể kết án những người tranh đấu cho dân chủ, chính quyền có thể gán ghép cho họ một tội danh nào đó mà họ không hề phạm, một cách hết sức gượng ép. Chẳng hạn khi xử linh mục Nguyễn Văn Lý, tòa án không biết ghép cho ông tội gì, chỉ biết ghép một tội rất mơ hồ không có trong luật pháp: “phá hoại đoàn kết dân tộc“. Hoặc chỉ dựa vào việc liên lạc với bên ngoài để kết án bác sĩ Phạm Hồng Sơn là gián điệp… Ai cũng biết là tòa án ngụy tạo ra tội để kết án những kẻ vô tội, nhưng trong một chế độ độc tài thì người dân dù có biết điều ấy cũng chẳng dám làm gì khác hơn là im lặng. Pháp luật và tòa án thay vì bênh vực cho công lý, thì lại trở thành công cụ để chính quyền đàn áp, bịt miệng người dân.

Để hợp pháp hóa việc đàn áp, bắt bớ, nhà nước đã ra những luật lệ như nghị định 31/CP do thủ tướng Võ Văn Kiệt ban hành ngày 14-4-1997 cho phép công an được phép tùy tiện quản chế tại gia những cá nhân (bị quy kết tuỳ tiện là) vi phạm an ninh quốc gia, mà không cần thủ tục pháp lý (chẳng hạn lệnh của tòa án) hay được đem ra toà án xét xử. Hòa thượng Huyền Quang, Quảng Độ, linh mục Phan Văn Lợi… đang là nạn nhân của nghị định này. Hay dựa trên pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo do Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội ban hành ngày 18 tháng 6 năm 2004, nhà nước có thể quy kết những sinh hoạt tôn giáo chính đáng của những tập thể tôn giáo không được nhà nước công nhận là bất hợp pháp, là vi phạm pháp luật hầu có cớ pháp lý mà bắt bớ hay kết án… Các Hội Thánh Tin Lành Tư Gia đang là nạn nhân chính của pháp lệnh này.

11. Những lý do chủ quan khiến người dân im lặng
Ngoài những lý do nhà nước tạo nên để làm câm lặng những tiếng nói đấu tranh trong nước, người dân nhiều khi không thể lên tiếng tranh đấu vì những hạn chế của riêng mình. Sau đây là một vài trường hợp điển hình:

Có những người muốn lên tiếng tranh đấu, nhưng tự xét thấy mình không có khả năng, đã than thở với tôi: “Tôi cũng muốn lên tiếng lắm, nhưng tôi không biết lên tiếng thế nào đây? Dù cũng khá trí thức đấy, nhưng quả thật tôi viết lách không quen. Viết một lá thư cho người thân mà tôi phải loay hoay mất cả mấy tiếng đồng hồ, vậy thì làm sao tôi viết được một bài lên tiếng tranh đấu cho tự do, dân chủ, vốn đòi hỏi phải mất công và mệt trí hơn rất nhiều ?”

Một người khác nói với tôi: “Phải công nhận anh thật bình tĩnh khi đối diện với công an, và trả lời họ một cách thật khôn ngoan và khéo léo khiến họ không kết tội anh được. Nhưng quả thật tôi không được như anh. Gặp công an là tôi run cầm cập, bao nhiêu khôn ngoan bình thường của tôi đều biến đâu mất cả. Lúc đó dù tôi không có tội, nhưng cách trả lời ngu xuẩn của tôi cũng biến tôi thành có tội. Như vậy làm sao tôi tranh đấu được?“

Một người khác nữa nói: “Tôi cũng muốn lên tiếng, nhưng biết lên tiếng ở đâu bây giờ? Tôi chỉ là một thằng dân đen, tiếng nói của tôi có giá trị gì? Vừa lên tiếng là bị dập tắt ngay. Thế giới chưa nghe được tiếng của tôi, thì tôi và gia đình đã phải khốn khổ trăm chiều rồi, còn sức đâu mà lên tiếng được nữa?! Tôi nghe nói trong chế độ này chỉ có thể lên tiếng trên Internet thôi, mà tôi thì chẳng biết Internet là gì!”

Quả thật, không phải cứ muốn lên tiếng là lên tiếng được. Phải có một số điều kiện thuận lợi nào đấy. Chẳng hạn phải có thể viết lách được, phải có khả năng ứng đối, phải nắm trong tay một số những phương tiện thông tin liên lạc, nhất là phải có can đảm được thúc đẩy bởi tình yêu quê hương, yêu Giáo Hội thật sự. Không có điều sau cùng này thì dù có tất cả mọi thuận lợi khác cũng vô ích. Có nó, thì dù không có những điều khác cũng có thể trở thành có.

Có những người không lên tiếng vì có những quan niệm hẹp hòi hay có một chủ trương triết lý sai lầm nào đó. Chẳng hạn:

Một trí thức nọ nói: “Mọi chuyện đã có Thiên Chúa lo, chuyện nước thì có vận nước, mình nhỏ bé quá đâu lo chuyện vận nước được. Tôi bây giờ chỉ làm những gì có thể làm được trước mắt: biết bao kẻ đau khổ cần tôi an ủi, biết bao người bệnh cần tôi chăm sóc, biết bao trẻ em bơ vơ cần được giáo dục, nuôi dưỡng… Những việc này làm đã không xuể, nghĩ chi đến những chuyện xa vời, nguy hiểm, ngoài khả năng của mình?!” Tôi trả lời: “Những chuyện ấy đúng là cần phải làm và phải có người làm, nhưng dẫu sao giải quyết những chuyện ấy chỉ là giải quyết vấn đề ở ngọn thôi. Có một cái gốc phát sinh ra những tệ nạn và đau khổ ấy, đó là chính sách cai trị kém sáng suốt của những kẻ cầm quyền thiếu thiện chí! Phải giải quyết vấn đề từ gốc thì mới hữu hiệu! Nhà cháy mà không ai tìm cách dập tắt, ai cũng chỉ lo chạy đồ đạc, cứu người bị phỏng thì đám cháy bao giờ mới hết được? Nó sẽ lan hết nhà này đến nhà khác. Muốn chạy đồ đạc, muốn cứu người mà không cố gắng dập tắt ngọn lửa, thì sẽ tha hồ có việc mà làm, những việc đang làm ấy sẽ tự phát sinh không bao giờ hết được!”

Một linh mục nói với tôi: “Giáo Hội cũng đã có những người lên tiếng cho quyền lợi chính đáng của Giáo Hội như các linh mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Hữu Giải, Phan Văn Lợi, Chân Tín và cả anh nữa. Các vị ấy và anh đã lên tiếng thay cho chúng tôi rồi! Quốc tế đã biết những gì cần phải biết rồi! Vì thế, chúng tôi nên làm những chuyện khác cũng cần cho Giáo Hội. Giáo Hội cũng còn có biết bao chuyện phải làm, không chỉ có chuyện tranh đấu cho quyền lợi của mình! Mỗi người có một phận sự riêng!” Tôi trả lời: “Phải rồi, Giáo Hội còn biết bao nhiêu chuyện phải làm! Nhưng việc tranh đấu cho sự sống còn và duy trì bản chất phải có của Giáo Hội là việc quan trọng, là bổn phận của mọi người, và cần rất nhiều người cùng làm mới thành công được. Chỉ có một vài người lên tiếng như thế thì chẳng đi đến đâu! Vả lại, những người lên tiếng tranh đấu đâu phải chỉ làm có mỗi việc tranh đấu! Họ vừa tranh đấu mà cũng vừa làm những chuyện cần thiết khác cho Giáo Hội, thậm chí cũng đâu kém gì ai!? Không thể lấy lý do bận chuyện khác để miễn cho mình bổn phận ấy được! Chính tôi đây cũng vẫn hăng hái làm việc cho Giáo Hội, lại còn phải làm kinh tế nuôi sống gia đình, mà vẫn lên tiếng tranh đấu. Nếu ai cũng đùn đẩy chuyện tranh đấu cho người khác thì Giáo Hội mình vẫn tiếp tục bị đàn áp, bị cấm đoán là phải rồi!”

Có người tâm sự với tôi: “Lên tiếng tranh đấu mà làm chi? Cái gốc phát sinh ra mọi sự dữ là tính tham, sân, si của con người. Điều quan trọng là phải diệt cái gốc ấy. Chế độ có thay đổi mà cái gốc ấy còn, thì đồng bào cũng vẫn phải đau khổ trăm bề. Anh hãy lo trừ diệt cái tham sân si ấy nơi lòng người đi đã!”. Tôi trả lời: “Các tôn giáo đang cố gắng làm chuyện ấy đấy chứ! Sứ mạng của các tôn giáo là giáo dục lòng người, là diệt trừ tham sân si, nguồn gốc mọi tệ nạn và đau khổ. Nhưng nhà nước này có cho các tôn giáo được tự do thực hiện sứ mạng ấy đâu? Các tín đồ Tin Lành vừa mới nhóm họp với nhau tại tư gia để giúp nhau thực hiện điều ấy thì lập tức công an đến giải tán, lại còn khó dễ họ nữa! Các tôn giáo muốn mở trường để giáo dục thanh thiếu niên thì nhà nước không cho phép. Họ chỉ cho phép các tôn giáo chăm sóc những người bị bệnh AIDS, bị cùi, bị tàn tật… toàn là những người sắp chết, để họ vừa được tiếng là cho tôn giáo có phần nào tự do, vừa đỡ cho họ một ngân sách và một số nhân sự quan trọng mà đúng ra họ phải làm! Mình chỉ được lo chữa cái ngọn, còn cái gốc là vấn đề giáo dục thì mình không được can dự vào. Muốn diệt được tham sân si nơi lòng người, là cái gốc phát sinh mọi sự dữ như anh muốn, thì phải tranh đấu để các tôn giáo được tự do hoạt động đã, chứ một mình anh với tôi thì sao làm nổi chuyện thay đổi lòng người?”

Người khác nói: “Anh thấy không, có tự do tôn giáo thì chỉ làm cho các linh mục hư đi mà thôi! Có tự do thì mấy ổng sống giàu sang, bê bối, hách dịch… Còn giáo dân thì sẽ ít quan tâm tới Chúa hơn, ít lui tới nhà thờ hơn. Bên Âu châu kìa, chẳng có tự do tôn giáo sao? Thế mà nhà thờ vắng tanh, nhiều nhà thờ phải cho thuê để có tiền đóng thuế cho chính phủ. Chính trong hoàn cảnh khó khăn này Giáo Hội mới phát triển về phẩm chất, anh không thấy lịch sử Giáo Hội chứng minh điều đó sao?”. Tôi trả lời: “Trong những chế độ khác thì điều anh nói là đúng. Nhưng trong chế độ này thì hoàn toàn khác hẳn! Chế độ này đang cho các tôn giáo được tự do trong những chuyện bên ngoài: lễ lạy, rước sách linh đình, xây nhà thờ, tạo cơ sở vật chất… Điều này có thể còn làm hư các linh mục hữu hiệu hơn nhiều, làm cho cả linh mục lẫn giáo dân chỉ còn biết đến những chuyện bên ngoài ấy mà thôi. Nhưng tôn giáo không phải là cái vỏ bên ngoài ấy, mà cốt yếu của tôn giáo là cái gì ở sâu bên trong. Linh mục cần có cái bên trong ấy hơn, và cái sâu xa bên trong ấy phải đào tạo công phu lắm mới có được. Nhưng nhà nước lại không cho Giáo Hội được tự do đào tạo các linh mục theo ý mình. Điều tôi thấy hiện nay là Giáo Hội Việt Nam đang đánh mất bản chất ngôn sứ của mình để đổi lấy thứ tự do tôn giáo giả tạo bề ngoài. Chính nhà nước cũng muốn khuyến khích thứ tự do tôn giáo giả tạo ấy để đánh lừa thế giới là Việt Nam có tự do tôn giáo. Khi chỉ chú trọng và phát huy những gì bên ngoài là Giáo Hội mắc bẫy nhà nước, và Giáo Hội đang đi đúng quỹ đạo mà họ mong muốn. Với quỹ đạo này, Giáo Hội dần dần sẽ trở thành công cụ trong tay nhà nước. Tôi thấy Giáo Hội đang chấp nhận im lặng thay vì phải nói lên tiếng nói ngôn sứ của mình”.

12. Nỗi sợ hãi có sẵn trong lòng người
Còn biết bao lý do chủ quan và khách quan khác khiến người ta không muốn lên tiếng đấu tranh cho những quyền lợi chính đáng của mình, và chấp nhận tình trạng hiện có của đất nước. Tuy nhiên, có một lý do chung rất sâu xa nằm sâu trong vô thức hay tiềm thức, trong cơ cấu tâm lý con người.

Người Việt Nam rất bất khuất, rất anh hùng đối với ngoại bang, nhất là khi bị ngoại bang đô hộ. Tự ái dân tộc khiến họ sẵn sàng đứng lên khi có người hô hào nổi dậy. Nhưng người Việt Nam lại rất tôn trọng kẻ bề trên đang nắm quyền cai trị mình, cho dù đó là một bạo chúa. Trong tôn giáo cũng vậy: dù cha sở có bê bối, tội lỗi, đối xử với giáo dân tệ bạc đến đâu, người giáo dân vẫn một mực chịu đựng, thậm chí còn bao che cho ông, cho đến khi không chịu nổi nữa mới kiện lên giám mục. Dân Việt mình sẵn sàng nhẫn nại, chịu đựng, chấp nhận bất công, áp bức, cho dù vua quan hay bề trên của mình có tàn nhẫn gấp nhiều lần người ngoại bang đô hộ mình. Dân mình không khác gì một người vợ có thể kiên trì chịu đựng chồng đánh đập, đối xử tệ bạc gấp chục lần người ngoài… nhưng lại không chấp nhận để cho một người đàn ông nào khác đụng đến chân lông của mình. Quả thật, người Việt Nam không thiếu gì những người vợ hiền lành đến như vậy.

Lịch sử đất nước đã phần nào chứng tỏ điều ấy. Người dân có thể đứng dậy kháng chiến chống ngoại xâm thật mạnh mẽ, đầy khí thế: chống nhà Hán, quân Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh… và mới đây, chống Pháp, chống Nhật… Khi đất nước bị đô hộ thì luôn luôn có những anh hùng chiêu mộ nghĩa quân nổi dậy để đòi lại chủ quyền đất nước: như bà Trưng, bà Triệu, Ngô Quyền, Lê Lợi, Hoàng Hoa Thám, Trương Công Định, Nguyễn Thái Học, v.v… Nhưng khi gặp phải những bạo chúa như Hồ Quý Ly, Lê Long Đĩnh, v.v… hay các tín đồ Công giáo gặp những vị vua cấm đạo nghiêm khắc như Minh Mạng, Tự Đức… thì dù có ta thán, oán hờn, nhưng dân chúng vẫn một lòng kiên trung với nhà vua chứ không hề có ý muốn phản loạn… Những bạo chúa thường chỉ bị lật đổ là do con cháu của các vua chúa cũ đứng dậy để thiết lập lại triều đại của cha ông mình hơn là do dân chúng bất mãn mà nổi dậy.

Có quan điểm cho rằng tâm lý chung này là do ảnh hưởng của Khổng giáo. Tôn giáo này đã đề cao quá đáng đến mức tuyệt đối hóa vai trò và quyền hạn của vua quan. Lý thuyết “Quân, Sư, Phụ“ coi nghĩa vụ đối với vua, quan là cao nhất, thiêng liêng nhất, rồi mới tới bổn phận đối với thầy, và sau đó mới tới cha mẹ mình. Theo lý thuyết này thì “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” (vua bắt bề tôi phải chết mà bề tôi không chấp nhận chết là bất trung), coi việc trung quân” (trung thành với vua) như một chuẩn mực vô cùng quan trọng của đạo đức con người. Từ đó người dân phải coi vua chúa và quan quyền là “dân chi phụ mẫu“, trong xã hội cũng như trong tôn giáo. Vì thế, quan niệm của Khổng giáo đã khiến người Á Đông nói chung, và người Việt nói riêng, chỉ biết vâng lời tối mặt mà không dám phản kháng, cho dẫu “phụ mẫu“ ấy có sai trái đi nữa. Đặc biệt giới trí thức, được đúc theo khuôn “quan văn“ thì chỉ biết thụ động, chỉ biết một lòng cung cúc phục vụ bề trên, không chỉ trong xã hội mà trong tôn giáo có thể còn hơn như vậy. Cũng có quan điểm nói rằng những cuộc chiến dai dẳng vừa qua đã tạo một chấn thương tâm não quá lớn khiến nhiều thế hệ người Việt hiện tại không còn khả năng và ý thức đối kháng nữa. Ngoài ra còn phải kể hoàn cảnh nô lệ – ngàn năm với Tàu, trăm năm với Pháp – đã làm cho tâm lý luồn lách thấm sâu vào xương thịt của dân Việt. Nó đã trở thành một triết lý sống cụ thể: “Khôn cũng chết, dại cũng chết, chỉ biết mới sống“. “Biết mới sống“ ở đây được quan niệm lệch lạc đi là biết luồn lách, biết đút lót, biết “tránh voi chẳng xấu mặt nào“… cho được việc của mình. Thể hiện tích cực của triết lý này là dân Việt dễ hội nhập, dễ thích ứng với mọi hoàn cảnh. Nhưng thể hiện tiêu cực của nó là dân chúng thụ động, thích luồn lách; nếu có đối kháng thì chỉ biết chửi đổng bằng những chuyện tiếu lâm, thơ con ong, thơ trào phúng…

Tâm lý chung đó vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay. Cho dù chế độ Cộng sản Việt Nam hà khắc hơn bất kỳ chế độ đô hộ nào của ngoại bang, người dân dường như vẫn có thể kiên trì chấp nhận. Thêm vào đó, từ xưa đến nay, không một chế độ nào – dù trong nước hay ngoại bang – có khả năng dập tắt hữu hiệu ngay từ trứng nước tất cả những mầm mống nổi loạn như chế độ Cộng sản Việt Nam hiện nay.

Đằng sau cái tâm lý thụ động và sẵn sàng chịu đựng ấy là nỗi sợ hãi vốn mọc rễ rất sâu trong tâm lý con người mọi nơi mọi thời. Chính nỗi sợ hãi này đã làm cho những bạo chúa, những chế độ độc tài, những tên quan độc ác tăng thêm uy quyền của mình. Chúng trèo được lên đầu lên cổ người dân chính vì người dân sẵn sàng khom lưng cho chúng cưỡi lên. Như vừa nói trên, có quan niệm cho rằng nỗi sợ hãi chung này do ảnh hưởng của Khổng giáo. Tôi nhận thấy không chỉ Khổng giáo, mà các tôn giáo khác cũng có thể góp phần tạo nên và gia cường tâm lý chung sợ hãi này.

Đúng ra các tôn giáo phải giúp giải phóng các tín đồ của mình khỏi mọi nỗi sợ hãi để sống như những con người tự do, xứng với phẩm giá của mình, vì mục đích và bản chất của tôn giáo lẽ ra phải như vậy. Nhưng các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay dường như vẫn chưa nâng cao được trình độ tâm linh các tín đồ của mình lên đúng mức phải có. Người ta vẫn còn giữ đạo vì sợ hãi: sợ bị Thượng Đế trừng phạt, sợ bị luân hồi làm thú vật, sợ bị đọa địa ngục, hơn là giữ đạo vì tình yêu, vì giác ngộ được đạo là cách sống khôn ngoan nhất để được hạnh phúc cả thân lẫn tâm. Trước Thượng Đế, người ta vẫn tự coi mình như những kẻ ăn mày chỉ biết xin xỏ cầu cạnh, hay như những kẻ làm thuê có được trả công thì mới chịu làm việc, chứ chưa thật sự tự thấy mình là những con cái được Ngài yêu thương hết mực để có thể thật sự tin tưởng và dám phó thác cho tình yêu toàn năng của Ngài. Cứ xem cách người ta cầu nguyện với Thượng Đế, với Phật tổ, với các vị thần thánh thì thấy rõ điều ấy. Chỉ có tình yêu đích thực mới giải phóng con người khỏi sợ hãi, như thánh Gioan nói: “Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo“ (1Ga 4,18). Thật vậy, tình yêu đích thực và mạnh mẽ làm người ta không còn sợ hãi: một người mẹ rất yếu đuối vẫn có thể dám xông vào đám cháy để cứu con mình trong đó, đang khi những kẻ mạnh mẽ hơn rất nhiều lại không dám. Tình yêu của bà đối với con trở thành sự can đảm. Người ta trở nên hèn nhát chính vì tình yêu đích thực không có trong lòng họ. Vì thế họ chưa nhận được sức mạnh, sự dũng cảm mà đúng ra họ phải nhận được cách dồi dào từ tôn giáo của mình nếu họ sống đúng với tinh thần từ bi yêu thương của các vị giáo chủ sáng lập.

Những tín đồ tôn giáo còn có thêm bao nỗi sợ hãi do chính giới lãnh đạo tôn giáo tham quyền uy đã tạo nên cho họ. Tôn giáo nào chỉ tìm cách tăng thêm quyền uy cho giới lãnh đạo, thần thánh hóa lãnh tụ, dạy các tín đồ đồng hóa giới tăng lữ với thần thánh, với Thượng Đế, đến nỗi ai chống giới tăng lữ đều bị hiểu là chống Thượng Đế, chống thần thánh… tôn giáo ấy đang nô lệ hóa con người thay vì giải phóng họ, đang biến các tín đồ thành thứ thần dân đầy sợ hãi của mình. Trong một chế độ độc tài như chế độ Cộng sản, thứ tôn giáo như thế đang góp phần biến con người trở nên sợ hãi và hèn nhát trước bạo lực. Một tín đồ sẵn sàng khom lưng sợ hãi trước giới lãnh đạo tôn giáo mình, sẵn sàng vâng phục họ cho dù họ sai trái, thì cũng sẵn sàng khom lưng sợ hãi trước những ông vua bạo ngược, những tên quan tham lam của mình. Tôn giáo có thể như một con dao hai lưỡi: có thể giải phóng, đem lại tự do đích thực cho con người, mà cũng có thể nô lệ hóa con người. Vì thế những chế độ độc tài có thể rất sợ tôn giáo, nhưng cũng có thể coi tôn giáo như bạn đồng hành mà chúng có thể lợi dụng để làm gia tăng tâm lý sợ hãi này nơi dân chúng.

***

Trong cuộc tranh đấu dành quyền làm chủ và những quyền căn bản của con người, điều căn bản và quan trọng nhất là con người phải tranh đấu với chính nỗi sợ hãi của mình: sợ chết, sợ khổ, sợ tù tội, sợ nghèo, sợ đói, sợ bệnh, sợ khó, sợ nghịch cảnh, sợ bị khinh chê coi thường… đủ thứ sợ! Có thắng được nỗi sợ hãi ấy người dân mới có đủ sức mạnh để chiến thắng những thế lực độc tài, vốn luôn luôn lợi dụng tâm lý sợ hãi ấy để đặt ách thống trị hà khắc lên đầu lên cổ người dân. Như vậy, phải thắng được chính mình trước đã. Lão Tử viết: “Tự thắng giả cường“ [thắng mình là mạnh] [18]. Không thắng được nỗi sợ hãi của mình, thì chẳng bao giờ mình được tự do, vì thoát khỏi cảnh nô lệ này ta sẽ rơi vào cảnh nô lệ khác.

Muốn thoát khỏi sợ, thì phải giảm bớt ham muốn: ham sống, ham giàu, ham đẹp, ham vui, ham dễ, ham danh, ham lợi, ham quyền… Càng nhiều ham muốn, càng dày tham vọng, thì càng nảy sinh nhiều sợ hãi. Cho dù là ham muốn cho cá nhân hay ham muốn cho tập thể! Ham cứu độ các linh hồn mà đành im hơi lặng tiếng, không dám làm theo tiếng lương tâm, đành chấp nhận hy sinh bản chất tôn giáo của mình, như thế có khác gì kẻ không dám bơi lại muốn cứu người chết đuối?! Cứu mình chẳng được thì cứu được ai? Thiên Chúa nào muốn con người hy sinh lương tâm của mình để cứu rỗi linh hồn người khác? Việc cứu các linh hồn tùy thuộc vào Thiên Chúa và vào chính bản thân đương sự hơn là vào những nỗ lực của người ngoài cuộc, nên bổn phận trước tiên của những ai muốn cứu các linh hồn là làm hãy theo đòi hỏi của lương tâm mình đã. Chúa nói: “Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người trước đã, còn mọi sự khác Người sẽ ban cho sau“ (Mt 6,33). Muối có mặn thì mới ướp thức ăn được, muối đã lạt thì ướp được gì? (x. Mt 5,13) Đèn có sáng thì mới soi đường được, đèn bị tắt thì soi cho ai? (x. Mt 5,14-16). Chính mình còn đang nô lệ cho sợ hãi thì còn giải phóng hay cứu được ai ?

Rất may là càng ngày dân ta càng giảm bớt sợ hãi. Đã có những tiếng nói mạnh mẽ không chỉ nơi người dân, mà còn trong nội bộ đảng Cộng sản. Những cuộc tranh đấu trong nước được đồng bào hải ngoại hỗ trợ đã phấn khích người dân trong nước bớt sợ hãi, khiến cho càng ngày càng có nhiều người trong nước lên tiếng tranh đấu. Những tiếng nói thẳng thắn và can trường trong nội bộ đảng đã làm cho đồng bào trong và ngoài nước tràn trề hy vọng. Và bây giờ, chính quyền độc tài đang từ những kẻ gây sợ hãi trở thành những kẻ sợ hãi. Chúng đang phải lùi từng bước trước cuộc tranh đấu ngày càng mạnh của nhân dân trong và ngoài nước, của những người trong và ngoài đảng. Họ đang phải lùi từng bước trước áp lực của các quốc gia yêu chuộng tự do dân chủ muốn giúp dân Việt được tự do và phát triển. Cả hai thế lực trên đều bị chúng gọi là “những thế lực thù địch“! Vì tự do và dân chủ thì đương nhiên phải là thù địch với độc tài toàn trị.

Vậy, trong viễn ảnh đầy lạc quan này, xin mọi người dân trong cũng như ngoài nước hãy can đảm lên, hãy dám nói lên những gì lương tâm mình đang đòi hỏi phải nói, hãy dám làm những gì lương tâm mình đang đòi hỏi phải làm! Đó chính là yêu nước, yêu tôn giáo của mình, và cũng là yêu Thượng Đế, yêu chân lý và công lý!

Sàigòn, ngày 10-6-2005
Nguyễn Chính Kết

——————————————————————————–

[1] Những người Công giáo đã lên tiếng cho tự do tôn giáo của Giáo Hội: 1) Giám mục Nguyễn Kim Điền, 2) Linh mục Nguyễn Văn Lý, 3) Linh mục Nguyễn Hữu Giải, 4) Linh mục Phan Văn Lợi, 5) Linh mục Chân Tín, 6) Giáo sư Nguyễn Ngọc Lan, 7) Ông Vũ Sinh Hiên, 8) Ông Nguyễn Chính Kết. 8 trên 6 triệu người, tức khoảng 1,3 phần triệu.

[2] Những người đã lên tiếng cho tự do tôn giáo (xếp theo thứ tự A,B,C): 1) Giám mục Nguyễn Kim Điền, 2) Hòa thượng Thích Quảng Độ, 3) Linh mục Nguyễn Hữu Giải, 4) Hòa thượng Thích Thiện Hạnh, 5) Giáo sĩ Trương Trí Hiền, 6) Ông Nguyễn Chính Kết, 7) Giáo sư Nguyễn Ngọc Lan, 8) Ông Lê Quang Liêm, 9) Linh mục Phan Văn Lợi, 10) Linh mục Nguyễn Văn Lý, 11) Thượng tọa Thích Thiện Minh, 12) Mục sư Phạm Đình Nhẫn, 13) Hòa Thượng Thích Huyền Quang, 14) Mục sư Nguyễn Hồng Quang, 15) Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, 16) Thượng tọa Thích Không Tánh, 17) Linh mục Chân Tín, v.v…
Ngoài ra còn có Thượng tọa Thích Chân Hỷ của PGVNTN, cụ bà Nguyễn Thị Thu của Phật giáo Hòa Hảo, và một vài người nữa, đã tự thiêu để phản đối chính sách đàn áp tôn giáo của chính quyền Cộng sản.

[3] 20 trên 50 triệu, tức 0,4 phần triệu.

[4] Những người đã từng lên tiếng tranh đấu cho tự do dân chủ trong nước (xếp theo thứ tự A,B,C): 1) Nguyễn Vũ Bình, 2) Hoàng Minh Chính, 3) Tiêu Dao Bảo Cự, 4) Phạm Quế Dương, 5) Nguyễn Kim Điền, 6) Thích Quảng Độ, 7) Trần Độ, 8) Nguyễn Thanh Giang, 9) Nguyễn Hữu Giải, 10) Thích Thiện Hạnh, 11) Đỗ Nam Hải, 12) Trương Trí Hiền, 13) Nguyễn Hộ, 14) Dương Thu Hương, 15) Nguyễn Đình Huy, 16) Nguyễn Chính Kết, 17) Trần Khuê, 18) Nguyễn Ngọc Lan, 19) Lê Quang Liêm, 20) Phan Văn Lợi, 21) Trần Văn Lương, 22) Nguyễn Văn Lý, 23) Thích Thiện Minh, 24) Tuệ Minh, 25) Hà Sĩ Phu, 26) Vũ Cao Quận, 27) Thích Huyền Quang, 28) Lê Chí Quang, 29) Nguyễn Hồng Quang, 30) Nguyễn Đan Quế, 31) Bùi Minh Quốc, 32) Phạm Hồng Sơn, 33) Thích Tuệ Sỹ, 34) Bùi Ngọc Tấn, 35) Thích Không Tánh, 36) Hoàng Tiến, 37) Trần Dũng Tiến, 38) Chân Tín, 39) Nguyễn Khắc Toàn, 40) Nguyễn Văn Trấn, 41) Nguyễn Thị Thanh Xuân.
xem trang web: http://ns3578.ovh.net/~lmvntd/rubrique.php3?id_rubrique=6

[5] 50 người trên 80 triệu dân, tức khoảng 0,63 phần triệu.

[6] Xin đừng hiểu rằng hễ là người vô thần thì đều coi nhẹ vấn đề đạo đức. Tôi biết nhiều người vô thần còn coi trọng đạo đức hơn cả những người bình thường có tôn giáo. Nhưng phải nói rằng người có tôn giáo thì tin vào sự sống đời sau và vào sự thưởng phạt của tạo hóa hay của luật thiên nhiên ở đời sau. Điều này khiến họ phải đặt nặng vấn đề đạo đức hơn. Còn người vô thần không tin có đời sau, họ cho rằng chết rồi là hết, nên nếu họ không có lương tâm, thì họ không sợ hậu quả ở đời sau cho những việc làm thiếu đạo đức của mình ở đời này. Riêng tôi, tôi rất phục những người vô thần mà thật sự có lương tâm. Tôi đánh giá rất cao nền đạo đức của họ. Họ đạo đức vì bản chất đạo đức của họ chứ không vì sự thưởng phạt ở đời sau.

[7] Kolping: một hội đoàn công giáo tiến hành đặc biệt cho giáo dân, do linh mục Adolph Kolping (1813-1865) sáng lập tại Köln (Đức), hiện đã có mặt trong khoảng 70 nước trên thế giới. Đây là một đường hướng sống đạo đặt nặng vấn đề dấn thân xã hội, sống yêu thương, thân thiện với nhau như gia đình.

[8] Giá vàng hiện nay: một cây vàng giá khoảng 8 triệu đồng VN, tương đương với trên 500 USD.

[9] Thượng tọa Thích Thiện Minh vừa được trả tự do dịp tết Ất Dậu 2005.

[10] Xem thông cáo báo chí làm tại Paris ngày 26.3.2005

[11] Giáo phái Tin Lành Mennonite Việt Nam là một trong số các Hội Thánh Tin Lành Tư Gia thuộc Hiệp Hội Thông Công Tin Lành Việt Nam (Vietnamese Evangelical Fellowship). Hiệp hội này gồm các giáo phái Tin Lành Tư Gia – chủ trương “về nguồn” – tụ tập sinh hoạt thờ phượng Chúa tại tư gia như các tín hữu Kitô thời sơ khai. Họ chủ trương không xây đền thờ vật chất cho bằng xây đền thờ Thiên Chúa trong tâm hồn người tín hữu. Họ thường không được nhà nước Việt Nam chấp nhận, nên mọi sinh hoạt tôn giáo của họ đều bị nhà nước coi là bất hợp pháp.

[12] Các tôn giáo có hai khuynh hướng suy nghĩ khác nhau:
– một đằng đặt nặng việc tồn tại và phát triển hơn bản chất tôn giáo mình: thà mất đi một chút bản chất mà còn tồn tại thì vẫn hơn. Trong thực tế, Giáo Hội Công giáo và Tin Lành Việt Nam có vẻ như theo khuynh hướng này.
– một đằng đặt nặng bản chất tôn giáo hơn sự tồn tại và phát triển: thà chấp nhận khó khăn, không sinh hoạt được còn hơn mất bản chất Kitô hữu của mình. Đức Giêsu nói: “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi“ (Mt 5,13). Đây là chủ trương của nhiều Hội Thánh Tin Lành Tư Gia.

[13] Kitô giáo nói ở đây là Công Giáo và Tin Lành Việt Nam (không kể các Hội Thánh Tin Lành Tư Gia).

[14] Nội dung Pháp Lệnh Về Tín Ngưỡng, Tôn Giáo số 21/2004/PLUBTVQH11 do Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội ban hành ngày 18 tháng 6 năm 2004 cho thấy rõ điều này.

[15] Trong thực tế tại Việt Nam, chữ “tự do“ trong các văn bản luật pháp, chẳng hạn trong Pháp Lệnh Tín Ngưỡng và Tôn Giáo vừa ban hành (18-6-2004), có nghĩa là người dân được tự do làm tất cả mọi điều luật pháp không cấm, với điều kiện là phải xin phép; chính quyền có cho thì mới được làm. Không xin phép mà vẫn cứ làm là vi phạm luật pháp. Hiện nay, nghĩa này chỉ còn được áp dụng chặt chẽ trong phạm vi tôn giáo, còn trong phạm vi khác thì lỏng lẻo hơn rất nhiều. Riêng các quan chức cộng sản thì trong thực tế, càng cao cấp, càng có thể làm được cả những việc luật pháp cấm làm mà không sao cả: như cướp đất của dân, hối lộ tham nhũng hàng tỷ đô la, thâm lạm công quỹ, phí phạm của công, v.v… Dân có ra tận Hà Nội biểu tình, khiếu kiện trước Quốc Hội thì các quan vẫn cứ phây phây, không sao cả! Vì thế, đối với các quan cộng sản thì chẳng một đất nước nào trên thế giới tự do bằng Việt Nam! Quả thật, các quan ở đây bảo Việt Nam tự do gấp triệu lần Mỹ là họ rất thành thật đấy! Không sai sự thật chút nào cả! Vì các quan cộng sản được làm cả những việc luật pháp cấm! Các quan ở Mỹ làm gì được như vậy ? Bill Clinton kia làm tới chức tổng thống Mỹ, thế mà mới “động“ tới Monica Lewinsky một chút là đã bị đem ra tòa xử rồi! Các quan Việt Nam tự do hơn các quan Mỹ hàng triệu lần là đúng đấy! Chỉ riêng có người dân là… thiếu tự do thôi !!!

[16] Chẳng hạn hai cuốn Tôn giáo dưới ách Cộng sản và Tù ngục với Chúa của mục sư Richard Wurmbrand (giáo phái Lutêrô ở Rumani), dịch giả Thanh Sơn, xuất bản tại Sàigòn năm 1970 và 1973. Tác giả kể nhiều câu chuyện cho thấy có cả những đạo trưởng cao cấp như Thượng Phụ (Chính Thống), Mục sư Tổng Quản (Tin Lành), Tổng Giám Mục (Công giáo)… sẵn sàng làm “ăng-ten”, chỉ điểm, cộng tác với chế độ Cộng sản để bách hại những người dám tranh đấu cho Giáo Hội hoặc cho quê hương đất nước. Nếu ở những nước ấy có những loại mục tử như thế, thì tại Việt Nam chắc hẳn cũng khó tránh khỏi. Nhưng rồi tất cả những hành động tệ hại ấy cũng sẽ được đưa ra ánh sáng: “Không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ“ [Quidquid latet apparebit] (Mt 10,26).

[17] Điều răn thứ sáu trong Thập Giới của Kitô giáo là: “Chớ làm sự dâm dục“.

[18] Lão Tử, Đạo Đức Kinh, chương 33, a.

Cập nhật ( 22/03/2008 )

http://thangtien.de/index.php?option=com_content&task=view&id=1454&Itemid=274

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

NHẬT KÍ HÀNH TRÌNH DÂN OAN

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 8, 2008

NHẬT KÍ HÀNH TRÌNH DÂN OAN

Bản cáo trạng lên án tội ác của CA phường Ô Chợ Dừa, Đống Đa Hà Nội – Việt Nam.

Hải Phòng, ngày 14/6/2008.

Thứ 4 ngày 11/6/2008.

Như thường lệ đoàn dân oan chúng tôi lục đục từ các ngả đường kéo nhau về điểm dừng chân cuối cùng là khu tập thể Hoàng Cầu, quận Đống Đa. Lúc này là 7h sáng; đây là nơi ở của một số cán bộ cao cấp trong bộ máy công quyền của Chính phủ: là Trần Văn Truyền – Tổng thanh tra Chính phủ, Mai Quốc Bình – phó Tổng thanh tra Chính phủ; là các ông bà trong văn phòng các vấn đề xã hội. Trong đó có cả bà Nguyễn Thị Doan – phó Chủ tịch nước và nhiều các bà khác mà chúng tôi không nhớ rõ chức vụ, chỉ thấy hàng ngày được đưa đón bằng các xe con biển số 80B.

Đoàn dân oan mệt mỏi ngồi nghỉ, tay cầm biểu ngữ nhằm xe các ông to bà lớn đi qua là dương lên. Nhưng khác với mấy ngày trước, hôm nay chúng tôi thấy một lực lượng lớn khoảng gần 30 người gồm công an và dân phòng của phường Ô Chợ Dừa, kế đến là chiêc xe thùng BKS 31A 7517; với những bộ mặt hầm hố, quát nạt (dân oan) và ra lệnh: “tống chúng nó lên xe”. Thế là những kẻ mặc sắc phục CA như những cỗ máy vô hồn; kẻ khiêng người túm vứt tất cả chúng tôi lên xe. Trẻ con thì khóc, người lớn thì la hét ầm ĩ, sau đó bọn họ cũng lên xe ngồi thành hàng rào để che chắn chúng tôi, tất cả chúng tôi đều phải đứng vì xe không có ghế (trong khi đó thùng xe chỉ cao có khoảng 50-70 cm). Bằng tất cả sức lực mà mình có chúng tôi hô: “đả đảo Trần Văn Truyền, đả đảo Mai Quốc Bình, đả đảo Lê Tiến Hào và cùng lúc giương cao các biểu ngữ (mặc cho không gian chật hẹp bên trong chiếc xe thùng).

Xe vẫn chạy thục mạng, có những lúc xe thắng phanh, cả đám dân oan ngã dúi dụi lên nhau, cảnh tượng ấy diễn ra trước con mắt của hàng nghìn người dân thủ đô…

Xe đến phường Ô Chợ Dừa, họ- những người được gọi là công an- lại lôi kéo, lùa chúng tôi vào trong đồn; lúc này là khoảng 7h30’. Tiếng dân oan lại đồng thanh nhau thét lên “đả đảo CA phường Ô chợ Dừa bắt người trái phép!”.

“Chúng tôi có tội gì mà bắt chúng tôi vào đây, lệnh bắt người đâu?”. Một người trong chúng tôi mang tờ báo an ninh ra đọc lời đối thoại của thiếu tướng CA Nguyễn Xuân Thu trả lời phỏng vấn nhà báo, trong đó có đoạn: “những người có chức có quyền làm sai, dân đi khiếu kiện lại đẩy CA ra “đối thoại” với dân, việc làm này là không được. Bởi CA là lực lượng vũ trang, việc dân khiếu kiện hoàn toàn mang tính dân sự do đó làm ảnh hưởng đến ngành CA”. Viên Cảnh sát ngó tờ báo nói: “tờ báo này photo chúng tôi không tin”. Thế là tất cả dân oan chúng tôi đồng thanh chất vấn: “các ông đem lệnh của ông Lê Hồng Anh bắt chúng tôi vào đây xem nào!? Có không ? Hay các ông ăn đồng tiền bẩn của những thằng tham nhũng mà đàn áp chúng tôi, các ông có biết là các ông đang bao che, cản trở chúng tôi vạch mặt chúng nó ra không!? Các khẩu hiệu “đối với dân phải kính trọng lễ phép” mà các ông đối xử thế à!? “bỏ ngay các khẩu hiệu này xuống”.

“Chúng nó ăn cướp hết nhà ở tài sản của chúng tôi, thiên tai dịch họa còn có đất để che lều lên mà ở, chúng nó cướp sạch để dân ra đường vô gia cư. Một vụ án theo luật chỉ giới hạn không quá 90 ngày, thế mà chúng tôi đội trên đầu những vụ án từ 7, 8 năm, có người đến 20, 30 năm. Các ông đồng loã tham nhũng cùng một ruột với chúng nó…”.

Cứ thế, cứ thế…. Cho đến 9h chưa có người nào ra tiếp giải thích việc bắt giữ chúng tôi vào đây. Sợ lũ trẻ đói, anh Giang, chị Quí, chị Lở đứng dậy bế con ra về, chúng tôi cũng lục tục ra về. Thấy vậy lực lượng CA và dân phòng xô ra lôi kéo bắt chúng tôi chở lại. Trẻ con lại khóc ré lên. Cuộc ẩu đả của CA diễn ra đối với dân giữ dội trở lại. Việt – một tên công an hung hăng, luôn mặc thường phục khi đàn áp dân oan, có lẽ hắn nghĩ: “ như thế chối tội tiện hơn” – lao vào đánh chị Lở( còn chưa kịp đi được mấy bước). Tay bế con nhưng chị Lở vẫn chống trả lại. Cả đám dân oan khốn khổ chúng tôi xúm vào, cố bảo vệ mẹ con chị. Những bộ mặt hầm hố của CA (sắc phục lẫn không sắc phục) lôi kéo, xo đẩy chúng tôi. Mỗi người chúng tôi bị từ 2 đến 3 tên công an lôi kéo. Kim Thu, một chiến sĩ Dân chủ luôn gắn bó với chặng đường khiếu kiện của dân oan chúng tôi nhiều năm nay, bị 2 tên lực lưỡng lôi xềnh xệch lên thẳng tầng hai trụ sở công an. Viên công an tên Tuân xuất hiện, thái độ lạnh lùng, đưa mắt nhìn một lượt điểm mặt chúng tôi. Y ra hiệu cho mấy người có con nhỏ và một số người nữa phải ra về. Cuối cùng chỉ còn bốn chúng tôi là: tôi – Ninh Thị Định – Hải Phòng; Lê Thị Kim Thu – Đồng Nai; Nguyễn Thị Hướng – Hà Nội; Nguyễn Thị Hà – Đà Lạt. Bốn chúng tôi bị cách ly ra 4 phòng khác nhau để …lập biên bản. Người “làm việc” với tôi là đại uý Nguyễn Tân Tiến. Tôi ngồi ở tầng một mà vẫn nghe thếy tiếng gào thét của Kim Thu ở tầng trên. Một người kiên cường và gan dạ như Kim Thu mà phải gào thét lên như thế, chính tỏ chúng ra tay tàn bạo lắm. Nghe tiếng Kim Thu, lòng tôi đau nhói.

Một kẻ mặc thường phục vào yêu cầu tôi trả lời các câu hỏi của y. Tôi đề nghị hắn giới thiệu rõ chức danh, nhiệm vụ của y tôi mới trả lời. Y là Nguyễn Đình Hứa cán bộ an ninh Thành phố. Sau khi kết thúc bản khai ông Tiến thu của tôi một bộ hồ sơ kèm theo ảnh chân dung nói là để trình nơi có thẩm quyền giải quyết. Tôi được thả về phòng tiếp dân, và lấn lượt các chị em đều có mặt tại đây. Riêng Kim Thu đầu tóc rũ rượi. Trên mặt, trên cổ đầy những vết trầy xước còn đọng máu. Với sức lực trai tráng, những kẻ tàn ác – được gọi bằng cái tên rất kêu: “công an nhân dân” được sự chỉ đạo của đảng bắt đầu tra tấn một phụ nữ yếu đuối, khốn khổ. Chúng ấn cô ngồi xuống ghế, giật ngược tóc về đằng sau, đập đầu cô vào tường. Quá đau đớn, Kim Thu la lên thì lập tức bị những cáng tay lực lưỡng sấn đến bóp miệng, bóp cổ và ấn gáy cô xuống thành ghế đau đớn vô cùng. Thương Kim Thu quá! Mà cũng chẳng biết làm gì ngoài việc chửi bới cho xả cơn phẫn nộ (dù biết rằng những cỗ máy đánh người kia chẳng có tí ti lương tâm lẫn một chút suy nghĩ để mà cảm thấy xấu hổ trước lời chửi rủa): “Chúng tao là những người đi vạch mặt những thằng tham nhũng đã cướp nhà cửa tài sản của chúng tao, chúng mày là CA mà đánh dân thế à? Chúng mày là một lũ bao che được ăn tiền bẩn của bọn tham nhũng mới đánh dân thế này. Thế mà gọi là lấy dân làm gốc à? Lấy dân làm gốc mà đào cả dân lên thế à? Chúng mày đang đi lên dân trà đạp lên dân. Sáu điều ông Hồ dạy chúng mày để đâu?”

Cô Kim Thu nói khi đang ở tầng hai cô cũng hỏi chúng điều này. Tên CA mặc thường phục trả lời: “Ôi giời! Cái thời nhà tranh lá đã xa xưa rồi, mà ông ấy đã chết từ lâu rồi”. Thật xót xa những bài học thường ngày của hàng ngũ này đã bị tầm phỉ nhổ một cách không thương tiếc.

Cứ thế… cứ thế! Cho tới 13h mới có sự lưu tâm lấy lệ của một viên cảnh sát mặc thường phục( mà sao bọn họ không dám mặc sắc phục nhỉ?): “Các chị ăn gì chưa?” Chúng tôi đồng thanh nói: “chúng tôi không thèm ăn, không thèm uống của CA”. Cho tới 14h bà con dân oan mới đem cơm ăn, nước uống cho chúng tôi. Có lẽ vì mệt và bức xức quá lên chị em chả muốn ăn gì…

Riêng tôi ngày 11/6/2007 bị CA phường Quán Thánh bắt lúc đang giương biểu ngữ tại số 1 Hoàng Văn Thụ cùng một số bà con: bà Nguyễn Thị Thuận ở 32 Nguyễn Khắc Hiếu – Hà Nội; bà Thân Thị Giang – Bắc Giang; bà Trần Thị Tuyết – Hải Phòng, chúng tôi bị giam giữ từ 14h, bắt chúng tôi liên tục tường trình khai báo đến 24h khuya không cho ăn uống gì, khi tôi bị đau đầu và nói với CA Bạch Hương Tân (không mặc sắc phục) biết nhưng y vẫn không tha. Sau khi làm xong mọi việc theo yêu cầu của họ, đến 5h sáng ngày 12/6/2007 họ phải đưa tôi đi cấp cứu, sau khi sơ cứu tôi phải về Hải Phòng và mổ cả hai mắt vì đã bị thiên đầu thống. Tiếp sau đó tôi được biết bà Tuyết và bà Giang bị đưa đi giam giữ, dốt chung cùng tội phạm tại quận Ba Đình sau 9 ngày mới được thả về. Nghĩ tới an nguy của đôi mắt, tại đây – phường Ô chợ Dừa tôi phải cố nén căm tức mà ăn cơm.

Cho tới 19h cùng ngày (11/6/2008) tôi thấy xuất hiện viên lái xe của phường Điện Biên – Nguyễn Đình Hải và hai thanh niên gắn mảnh giấy vào ngực có ghi tên Chính, còn thanh niên kia không rõ tên tuổi, hai người mặc thường phục xưng danh là CA phường Điện Biên lập biên bản với chúng tôi, nội dung là hai thanh niên nhận diện một trong bốn chúng tôi, ai đã cắn vào tay Nguyễn Đình Hải chảy máu khi đang thi hành công vụ ở 37 Hùng Vương ngày 28/5/2008. Sau một hồi nhận diện, thanh niên kia chỉ vào chị Hướng – Hà Nội, họ lập biên bản sau đó yêu cầu chúng tôi kí vào. Chúng tôi không kí và hỏi: “ngày đó các ông đang thi hành công vụ là đánh một cụ ông ở Tây Ninh khoảng hơn 70 tuổi, bóp cổ và dúi đầu ông ngã xõng xoài ra đường Hùng Vương, ngất xỉu phải đưa đi cấp cứu và nhét giẻ vào miệng một phụ nữ là công vụ nào!? Ai kí quyết định công vụ đó? Bằng chứng nào là thể hiện chị Hướng cắn ông Hải?” Và ngay tại đây, chúng tôi nói: “giờ các ông lập biên bản đi! Cô Thu chỉ rõ mặt thằng CA đánh cô thương tích còn đây”. Cùng lúc một người mặc thường phục xuất hiện, cô Thu la lên các chị ơi! “Thằng kia nó đánh em đấy”, tức thời người đó chửi cô ngay: “Đ… mẹ mày tao còn đánh nữa” không chụi nổi chúng tôi tức thì cùng chửi luôn: “mẹ thằng CA kia mày cậy là CA mày đánh dân à!? Ai cho mày cái quyền ấy?” Nhân đây chúng tôi vạch rõ: tên Hải lái xe và cùng một số CA phường Điện Biên là hiện thân của những thằng ác ôn khét tiếng, một lũ với những phần tử “hoàn lương” luôn đàn áp và bấm huyệt chúng tôi khi chúng tôi đến nhà phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng. Bọn chúng là lũ hổ đói luôn gầm gừ và sẵn sàng lao vào cắn xé chúng tôi những người dân oan, ví thể như chúng sắp bị mất miếng mồi ngon mà chúng tôi đã nhìn thấy.

Sau khi chúng tôi đồng lòng không kí tên vào biên bản, một viên cảnh sát mặc thường phục đọc biên bản thả chúng tôi về, tuy nhiên chúng tôi đòi xem biên bản, họ không cho xem và đi mất.

Với tâm trạng bức xức, chúng tôi hẹn mai tiếp tục đến Hoàng Cầu (địa điểm đã bắt chúng tôi) để sẵn sàng tiếp tục bị bắt.

Đúng hẹn thứ 5 ngày 12/6/2008, bẩy sáng chúng tôi có mặt. Song hôm nay lực lượng của họ ít hơn và không làm gì nữa, cứ mặc cho chúng tôi “đả đảo” và giương biểu ngữ. Còn họ thì đứng làm hàng rào che chắn, bảo vệ để xe ôtô của “các đầy tớ” đi qua.

Chỉ bấy nhiêu dân oan mà đã phải hứng chịu cách đối xử của CA thành phố Hà Nội – thủ đô thanh lịch, có một điều họ thống nhất kiểu hành xử man rợ. này . CA phường Điện Biên họ thường buông lời phát ngôn: “chúng mày là lũ chây ì, dốt mẹ chúng mày vào hết bắn bỏ v.v…” Tôi thiết nghĩ đây là một lũ ác ôn khoác áo chính quyền để bảo vệ cho lớp quan tham từ địa phương đến TW. Dân cứ việc khiếu kiện. Việc của “chúng ông” là bịt mồm và dập tắt ý định đòi công lý của chúng mày( vì làm gì có công lý mà đòi). Khi chúng tôi- những người dân oan phải gõ cửa đến Thủ tướng Chính phủ thì bị đàn áp. Có phải Thủ tướng chỉ đạo để khỏi giải quyết không? Bởi ông quá nhiều việc! Hay là…???

Có phải việc CA đàn áp dân oan là chỉ đạo của Bộ trưởng Lê Hồng Anh và Thượng tướng Thứ trưởng Bộ CA Nguyễn Văn Hưởng không?

Ông Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền đã nhận tiền tài trợ của 5 nước trên thế giới nhằm làm trong sạch ngành thanh tra trong việc giải quyết khiếu nại tố cáo. Hay số tiền này chưa đủ chia, nên dân oan chúng tôi chưa được giải quyết. Chúng tôi kiên quyết đấu tranh đến cùng để đòi lại quyền lợi hợp pháp của mình.

Nay kính cáo!

Ninh Thị Định. SĐT:0313827085 (3/20/215 Lê Lai, Máy Chai, Ngô Quyền, Hải Phòng).

http://www.vietnamexodus.org/vne0508/vnenews/danoan/Nhat%20ky%20hanh%20trinh%20dan%20oan(%20NTDinh).htm

Posted in Uncategorized | Tagged: | Leave a Comment »

Ông Minh Thi Bây Giờ Ông Ở Đâu?

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 8, 2008

SAIGON Nhỏ Nhật Báo

13861 Seaboard Circle, Garden Grove , CA 92843

Email: nhatbaosaigonnho@yahoo.com

Số 16 Thứ Bảy 06 Tháng 9, 2008

Trong Mục “Những Điều Nên Nói … ”

Ông Minh Thi Bây Giờ Ông Ở Đâu?

Nhật báo Saigon nhỏ số ra ngày thứ Tư 3 tháng 9 có đặt nghi vấn về chuyện ông Nguyễn Chí Thiện (NCT) thách đố vụ thử DNA khi vẫn có người thắc mắc về chuyện ông là NCT giả hay thật. Trong đó ông NCT cho biết nếu ông đúng thì người nào thách ông thử DNA phải trả cho ông $100,000 để ông làm việc từ thiện. Đào Nương tôi có nêu thắc mắc là nếu kết quả, ông NCT “bằng xương bằng thịt” hiện nay là đồ “dỏm” thì ông sẽ phải làm gì? cho đến nay chúng tôi vẫn chưa nhận được câu trả lời của ông NCT thì sáng nay chúng tôi nhận được bài viết sau đây của … một người không quen biết viết về ông NCT mà Đào Nương tôi xin đăng nguyên văn như sau:

Kính gởi Bà Hoàng Dược Thảo,

Thưa Bà:

Vì biết Bà rất bận và không dám làm phiền Bà nhiều. Nên lá thơ này tôi chỉ viết ngắn, nhưng cũng mong Bà đọc và cho ý kiến và nếu Bà muốn rộng đường dư luận nội trong 7 ngày kể từ ngày hôm nay tôi sẽ cho người đăng tải trên các website. Nếu Bà không muốn thì xin gởi lại email cho tôi biết .

Trong nhật báo Sài Gòn Nhỏ (SGN) số 14 thứ Tư ngày 3 tháng 9 /2008. Mục: Những điều nên nói. Chuyện dài … Nguyễn Chí Thiện. Theo sự nhận xét của nhiều người cho rằng: Bà Hoàng Dược Thảo (HDT) “thiếu sâu sắc” khi viết về nhân vật Nguyễn Chí Thiện. Vì nếu bất cứ ai muốn hiểu tường tận về nhân vật Nguyễn Chí Thiện, thì phải đọc nhiều tài liệu và sách vở, còn không thì cứ hiểu lơ mơ tựa như người “cưỡi ngựa xem hoa” mà thôi. Chuyện Nguyễn Chí Thiện đúng như Bà nói nó là “chuyện dài …”. Vì là “chuyện dài …” nên có nhiều điều liên quan đến nhiều nhân vật trong cộng đồng chúng ta đang sống khắp nơi và ở Hoa Kỳ này nói riêng.

Tôi xin tóm lược sự việc về tập thơ Vô Đề Khuyết Danh và nhân vật tên là Nguyễn Chí Thiện như sau:

Khoảng năm 1980 một tập thơ được xuất bản ở hải ngoại, tập thơ không có đề, không có tên tác giả. Nên thời đó người ta gọi đó là tập thơ Vô Đề và Khuyết Danh . Một thời gian sau nhà sách Tú Quỳnh cho xuất bản tập thơ Vô Đề này nhưng tự đặt tên tập thơ là: “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam ” với “192 bài thơ bi hùng” và tác giả vẫn là Khuyết Danh, tập thơ in tại Kim Ấn Quán số 3861 Motor Avenue , Culver City . CA 90230 điện thoại: (213) 559-0413, (ông Hồ Anh báo Văn Nghệ Tiền Phong có trụ sở tại Virginia cũng có trong vụ này). Thời gian sau đó nửa thì có nhiều nhà in tự in ra và đặc tên tập thơ “Vô Đề” với những cái tên khác nhau như: “Tiếng Vọng Tư Đáy Vực” hay “Hoa Địa Ngục” ..v.v.. nhưng vẫn không ai biết tác giả tập thơ Vô Đề kia là ai .

Ngày 28 tháng 11 năm 1989 nhật báo Người Việt số 32, do Đỗ Ngọc Yến lúc đó làm chủ nhiệm đã cho đăng bài viết của một người tên là Minh Thi . Theo lời Minh Thi thì tác giả của tập thơ Vô Đề nói trên tên là Nguyễn Chí Thiện và tập thơ Vô Đề kia có tên gọi là “Hoa Địa Ngục”, và tên Minh Thi có đưa cho Đỗ Ngọc Yến một tấm hình của một người mắt Lé và nói rằng: “đó chính là tác giả tập thơ Hoa Địa Ngục ông tên là Nguyễn Chí Thiện”. (chi tiết trong báo Người Việt số 32 nói trên)

Từ đó tập thơ Vô Đề và Khuyết Danh nói ở trên có tên tác giả và tập thơ cũng có tên mới . Minh Thi tự nhận có bị ở tù chung với Nguyễn Chí Thiện và Phùng Quán và 3 người là bạn với nhau (Minh Thi, Nguyễn Chí Thiện, Phùng Quán)

Vào khoảng tháng 4 đầu tháng 5 năm 1990 ông Trần Minh Lợi chủ nhiệm báo Mõ ở San Francisco, CA đã đi từ San Jose đến Nam California (khu bolsa bây giờ) và cùng với một người nửa tức nhà văn Trịnh Khải Hoàng (TKH) và nhà văn Trịnh Khải Hoàng cũng chính là tác giả của tập thơ “Khúc Thu Phong” (Trần Minh Lợi và Trịnh Khải Hoàng hiện nay vẫn còn đó). Trần Minh Lợi và Trịnh Khải Hoàng cả hai người cùng đến tòa soạn báo Người Việt để tìm gặp ông Minh Thi. Nhưng cả tòa soạn báo Người Việt đều không biết ai là Minh Thi cả. (lúc đó trong tòa soạn báo Người Việt có cả Đỗ Ngọc Yến đang làm việc).

Sau bài báo Người Việt số 32 ra ngày 28 tháng 11 năm 1989 Minh Thi xác nhận tập thơ Vô Đề khuyết Danh là tập Hoa Địa Ngục và tác giả tên Nguyễn Chí Thiện, thì sau đó một nhân vật khác có tên là Trần Nhu cũng nhảy ra viết bài xác nhận Trần Nhu cũng là bạn cùng tù với Nguyễn Chí Thiện tại trại Thanh Liệt ngoài Bắc Việt Nam. Sau này có cả Bác sĩ Bùi Duy Tâm (hiện có phòng mạch tại San Franciso) cũng xác nhận có biết Nguyễn Chí Thiện khi ông Tâm bị Hà Nội bắt cùng với giáo sư Stephen B. Young. Nhưng đây là lúc sau này .

Sau đó thì “Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam” nay người ta thường gọi là Mặt Trận Hoàng Cơ Minh hay là Mặt Trận Phở Bò và nay cũng có chi nhánh nửa là VNCTCMD gọi tắt là Việt Tân, đứng ra trao giải thưởng khoảng 8,000 đô la thời đó và nhờ người bảo lãnh cho tên Nguyễn Chí Thiện. Cho đến ngày 1 tháng 11 năm 1995 tên Nguyễn Chí Thiện đã đến phi trường San Francisco CA. Từ đó tên Nguyễn Chí Thiện đi lòng vòng nói đủ thứ chuyện trên trời đưới đất , lúc nói này lúc nói khác. Thiện nói rồi quên, quên rồi lại nói nửa. Nhưng có một điều trong 13 năm qua chưa ai thấy hay chưa bao giờ nghe được chính mồm Nguyễn Chí Thiện nhắc đến nhân vật Minh Thi (nói trên) bao giờ (Trần Nhu sau đó – sau năm 1995 – cũng đã “gây gỗ” với Nguyễn Chí Thiện. Nghe nói hiện nay Trần Nhu đã “quy y” trong một ngôi Chùa nào đó ở Nam Calif). Vậy Minh Thi là ai? Là Đỗ Ngọc Yến? Là một người nào đó trong tòa soạn báo Người Việt tự dựng ra tên Minh Thi? Hay là cả một băng làm việc trong tòa soạn báo Người Việt (thời đó) đều làm “tình báo” đặc trách về văn hóa cho Cộng sản. Như vậy nhân vật Nguyễn Chí Thiện mà chúng ta biết được hôm nay là cả một sự dàn dựng của Hà Nội và đám cán bộ ngoại vi của chúng ở hải ngoại. Nếu đặt nghi vấn cho Nguyễn Chí Thiện thì có thể nói bản thân tôi có thể hỏi cả trăm (100) câu hỏi mà tên Nguyễn Chí Thiện không thể nào trả lời được , mà những câu hi này đều do chính từ mồm của Nguyễn Chí Thiện nói ra .

Đại khái sự việc như vậy. Nên hiện nay những ai đã đặt nghi vấn về Nguyễn Chí Thiện thì không thể:

A) Đi thử DNA Nguyễn Chí Thiện (có lẽ do ông “giáo sư” nào đó bên Canada có đưa ra nghi vấn Thiện thật, Thiện giả nên chúng mới bảo rằng “phải đi thử DNA Nguyễn Chí Thiện” chăng?). DNA thì đâu có dính dáng gì đến tập thơ Vô Đề ?. Điều nên làm là: Yêu cầu NCT viết một lá thư bằng Anh Ngữ gởi cho tòa đại sứ Anh để xin lại tập thơ mà năm xưa “Thiện” đã trao cho sứ quán Anh tại Hà Nội ?! (lá thơ Thiện viết phải có sự kiểm chứng của nhiều người, nếu không như vậy thì Thiện sẽ nhờ người khác viết hộ và Thiện sẽ nói láo là do Thiện viết. Tương tự như lá thơ viết bằng tiếng Pháp trong tập thơ Vô Đề, đến nay chưa ai chính mắt nhìn thấy Thiện viết tiếng Pháp bao giờ.

B) Những lần tên Nguyễn Chí Thiện đi “diễn thuyết” thì không có nghĩa rằng Nguyễn Chí Thiện là tác giả viết ra tập thơ Vô Đề nói trên. Học thuộc lòng thì ai cũng có thể thuộc thơ được kia mà. Nhưng Tư Tưởng thì không thể nào ăn cắp được (tư tưởng trong 2 tập Thơ và Vè đã nói lên điều đó. Người hiện nay duy nhất ở Nam Calif có thể hiểu ý nghĩa của tập thơ Vô Đề trên kia chính là nhà văn Trịnh Khải Hoàng. Nếu ai có quen biết ông Trịnh Khải Hoàng xin chỉ dùm, xin Đa Tạ)

C) Thấy quốc hội Mỹ để cho Nguyễn Chí Thiện vào ngồi đọc “diễn văn” cũng đâu có nghĩa Nguyễn Chí Thiện là tác giả tập thơ nói trên. (“diễn văn” không ai đọc trong quốc hội vào ngày thứ Bảy cả, vì mấy ông bàn giấy hành chánh sau 2PM thứ Sáu là các ông đã chuồn về nhà hết rồi. Đọc “diễn văn” vào trưa thứ Bảy thì chỉ có một số người quét dọn trong đó họ thấy lạ nên đến xem mà thôi)

Tất cả hình như là đã bị bàn tay lông lá và bàn tay dơ bẩn nào đó lừa một cách đau thương. Nói đúng hơn nửa là hình như nhiều “Chủ Tịch”cộng đồng người Việt hải ngoại bị lừa trong một thời gian dài. Đến nay nhiều người vẫn chưa tỉnh và cũng chưa biết. Một số có biết nhưng lại không dám đứng ra nhìn nhận và xin lỗi vì đã “ủng hộ” cho Nguyễn Chí Thiện trong nhiều năm qua .

Tóm lại nếu báo SGN có đăng hay viết bài về vấn đề Nguyễn Chí Thiện thì tôi nghĩ rằng người viết cần phải đọc :

1) Đọc cả 2 tập thơ “{[Hoa Địa Ngục]} Vô Đề của thi sĩ Khuyết Danh” và “Hạt Máu Thơ của Vè Sĩ Nguyễn Chí Thiện” để so sánh tập nào là Thơ, tập nào là Vè gọi là “thơ vè”

2) Đọc để biết rằng: Nguyễn Chí Thiện đúng là tác giả của tập “Vè Hạt Máu Thơ”. Và đọc để biết Nguyễn Chí Thiện không phải là tác giả tập thơ Vô Đề thường được gọi là “Hoa Địa Ngục, Tiếng Vọng Từ Đáy Vực, Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam ”.

3) Đọc để so sánh văn phong, khẩu khí , ngôn từ , cách đặt câu văn trong tập Thơ và tập Vè để thấy Nguyễn Chí Thiện đã nhận vơ Thiện là tác giả tập thơ Vô Đề nói trên. Nguyễn Chí Thiện (NCT) thật hay giả điều này không có gì quan trọng, vì còn nhiều cách để so sánh nhưng không tiện nói ra đây. Nói ra chúng nó biết thì chúng nó sẽ vẽ đường cho Nguyễn Chí Thiện tiếp tục nhận vơ hắn là tác giả của tập thơ Vô Đề (điều này Nguyễn Chí Thiện nhiều lần đã làm nhưng chưa làm được, bằng chứng là đến nay vẫn còn nhiều người thắc mắc và đặt câu hỏi nhưng Thiện và nhóm của Thiện lại lờ đi không trả lời. Ngược lại Nguyễn Chí Thiện đòi “kiện” những người đã đặt câu hỏi cho Thiện).

Nếu Bà HDT chụi nhập cuộc “chơi” tôi sẽ bỏ công đánh máy ra cả 2 tập thơ (1) “Vô Đề của thi sĩ Vô Danh” và (2) “Hạt Máu Thơ của Vè Sĩ Nguyễn Chí Thiện” và gởi cho Bà để so sánh tập nào đúng nghĩa là Thơ và tập nào chỉ là Vè Nhái theo (nếu Bà chưa có dịp đọc hết cả 2 tập thơ và vè nói trên). Và đúng như nhiều người đã nói: “cách sắp đặt câu thơ, văn phong, khẩu khí” và đặc biệt là tập thơ Vô Đề tác giả Vô Danh đã gởi gấm cho những người quốc gia chân chính yêu nước những ước vọng gì của ông, chứ không phải tập thơ chỉ có chửi khơi khơi Cộng sản Hà Nội một cách cường điệu như nguyễn Chí Thiện đã từng làm.

Thi Sĩ Phải Là Người “Mi Thanh Mục Tú” tự ngàn xưa đến nay đã như vậy, ví như Người sinh ra thì phải có 2 mắt, 2 mũi, 2 tay, 2 chân vậy, nếu thiếu những bộ phận đó thì gọi đó là Quái Thai. Nguyễn Chí Thiện chỉ có thể là “nhà văn” để viết các truyện như là “hỏa lò” hay kể chuyện “ma”, vì chuyện Ma thì đòi hỏi “văn sĩ” mắt phải Lé để khi nhìn thấy Ma thì không phải sợ hãi chi cả. Và nếu Nguyễn Chí Thiện là “nhà văn” thì lại tội nghiệp cho những người như Bà Hoàng Dược Thảo quá .

Chúc Bà bình an

Kính,

Triệu Lan

Thêm: Những thi sĩ nổi danh trên thế giới này tự cổ chí kim chưa từng thấy Thi Sĩ nào mắt bị Lé cả . Đây là sự thật. Nếu không tin bà Hoàng Dược Thảo thử tìm một thi sĩ nổi danh nào mà mắt lại Lé. Nếu Bà chứng minh được, tôi sẽ mời Bà một chầu ăn ở bất cứ nhà hàng nào trên nước Mỹ Bà muốn. Nếu xa vùng Nam California tôi hứa sẽ đài thọ vé máy bay và xe cộ di chuyển cho bà (điều này tôi hứa tôi sẽ làm).

(ngưng trích)

Trong suốt thập niên 80 rồi 90, ông Trịnh Khải Hoàng trong nhóm của ông Lê Tư Vinh có ra tờ báo Vạn Thắng “vạch trần” sự giả hiệu của ông Nguyễn Chí Thiện dài dài dù là những bài viết trong đó ngoài ông Trịnh Khải Hoàng còn có những tên tuổi “lớn” khác như Phạm Nam Sách, Trần Ngọc Ninh góp phần. Trong thời gian đó, Đào Nương tôi cũng “góp phần” tí ti nhất là sau khi đọc Hạt Máu Thơ tức Hoa Địa Ngục 2. Đào Nương tôi đã viết trên báo Saigon Nhỏ là dù có hết ý vi` …già, vì bị nhiều năm tù ngục cộng sản thì cũng không tệ đến thế.

Theo thư của bà (ông) Triệu Lan ở trên thì việc khai sinh ra ông NCT là công của báo Người Việt, việc “lăng xê” ông NCT ở hải ngoại là “công” của đảng Việt Tân hay mặt trận Phở Bò và người Việt hải ngoại bị lừa bởi một ông mắt lé (Đào Nương tôi có được diện kiến ông NCT vài lần và quả thật không để ý đến việc này). Theo bà (ông) Triệu Lan thì … Thi Sĩ Phải Là Người “Mi Thanh Mục Tú” tự ngàn xưa đến nay đã như vậy, ví như Người sinh ra thì phải có 2 mắt, 2 mũi, 2 tay, 2 chân vậy, nếu thiếu những bộ phận đó thì gọi đó là Quái Thai. Nguyễn Chí Thiện chỉ có thể là “nhà văn” để viết các truyện như là “hỏa lò” hay kể chuyện “ma”, vì chuyện Ma thì đòi hỏi “văn sĩ” mắt phải Lé để khi nhìn thấy Ma thì không phải sợ hãi chi cả. Và Nguyễn Chí Thiện là “nhà văn” thì lại tội nghiệp cho những người như Bà Hoàng Dược Thảo quá.

Rồi bà (ông) Triệu Lan còn nhấn mạnh thêm về việc này: Những thi sĩ nổi danh trên thế giới này tự cổ chí kim chưa từng thấy Thi Sĩ nào mắt bị Lé cả. Đây là sự thật, nếu không tin bà Hoàng Dược Thảo thử tìm một thi sĩ nổi danh nào mà mắt lại Lé. Nếu Bà chứng minh được, tôi sẽ mời Bà một chầu ăn ở bất cứ nhà hàng nào trên nước Mỹ Bà muốn. Nếu xa vùng Nam California tôi hứa sẽ đài thọ vé máy bay và xe cộ di chuyển cho bà (điều này tôi hứa tôi sẽ làm).

Tìm ra một ông thi sĩ “thiên tài” cở như tác giải tập thơ Vô Đề mà mắt lé thì Đào Nương tôi đành chịu, chứ những ông mầm thơ, tự cho mình là thi sĩ mà mắt lé thì Đào Nương tôi nghĩ bà (ông) Triệu Lan chỉ cần ra ngồi ở café Factory ở quận Cam trong một buổi sáng chủ nhật thì tôi nghĩ ít ra bà (ông) Triệu Lan sẽ tìm ra ít nhất là ba (3) người. Viết tên mấy ông thi sĩ “luỡng nhãn bất đồng” ra ở đây thì kỳ, Đào Nương tôi sẽ mang tiếng là … làm thơ không hay bằng ai rồi đi nói xấu nhưng nếu bà đến toà soạn Saigon Nhỏ gặp ông Đặng Phú Phong thì ông ấy sẽ nói nhỏ cho bà nghe.

Tóm lại, trên đời này chắc không ai khổ hơn là ông Nguyễn Chí Thiện. Có cái tên mang trên người mà lâu lâu lại có người kêu là dỏm.

Đào Nương tôi mà như ông thì đứa nào thách tới đâu tôi sẽ làm tới đó…Hãy trả cho Ceasar những gì của Ceasar, Hãy trả tên của ông NCT lại cho ông NCT. Và trả Hoa Địa Ngục lại cho tác giả của nó.

Chuyện hư thực ra sao thì Đào Nương tôi không dám bảo, nhưng điều chắc chắn như một với một là hai thì: Hoa Địa Ngục 1 và Hạt Máu Thơ tức Hoa Địa Ngục 2 không thể là cùng một người. Chuyện rõ ràng như Đào Nương thì không thể là Đào Lang vậy mà mặc dù thời buổi này nương, lang có khi nhập nhoè nhưng cái giống những tài năng không khi nào nhập hay nhoè với nhau được cả.

ĐÀO NƯƠNG

http://www.hon-viet.co.uk/DaoNuong_OngMinhThiBayGioOngODau.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: , , | 2 Comments »

Dân Oan Biểu Tình Tại Việt nam – Khóc Mẹ Dân Oan

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 8, 2008

Dân Oan Biểu Tình tại Việt nam 2007. Tác Giả: Mac Thien, Trình Bày: Anh Phuong, Support the persecuted vietnamese living in Vietnam. Dan Oan Bieu Tinh tai Vietnam 2007.

Posted in Uncategorized | Tagged: , , | 1 Comment »

Nguyễn Minh Triết – Hồ Chí Minh

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 8, 2008

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Trí Thức Trả Lời Sĩ Ngoáy

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 8, 2008

Trí Thức Trả Lời Sĩ Ngoáy

Kỵ Binh

Kính ông Phó Ngoáy,

Nhìn qua cái tựa bài tôi trả lời ông trên đây, hẵn ông đã hồ hỡi phấn khởi ngay: hai chữ “Trí Thức” tổ chảng chắc chắn đảm bảo chất lượng những điều tôi viết; ông cứ an tâm mà đọc cho …hết.

Đáng ra, những người trí thức như tôi không hơi đâu hạ mình xuống giao lưu làm việc với những kẻ bạ đâu ngoáy đó, nhưng thấy ông có vẻ thiết tha muốn đào sâu quán triệt xuyên suốt những điều Bác dạy, trong khi tôi vốn xuất thân từ đội ngũ cháu ngoan Bác Hồ, luôn luôn tâm niệm trong bất cứ tình huống nào cũng phải đứng lên bảo vệ sự trong sáng lời Bác dạy, hơn cả bảo vệ con ngươi của mắt mình. Vì vậy, Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác Lênin bách chiến bách thắng, dưới sự dẫn dắt không bao giờ sai của tư tưởng Hồ Chí Minh luôn sống mãi trong sự nghiệp chúng ta, tôi trả lời ông Phó Ngoáy như sau:

1/”Thà hy sinh tất cả, chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.Ông Phó viết hy sinh tất cả là dân Việt chết hết sạch rồi, thì còn nước mà làm chi! Thắc mắc như vậy là ông Phó đã quên Bác từ Mút Cu, à quên, tôi lại lỡ lời nói theo bọn Ngụy, Mát Cơ Va về nước với sứ mạng một điệp viên của Quốc Tế Cộng Sản nhằm đưa vùng Đông Dương trong đó có phần mà ta gọi là nước Việt mến yêu vào thế giới đại đồng. Đã vào được cái chuồng chung đại đồng rôi thì sợ chi không có người ở, như ông lo! Còn cái khâu “không chịu làm nô lệ”, ta phải nhớ rằng, Bác phán dạy điều này trong thời ký toàn dân ta kháng chiến chống thực dân Pháp, nên ý Bác là “không làm nô lệ” cho giặc Pháp, chứ chắng phải là “không làm nô lệ” cho bất cứ ai.Chính vì vậy mà hôm nay (tượng) Bác đứng tươi cười khắp nơi nhìn cả nước đang nô lệ Tàu, nô lệ bọn Tư Bản Mỹ, Nhật, Đại Hàn, Đài Loan, Singapore …; là cha già cái nôi của loài người, Bác lại càng tự hào nhìn đàn cháu gái tấp nập xếp hàng cho đàn ông từ tứ phương thiên hạ đổ xô đến tuyển chọn làm vợ, làm đĩ, đặc biệt là nơi thành phố mang tên Bác kính yêu ….

2/”Vua Hùng có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước”. Ông Phó trách Bác chỉ dạy “giữ” nước mà không dạy “phát triển” nước. Ông Phó lại quên bài học rồì! Phát triển đất nước cần gì phải dạy. Lao động là vinh quang. Làm theo khả năng. Hưởng theo nhu cầu. Làm chủ tập thể. Nội cái “lao động là vinh quang” cũng đủ khiến mọi người tay cầm liềm , vai vác búa chạy túa ra, đạp lên nhau mà ra đồng ruộng, vào hãng xưởng, khi kẻng hợp tác xã báo giờ lao động bắt đầu. Bác Hồ dạy “giữ nước” là giữ khỏi tay bọn Ngụy, cụ thể là lý lịch ba đời bọn chúng; đặc biệt cái đám đĩ điếm trộm cắp xì ke ma túy vượt biên vượt biển tiếp tục ôm chân bọn đế quốc Mỹ; bọn này mặc dầu ngày nay đã được Đảng và nhà nước ta khoan hồng cải tên thành “khúc ruột ngàn dặm”, là “máu của máu Việt Nam”, nhưng cho phép chúng gửi Đô La Mỹ về thì .. tốt, chứ chúng đừng hòng về mà xây dựng… đa nguyên đa đảng . “Giữ nước” ở đây là giữ cho ai khác: chú Lê Duẩn đã phán, “Ta đánh Mỹ Ngụy là đánh cho Liên Xô”…

3/”Vì sự nghiệp mười năm, trồng cây; vì sự nghiệp trăm năm, trồng người”. Ông Phó lại chê Bác “chỉ biết trồng cây, trồng người mà không lo chăm sóc”, chứng tỏ ông Phó không quán triệt lịch sử sự nghiệp Bác, không nắm bắt kịp tình hình cụ thể. Con cái của Bác, Bác trồng ra một lô, vung vãi trên Đất Tây, đất Tàu, hang Pắc Bó, Hà nội; Bác có chăm nom nuôi nấng chúng đứa nào ngày nào đâu, mà nay đứa thì làm đến chức Tổng Bí Thư Đảng CSVN quang vinh muôn năm, đứa thì đang giàu nứt đất đổ vách ở Hà nội

Thưa ông Phó Ngoáy,

Sau khi khổ công đọc hết ba câu trả lời của tôi, ông đã dễ dàng nhận diện ra hạng trí thức cỡ tôi chỉ là trí ngủ. (Trí thức thứ thiệt lên tiếng đáp lời ông, sẽ “ngon” hơn tôi nhiều. Nếu như không bị ông Phó ngoáy vào tai như thế, chắc chắn là cứ mãi miết nằm ngáy kho kho, bụng no bo cỡi .Xưng là “Trí Thức Trả Lời Phó Ngoáy”, mà thực ra trí ngu này muốn cảm ơn Bác Phó đã kéo bỉ nhân ra khỏi cơn mê .

Nhưng Bác Phó à, vốn bản chất, không cách chi thóat khỏi quan tính nữa; tỉnh được chốc lát, trí tôi lại buồn.. ngủ rồi. Kính chúc Bác Phó dồi dào sức khoẻ trong sự nghiệp Ngoáy cao cả của Bác . Sự nghiệp ngoáy vĩ đại sống mãi trong lòng chúng ta .

Tôi đi ngủ đây.

http://www.vietnamexodus.org/vne0508/modules.php?name=News&file=article&sid=721

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Video Nhạc: Hướng về Thái Hà

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 8, 2008

Video Nhạc: Hướng về Thái Hà

VietCatholic News (Thứ Bảy 06/09/2008 16:53)

Video:

http://catholicvideo.org/VcatMedia/video/showvideo.aspx?video=HuongVeThaiHa.wmv

 

THÁI HÀ – Bất kể trời nắng chang chang hay trời mưa tầm tã, từ hơn một tuần này khách thập phương tiép tục về Thái Hà như nước chảy. Họ đến để kính viếng Đức Mẹ và tìm hiểu ngọn nguồn thực hư vụ Thái Hà. Họ đến để nâng đở tinh thần cho giáo xứ Thái Hà trong cơn khốn khó. Có nhiều thanh niên nam nữ đến đây và đã tìm được ơn hối cải. Có những bà mẹ quê tìm thấy nơi Mẹ Maria nguồn cậy trông và ơn linh cảm…. Họ đến từ các giáo xứ ở Vinh, Thanh Hoá, Thái Bình, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nam, Nam Định, Phú Thọ, và ngay từ từ Miền Trung và Miền Nam Việt Nam, v.v. Bài hát này nói lên tâm tình của mọi người muốn hướng về Mẹ Maria ở Thái Hà.

Alpha Linh

http://www.vietcatholic.org/News/Html/58187.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

TỪ MẶT TRẬN đến ĐẢNG VIỆT TÂN

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 8, 2008

TỪ MẶT TRẬN đến ĐẢNG VIỆT TÂN – Phùng Ngọc Sa –

Mặt trận nói trên là Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam, hay Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, thường gọi tắt là Mặt Trận (MT); Đảng Việt Tân, do tiếng ghép của những chữ Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng.

I- / Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam.

Nhờ sưu tầm, chúng tôi được biết có nhiều sách báo viết về MT, nhưng có lẽ quyển hồi ký «Trả Ta sông Núi 3» phát hành tại Hoa Kỳ trong năm 2004 của cựu đại tá Phạm Văn Liễu, nguyên Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hải Ngoại của MT, (kể từ khi thành lập năm 1981 cho đến ngày «tan vỡ» vào cuối năm 1984) là một tài liệu chứa đựng nhiều chi tiết khả tín và có tính cách thuyết phục. Lý do: Ông là nhân vật đóng vai chính trong việc tổ chức và sáng lập MT viết.

Khi công khai hoạt động, theo hệ thống tổ chức và phân nhiệm, MT được chia ra làm 2 bộ phận:

– Trong nước: Do Tổng vụ Quốc Nội: Nhiệm vụ là trực tiếp chiến đấu để lật đổ bạo quyền cộng sản, người lãnh đạo là phó đề đốc Hoàng Cơ Minh.
– Tại ngoại quốc: Do Tổng vụ Hải Ngoại: Đặc trách xây dựng và phát triễn cơ sở hậu cần, vận động với cộng đồng người Việt trên thế giới, góp công góp của, giúp kháng chiến trong nước; người đứng đầu là cựu đại tá Phạm Văn Liễu.

Hoạt động song hành với MT còn có Phong Trào Quốc Gia Yểm Trợ Kháng Chiến do ông Phạm Ngọc Lũy, hội trưởng Hội Trường Xuân (1), một người đạo đức và rất được tín nhiệm của đồng hương Việt Nam lúc bấy giờ làm Chủ tịch; ông Lũy phụ trách kêu gọi đồng bào Việt Nam khắp thế giới đặc biệt là những người có cảm tình vì từng chịu ân của ông tích cực tham gia ủng hộ tổ chức kháng chiến trong nước.

Xin sơ lược qua về đại tá Phạm Văn Liễu, tác giả 3 quyển hồi ký «trả ta sông núi», đặc biệt trong quyển 3 có ghi rõ nhiều sự kiện liên quan tới MT. Được biết, cựu đại tá Phạm Văn Liễu, nguyên Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hải Ngoại của MT là người đã từng đãm nhận chức vụ Tổng giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia dưới thời nội các của bác sĩ Phan Huy Quát vào những năm 1965-1966.

– Trước đó, vào những năm 1945-1946, ông Liễu là một thanh niên yêu nước đã tình nguyện đứng vào hàng ngũ Mặt Trận Quốc Dân Đảng để chống nhau với Mặt Trận Việt Minh cộng sản. Ông được cử theo học khóa huấn luyện quân sự tại trường Lục Quân Yên Báy, trung tâm nầy do các giáo quan Nhật Bản trực tiếp đào tạo và giảng dạy. Bị thất bại trong cuộc chiến đấu chốâng bọn Việt Minh cộng sản nên ông phải lưu lạc sang Tàu. Trở về nước, ông theo học và tốt nghiệp khóa 5 trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt năm 1952. (Người viết tốt nghiệp khóa 8 -1953).
– Là sĩ quan theo học khoá I Sĩ Quan Hải Quân Việt Nam. Kế đó được giao phó nhiệm vụ thành lập và là Tư Lệnh đầu tiên của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.Thất bại trong cuộc đảo chính chống chế độ Ngô Đình Diệm năm 1960, ông phải lưu vong tị nạn chính trị tại Cao Miên.

– Sau năm 1975, đại tá Liễu may mắn thoát nạn cộng sản và định cư tại Hoa Kỳ. Mặc dù tuổi tác đã cao, gia đình tuy mới tạm ổn định, nhưng vốn mang dòng máu tự hào cách mạng, ông đã kết nghĩa với phó đề đốc Hoàng Cơ Minh và cả hai cùng nhau thề nguyện mang hết ý chí, khả năng vận động kết hợp tất cả chiến hữu thành một khối để thành lập một mặt trận tiêu diệt chế độ CSVN. Tiếc thay, ông bị thất bại, «Họa hổ bất thành khuyển» (Vẽ con cọp thành con chó). Công cuộc giải phóng quốc gia tới đâu thì không thấy, nhưng chính ông đã vô tình giúp một số người vì quyền lợi phe nhóm làm mất chính nghĩa của MT. Ngoài ra, do những việc thu nhập tiền bất chính, cộng thêm các hành vi lừa gạt đã làm cho bầu không khí chính trị tại hải ngoại bị vẩn đục, tập thể người Việt tị nạn phân tán chia rẽ. Mất niềm tin và nghi ngờ lẫn nhau.

Theo giới thông hiểu nội tình, thì không phải vì ông Liễu cùng ban tham mưu của ông thiếu hiểu biết về các nhân vật mà họ liên kết khi thành lập MT nên làm hỏng đại sự, mà thực ra do ông vì quá tự tin, nghĩ mình là một pháp sư cao tay ấn, có khả năng tạo ra âm binh, thì cũng đũ bản lãnh để điều khiển chúng. Tiếc thay, trong vai phù thủy, ông đã không đũ sức hô phong hoán vũ điều khiễn âm binh, lại thiếu đề phòng nên bị chúng quật lại diệt luôn phù thủy và khiến ông trở thành một kẻ tòng phạm.

Tuy nhiên, điều đáng khâm phục là trước khi bước vào hoàng hôn cuộc đời, tác giả còn có can đảm nói lên sự thật, vạch ra những lỗi lầm của MT và nhờ tài liệu đó, chúng ta biết được là MT đã phản lại sự nghiệp chống cộng giải phóng quê hương. Việc làm của tác giả là một hành động xám hối và là một tiếng chuông cảnh tĩnh cho những ai dễ tin, đặc biệt là tuổi trẻ rút kinh nghiệm mà xa lánh tổ chức nầy.

Trước đây, lúc còn sinh hoạt và đặc trách bộ phận An Ninh trong một chính đảng; do sự giúp đở của các đồng chí và một số nhân vật từng tham gia MT. Chúng tôi đã thu thập được nhiều tin tức liên quan đến MT. Đem đối chiếu nó với các tài liệu ghi trong sách của ông Cao Thế Dung, hồi ký Trả Ta Sông Núi 3 (Trtsn) của đại tá Phạm Văn Liễu, chúng tôi biết được là trong quá trình 23 năm hoạt động, kể từ khi thành lập năm 1981 cho đến lúc tuyên bố giải tán để cho ra đời đảng Việt Tân vào ngày 19-9-04, MT chưa lập được một thành tích gì khả dĩ giúp dân cứu nước, mà chỉ thành công trong kế hoạch kinh tài có lợi cho phe nhóm, và xây dựng được một hệ thống bán phở. Vì thế, người đời mới chế diễu, đổi tên MT đáng lẽ là một công cụ đấu tranh chống cộng thành ra « Mặt Trận Phở Bò».
Phần còn lại MT chỉ tạo cho mình một hình ảnh không mấy tốt đẹp là: – Dối trá lừa gạt – Hù dọa làm tiền và sử dụng bạo lực..

* Dối trá lừa gạt: Từ hình thức lẫn nội dung. Xin trưng dẫn một vài vụ điễn hình:

1- Ngay từ lúc khởi sự, người đứng đầu quốc nội đã mưu đồ buôn bán kháng chiến dưới hình thức lập chiến khu giả để câu khách kiếm tiền. Ý định đó bị phản đối, MT lại đi thuê đất ở Thái Lan lập căn cứ địa chiến đấu.

Theo hồi ký «trả ta sông núi» (trtsn) ở trang 195 ông Liễu viết, khu chiến của ông Hoàng Cơ Minh, là một mảnh đất rừng mà ông ta đã thuê lại của tướng Thái Lan tên Sutsai.Thử hỏi, lập khu chiến mà phải thuê đất của một tướng Thái, là một bọn được coi lưu manh, tham nhũng bậc nhất thì làm sao tiến hành tổ chức kháng chiến được: Với bọn Thái nầy, khi vòi được tiền, chúng tạm để yên, nhưng khi CSVN ngả giá cao hơn, là bọn tướng tá Thái trở mặt và bán đứng ta ngay.

Kinh nghiệm cụ thể: Một chiến hữu của chúng tôi nhờ quen biết với đại tá Sauvageot, (tên Việt là Nguyễn Hữu Hai) đặc trách công tác tìm M.I.A (Người Mỹ mất tích) tại sứ quán Hoa Kỳ, Bangkok, Thái Lan. Trước kia, ông là một cố vấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Xây Dựng Nông Vũng Tàu mà tôi thường xuyên liên lạc. Là một người Mỹ sành tiếng Việt, thuộc lòng quyển Kiều; bạn tôi được đại tá Sauvageot thuận cho tham gia công tác tìm MIA. Nhưng chiến hữu nầy vì không đồng ý để bọn Thái Lan hướng dẫn lộ trình nên bị chúng kiếm cớ trục xuất ra khỏi đất Thái trong vòng 24 giờ.

Thuê đất của bọn Thái lập chiến khu, mướn thường dân Lào làm lính đóng kịch, giả làm kháng chiến quân (trtsn 200-204) để trang trí cho buổi lễ ra mắt Khu Chiến và tuyên bố Cương Lĩnh Chính Trị của MT đã là một hành động lừa dối, nhưng có thể tha thứ được, vì dù sao buổi đầu cũng cần đánh bóng thổi phồng để huyên truyền có lợi cho đại cuộc. Nhưng ông Hoàng Cơ Minh, (HCM) Tổng Vụ Trưởng Quốc Nội (TVQN) chỉ quanh quẩn trên đất Thái, Nhật hoặc Hawaii thế mà ông dám phịa ra là đã quy tụ được 36 tổ chức trong nước, và đã có trên 10.000 tay súng (trtsn 320) thì quá đáng.

2- Chủ trương lừa gạt ngay cả trong nội bộ:

Khi ông Liễu dẫn phái đoàn hải ngoại từ Hoa Kỳ đến thăm khu chiến còn được gọi là căn cứ số 9 (trtsn 209); ông HCM đã giàn dựng cho mọi người tưởng là khu chiến nằm sâu tận trong lãnh thổ Ai Lao, chứ không nằm trên đất Thái, nên mới bố trí cho phái đoàn hải ngoại của ông Liễu nếm mùi gian khổ: từ đường cái vào khu chiến phải vượt rừng, lội suối, ngược giốc, phơi nắng tới 2 ngày và một đêm; đó là chưa nói đường đi trơn trợt quanh co, vất vả gian nan lắm mới tới chiến khu. Thế mà khi trở ra thì chưa đầy 3 tiếng đồng hồ đã tới đường cái, có xe chờ sẵn. Đặc biệt, ông Hoàng cơ Minh rời chiến khu sau, nhưng khi phái đoàn về tới Bangkok thì ông Minh đã quần áo tươm tất chờ sẵn.. Dấu đầu bị hở đuôi.

3- Dối trá trong việc dấu nhẹm cái chết của ông Hoàng Cơ Minh:

Lúc bị giam ở trại «cải tạo» cũng như thời gian còn kẹt trong nước, nguồn an ủi và hy vọng độc nhất của chúng tôi là nhờ vào các tin tức liên quan đến phong trào Kháng Chiến, hoặc Hoa Kỳ sẽ cứu ra khỏi tù và được « Tống xuất».
Khi được thả ra từ trại tù nhỏ về sống vất vưởng trong nhà tù lớn, thì nguồn hy vọng nói trên đã tăng gấp bội.Mặc dù bị quản chế chặt chẻ, bị bưng bít nhưng ít nhiều vẫn tiếp nhận được tin tức kháng chiến chống cộng, và nhờ thế cuộc sống có phần dễ thở. Khốn thay, lúc được trả quyền công dân vào năm 1987, việc di chuyển dễ dãi đôi chút, hơn nữa vì sinh kế phải giao thiệp biếu xén bọn công an, nhờ thế mới biết được lãnh tụ kháng chiến HCM đã hy sinh. Mặc dầu thấy bọn công an đem cái chết của ông Minh ra triển lãm và bêu rếu, phần lớn anh em chúng tôi vẫn cho đó là một vụ ngụy tạo và nói láo của cộng sản. Đến lúc thu thập đủ bằng chứng xác thực ông HCM đã chết, thì kể như trời sập! Bao nhiêu hy vọng đều sụp đổ tiêu tan, bỏ ăn, mất ngủ. Ấy vậy mà lúc được qua Mỹ theo chương trình H.O vào năm 1991, và tiếp mãi nhiều năm về sau, cán bộ MT vẫn nói là lãnh tụ HCM hãy còn sống, vẫn lãnh đạo kháng chiến; chiến trường chống cộng vẫn sôi động: hôm nay thì đơn vị VC nầy bị phục kích, bữa khác kho đạn của chúng bị quân kháng chiến phá hoại v.v. Chưa hết, sẽ có thư chúc Tết của lãnh tụ HCM, cố đón chờ.

Quả thật, không có gì đáng buồn bằng lấy cái chết một người được tôn phong làm anh hùng, đã từng hy sinh tất cả, kể cả mạng sống để đổi lấy một số lợi lộc nào đó. Theo đánh giá, sở dĩ MT cố bưng bít dấu nhẹm cái chết của ông HCM, vì họ chủ trương càng giữ kín và kéo dài lâu, thì số tiền buôn bán kháng chiến càng thâu được thêm nhiều. Lý do đó, nên mới có chuyện ông HCM bị hy sinh vào cuối năm 1987 mà mãi cho đến năm 2001, nghĩa là 14 năm sau, MT mới chính thức khai tử ông. Và đến lúc cần phải giải thích, thì họ lại ngụy biện: Trong một buổi hội luận trên đài Tiếng Nước Tôi giữa ông Lê Thành Tùng và bác sĩ Đặng Vũ Chấn, một khuôn mặt không những hoàn toàn xa lạ với chính giới Việt Nam mà xa lạ ngay cả trong hàng ngũ lãnh đạo MT, như bác sĩ Trần Xuân Ninh, ông Hoàng Cơ Định, Hoàng Cơ Long, Nguyễn Kim Hườn v.v.

Dịp nầy, ông Đặng Vũ Chấn đã nói: Tin lãnh tụ HCM bị hy sinh là do bọn VC nó tung ra, thì làm sao có thể tin, vì thế phải cần nhiều thời giờ để kiểm chứng, lý do đó nên mới có sự chậm trễ trong việc loan báo.

Ô hay! Phải chăng ông Đặng Vũ Chấn quá coi thường dư luận, xem thính giả và đồng bào trong nước cũng như hải ngoại chỉ là một lũ khờ khạo, nói sao nghe vậy không cần lý luận phải trái. Ông HCM, là tư lệnh một Khu Chiến, ngoài chiến hữu trực tiếp chiến đấu, còn có hệ thống liên lạc; bên cạnh còn đảng Việt Tân hoạt động bí mật từ năm 1982. Thế mà không một ai có trách nhiệm kiểm nhận và thông báo cái chết của lãnh tụ, thì quả là một sự kiện quá vô lý.

Có lẽ khi ngẩu hứng giải thích với thính giả về cái chết của ông HCM, ông Đặng Vũ Chấn quên không nghĩ đến hoạt động phản gián và tuyên truyền của bọn VC. Nếu CSVN muốn cố tình đánh phá MT, chúng đã ồ ạt tung cán bộ và phương tiện trưng dẫn bằng cớ chứng minh là ông HCM đã chết thì MT sẽ vô phương chống đở. Nhưng không, bọn cộng sản lại ma quái, áp dụng kế hoạch «chim tu hú mượn ổ sáo sậu» để gài cán bộ vào hàng ngũ MT.

Dân gian ai cũng biết loại chim tu hú vốn tinh ranh, không làm tổ, chỉ chiếm tổ sáo sậu trước là xơi trứng rồi phi tang vỏ; kế đó mượn ổ đẻ trứng. Sáo sậu nhà ta khi về tổ tưởng là trứng của mình, lo thu hết công sức ấp trứng của tu hú. Đến khi trứng nở, tu hú con bay theo mẹ.. CSVN đã sao cóp y nguyên bản. Chúng biết rõ MT muốn dấu nhẹm cái chết của ông Minh, bọn chúng tương kế tựu kế áp dụng màn «Tu hú mượn ổ sáo sậu». Do đó trong nước, cộng sản chỉ qua loa tuyên truyền là đảng thẳng tay tiêu diệt bọn kháng chiến phản động, còn tại hải ngoại thì chúng áng binh bất động, mượn cơ sở sẵn có, gài cán bộ vào tổ chức MT. Phải chăng 14 năm là thời gian cần và đũ để phản gián VC xâm nhập và cấy «sinh tử phù» vào một tổ chức có tiếng chống cộng tại hải ngoại.

*- Hù dọa để thu tiền. Áp dụng bạo lực.

– Hồi ký Trả Ta Sông Núi 3 của cựu đại tá Phạm Văn Liễu tố cáo MT chủ trương bằng mọi giá, kể cả hăm dọa để «tận thu»tiền bạc. Cụ thể trong thư từ Thái Lan viết cho ông Liễu ngày 09-02-1982, HCM dưới tên Nhật là Komori C Masaaki đã thúc giục hải ngoại phải đóng góp nhiều hơn nữa, nếu cần thì phải «hù dọa» (Trtsn 399). Lý do đó mà MT đã áp dụng nhiều thủ đoạn thu các nguồn tiền, từ: Nguyệt liễm; đóng góp của đồng bào; hàng vạn «lon kháng chiến» đặt tại phòng mạch bác sĩ, nha sĩ, nhà hàng; tiền của các đoàn viên tình nguyện bỏ công sức làm cuối tuần như : cắt cỏ, dựng hàng rào, xây tường gạch v.v. (Trtsn 355) Tất cả số tiền thu được đều chui thẳng vào túi không đáy của Vụ trưởng Vụ Tài Chánh Hoàng Cơ Định (em ruột của HCM) một cách không phân minh; không kế toán sổ sách. Do hành động bất hợp pháp đó mà vào ngày 22-4-1991, một số đầu lĩnh của MT bị bắt, bị còng tay và đẩy lên xe cây vì các tội danh âm mưu khai gian thuế, trốn thuế, và không khai thuế .(Trtsn 450)

– Có nhiều dư luận cho rằng vợ chồng anh Lê Triết cũng như nhà văn Duyên Anh sở dĩ bị thảm sát vì phê bình những sai trái của MT. Nhưng vì thiếu chứng cớ, vụ án được xếp lại. Tuy nhiên, bản thân người viết cũng xin đưa ra vài bằng chứng cụ thể, MT đã bắt chước CSVN áp dụng bạo lực với tất cả những ai không đồng ý với họ. Xin trưng dẫn 2 sự kiện dưới đây:

1-/ Vào dịp lễ Giổ Quốc Tổ năm 1994, lúc đó chúng tôi vừa mới tới định cư tại Hoa Kỳ.Vì chưa nắm vững tình hình nên đã bộc trực lên tiếng phản đối Ban tổ chức treo khẩu hiệu «Lể Giổ Quốc Tổ, Mừng Ngày Quốc Khánh». Sau đó, qua một bài viết, tôi đã phản bác và giải thích: Giổ Quốc Tổ là một nghi lễ truyền thống; Quốc Khánh là ngày lễ dùng để đánh dấu một giai đoạn lịch sử. Lịch sử Việt Nam cận đại đã có tới 3 ngày Quốc Khánh: Ngày 3-8-1949, kỷ niệm ngày Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam; ngày 26-10-1956, tuyên bố nền Cộng Hòa và 1-11-1963 là ngày Cách Mạng, quân đội lật đổ Đệ I Cộng Hòa. Hơn nữa, chúng tôi đề nghị, khi chưa có quyết định của toàn dân, thì không một ai được quyền áp đặt. Hậu quả của bài báo: Ngày đêm nhà tôi bị quấy nhiểu; trong vòng 2 tuần, mặc dù bánh mới vẫn bị đâm lũng làm xẹp tới 3 lần; lúc vắng nhà đồ đạt bị đập phá, vô số cú điện thoại chủi mắng. Sau cùng, một người nói thẳng mặt tôi: « Anh đã chống lại Mặt Trận khi phản đối việc đổi lễ Quốc Tổ thành Quốc Khánh .» . Vụ việc tôi đã trình cơ quan công lực và mãi mấy năm sau mới tạm lắng. Tuy vậy, một người đã thông báo cho biết là tên đã bị ghi vào «sổ đen» của MT.

2-/ Trung tuần tháng 8 năm 2004. Sau khi thu nhận tin tức từ các đài phát thanh, ngoài ra, nhờ một số chiến hữu khác lấy tài liệu từ internet thì biết được là một nhóm người chủ trương lấy ngày 30-4-05 làm Ngày Tự Do Cho Việt Nam. Sau khi phối kiểm, thấy rõ đây là một mưu đồ, nên viết để báo động: Ngoài việc tung lên các hệ thống internet, bài viết còn đăng trên nhiều tờ báo để phổ biến. Hậu quả, một người quen bất thình lình đến tận nhà hăm dọa: «Anh chống Mặt Trận, chống Tập thể Chiến Sĩ của Lê Minh Đảo, họ không giết anh nhưng sẽ đánh anh què tay không còn bưng cơm mà ăn, đừng nói chi viết.»

Tôi đã thông báo vụ trực tiếp hăm dọa này cho cơ quan công lực và nhiều người quen. Riêng Cảnh sát họ chỉ cười và nói: «Bộ người khùng hay sao mà trực tiếp hăm dọa, tức là đã phạm vào điều 422 của Bộ Hình Luật California.»(Penal Code of California, sec 422). Tiếp đó, đài Tiếng Nước Tôi (TNT) đả kích người viết bài, và đổi lại «Ngày Đòi Tự Do Cho Việt Nam» hoặc «Ngày Tranh Đấu Tự Do Cho Việt Nam». Đài TNT liên tục «mớm» cho thính giả tưởng lầm là chúng tôi đã «khùng» nên chống lại việc làm chính đáng của họ (sau khi đã lại đổi tên). Xin xem tuần báo Lập Trường số 530 trang 12, phát hành ngày 23-9-04, quý vị thấy được phản ứng của độc giả khắp nơi về việc chủ trương đổi ngày 30-4 thành Ngày Tự Do Cho Việt Nam. Và chắc quý vị cũng không quên trước đây MT từng tự ý đổi ngày Giổ Quốc Tổ thành Quốc Khánh; 30-4 thành Ngày Báo Hiếu Mẹ Cha; Tháng Tư Đen thành Tháng Tư Xanh. Và thắc mắc, tại sao 364 ngày còn lại trong năm không chọn, mà buộc phải chọn 30-4. Ý đồ gì đây? Sau loạt bài nầy, chắc MT và đài TNT sẽ ra tay, và chúng tôi sẵn sàng «ứng chiến».

II – / Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng, gọi tắt đảng Việt Tân (VT).

Theo xác nhận trong Diễn Văn Khai Mạc của bác sĩ Trần Đức Tường, trưởng ban tổ chức Lễ Ra Mắt vào ngày 19-9-04 tại Berlin, Đức quốc, thì đảng Việt Tân là hậu thân của MT. Mặt khác, khi giải thích «Lý Do Công Khai Hóa Đảng Việt Tân», ông Nguyễn Kim, chủ tịch đảng cũng xác định là đảng tuy mới công khai hoạt động nhưng đã có mặt trên hai thập niên đấu tranh và chính do Chủ tịch Hoàng Cơ Minh thành lập từ trong chiến khu. Và cũng theo lời tuyên bố nói trên thì «mặc dầu lãnh đạo của đảng VT và MT là một, nhưng MT là một trận tuyến quy tụ nhiều đoàn thể phối hợp đấu tranh.» Xin hỏi ông Nguyễn Kim, theo tài liệu thu thập được, khi MT «tan vỡ» vào cuối năm 1984 (Trtsn 369-378), ngoài hệ thống tiệm phở và một số cơ sở kinh tài, thì còn tổ chức khác nào nữa mà ông nói MT là nơi quy tụ nhiều đoàn thể đấu tranh. Phải chăng ông muốn nói đó là tổ chức Liên Minh Việt Nam Tự Do, Hội Chuyên Gia Việt Nam và Đoàn Thanh Niên Phan Bội Châu v.v.. Theo giới am hiểu thì các tổ chức đó chỉ để trang trí, chẳng gây được một thành tích nào đáng kể; ngoài ra, thấy không còn ăn khách và trước bờ đổ vỡ tàn lụi, MT đành phải thay lông, đổi lốt để trở thành đảng VT.

Theo tranh hý họa và bài viết đăng trên Bán Nguyệt San Ngày Nay số 535 ngày 1-10-04 thì việc đảng VT ra đời để thay MT chỉ là chuyện «rượu cũ, bình mới». Bài báo còn viết, trong quá khứ MT đã làm mất lòng tin của đồng bào hải ngoại, do đó trước khi giải thể, MT phải bạch hóa hồ sơ về số tiền đã «tận thu» của đồng bào và cũng nên giải thích việc thủ tiêu các đoàn viên nòng cốt của MT.

Đảng Việt Tân như xác định là hậu thân của MT và do ông HCM tổ chức, mà theo tố cáo của đại tá Phạm Văn Liễu trong hồi ký « Trả Ta sông Núi 3 », ông HCM là một nhân vật từng tạo nhiều thành tích không mấy tốt đẹp tỉ như: dối trá, buôn bán kháng chiến, hiếu sát, từng ra lệnh xử tử 18 kháng chiến quân tại chiến khu (trtsn 447) thì làm sao ông ta có thể đào tạo được nhiều cán bộ dày dặn kinh nghiệm, có đạo đức cách mạng như lời phát biểu của ông Đặng Vũ Chấn.

Ngoài ra, đảng Việt Tân là nòng cốt, MT là tổ chức ngoại vi, mà MT thì đã để lại quá nhiều tì vết xấu xa thì làm sao đảng VT có thể trở thành một công cụ đấu tranh có chính nghĩa được.

Nội cái danh xưng Việt Tân thôi, cũng đã không ổn mà còn gây nhiều thắc mắc: Triết học Đông phương đã đưa ra một hệ luận về thuyết Chính Danh: « Danh Bất Chính;Ngôn Bất Thuận, Lý Bất Thông». (Tên không đúng, nói không xuôi thì lý lẽ không trôi chảy). Lý lẽ không trôi chảy thì không hành động đúng. Dưới đây là ý nghĩa 2 chữ Canh Tân Cách Mạng:

– Canh Tân, cải cách, tức chủ trương sửa đổi cho thích nghi với thời đại. Tỉ như: Giáo Hội Canh Tân, (Eùglise de Réforme) để sửa đổi những điều được cho là sai lầm của Giáo Hội Công Giáo Roma. Nhưng tín điều về Thiên Chúa giáo vẫn giữ nguyên vẹn.
– Cách Mạng, là triệt để, hoàn toàn đổi mới, bứng tận gốc và bốc tận rể. Đã triệt để, thìø không có chuyện nữa vời. Cải cách thì không thể chấp nhận cách mạng.
Luận về chữ, thì danh xưng Cách Tân Cách Mạng đã tự mẩu thuẫn với nhau, nó không hề có trong tự điển khoa học chính trị. Điều nầy, chắc chắn các vị khoa bảng trong MT đã biết. Nhưng phải chăng do chi thị nào đó buộc phải đặt tên như vậy để lập lờ đánh lận con đen?

Nên nhớ, cộng sản chủ trương phải «triệt để» nên thường lên án hàng ngũ quốc gia, tầng lớp tư sản là bọn cải lương, tức là bọn làm cách mạng nữa vời, không dám lật đổ và không dám triệt để khai phá, chúng chính là bọn phản động. Tướng VC Trần Độ và một số nhà đòi cải cách trong nước bị khủng bố, bị hãm hại vì muốn sửa đổi (canh tân) để làm tốt giúp đảng trường tồn, chứ đâu họ muốn giựt sập đảng (cách mạng), thế mà bọn chóp bu cộng sản cũng không chấp nhận nên bị chúng khủng bố cho đến chết.

Trong hoàn cảnh hiện tại, lúc chủ nghĩa cộng sản đang thoái trào, CSVN bị lúng túng vụ tranh chấp nội bộ, đấu đá cấu xé nhau cơ hồ muốn sụp đổ; mặc khác, tạo cơ hội thuận lợi giúp đảng thi hành nghị quyết 36 thì không gì hay bằng chủ trương: hai bên cùng có lợi, giao cho một tổ chức nào đó đấu thầu làm đối lập cuội tiến hành:

– Hô hào Canh Tân, tức chỉ sửa đổi đôi chút để bảo vệ chế độ (cộng sản). Phải chăng đây là tín hiệu báo cho Hà Nội biết: Các anh hãy yên tâm.Chúng tôi chỉ xin hợp tác làm ăn chớ không đụng tới sợi lông nào đâu mà lo ngại.

– Làm cò mồi, đòi Cách Mạng, tức vận dụng tầng lớp chống cộng hãy lật đổ bạo quyền, đòi tự do dân chủ. Với chiêu bài nầy tung ra thì ai chẳng thích, mọi người đều muốn, chắc chắn số tiền buôn bán hai chữ « Tự Do » ắt sẽ thâu vô nhiều hơn « Kháng Chiến » trước.

Người viết cảm thấy quá kinh sợ trước âm mưu nầy, và xin thông báo với quý vị: Trước đây, chúng ta từng lên án CSVN dùng vũ khí của khối cộng sản cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa; đặt ách thống trị, chà đạp nhân quyền, bóp chết tự do. Nay, đảng VT hậu thân của MT, một tổ chức từng kiếm được nhiều tiền, sẵn phương tiện họ sẽ tìm cách «gom bi», cài người nắm các tổ chức, đoàn thể tại hải ngoại, đợi lúc mà bọn VC vì xu thế thời đại, buộc chúng phải chấp nhận dân chủ, (dân chủ giả hiệu) thì lớp người đó sẵn sàng đứng ra làm đối lập cuội, bắt tay với bạo quyền trong nước tiến hành dân chủ qua giải pháp «Mỗi người dân một lá phiều», ắt lúc đó chúng ta sẽ bị thua cộng sản một cách thê thảm, và keo nầy còn thua đậm hơn bị đầu hàng vào ngày 30-4-75. Lý do: CSVN nắm đa số, vẫn giữ quyền lực; ta chỉ là một thiểu số vừøa là đối lập cuội. Chính hành động nầy chúng ta đã tạo chính nghĩa cho CSVN và giúp chúng tiếp tục thống trị dân tộc Việt Nam.

PNS.

(1)Thuyền trưởng tàu Trường Xuân đã cứu giúp trên 3000 người Việt tị nạn.

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

CHÍNH KHỨA NHÀ QUÀN

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 8, 2008

CHÍNH KHỨA NHÀ QUÀN – Kim Âu –

Ngày tết âm lịch năm nay tại Hoa Kỳ rơi vào một ngày làm việc. Nhưng dù vào ngày nghỉ chăng nữa, mùa xuân lưu vong vẫn tẻ nhạt giữa một xã hội không chung truyền thống văn hóa. Ở đây, đám trẻ đã lũ lượt kéo nhau đi “count down” và xem bắn pháo hoa từ ngày cuối năm dương lịch cách thời điểm này hơn hai tháng.

Nửa đêm, hương khói, đốt vàng mã tưởng nhớ gia tiên xong, ngồi vào trước máy, lòng chợt bâng khuâng trong tĩnh lặng mênh mông của đêm trừ tịch.

Những tràng pháo nổ liên hồi báo hiệu nàng xuân đang về với thế gian trong quá khứ mãi mãi chỉ còn là hoaì niệm.

Ðầu xuân khai bút, ngồi trước máy, đọc nhanh những thông tin của các tổ chức tranh đấu phường tuồng mà buồn cho vận nước.

Nhớ lại câu thơ cũ:” Ta lỡ sinh ra thời quốc mạt….”

Thời quốc mạt nên sĩ khí quốc dân cũng chẳng còn. Thời quốc mạt nên con người xem nhẹ những giá trị tinh thần. Sống không mục đích vô thuỷ, vô chung, bất tài, vô tướng chỉ giỏi ghen tỵ. Nhưng nghĩ lại đó cũng là chuyện tất yếu của những người lưu vong, bát nháo, ô hợp, vô chính phủ, không định hướng, tỵ nạn trên một xứ sở xa lạ.

Khi xảy ra vụ Trung Cộng thành lập huyện Nam sa, chúng tôi thật khó chịu khi thấy hai tên đầu sỏ của bọn Phở Bò Việt Tân gợi ý để mở đường cho “cờ máu sao vàng” ra công khai tại hải ngoại. Ðúng là một bầy vô liêm sỉ tự bán đứng linh hồn. Hành động của chúng đã tự lột mặt nạ cho bàn dân thiên hạ thấy thực chất tôi đòi, hèn hạ, trơ tráo của chúng.

Lá cờ máu ô nhục đó chính là nguyên nhân chủ yếu của những thảm họa mà dân tộc Viêt Nam phải gánh chịu hơn nửa thế kỷ vừa qua.

Ðừng nói gì đến sự căm hận của người Việt có căn cước tỵ nạn cộng sản với lá cờ máu vì những đau thương khốn khổ, mât mát mà chúng ta đã trải qua trong cơn quốc nạn. Ngay cả Trần Dần cũng khốn khổ, tù tội bao năm vì mấy câu thơ:

Tôi bước đi
Không thấy phố
Không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ….

Mưa sa hay huyết lệ của dân tộc Việt?

Chuyện lá cờ máu lập tức đi vào sọt rác khi quần chúng khắp nơi lên tiếng phản đối. Tuy nhiên tiếp theo sau bọn nguỵ trí thức lại tiếp tục trình diễn những vở tuồng CHÍNH TRỊ NHÀ QUÀN đáng phỉ nhổ.

Sở dĩ gọi là vì bọn này đang lo tắm rửa trang điểm cho những cái thây ma chết thối của bọn tội đồ Cộng Sản. Sau Nguyễn văn Trấn, Nguyễn Hộ, Trần Ðộ vàbây giờ là Hoàng Minh Chính. Một lũ đầu tôm tranh nhau ca tụng một tên cộng sản chính hiệu, tôn vinh hắn làm cha, làm thầy của chúng. Ðúng là một bọn no cơm, rửng mỡ rước giặc về thờ. Ðược! Hoa kỳ là xứ sở của Tự Do. Không ai có thể cấm chúng, nhưng tất nhiên cũng không ai có quyền ngăn cản những người quốc gia chân chính còn tiết tháo và liêm sỉ nghiêm khắc phê phán và lên án chúng.

Sự thực trước đây bọn trí thức chồn lùi ở hải ngoaị làm gì biết đến Hoàng Minh Chính.

Sau khi Vũ Thư Hiên ra quyển “Ðêm Giữa Ban Ngày”, chúng mới biết phong phanh. Phần chúng tôi đã từng qua trại tù Tân Lập từ năm 1970 nên đâu xa lạ gì nhóm Hoàng Minh Chính, Ðặng Kim Giang. Tại K 1, Tân Lập chúng tôi ở ngay cạnh phòng của Ðặng Kim Giang và được biết Hoàng Minh Chính cũng bị giam ở trong một khu vực gần đó. Ðặng Kim Giang giữ kẽ không chuyện trò với chúng tôi. Ông ta coi những người Biệt Kích là kẻ thù, ác ôn. Ðến năm 1972, khi Nixon tái oanh tạc Bắc Việt, giai đoan này chúng tôi đã viêt trong bài Trại Tân Lập nay trích lại một đoạn .

TRÍCH:

Năm trước khi ký hiệp định lànăm 1972, chúng tôi đang ở tại trại Tân Lập, Vĩnh Phú. Khoảng tháng 3 đầu năm đó, tôi trở vào lại nhà cùm được ít hôm thì bất ngờ được thả ra, cho về buồng chung… Ðợt khai trương nhà cùm vào tháng 7 năm 1971, Nguyễn Huy Thùy, trung úy Phó giám thị trại Tân Lập đưa một trung đội vào khiêng tôi đi khánh thành xà lim kỷ luật mới. Kể cũng vui, thỉnh thoảng thử xem Sức Mạnh Tòan Ðảng và Toàn Quân của bọn “khỉ tiến hóa” tới đâu. Thật ra mỗi lần cùm kẹp chẳng dễ chịu gì hai cổ chân thì vỡ toác, môi trường yếm khí, hôi hám không thể tả. Ăn đói, thời tiết lại rét buốt, chết lúc nào không hay nhưng im lặng để bọn đười ươi coi thường làchuyện không thể chấp nhận được…

Sau hơn 4 tháng cùm kẹp, chắc hẳn chúng thấy tôi đã mỏn sức nên cho trở về buồng tập thể. Mai văn Học vào sau ba tháng là người thay tôi trấn nhậm xà lim cho tới gần tết 1972. Khi Học được thả ra, tôi biết mình lại sắp sửa được đảng bộ trại Tân Lập cử đi “trấn thủ lưu đồn” tiếp. “Nhân bảo như thần bảo” tháng 3, tôi lại khăn gói vào nhiệm sở. Ðợt này mới ở được 30 ngày chân chưa cuồng, đột nhiên lại được thả về buồng cũ mà chẳng hiểu lý do làm sao… Suốt gần tháng trời, anh em cứ bàn bạc đến việc chuyển trại. Và rồi chuyển trại thật. Toàn bộ chúng tôi khoảng gần 30 người tay xách, nách mang ra xe chuyển vào trại sơ tán nằm khuất trong một cánh rừng trung du không xa trại cũ làmấy. Sáng nào tụi công an trại giam mở cửa cho ra sân trại cũng thấy núi Ba Vì sừng sững trước mặt. Thời gian này không lực Hoa Kỳ được lệnh của Tổng thống Nixon dần nát Bắc Việt. Nhiều lần chúng tôi được tận mắt ngắm những đoàn chim sắt bay qua bầu trời trung du, tiến vào hỏi thăm Hà Nội. Tại đây, anh em chúng tôi đã một lần nhìn thấy SAM 2 phóng lên để nhằm bắn hạ một chiếc Thunderchief. Và tất cả đều trầm trồ khi nhìn chiếc phi cơ đang bay lẻ loi bỗng khựng lại, thoắt chui qua giữa hai trái hỏa tiễn địa không rồi biến mất. Khoảng hơn tiếng đồng hồ sau, từng đoàn, rồi từng đoàn chim sắt từ biển vào, từ những rặng núi phía Tây bay qua vần vũ trên không phận Vĩnh Phú. Bị đuổi xuống hầm tránh bom nhưng chúng tôi vẫn nằm ngửa cố tìm xem các phi cơ của Không Quân Nhân Dân Anh Hùng có bay lên nghênh chiến hay không nhưng hoài công vì chắc họ chơi kiểu “tiêu thổ kháng chiến” cho phi cơ Hoa Kỳ hết bom và xăng thì cũng phải chuồn thôi. Chỉ tội nghiệp cho đơn vị “tên lửa” anh hùng kia chạy trối chết cũng không thoát khỏi tổn thất nặng nề. Nhưng có sá gì! Miền Bắc đang thiếu gạo, bớt đi nhiều miệng ăn chừng nào càng tốt chừng ấy… Chẳng phải chúng tôi đã ăn độn đủ thứ để nhìn cho ra sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa hay sao?

Trong suốt thời gian ở trại “sơ tán” khoảng gần sáu tháng. Chúng tôi vẫn cứ châm chọc và chống đối như trước nhưng chẳng có ai được cho đi “trấn thủ” nữa. Hỏi một số tù hình sự thì được biết nhà kỷ luật đặc biệt cùm BK đã sụp vì đợt oanh tạc vào trại. Khoảng cuối tháng tám, chúng tôi được tin sẽ chuyển sang một phân trại khác để học tập chính trị chờ trao trả. Theo những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Hiệp định Paris về cơ bản đã xong chỉ còn chờ ký chính thức. Nhưng chẳng được mấy tuần sau, không khí lại căng lên vì những tiếng động cơ bay qua bầu trời. Và rồi lại mấy tuần vắng bặt. Bầu trời trung du, mùa thu xanh lồng lộng, khoáng đạt vô bờ. Hàng ngày, chúng tôi đi lại trong khoảng sân nhỏ hoặc trải chiếu ngồi đánh chắn rõi nhìn những tầng mây lang thang, lòng trào dâng ý tưởng phiêu bồng. Thế rồi vào khoảng gần cuối tháng chín sang đầu tháng mười, đột nhiên chúng tôi được chuyển qua phân trại khác để học tập trao trả thật. Chúng tôi được di chuyển bằng xe hơi. Một số ở lại chuyển về trại xây cũ. Trên đường xe chạy, chúng tôi gặp một số anh em ở cùng trại Phong Quang trước đây đang tay ôm túi, cắp chiếu đi ngược lại. Như vậy làở tại Tân Lập có hai bộ phận BK nằm ở hai nơi khác nhau mà mãi đến lúc đó chúng tôi mới biết. Nhẩm tính con số, tổng cộng tất cả khoảng hơn trăm người. Tôi và một số anh em được đưa vào một trại sơ tán khác. Ở đây cả nhóm bị phân tán mỏng vì mỗi buồng chỉ ở tối đa từ 6 đến 8 người. Ngày hôm sau, được mở cửa ra sân, trèo rào nói chuyện chúng tôi được biết ngoài anh em Biệt Kích còn có mười mấy người Thái Lan và bốn người tù Bắc Việt ở cùng khu biệt giam với chúng tôi.Thảo nào, tối hôm qua, tôi đập tường rồi dùng morse nói chuyện mấy lần màchỉ nghe tiếng gõ trả nhè nhẹ, dè dặt khác hẳn với cái thói “coi trời bằng vung” của mấy anh em cảm tử chúng tôi.Những người tù như vậy thường là những cán bộ cao cấp trong hàng ngũ đảng Cộng Sản chống đối lại chủ trương của phe mạnh hiện tại nên bị thanh trừng. Họ vẫn được hưởng những tiêu chuẩn như khi còn tại chức, duy chỉ không được tự do. Trường hợp Ðặng Kim Giang ở khu xây với chúng tôi và những người này chắc là cùng chung nhóm “xét lại“ thân Khrouschev. Biết vậy, anh em chúng tôi vờ nói lớn cốt để cho họ hiểu chúng tôi là những người có thể tin cậy được rồi qua trò chuyện, tâm sự có thể hiểu thêm được thực chất nội bộ của họ ra sao.

Buổi tối, tôi làm quen được với người ở sát nách. Qua tiếp xúc tôi thấy ông ta làmột người có học. Sau khi biết rõ chúng tôi thuộc thành phần nào, ông tỏ ra tin tưởng và cho biết tên ông là Phùng Văn Chức (sự thực là Phùng Mỹ, giáo sư Ðại Học công tác tại Viện Triết Học) bị bắt cùng với Hoàng Minh Chính, Ðặng Kim Giang và ghép cho tội âm mưu đảo chánh. Ông ta cho biết ông đã là đảng viên từ khi chưa thành lập cái nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và ông ta thuộc “Những người Cộng Sản có trái tim?”. Theo lời ông ta kể tập đoàn Lê Duẩn là một bọn “siêu phát xít” đang cố bóp chết mọi mầm mống chống đối để củng cố quyền lực của chúng.

Qua trao đổi với nhân vật này, tôi càng thấy rõ thực chất của bọn Cộng Sản còn tồi tệ hơn những gì bộ máy tuyên truyền trong Nam đã nói về chúng.

HẾT TRÍCH

Qua đoan văn thưong dẫn, qua việc chúng tôi tiếp xúc với ông PHÙNG VĂN CHỨC chắc hẳn quý độc giả cũng nhận thấy Hoàng Minh Chính với Phùng Văn Chức là những đồng chí thân thiết là“Những người Cộng Sản có trái tim?”. Và việc nhóm Hoàng Minh Chính bị bắt thật ra chỉ vì nhóm siêu phát xít Lê Duẩn muốn củng cố quyền lực. Như vậy Hoàng Minh Chính, Phùng Văn Chức, Ðặng Kim Giang vẫn là những người Cộng Sản (có trái tim gì còn tuỳ).

Cộng sản là cộng sản, nếu người quốc gia chúng ta có thể khai dụng họ được thì khai dụng chứ không thể nào tôn vinh những kẻ đã góp phần củng cố bạo quyền cộng sản.

Thử hỏi với thời gian cống hiến và đào tạo, với những chức vụ đã được giao phó, nếu không vì tranh chấp quyền bính bị thua cuộc, bị thanh trừng chắc hẳn Hoàng Minh Chính và phe nhóm sẽ kế vị và không kém gì Trường Chinh, Phạm văn Ðồng, Ðỗ Mười v.v.

Người ta cứ kêu gọi đoàn kết, nhưng làm sao những người Việt tỵ nạn cộng sản chân chính có thể đoàn kết được với bọn bưng bô cho cộng sản.

Bác sĩ Nguyễn Xuân Ngải thành danh nhờ chuyên môn về tim mạch. Nghề bác sĩ tim mạch làm ra nhiều tiền chứ không tạo ra chính trị gia.Vì thế những hiểu biết về chính trị của Ngải tỷ lệ nghịch với số tiền mà Ngải kiếm được.

Sang Hoa Kỳ, chúng tôi có gặp Ngải ở Quốc Hội Hoa Kỳ vài lần, có nghe Ngải phát biểu nhưng thấy khẩu khí của Ngải tầm thường nên không chú ý. Sau này khi qua San Jose dự Ngày ÐàLạt Toàn Thế Giới. Ðược xếp vào danh sách những vị khách đặc biệt và mời lên chụp hình lưu niệm thấy Ngải bên cạnh, tôi mới hỏi :” Ủa , bạn Ngải cũng học Trần Hưng Ðạo ÐàLạt sao?

Ngải trả lời : Tôi biết anh mà. Mình đã gặp nhau mấy lần rồi.

Khi trở về bàn tiệc, mấy người bạn cho tôi biết thời cuối ở trung học Trần Hưng Ðạo, ÐàLạt, Ngải học sau tôi vài lớp. Hiện nay Ngải có liên kết với băng đảng Kháng Chiến Phở Bò.

Việc Ngải điếu đóm cho Hoàng Minh Chính chỉ liếc sơ qua chúng tôi cũng thừa biêt trò “manipulate” của Ngải và phe nhóm. Ngải bưng bô cho Hoàng Minh Chính là nhắm vào cái chức Tổng thư ký đảng Dân Chủ Cuội. Vì ai cũng thấy năm 2005 Hoàng Minh Chính đã qúa già yếu sắp về với bác. Sống chết chỉ còn tính bằng giờ.

Nhưng Bắc Bộ Phủ lại tính một con đường khác nên vụ Hoàng Minh Chính ra ngoại quốc chữa ung thư tuyến tiền liệt chỉ là một vở tuồng của Tổng Cục Yết Kiêu với nhiệm vụ “giải độc và đầu độc” theo NQ 36.

Giải độc là làm cho đồng bào hải ngoaị tỵ nạn cộng sản thấy một bộ mặt mới, tốt đẹp, cởi mở và dân chủ của Bắc Bộ Phủ. Ðầu độc là bóp méo,xuyên tạc và nhào nặn lịch sử theo yêu cầu của chúng.

Hoàng Minh Chính đã thực hiện đúng như vậy. Ngày tháng 9-11- 2005 trước mặt những tên trí thức ngu đần, chồn lùi, “shithead” ; hắn ba hoa về những chuyện ấm ớ rồi sau đó lớn tiếng bào chữa cho Hồ Chí Minh rằng cuộc đời của Cáo Già chỉ là một bi kịch.

Hoàng Minh Chính nói Hồ Chí Minh cũng bị đi đày và đó làbi kịch của một kẻ cầm quyền. Sau đó Chính hỗn xược đồng hóa bi kịch của Hồ Chí Minh là bi kịch của đất nước và dân tộc. Hoàng Minh Chính khuyên chúng ta không nên chửi bới và cũng không nên ca tụng Hồ Chí Minh.

Tóm lại đó cũng là một thủ thuật chạy tội cho Cáo già và rọ mõm khán thính giả nhưng bọn “shithead” nghe xong thay vì có phản ứng trước những phát biểu bậy bạ đó; trái lại chúng vẫn vỗ tay hoan nghênh, tán thưởng nhiệt liệt. Nhìn cảnh tượng bi hài đó chúng ta mới thấy rõ cái sự ung thối về trí tuệ của bọn trí thức đầu tôm, chồn lùi, mới thực sự hiểu ý nghĩa của mấy chữ vô liêm sỉ.

Bi kịch của tên Cáo Già nếu có là bi kịch của một gã độc tài, bất nhân hết thời làm sao có thể đồng hóa với nạn nhân của những thảm họa do chính Hồ Chí Minh gây ra. Hồ Chí Minh – tên tội đồ dân tộc, kẻ đã nhập cảng chủ nghĩa Cộng Sản vào Vịêt Nam, gây nên thảm họa cho dân tộc Việt – đó là một SỰ THẬT LỊCH SỬ không ai có thể thay đổi.

Ðồng hóa kẻ thủ ác với nạn nhân của hắn qủa là một lập luận ấu trĩ. Và sự ấu trĩ này chứng tỏ
Hoàng Minh Chính thực chất đã và mãi mãi chỉ là một tên tay sai đắc lực của Hồ. Hoàng Minh Chính tên thật là Trần Ngọc Nghiêm, sinh ngày 16 tháng 11 năm 1920 tại xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Ðịnh, học ở trường Trung học Thăng Long tại HàNội. Chính tham gia đoàn Thanh niên phản đế hoạt động bí mật tại Hà Nội, in truyền đơn, in báo phân phát cho cho các cơ sở cộng sản từ những năm 1936-1939.

Tháng 10 năm 1940 Chính bị chế độ thực dân Pháp bắt, đưa ra toà án binh xét xử 10 năm tù biệt xứ, 10 năm khổ sai. Tại nhà tù Sơn La, Chính đã được cử làm đại diện đi đấu tranh với bọn cai ngục.

Năm 1943, Pháp chuyển tù nhân từ Sơn La về Hoả Lò để đưa đi Côn Ðảo. Chính đã cùng anh em tổ chức vượt ngục. Ra ngoài, Chính bắt được liên lạc với cộng sản để tiếp tục hoạt động và sau đó tham gia Ðại Hội Quốc Dân ở Tân Trào. Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh và cộng sản cướp được chính quyền. Chính được giao nhiệm vụ vận động phong trào trí thức, làm tổng thư ký Ðảng Dân Chủ Việt Nam, tham gia xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ tháng 12/1946, Chính tự nguyện xung phong chuyển sang mặt trận trực tiếp chiến đấu với Pháp, Chính đã được đại tướng Võ Nguyên Giáp phân công phụ trách mặt trận sân bay Gia Lâm. Tại đây Chính bị thương và được phong trung tá. Năm 1947, Chính trở lại công tác Bí thư Ðảng Ðoàn Trung Ương Ðảng Dân Chủ kiêm tổng bí thư Ðảng Dân chủ Việt Nam ( đảng cuội con nằm trong cái nôi của đảng mẹ mìn Cộng Sản).

Năm 1948, Chính được cử sang phụ trách Thanh vận Trung Ương, trực tiếp làm Bí thư Trung Ương Ðoàn Thanh Niên Cứu quốc, rồi làm Tổng Ðoàn trưởng Ðoàn Thanh niên Việt Nam, Tổng thư ký Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam.

Trong những năm kháng chiến Chính là người Việt Nam đầu tiên dẫn các đoàn đại biểu Thanh niên sinh viên Việt Nam đi dự các đại hội Festival Quốc tế.

Năm 1957, Chính được Trung ương Ðảng Cộng Sản cử làm trưởng đoàn Cán bộ cao cấp của Trung ương sang học tại trường Ðảng Cao cấp của Liên Xô.

Năm 1960, Chính từ Liên Xô về nước, được giao nhiều trọng trách, làm nhiệm vụ về công tác lý luận, xây dựng Viện Triết học đầu tiên của Việt Nam, trực thuộc Uỷ Ban Khoa học Xã hội. Chính là một cán bộ cốt cán được sũng ái đưa qua đào tạo tại mẫu quốc cộng sản Liên Xô nhưng Chính qúa dựa vào thái thú Serbachov của Liên Xô ở Việt Nam, thiếu nhận thức về tình thế đánh đu do Hồ Chí Minh chủ trương nên bị kết tội là“Xét lại chống Ðảng” và bị xử lý nghiêm khắc.

Với một bản lý lịch dày thành tích với cộng đảng như vậy, nhưng chỉ vài lời nguỵ biện là đã có thể rũ bỏ bản chất Mác Lê chính hiệu để trở thành nhà dân chủ bậc thầy của bọn nguỵ trí thức. Thực tế này cho quý độc giả thấy rõ chúng tôi có gọi bọn nguỵ trí thức là bọn “shithead”, trí thức đầu tôm , trí thức chồn lùi cũng chưa đủ nguôi cơn giận.

Hồ Chí Minh có bị đi đày hay Ung văn Khiêm, Hoàng Minh Chính, Ðặng Kim Giang, Vũ Ðình Huỳnh, Chu văn Tấn, Hoàng văn Hoan, Lê Quảng Ba bị thanh trừng tất chẳng phải vì lý do đấu tranh dân chủ. Thực chất của những cuộc thanh trừng đó là hệ qủa tất yếu của việc tranh chấp quyền lực trong nội bộ đảng cộng sản PHẢN ẢNH MÂU THUẪN giữa hai hệ phái Cộng Sản Nga Tàu.

Trước lịch sử, đó là một bằng chứng không thể chối cãi rằng bè lũ Cộng Sản chỉ lợi dụng khẩu hiệu đấu tranh cho lý tưởng để tranh giành đặc quyền làm tay sai cho ngoaị bang để dành đặc lợi đè đầu cưỡi cổ, áp bức bóc lột dân tộc Việt Nam.

Lằn ranh Quốc Cộng không thể xoá nhoà. Bởi không ai có thể đổi thay lịch sử. Mọi sự cấu kết giữa những phe nhóm, tổ chức, đảng phái và ngay cả những thể chế cầm quyền đương đại cũng chỉ là giai đoạn. Lịch sử là chuyện của muôn đời. Hồn Sử là Hồn Dân Tộc

Lịch sử không quên tội ác của Cộng Sản đối với dân tộc Việt Nam như: CẢI CÁCH RUỘNG ÐÂT, NHÂN VĂN GIAI PHẨM, QUỲNH LƯU KHỞI NGHĨA, BA LÀNG AN, THẢM SÁT MẬU THÂN 1968, TÙ CẢI TẠO, CẢI TẠO CÔNG THƯƠNG,HÀNH TRÌNH BIỂN ÐÔNG v.. v.. vĩnh viễn không phai mờ nói gì đến bôi xóa.

Hiện nay Hoa Kỳ đang cố gắng khôi phục lại vị thế của mình ở Á Châu nên chúng ta không ngạc nhiên khi thấy Hoa Kỳ đã tìm mọi cách bắt tay với Việt Nam, chấp nhận cả việc tiếp tay cộng sản xuyên tạc lịch sử. Lá thư của ông đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam nếu không nằm trong nghi thức ngoaị giao hay chứa đựng những âm mưu chính trị thì chỉ là lá thư của một ngoaị nhân dốt đặc về lịch sử Viẹt Nam. Bush hay Michalak có dốt về Lịch Sử Việt Nam đó chuyện bình thường.

Chỉ có những người Việt mà dốt đặc về lịch sử của dân tộc Việt mới là điều đáng nói. Qua việc làm của họ đã nhiều người lên tiếng nên chắc chắn họ đã thừa hiểu nhưng vẫn cố tình bỏ quên liêm sỉ để bưng bô tắm rửa, điểm tô cho những cái thây ma của bọn tội đồ dân tộc.

Thời quốc mạt, bọn chính khứa nhà quàn đông gấp nhiều lần sĩ phu nên cái trò CHÍNH TRỊ NHÀ QUÀN sẽ còn tái diễn ./.

KIM ÂU

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Cựu đại tá “Ngầu Pín”

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 8, 2008

Cựu đại tá “Ngầu Pín” – Trần Thanh –

Khi nhắc đến hai chữ “ngầu pín”, ai cũng biết đó là bộ phận sinh dục của con bò. Một con bò khi bị làm thịt, hầu như không có bộ phận nào trong người nó bị bỏ phí. Tất cả đều được tận dụng: từ sừng bò, móng bò, da bò, bao tử bò, lòng bò, đuôi bòø v..v.. Tất cả đều được sáng kiến của con người chế biến thành những vật dụng hoặc những món ăn, món nhậu tuyệt diệu không chê vào đâu được!


Ngày nay, ngay cả dân Mỹ, dân Canada chính cống (da trắng, tóc vàng, mắt xanh) cũng rất sành ăn những món như phở bò, lòng bò, bao tử bò. Ở Bắc Mỹ bây giờ chúng ta không còn ngạc nhiên khi bước vào tiệm phở, thấy mấy ông tây bà đầm ngồi ăn phở ngon lành, sử dụng đũa rất thành thạo! Thậm chí, khi thiếu các món gia vị, các ông tây còn biết kêu người bồi – và phát âm bằng tiếng Việt hẳn hoi – cho xin thêm “ngò gai, ái quế, tương ớt”!!! Chưa hết, tôi đã gặp một ông Mỹ, vào tiệm kêu món phở “ngầu pín”! Vì ngồi cùng bàn nên sẵn dịp, tôi đưa đẩy một vài câu xã giao thì ông này bèn phô trương sự hiểu biết của mình về cái món “ngầu pín”: đó là món ăn giúp làm tăng thêm khả năng sinh lý!!! Ngoài ra, các dân chơi cầu ba cẳng còn nấu ngầu pín với các vị thuốc bắc, biến nó thành một loại thần dược không thua gì Viagra!

Như vậy, khi một con bò bị mần thịt, toàn bộ cơ thể của nó đều hữu ích cho loài người, kể cả bộ phận sinh dục của nó: vừa là món ăn ngon lại vừa là liều thuốc bổ! Tuy nhiên, ít ai chú ý đến điểm này: ngầu pín vừa là ông thần Viagra, đem lại niềm vui cho dân nhậu kiêm dân chơi cầu ba cẳng nhưng đồng thời nó cũng là hung thần của rất nhiều người! Chuyện này xảy ra đã lâu, gần 100 năm, nhưng ta cũng nên nhớ lại. Đó là những dân nô lệ”An Nam mít”, hay nói cho rõ hơn là những người phu đồn điền cạo mủ cao su dưới thời thực dân Pháp. Thời đó, những tên cai đồn điền (chẳng hạn như tên đại tướng việt cộng chột mắt Lê Đức Anh) thường dùng một loại roi, gọi là “roi cặc bò” để đánh những người nô lệ. Bộ phận sinh dục của con bò, nếu không làm món nhậu thì thường được đem phơi khô để làm roi đánh người. Loại roi này rất bền chắc, có sức đàn hồi như cao su, cho nên khi đem quất vào thân thể những người nô lệ thì tàn bạo hơn roi mây rất nhiều, nát da xé thịt, máu tuôn là cái chắc!

Dùi cui cả thế giới tròn
Phủ tay vãi thịt, thấm đòn nát da
So với hà nội thua xa
góc vuông chắc gỗ, cạnh già sắc lim!

Thi sĩ Nguyễn Hữu Nhật đã mô tả cây dùi cui của việt cộng hết sức rùng rợn và tàn ác nhất thế giới vì nó được làm bằng gỗ lim và có góc vuông sắc cạnh. Các tội nhân “ngụy phản động” bị đánh bằng loại dùi cui này thì chỉ có từ chết tới bị thương! Nếu sau đó họ có lết được sang Mỹ theo diện HO thì vài năm sau cũng chết vì bị nội thương quá nhiều!

Thế nhưng, theo tôi biết, loại dùi cui gỗ lim vuông góc này không ăn nhằm gì so với một loại vũ khí tra tấn hết sức hiểm độc mà bọn việt gian cộng sản vừa mới sáng chế ra khoảng 25 năm nay. Bởi vì loại vũ khí tra tấn này có thể làm chết và bị thương nhiều ngàn người, đặc biệt nó có thể gây di hại cho nhiều thế hệ trẻ sau này, ở trong cũng như ngoài nước. Đó là loại vũ khí “ROI CẶC BÒ”, gọi nôm na là “ngầu pín”, còn tên gọi tiếng Việt của nó là “bùi tín” (common noun – danh từ chung) Đúng vậy: ngầu-pín = bùi-tín!

Ông Bùi Tín là cựu đại tá trong cái gọi là “quân đội nhân dân” của bọn việt gian cộng sản. Ông cũng từng là nhà báo kiêm chức vụ phó tổng biên tập báo Nhân Dân. Vào năm 1990, nhân chuyến đi công tác sang Pháp, ông xin ở lại “tỵ nạn chính trị”. Kể từ đó, ông đóng vai “người phản tỉnh”, người “bất đồng chính kiến”, thường xuyên viết bài chỉ trích đảng việt gian cộng sản, kể cả viết những bài “chê bai” tên việt gian đầu sỏ Hồ Chí Minh.

Sự thực về những bài viết của ông như thế nào? Tính từ năm 1990 cho đến nay, năm 2008, đã 18 năm dài, nhưng Bùi Tín vẫn rặt là một tên việt gian cộng sản, răng đen mã tấu, đỏ loét một màu từ đầu xuống chân, việt gian hơn cả những tên việt gian gộc trong bộ chính trị và trung ương đảng! Ta có thể tóm tắt những tư tưởng của hắn gồm những điểm chính sau đây:

1. Bùi Tín thường xuyên “chửi bác Hồ” (thực chất là ca ngợi) qua nhiều bài viết với những lập luận như sau: ông Hồ có sai lầm vì ông ta cũng chỉ là một con người như bao nhiêu người khác chớ không phải là một vị thánh. Tuy nhiên nói gì thì nói, trước hết ông Hồ vẫn là NGƯỜI YÊU NƯỚC!!! Cái sai lầm của “bác” Hồ là đã “lỡ dại”, quá tin tưởng vào chủ nghĩa Mác Lê Nin – vốn dĩ có nhiều khuyết điểm – cho nên khi “bác” du nhập cái chủ nghĩa này vào Việt Nam, CÁC ĐÀN EM CỦA BÁC đã gây ra nhiều đau khổ, nghèo đói và chết chóc cho toàn dân như hiện nay! “Bác” vốn dĩ là người ôn hòa, yêu chuộng hòa bình, không muốn xâm lăng miền Nam nhưng các tên đàn em của “bác” như Lê Duẩn và Lê Đức Thọ là những kẻ hiếu chiến; và bọn chúng đã cô lập “bác”, tước hết quyền hành, cho “bác” ra rìa để tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam!

*Nhận xét:

Nhiều tên trí thức ở hải ngoại đi bưng bô cho việt cộng cũng rập theo khuôn mẫu lý luận này của Bùi Tín. Ở trong nước có “nhà đối kháng” Hoàng Minh Chính cũng cùng một cốt truyện 1001 đêm, cùng một kịch bản y như Bùi Tín. Đặc biệt khi ông Chính đi sang Mỹ chữa bệnh, đã “diễn thuyết” ở đại học Harvard(?)(!), kể những chuyện hết sức ly ly, rùng rợn về “bác”, chẳng hạn như:

– “bác” Hồ bị bọn Duẩn-Thọ buộc lưu đày sang Trung Quốc, bị tước hết quyền hành. Khi sống lưu vong ở bên Tàu, bác nhớ đồng bào miền Nam nên đã sáng tác mấy câu thơ chúc tết đồng bào nhân dịp xuân Mậu Thân, năm 1968!!! (Xuân qua thắng lợi vẻ vang. Xuân nay tiền tuyến chắc càng thắng to. Vì độc lập, vì tự do. Đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào. Tiến lên chiến sĩ đồng bào. Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn!)


Nhờ “bác” chúc tết như vậy mà 6000 đồng bào ở Huế đã bị việt cộng lấy cuốc đập đầu rồi chôn sống!!!

– “bác” Hồ bị bọn Lê Duẩn, Lê Đức Thọ âm mưu ám sát, suýt chết ở phi trường.

– Ông Dương Bạch Mai, phó chủ tịch quốc hội và “nhà đối kháng” Hoàng Minh Chính phải liều chết phóng vào phi trường báo nguy cho “bác” biết có âm mưu ám sát để bác đề phòng ..v..v..

– Ở trong nước hiện nay vẫn còn khoảng 60 phần trăm người dân còn sùng bái ông Hồ, do đó những người Việt ở hải ngoại không nên chửi bới ông Hồ! Không cần ca ngợi ông Hồ mà cũng không nên chửi bới ông Hồ!

Đây chẳng qua chỉ là một mưu đồ của bè lũ việt gian cộng sản nhằm chạy tội cho Hồ Chí Minh. Bọn chúng đã dàn dựng nên những cốt truyện ngàn lẻ một đêm hết sức ly kỳ mà mới đọc qua, ta tưởng là bọn chúng lên án tên Hồ nhưng thật ra là tìm cách gỡ tội cho tên Hồ, để cho “thần tượng” đại bịp của bọn chúng vẫn còn có vẻ linh thiêng, cao thượng để xứng đáng được ngự trong ngôi chùa Đại Nam quốc Tự ở Bình Dương, ngang với Phật Tổ Như Lai!!! “Bác” chỉ có mỗi một cái tội, đó là …. lỡ dại, quá “thật thà”(!), tin tưởng vào chủ nghĩa Mác Lê rồi du nhập nó vào Việt Nam. Còn lại toàn bộ những cảnh địa ngục trần gian, làm khoảng 10 triệu người đã bị toi mạng sau này là đều do bọn đàn em gây ra! “Bác” không hề chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam, làm cho nhân mạng cả hai miền chết khoảng 7 triệu người, trong vòng 20 năm. Bởi vì “bác” chủ trương hòa bình, lo xây dựng miền bắc xã hội chủ nghĩa giàu đẹp. Mọi tội lỗi là do bọn Duẩn-Thọ hiếu chiến, muốn xâm lược miền Nam gây ra! “Bác” cũng không hề chịu trách nhiệm về mùa xuân đẫm máu, năm Mậu Thân 1968! Bởi vì lúc đó “bác” đang bị lưu đày ở bên Tàu! Truyện 1001 đêm do bọn chúng dàn dựng rất có lớp lang, thứ tự, có chủ ý hẳn hoi, và hai tên sứ giả đại bịp, được bọn việt gian cộng sản giao cho sứ mạng đi rao giảng huyền thoại …. bịp Hồ Chí Minh tại hải ngoại chính là Bùi Tín và Hoàng Minh Chính!

Chuyến đi sang Mỹ của nhà “phản tỉnh” Hoàng Minh Chính là nhằm mục đích giải độc, chạy tội cho Hồ Chí Minh và gián tiếp bào chữa cho bọn việt gian cộng sản. Ở hải ngoại chúng ta đang tìm cách đạp đổ huyền thoại Hồ Chí Minh thì những tên việt gian đang tìm cách níu kéo và đánh bóng thần tượng của bọn chúng. Thần tượng Hồ Chí Minh còn đứng vững thì bọn chúng còn có cớ để núp đằng sau để trục lợi, tiếp tục đè đầu cưỡi cổ người dân.

Không hiểu ông Hoàng Minh Chính lấy ở đâu ra con số thống kê 60 phần trăm dân số trong nước còn sùng bái tên Hồ tặc? Trong khi đó vào năm 2000, báo Tuổi Trẻ ở thành Hồ làm cuộc thăm dò ý kiến về “thần tượng”, thì trong số 10 ngôi sao, “bác” Hồ bị tụt xuống hạng gần chót, thua tổng thống Mỹ Bill Clinton và thua cả các ngôi sao ca nhạc! Hậu quả là tổng biên tập báo Tuổi Trẻ bị cách chức!!!

Những câu chuyện hết sức bố láo như vậy chỉ có thể lừa bịp được trẻ em là cùng, vậy mà có nhiều thành phần trí thức (đúng ra là trí ngủ) ở hải ngoại lại tin như sấm, thế mới chết! Chắc có lẽ những tên này muốn về nước đi bưng bô cho việt cộng hoặc đã ăn phải bả đô la của việt cộng rồi! Và bọn việt gian khi chúng đưa ra những kịch bản láo lếu, bịp bợm như vậy mà cũng có người tin thì chắc chắn bọn chúng phải cười bò mà nói với nhau rằng: “Mấy thằng ngụy ở hải ngoại ngu như con bò. Bọn mình phịa chuyện lếu láo như thế mà cũng có đứa tin!!!” Chúng ta thường kể chuyện tiếu lâm, cười những tên bộ đội ngáo- ngố, khi mới vào miền Nam năm 1975, nào là: ngửa cổ nhìn những tòa cao ốc khiến nón cối bị rớt xuống đất; nào là bỏ rau muống vào bồn cầu để rửa, khi giật nước thì rau muống biến mất; nào là ăn cà rem lạnh quá, phải đem ra nắng phơi cho khô cho bớt lạnh!!! Những tên bộ đội ngáo là vì bọn chúng ở trong rừng từ nhỏ tới lớn nên khi vào thành phố như mán về thành, biến thành trò cười cho thiên hạ. Còn những người quốc gia đã bị bọn việt gian lừa nhiều lần, liên tục từ hồi cách mạng tháng Tám 1945 đến năm 1954, hơn một triệu người phải bỏ miền Bắc chạy vào miền Nam. Rồi biến cố 1975 xảy ra khiến hơn một triệu người phải bỏ nước ra đi một lần nữa. Thế mà gần hai mươi năm sau, bọn việt gian cộng sản lại ra hải ngoại phỉnh phờ, lừa bịp và lại cũng vẫn những nạn nhân đã từng bị lừa cách đây 60 năm, tựï nguyện đút đầu vào những cái bẫy rập cò ke của việt cộng! Thật không hiểu nổi! Đó là sự ngu ngốc rất đáng chê trách chớ không phải là khờ dại!!!

Qua những việc làm của những tên sứ giả như Bùi Tín, Hoàng Minh Chính, Trần Khuê, Nguyễn Thanh Giang, ta thấy rằng bọn việt gian cộng sản đã đánh giá trình độ chính trị của những người quốc gia tại hải ngoại rất thấp. Bằng cớ là chúng đã công khai viết nhiều bài tham luận chính trị và in thành sách hẳn hoi (như Bùi Tín, Trần Khuê), công khai ca ngợi Hồ Chí Minh như bậc thánh và mạt sát, nhục mạ chế độ VNCH cùng quân lực VNCH và lá cờ vàng ba sọc đỏ; và đồng thời vẫn ngang nhiên đi tới các cộng đồng người Việt tại hải ngoại để “diễn thuyết”, vậy mà cũng có một số người nghe theo và ca ngợi bọn chúng là những “nhà dân chủ”, những “nhà bất đồng chính kiến”!!! Đã có một nhà văn tại hải ngoại viết một bài tâng bốc “giáo sư” Trần Khuê là vì SAO KHUÊ!!!

Những trò bịp của Bùi Tín cho tới nay vẫn còn ăn khách, bằng cớ là những bài viết của hắn vẫn còn được đăng dài dài trên các tờ nhật báo lớn của người Việt tại quận Cam, đó là tờ Người Việt và tờ Việt Báo. Không kể đến trang nhà Đàn Chim Việt trên internet là “chiến khu” của việt cộng tại hải ngoại, nơi đó quy tụ đủ loại rắn rết việt gian cộng sản, chửi việt cộng sơ sài cho có vẻ “dân chủ”; trong khi đó, mục đích chính của bọn chúng là bôi nhọ Việt Nam Cộng Hòa!!!

Tại sao lại có hiện tượng “tư tưởng lớn gặp nhau như vậy” nếu không muốn nói là do bọn việt gian cộng sản chủ động giật giây, móc nối?

2. Người quốc gia yêu nước theo kiểu của người quốc gia, người cộng sản yêu nước theo kiểu của người cộng sản. Cả hai đều yêu nước và đều có công với đất nước. Người quốc gia không thể giành độc quyền yêu nước rồi lên án người cộng sản là việt gian bán nước!

*Nhận xét:


Kiểu lý luận này giống y chang lý luận của tên Võ Văn Kiệt, cựu thủ tướng của việt cộng. Đúng là ngưu tầm ngưu mã tầm mã, những thằng lưu manh chính trị thì phải tìm đến nhau để gây bè kết đảng! Mấy năm trước đây, tên Kiệt đã nhiều lần lên tiếng, kêu gọi người Việt ở hải ngoại nên quên đi hận thù quá khứ để cùng hòa hợp hòa giải với việt cộng, xây dựng đất nước giàu đẹp!

3. Bùi Tín “chống” cộng sản nhưng đồng thời hắn cũng không công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa. Ta hãy đọc một đoạn sau đây do hắn viết trong quyển Mây Mù Thế Kỷ, trang 55: ” … Về lá cờ vàng ba sọc đỏ, nó được dựng lên dưới thời thực dân Pháp. Dưới lá cờ ấy biết bao nhiêu người chết oan uổng, mẹ tôi đã bị quân đội viễn chinh Pháp bắn chết. Hàng chục vạn người bị chết trong cuộc càn quét của quân Pháp. Rồi sau này là những đợt tố Cộng, diệt Cộng. Thực chất là giết những người yêu nước ở miền Nam. Theo số liệu của Lầu năm góc, hơn 20,000 người bị tử hình, ám sát trong thời kỳ tố Cộng, thực hiện kế hoạch Phượng Hoàng. Phía bộ đội miền Bắc và giải phóng cũng có trên 28,000 chiến sĩ bị bắt ngoài mặt trận, bị giam trong các nhà tù mà lá cờ đó đại diện. Lá cờ ba sọc đỏ chưa hề chinh phục tôi.”

*Nhận xét:

Xin quý ngài hoạt động chính trị lưu ý điều này. Đừng thấy Bùi Tín “chửi” cộng sản mà tưởng hắn là người cùng chiến tuyến với mình, vội vàng moi hết ruột gan cùng “tâm sự loài chim biển” mà trao cho hắn. Đó là giao trứng cho ác, sau này hối hận không kịp! Hiện nay hắn tạm thời đứng chung hàng ngũ với những người quốc gia vì NHIỆM VỤ ĐẶC CÔNG mà hắn phải làm. Nếu giả sử phe cánh của hắn trong nước có làm đảo chánh lật đổ được bọn đầu gấu và lên nắm quyền thì chỉ là bình mới rượu cũ, nghĩa là thay thế thằng việt gian cộng sản này bằng thằng việt gian cộng sản khác! Lúc ấy hắn sẽ quay ngoắt 180 độ mà chửi cộng đồng tại hải ngoại rằng: – lũ chúng bay chỉ là những thằng ngụy Việt Nam Cộng Hòa đi làm tay sai cho Pháp, Mỹ. Chúng bay là những thằng tham nhũng, hèn nhát, bất tài, thua trận, không xứng đáng đứng chung hàng ngũ với chúng tao!

4. Bùi Tín tuy ngoài miệng “chống cộng” nhưng hắn vẫn tự hào hắn là kẻ THẮNG TRẬN, là nhân vật lịch sử đã từng vào dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 để tóm cổ Dương Văn Minh. Và vì tự hào là kẻ thắng trận cho nên hắn vẫn có thái độ kiêu căng, khinh miệt quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Dưới con mắt của hắn, những người lãnh đạo quân lực VNCH là những kẻ bất tài, tham nhũng và hèn nhát cho nên mới bị thua trận! Hắn đã từng viết những cuốn sách như “Mặt thật tướng ngụy”, “Chân dung tướng ngụy”, “Dưới bóng tòa đại sứ Mỹ” với bút hiệu là Thành Tín. Mới đây, ngày 26 tháng Giêng năm 2008, trên báo điện tử VietNam Exodus có đăng video về cuộc phỏng vấn cựu đại tá Vũ Lăng, con trai của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Đại tá Vũ Lăng đã kể lại ông ta đã từng “được” Bùi Tín hỏi cung!

*Nhận xét:

Quý vị nào còn lờ mờ chưa rõ thì cứ tìm đọc những bài viết của Bùi Tín có đăng trên nhiều báo điện tử trên internet. Hoặc tìm đọc những “tác phẩm” của hắn như Hoa Xuyên Tuyết, Mây Mù Thế Kỷ để thấy hắn nhận xét như thế nào về chế độ VNCH, về quân lực VNCH! Những chữ viết của hắn còn sờ sờ ra đấy, trên giấy trắng mực đen chớ không phải là những lời nói bay đi theo gió!

5. Bùi Tín chủ trương hòa hợp hòa giải với việt gian cộng sản, kêu gọi mọi người quên đi quá khứ, xóa bỏ hận thù. Hắn đã chủ trương gây quỹ “Tình Thương” để giúp đỡ những thương phế binh của cả hai miền Nam Bắc.

*Nhận xét:

Hòa hợp hòa giải với việt cộng thì dứt khoát là chúng ta không chấp nhận. Nhiều người đã lên tiếng về vấn đề này, không cần phải mất thời gian nói thêm ở đây. Điều lưu manh của Bùi Tín là hắn đi gây quỹ của đồng bào ở hải ngoại – đại đa số đã từng là nạn nhân của cộng sản- để giúp những tên thương binh việt cộng đi xâm lược miền Nam. Thực chất là hắn đi gom tiền để cúng dường cho bọn tham nhũng cộng sản chớ thực sự số tiền quyên góp không thể nào tới tay những người thương phế binh. Những thương phế binh của VNCH chúng ta còn lo chưa xuể, tại sao lại phải đi lo cho những tên việt cộng miền Bắc, vốn trước kia từng đi xâm lược và cầm súng bắn giết đồng bào miền Nam? Hãy để cho đảng việt gian cộng sản của bọn chúng lo!

6. Bùi Tín chỉ là kẻ phản tỉnh dỏm, một tên đặc công việt cộng đóng chốt ở hải ngoại để phá rối cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản. Hắn đã lộ bộ mặt thật của hắn rất rõ ràng qua buổi trả lời phỏng vấn của đài BBC ngày 24 tháng Giêng năm 2008. Trong cuộc phỏng vấn này, hắn đã lên tiếng BÊNH VỰC cho bọn việt gian cộng sản trong vụ tàn sát sáu ngàn người dân vô tội ở Huế, hồi tết Mậu Thân năm 1968. Hắn cho rằng không hề có chỉ đạo của cấp trên tàn sát thường dân. Đó chẳng qua là do cấp dưới túng thế khi rút lui rồi làm bậy!!!

* Nhận xét:

Hắn đã cởi bỏ lớp áo ngụy trang “phản tỉnh” vứt đi rồi. Hoặc có lẽ hắn nghĩ rằng không cần phải ngụy trang nữa vì mọi người đã nhìn thấy rõ bộ mặt thật của tên đại tá ngụy quân cộng sản Bùi Tín!

7. Không những bênh vực cho bọn việt gian cộng sản mà hắn còn công khai ca ngợi lá cờ máu của việt cộng. Hắn đã viết như sau trong quyển Mây Mù Thế Kỷ, trang 56: ” …. Tôi thấy lá cờ đỏ sao vàng đã có một thời kỳ oanh liệt, đó là thời kỳ khởi nghĩa cách mạng tháng 8, năm 1945, thời kỳ kháng chiến chống Pháp và trước đó, còn tiêu biểu cho cả cuộc khởi nghĩa Nam Bộ năm 1940. Nó có cả một quá trình lịch sử hào hùng và đi cùng với nó là bài quốc ca có tựa đề là Tiến quân ca. Nhiều người cho rằng cần phải giữ lá cờ đỏ sao vàng vì nó tiêu biểu cho một thời kỳ lịch sử, được Quốc hội Việt Nam chấp nhận, được công nhận ở Liên Hiệp Quốc là lá cờ chính thức làm lễ chào cờ khi đón các vị nguyên thủ quốc gia và thay mặt đất nước Việt Nam trên trường quốc tế”

Hai tay hắn đội lá cờ máu trên đầu để thờ, còn chân thì chà đạp lên lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa: ” …. Cho đến ngày nay một số người Việt quốc gia đã nghĩ đến một lá cờ khác, họ không công nhận lá cờ Vàng ba sọc đỏ là quốc kỳ nữa với lý do nó tiêu biểu cho một thời kỳ, một chế độ tham nhũng do thực dân đế quốc dựng lên. Một số người quốc gia còn nói với tôi là không thể chấp nhận lá cờ Vàng ba sọc đỏ đại diện cho sự thối nát, sự thất trận, bất lực trong cuộc chiến đấu giữ miền Nam khỏi lọt vào tay cộng sản, đến nỗi họ phải bỏ đất nước ra đi” (Trích Mây Mù Thế Kỷ, trang 56, tác giả Bùi Tín)

Nhận xét:

Tên Bùi Tín tự hào lá cờ máu của hắn được quốc hội bù nhìn của bọn việt gian cộng sản công nhận, được Liên Hiệp Quốc công nhận, được làm lễ chào cờ khi đón các vị nguyên thủ quốc gia và thay mặt đất nước Việt Nam trên trường quốc tế. Chà, oai quá! Hãnh diện quá!

Bùi Tín quên rằng nếu bọn việt gian cộng sản bị lật đổ thì lá cờ máu sẽ bị quăng vào sọt rác. Lúc ấy lá cờ vàng ba sọc lại tiếp tục tung bay ở Liên Hiệp Quốc! Còn việc được quốc hội bù nhìn của bè lũ việt gian công nhận thì có gì đáng hãnh diện?

Qua 7 điểm nêu trên, ta thấy rất rõ ràng, Bùi Tín chỉ là một tên phản tỉnh dỏm, một tên đối lập cuội, đánh phá cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại. Những thành phần này rất nguy hiểm vì chiếc áo khoác bên ngoài của bọn chúng. Chẳng thà là kẻ thù công khai ngoài mặt trận, màu cờ sắc áo hoàn toàn khác biệt, chúng ta dễ đánh. Đấu tranh chống bọn giặc Trung Cộng dễ hơn là chống bọn việt gian cộng sản. Dễ hơn là vì cứ thấy thằng nào mắt hí, nói tiếng Tàu líu lo là chúng ta nổ súng. Trong khi đó việt gian cộng sản cũng là một loại giặc, vừa ngoại xâm, vừa nội xâm và chúng ta khó đánh hơn giặc Tàu. Bởi vì chúng thường núp sau tấm bình phong “người Việt Nam, con Rồng cháu Tiên” và chúng trà trộn, sống lẫn lộn trong toàn dân và biết nói tiếng Việt. Chúng thường lý luận như thế này:

– Tại sao các anh (những người quốc gia) lại thù ghét chúng tôi? Chúng tôi cũng là người Việt Nam như các anh, cùng ăn cơm với nước mắm Phú Quốc như các anh, cùng con Rồng cháu Tiên, cùng nguồn gốc Lạc Long Quân, Âu Cơ! Chúng ta là anh em cùng một bọc trứng trăm con. Trong quá khứ chúng tôi có sai lầm “chút đỉnh”(!) Nhưng thôi hãy quên đi quá khứ và cùng hướng về tương lai để cùng xây dựng đất nước giàu đẹp! Thôi nín đi em, anh đã chơi rồi, còn chi nữa đâu!*

LỜI KẾT:

Những thành phần phản tỉnh dỏm, đối lập dỏm như Bùi Tín hết sức nguy hiểm bởi vì bọn chúng đánh phá ngay trong nội bộ của những người quốc gia, lèo lái mục tiêu đấu tranh của chúng ta đi lạc hướng và tung ra nhiều hỏa mù khiến cho hàng ngũ của chúng ta bị rối loạn. Và càng nguy hiểm hơn nữa khi chúng ta tin tưởng bọn chúng, coi bọn chúng như những người đồng chí hướng, đứng chung hàng ngũ đấu tranh. Có nhiều tên chửi cộng sản rất dữ dội, nghe nổ đôm đốp như Từ Châu điện quang pháo. Nhưng nếu phân tích kỹ thì ta thấy: chửi mà không phải chửi! Hoặc chúng áp dụng chiến thuật xen kẽ, cứ 10 bài viết “chửi cộng sản” thì xen kẽ một nhát dao đâm vào lưng những người Việt quốc gia. Chiến thuật này đang được tờ nhật báo Người Việt ở quận Cam, tiểu bang California ở Mỹ áp dụng! Tôi xin nêu ra đây một ví dụ:

Hồi năm ngoái 2007, nhân dịp ngày 30 tháng 4 có một người tự xưng là cựu thiếu tá quân lực VNCH, cựu giáo sư dạy toán bậc trung học, viết một bài cậy đăng trên một tờ báo địa phương, nói về ý nghĩa ngày 30 tháng 4. Trong suốt bài viết từ đầu đến gần cuối, ông ta chửi cộng sản rất dữ dội, kể tội cộng sản từ năm 1945, đến vụ cải cách ruộng đất, đến tết Mậu Thân 1968, rồi đến những tội ác của cộng sản trước và sau năm 1975. Nhưng khi đọc đến phần kết luận, chỉ vỏn vẹn khoảng 10 giòng thì tôi giật mình! Vì trong phần kết luận, tác giả kêu gọi người Việt ở hải ngoại nên quên đi quá khứ, xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải với cộng sản!!! Mục đích của bọn việt gian cộng sản là như vậy. Nguyên một bài viết tràng giang đại hải dài sáu bảy trang, chúng chỉ cô đọng vào mười giòng cuối cùng! Và bọn chúng dùng tiền bạc mua chuộc chính những người cựu quân nhân VNCH, cựu tù cải tạo nói lên những điều chúng muốn nói!

Ngày nào chúng ta còn bị chi phối bởi những hình tướng bề ngoài là ngày đó chúng ta còn thua cộng sản. Có nhiều người sống ở hải ngoại đã mấy chục năm mà vẫn còn “ngượng mồm” không dám gọi Hồ Chí Minh bằng thằng! Còn nể sợ Hồ Chí Minh tức là còn nể sợ bọn việt gian cộng sản, từ thằng đầu gấu trong bộ chính trị xuống đến thằng công an khu vực tép riu. Khi về nước tới phi trường, vừa trông thấy bọn công an hải quan là sợ muốn té đái ra quần, nó chưa đòi tiền đã vội móc tiền ra đưa cho nó! Có người viết thơ ngỏ đăng báo gởi mấy tên đầu gấu như Mạnh, Triết, Dũng. Nội dung lá thơ là than phiền, chê trách mà cứ “kính thưa Ngài” lia lịa, từ đầu đến cuối! Vừa đánh vừa run vừa lạy thì đánh làm gì? Đó không phải là lịch sự, có học. Đó là hèn nhát!

Khi nhìn những tên việt gian cộng sản đầu gấu, chúng ta phải nhìn xuyên qua bộ quần áo sang trọng mà bọn chúng đang mặc, để thấy rõ chân tướng bên trong của bọn chúng là những tên cướp, những tên việt gian cộng sản phản dân, hại nước. Toàn bộ những chức vụ ghê gớm của bọn chúng nghe nổ đôm đốp như điện quang pháo, chúng ta phải phớt lờ, coi như không có. Còn bị chi phối bởi những chức vụ như “chủ tịch nước”, “thủ tướng chính phủ”, “tổng bí thư đảng”, chưa đánh đã té đái ra quần, lo chắp tay vái lạy thì muôn đời sẽ làm nô lệ! Khi tôi nghe nhắc đến cái tên “Nguyễn Văn Sang” thì tôi hình dung ra ngay đó là tên công an áo đen, đảng viên cộng sản được kết nạp hồi trước năm 1945. Năm 2006 tên này đã được bọn việt gian cộng sản trao tặng huân chương Đại đoàn kết dân tộc. Đó là con quạ đen mang thánh giá chớ không phải là “Giám Mục” đang cai quản giáo xứ Thái Bình. Trong cuộc đấu tranh đòi lại tòa Khâm Sứ của giáo dân Hà Nội, tên này đã đóng vai trò trung gian, hòa hợp hòa giải. Thế là chết giáo dân Hà Nội rồi! Kẻ thù ở ngay trong hàng ngũ đấu tranh của mình chớ ở đâu xa!

Bùi Tín chính là ngầu-pín, một cây roi cặc bò rất nguy hiểm đang đánh phá cộng đồng người Việt quốc gia tại hải ngoại. Những bài viết của hắn sẽ ảnh hưởng đến nhiều lớp người trẻ sau này, nhồi nhét vào đầu họ những sự hiểu biết rất sai lạc về lịch sử. Nếu chúng ta không cảnh giác và tẩy chay, vạch mặt những tên đặc công việt cộng nằm vùng thì những cây roi cặc bò sẽ tiếp tục quất trên đầu trên cổ chúng ta. Hãy nhìn thấy rõ hắn chính là cây roi cặc bò chớ đừng bị chi phối bởi chức vụ đại tá hay phó tổng biên tập báo Nhân Dân của hắn!

Trần Thanh
Ngày 17 tháng 2 năm 2008

Chú thích:
* Một câu trong bài hát Sang Ngang của Đỗ Lễ “Thôi nín đi em lệ đẫm vai rồi buồn thương nhớ ơi” Câu này thường bị sửa lời lại để mô tả sự lưu manh, đểu cáng của mấy thằng ma cô chuyên đi dụ dỗ những người con gái ngây thơ.

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

ĐẠI TÁ CS BÙI TÍN, TÊN” THỢ HÓT NGHIỆP CHUYÊN”, ĐẶC CÔNG ĐỎ MẶC ÁO PHẢN TỈNH

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 8, 2008

ĐẠI TÁ CS BÙI TÍN, TÊN” THỢ HÓT NGHIỆP CHUYÊN”, ĐẶC CÔNG ĐỎ MẶC ÁO PHẢN TỈNH.

TRƯƠNG MINH HÒA.

Bùi Tín, tên thật là Bùi Bằng Tìn, nguyên là đại tá bộ đội Cộng Sản Việt Nam, một nhân vật không còn xa lạ gì đối với đảng Cộng Sản từ trung ương đến cơ sở, du kích; kể cả giới nhà văn, nhà báo hai phía. Kinh qua thời gian dài phục vụ tận tụy, lập được nhiều công lao để đưa đảng cướp từ đám thổ phỉ thiểu số, cướp được chính quyền; hắn đi đến đâu là gây ồn ào đến đó, do hành vi mờ ám, gian manh là bản chất không bao giờ thay đổi trong một con người Cộng Sản có quá trình phục vụ lâu dài trong đảng Cộng Sản, dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh; nên luôn tự hào về thành tích” đánh Tây giành độc lập và đánh Mỹ cứu nước”, lếu láo, luôn trung thành với đảng, hiếu với Bác, dù ở bất cứ” tình huống” nào.

Xuất thân từ một gia đình làm tay sai đắc lực cho thực dân Pháp, thân sinh là Bùi Bằng Đoàn, gốc là một thông ngôn cho Tây, nhờ nịnh hót, luồn lách giỏi v1ơi quan Tây mà được thăng quan tiến chức; khởi đầu là từ chức Tri Huyện Xuân Trường, một huyện trù phú nhất tỉnh Nam Định, một nơi được dành ưu tiên cho các quan lại có thế lực, nhờ cút cung tận tụy cho chính quyền thuộc địa, thi hành chính sách cai trị hà khắt với dân, nên ông ta được quan công sứ Nam Định là René Bobin đỡ đầu. Được biết Robin là một trong số những tay thực dân gian ác khét tiếng nhất Đông Dương, nên khi hắn lên làm Thống Sứ Bắc Kỳ, thì Bùi Bằng Đoàn được thăng quan lên chức Tuần Phủ. Trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái bất thành do Việt Nam Quốc Dân Đảng cùng dân chúng đứng lên vào tháng 2 năm 1930, hai tên Bùi Bằng Đoàn và Cung Đình Vận lập công to trong vụ đàn áp các cuộc đứng dậy của sĩ phu yêu nước chống thực dân, gây nợ máu với đồng bào. Đoàn được Pháp ân thưởng huân chương đệ nhất hạng” Ordre De Mérite”. Nhờ Robin tiến cử nên vào năm 1933, được đưa vào triều đình Huế là chức Thượng Thơ Bộ Hình; tức là trong khoản thời gian chưa đến 8 năm, từ một thông ngôn tầm thường, thăng quan đến thượng thơ, lên chức nhanh như diều gặp gió lớn, uy quyền của Đoàn lớn hơn cả Phạm Quỳnh với chức Thượng Thơ Bộ Lại. Đến 1945 thì toàn quyền De Cour ân thưởng Bắc Đẩu Bội Tinh (Légion d’ honneur).

Bùi Tín cũng không khác gì cha, hắn cút cung tận tụy cho tập đoàn” Thái Thú Cộng Sản Việt Nam”, gia nhập đảng bất lương, nhúng tay vào máu, với công tác chuyên thủ tiêu, giết hại những người Việt yêu nước, các đảng phái Quốc Gia. Từ lúc Tín mới 19 tuổi là đã trở thành” sát thủ” giết người không gớm tay, bằng chứng do ông Võ Tử Đản ở San Jose, trong lá thư gởi các cơ quan truyền thông, đề ngày 28-4-1999, kể lại tội ác của Tín vào năm 1947-1948 tại làng Nại Cửu, xã Phong La, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một đêm mưa u ám, Bùi Tín với khẩu tiểu liên Sten do Pháp chế tạo, cùng với 6 tên Cộng Sản ác ôn mang gươm đến đạp cửa nhà ông Đản tại xóm Chùa và bắt thân phụ là Võ Bào ( vì ông nầy là đảng Viên Việt Nam Quốc Dân Đảng) nhưng không có ở nhà; Bùi Tín bắt ông Đản và người anh chú Bác tên Võ Di băng đồng dẫn đến nơi ông Đản ở, Bùi Tín dặn phải nói:” chú ơi! mệ đau năng, chú phải về gấp”. Khi cánh cửa vừa mở thì Bùi Tìn lên đạn, hai tên cận vệ nhào tới bắt trói, dẫn ra đến bến đò gần đó để giết rất dã man: hai tên cận vệ chém vào mặt làm toét mũi, hai tên khác chém vào cổ và hai tên còn lại chém sau lưng và Bùi Tín là người cuối cùng dùng báng súng đập vào ngực nạn nhân trước khi đá văng xác xuống sông, rồi hung thủ bắn 5 phát súng thị oai, đoạn cùng toán người vào xóm trong bắt ông Lê Ngô, hạt trưởng Thủy Lâm, cách nhà ông Đản chừng nửa cây số để sát hại. Gia tộc ông Đản còn có 2 người chú họ là Võ Sơ, Võ Liêu cũng bị Bùi Tín giết. Theo ông Đản, thì Bùi Tín đã giết người bằng nhiều cách dã man, trong đó có cả chôn sống nạn nhân ở bải cát Chợ Cạn, làng Phương Sơn cũng vào năm ấy. Nay sau khi Bùi Tín phản tỉnh, chỉ kể sơ tội của đồng đảng để cho người Việt hải ngoại tin, nhưng không thành thật khai báo, hối cải những tội ác giết người từ Cambot đến Việt Nam trong thời kỳ phục vụ đảng cướp Cộng Sản; do đó trong thời gian ở Quảng Trị, Tín làm đại đội trưởng Cộng Sản, giết hại nhiều người, nên dân gọi đơn vị nầy là” Đại Đội ÁM SÁT”. Bùi Tín lập được nhiều thành tích giết người trong thời Việt Minh đội lớp kháng chiến đánh Tây giành độc lập, được đảng tin dùng; sau nầy làm phó chủ nhiệm cơ quan truyền thông hàng đầu của đảng là tờ Nhân Dân nhật báo, ngày 30-4-1975 chính hắn là người vào Dinh Độc Lập đầu tiên, treo cờ đỏ sao vàng, huênh hoang” đại thắng mùa xuân”. Thành tích khủng bố, ám sát, giết người đã tạo nên 4 ngôi sao vàng, có 2 gạch bên dưới trên cổ áo, hắn nổi tiếng là tay nịnh bợ,” hít địt” tên đại Việt gian, lãnh chúa Hồ Chí Minh và nịnh đảng, nhà nước… được dân chúng gọi là THỢ HÓT. Bùi Tín giết người dã man như đồng bọn trong vụ thảm sát tết Mậu Thân 1968 ở Huế, nên có những lý luận chạy tội, bọn ác binh nhau cả, có gì lạ như câu:” phủ binh phủ, huyện binh huyện”.

Tên Thợ Hót Bùi Tín lại được đảng áp dụng” khổ nhục kế” dàn cảnh đi tỵ nạn chính trị ở Pháp. Ban đầu, một số tổ chức, cá nhân ngây thơ, hay cũng có cả những kẻ cùng một mạng lưới nằm vùng đánh bóng, nhằm tạo cho Bùi Tín một thế đứng vững chắc trong cộng đồng tỵ nạn, hầu dùng bàn đạp, thành lập” mật khu Việt Cộng” một cách hợp pháp tại Tây Phương và từ đó khai tiến công tác tiến chiếm nhuộm đỏ cộng đồng người Việt tỵ nạn hải ngoại bằng những thủ đoạn gian manh của người Cộng Sản. Tuy nhiên, bàn tay không thể che nổi mặt trời, sau thời gian múa máy quay cuồng chống đảng bằng lời, phát biểu, mạnh mẻ nhất là tố cáo tham nhũng (điều nầy ai cũng biết, kể cả thế giới, khỏi cần nói cho mất thời giờ); nhưng Bùi Tín coi đó là mục tiêu chánh, ông dùng ngụy biện để binh vực cho tên Việt gian Hồ Chí Minh là người yêu nước, sau khi đưa ra vài sai lầm, như chuyện” nhân vô thập toàn” nhằm binh vực một cách khéo léo, nếu những người lười biếng suy luận, chưa có nhiều kinh nghiệm về Cộng Sản, dễ tin những lời nói phản tỉnh” nửa thật, nửa giả” lập lờ đánh lận con đen, như tay chơi bài ba lá điếm đàng chuyên nghiệp, làm hoa mắt những người khù khờ trong canh bạc gian lận. Bùi Tín là một con người” thất tín”, lời nói” khi trồi, khi sụt, khi có, khi không”, cho việc giết người, lừa đảo của đảng Cộng Sản là làm cách mạng, yêu nước và Hồ Chí Minh cũng là người yêu nước. Lời nói của Bùi Tín được cho là” chưa trừ thuế” mà người đi làm ở các nước Tây Phương nói tiếng Anh gọi là Gross wage, nên người Việt hải ngoại, kể cả trong nước đều nhớ câu:” đừng nghe những gì Bùi Tín nói, hảy nhìn kỷ những gì Bùi Tín làm” để không trở thành nạn nhân của sự lừa đảo do đảng Cộng Sản thực hiện lần nữa sau khi thoát khỏi sự kiềm kẹp của chế độ độc tài tại Việt Nam. Thời còn nằm trong băng đảng Việt Cộng, khủng bố, giết hại dân, hắn cho cuộc thảm sát Mậu Thân là do lính quốc gia, máy bay Mỹ bắn….khi đi phản tỉnh, thì cho là: cấp dưới làm bậy, giết người, chớ đảng luôn thương dân, không bao giờ làm sai, có chính sách đàng hoàng… đó là những lý luận ngang bướng, nhằm chạy tội giết người hàng loạt bằng những phương cách dã man như” đập đầu, bắn, chôn sống…. điều nầy dễ hiểu là lúc đó Bùi Tín nằm trong cái gọi là Quân đội Nhân Dân và ngày nay hắn cũng vẫn một lòng” thờ Bác, yêu đảng”. Đây là lối ngụy biện” cơ bản” của người Cộng Sản:” đảng không bao giờ sai, chỉ có cán bộ thừa hành làm sai mà thôi”. Như vậy, Bùi Tín đang đóng vai” Ông Tám Khỏe” trong vở tuồng cải lương” Người Ven Đô” tại hải ngoại.

Bùi Tín là người nâng bi rất kỷ Hồ Chí Minh và đảng cướp cũng như tên văn nô Tố Hữu. Con người như thế thì không thể tin được, nhưng sự có mặt của tên đặc công đỏ ở hải ngoại làm khó chịu tập thể người Việt tỵ nạn, nạn nhân của Cộng Sản mà Bùi Tín từng là thủ phạm, từng gây bao nợ máu trong suốt thời kỳ nằm trong băng đảng cướp Cộng Sản. Trong sinh hoạt hàng ngày của đảng là họp tổ, hội thảo, học tập….cán bộ có lối” phê và tự phê”, hình thức viết tự kiểm được coi là thướt đo sự giác ngộ, khắc phục sai lầm; nhưng từ khi Bùi Tín phản tỉnh, tỵ nạn, chưa lần nào nghe, thấy hắn nói, đăng báo để tạ lổi với đồng bào, nạn nhân qua quá trình theo đảng, gây biết bao tội ác. Người Việt quốc gia thấy hắn không thèm chào cờ vàng ba sọc đỏ trong các cuộc họp, có khi hắn được mời làm diễn giả; trong nhiều năm qua, có vài cá nhân, tổ chức hy sinh lá cờ vàng ba sọc đỏ, là biểu tượng hồn thiêng sông núi để cho Bùi Tín” thoải mái” giáo dục những người đến nghe hắn trút những lời vàng tiếng ngọc nói về” tình hình đất nước”, nên thừa hiểu hắn thuộc loại phản tỉnh giả để tìm cách xâm nhập vào cộng đồng hải ngoại mà trong công tác Tình báo gọi là” Trèo cao, lặn sâu” để hoạt động, như các cụm tình báo chiến lược của Cộng Sản A 22, A 26, A 54…cài vào các cơ cấu đầu não miền nam trước 1975, từ Dinh Độc Lập, bộ tự lịnh quân đoàn 1, quốc hội….

Hết nịnh cha, rồi lại nịnh con, là bản chất tên” nô tì nòi”, Bùi Tín có viết bài” không thể bất công kéo dài đến vậy!” vào đầu năm Mậu Tý 2008, mục đích nhằm tạo cho người đọc, nhân dân trong nước và người Việt hải ngoại thương cảm, xót xa của một con người ” MỒ CÔI” cha lẫn mẹ từ thuở mới lọt lòng, với thân phận đứa con rơi bèo bọt, trôi dạt từ tay những” ông lớn” nầy trong bộ chính trị trung ương đảng, đến cán bộ cao cấp… mà ủng hộ, thông cảm, đừng chống người từng trải qua bao cảnh ngộ thương tâm, đánh động lương tâm của toàn dân Việt Nam trong, ngoài nước mà chấp nhận cho đứa con côi cúc đó được” cai trị đất nước đến mãn đời như cha hắn”, và nếu có thương” người cùng khổ ấy” thì sau khi chết cũng ráng góp tiền ướp xác, xây lăng thờ cạnh lăng cha hắn cho được ấm cúng…. Người đáng thương dưới ngòi bút” hót” Bùi Tín là NÔNG “ĐỨT” MẠNH, đương kiêm tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, ông vua không ngai 2 nhiệm kỳ liên tiếp, có can dự vào việc hoàn tất việc cấm cọc móc biên giới, cắt đứt hàng ngàn cây số vuông dâng cho quan thầy Trung Cộng; thiệt là tội nghiệp cho kẻ mồ côi cha lẫn mẹ từ thuở nhỏ, phải qua tay nhiều cha mẹ nuôi, lang thang, lếch thếch từ nhà nầy sang nhà khác, có mẹ đã chết yểu và có cha cũng như không, dù cha là người được toàn đảng gọi là” cha già dân tộc”, có nhiều hình tượng, xác ướp đặt trong Lăng thật lộng lẫy, có bộ đội, công an canh coi ngày đêm. Nông Đức Mạnh, được dân gọi là NANH ĐỨT MỘNG, hay là NÔNG ĐÚT MẠNH ( nếu hành lạc với nữ hộ lý), tức là NGUYỄN TẤT TRUNG, đứa con rơi giữa mối tình” hộ lý vĩ đại và cảm động” của Hồ Chí Minh và nàng sơn nữ gốc người Tày, quê ở làng Nà Mạ, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng là Nông Thị Xuân. Thời Hồ còn trốn chui trốn nhủi trong rừng Việt Bắc, nhưng tánh dâm dật, quen chơi bời trong suốt thời kỳ hoạt động, làm tay sai cho Cộng Sản Quốc Tế từ Nga, Tàu….nên bọn đàn em phải kiếm gái” dâng Bác” như là” lập công dâng đảng” để Bác xã sút bắp, cho tinh thần minh mẫn để tiếp tục lãnh đạo toàn đảng đi đến thắng lợi và làm tay sai cho ngoại bang Nga-Tàu.

Thời kỳ trốn trong rừng, nhà ái quốc Huỳnh Thúc Kháng làm bộ trưởng nội vụ trong chính phủ liên hiệp, tình cờ sang nơi Hồ Chí Minh để bàn việc nước, bất thần nhìn thấy qua khe vách, cảnh Hồ Chí Minh đang cùng với một sơn nữ, cả hai đều biến thành” vô sản chuyên chính”, không có tấm vải che thân, cười đùa, động cỡn như cuốn phim Sex ở Holliwood vậy. Thấy vậy, buồn bả bỏ về, sau đó làm một bài thơ, nhờ người đưa sang, ý bóng gió. Hồ biết nên để bụng, nhân trong vụ máy bay Pháp dội bom gần đó, Hồ ra lịnh cho đàn em giết Huỳnh Thúc Kháng để bịt miệng, sau đó còn giả vờ than khóc, làm quốc táng, cho người mang quang tài từ Việt Bắc về tận Quảng Ngải. Cho nên sau khi làm chủ phân nữa giang sơn, Hồ còn chơi bời đến mức nào, vì thế mà Chủ Nhiệm hậu cần là Trần Đăng Ninh, rất thông suốt nhu cầu” nắng cực” thường trực, cao trào cách mạng của Bác, nên đã tiến cử Nông thị Xuân về Hà Nội để phục vụ sinh lý cho Bác. Cô và người em gái Nông Thị Vàng được Trần Quốc Hoàng cho ở căn nhà số 66, phố hàng Bông-Thợ Nhuộm để hàng tuần dẫn vào dinh cho Hồ” làm việc” từ 1 đến 2 lần, tùy theo” nhu cầu đòi hỏi bức thiết”. Theo bùi Tín thì:” mối quan hệ ấy đưa đến kết quả là cô Xuân cho chào đời đứa con trai vào năm 1956, do Hồ đặt tên là Nguyễn Tất Trung, theo họ cũ của mình..”.Bùi Tín cho biết Trần Quốc Hoàn là tay dâm tặc, hãm hiếp nhiều lần” người vợ không bao giờ cưới” của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, rồi dọa bắn cả 2 chị em, coi thường Hồ Chí Minh…. đều không có thể tin được. Tên Trần Quốc Hoàn ác độc, là đàn em thân tín, chịu ơn Hồ nâng đỡ, hắn sợ Hồ như sợ cọp, nếu không có lịnh của Hồ giết Nông Thị Xuân, luôn cả vợ chồng cô Vàng, thì Hoàn không bao giờ dám. Vụ nầy có quan hệ đế thanh danh” Bác Hồ suốt đời lo cho dân, cho nước, không bao giờ nghĩ đến gia đình”. Hồ là tên đạo đức giả, trong buổi nói chuyện với sinh viên trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội và cuối năm 1957, hắn nói là:” Bác có 2 tật xấu, các cháu không nên bắt chước. Một là hút thuốc, Hai là không lấy vợ”. Như vậy, nếu Nông Thị Xuân la lớn:” có con với Hồ Chủ Tịch, thì còn gì là” vị lãnh tụ vĩ đại, sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”. Cho nên hắn sai đàn em giết vợ và đem con lén nuôi dưỡng để sau nầy nối ngôi vua Cộng Sản, chớ Hoàn nào dám rớ tới món đồ giải trí” chất lượng” của Bác. Chuyện nầy được Vũ Thư Hiên viết trong” Đêm giữa ban ngày” và một nhân chứng khác là ông Lê Hồng Hà, nguyên là CỐM trong ngành Công An, quân hàm đại tá, làm gì ông nầy không biết rõ vụ Nông Thị Xuân? Lê Hồng Hà phản tỉnh ( chưa biết thiệt hay giả), tại sao ông không nói ra? Hay là cũng sợ làm mất uy tín của Bác?

Bùi Tín đưa ra Hoa Quốc Phong là con trai cả của Mao Trạch Đông, nhưng là đứa con ngoại hôn, có vài chi tiết về gia phả Mao, nhằm để tung hỏa mù: đưa ra một số chuyện giả, xem lẫn chuyện thiệt, là thủ đoạn tuyên truyền của bất cứ cán bộ Cộng Sản nào, từ trung ương đến địa phương. Bùi Tín lấy tài liệu của một nhà văn trong nước là Hồ Sĩ Sênh, bút danh Trường Lam, hội viên Hội Văn Nghệ tỉnh Nghệ An, vào đầu năm 2007 có đưa ra gia phả Hồ. Thật ra thì đâu cũng chỉ là” cán bộ viết, đảng viên ca” mèo khen mèo dài đuôi hay con hát mẹ khen, chớ nào kiểm chứng được, có ai vào Lăng lấy vài miếng thịt” ướp khô” của Hồ Chí Minh, tới gặp Nông Đức Mạnh xin chút nước bọt và thử DNA để minh xác chuyện nầy. Theo bài viết nầy, Bùi Tín cho Hồ Sĩ Tạo là ông nội của Hồ Chí Minh, vì bà nội của Hồ là Hà Thị Hy trước khi về làm vợ ông Nguyễn Sinh Nhậm ( làng Kim Liên) đã có bầu với Hồ Sĩ Tạo, một tay chơi, bay bướm. Nguyễn Sinh Sắc, là con ông Tạo, Ông Sắc là cha của cậu NGUYỄN SINH CONG, tức là Nguyễn Tất Thành, Hồ Chí Minh….phần nầy, nhà văn trong nước gọi là Nguyễn Sinh Côn ( chắc là ông ta không muốn cho Bác cái tên cúng cơm thiệt, khó nghe, CONG, tức là KHÔNG NGAY THẲNG). Đó cũng là chuyện bí sử, vì ông Sắc có 4 người con, nhưng người sau cùng là Nguyễn Sinh Xin qua đời khi còn nhỏ; cậu Cong lúc nhỏ thường bị cha mắng là:” thằng láo cá”, nên từ năm 1945, trở thành Cha gia dân tộc, hắn ra lịnh cho tỉnh ủy Nghệ An quản thúc anh là Nguyễn Sinh Khiêm, chị là Nguyễn Thị Thanh cho đến chết để không ai biết cậu Cong láo cá, mất dạy từ thuở nhỏ. Khi ông Khiêm qua đời, Hồ không thèm về để lo tang chế; nhưng trong những ngày còn ở Việt Bắc, khi nghe tin vợ của bác sĩ Tôn Thất Tùng ( sau nầy thế thế Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch bị giết, làm bộ trưởng y tế) hạ sinh ra đứa con trai, Hồ mò tới; theo nguồn tin đồn là: vợ của Tùng rất đẹp, nên Hồ mê nhìn vú, lúc bà ngồi vạch vú cho con bú mà tới đúng lúc?, Hồ đặt tên đứa con đó là Tôn Thất Bách, sau nối nghiệp cha làm bác sỉ, giám đốc bịnh viện hữu nghị Việt-Đức. Hình như Tôn Thất Tùng cũng biết Bác khoái vợ mình, nên ghen ngầm, cho nên dịp may là Bác yếu sức, thừa mật lịnh của Lê Duẫn, Lê Đức Thọ, đầu độc Bác để trả thù?.

Bùi Tín tả oán về cuộc đời của Nguyễn Tất Trung như một trẻ mồ côi đáng thương, hơn 52 năm sống lây lất, về mặt pháp lý là không có cha mẹ chính thức ( pháp lý Cộng Sản như thùng rác chớ hay ho gì), tức là không có căn cước thật, Nông Đức Mạnh cũng có” sơ yếu LÝ LỊCH CHUI” như giới bán chui, trốn chui, bán nước chui cho Trung Cộng…. Từ tay ông Sao Đỏ Nguyễn Lương Bằng vài tháng, đến 1957, bé Trung về làm con nuôi cho tướng Chu Văn Tấn ở Thái Nguyên, sau đó được Hội Phụ Nữ Cứu Quốc Trung Ương đưa vào trại Mồ Côi, rồi vào trường Nguyễn Văn Trổi, dành cho liệt sĩ…như vây là Trung được cha hắn nhờ các đồng chí thuộc hạ thân tính nuôi dùm, chớ có bỏ bê đâu. Chuyện Trần Quốc Hoàn cho Trung liếm, chích các loại thuốc độc, nên lú lẫn, tinh thần bấn loạn, đến 1969 mới đỡ ( cũng là chuyện phịa, có ai làm chứng, ai là người đến đầu độc?). Khi Hồ Chí Minh qua đời, Trung được ông Vũ Ký, là thư ký riêng, uy tín của Hồ Chí Minh nuôi, cho đi học chung với 2 con mình là Vũ Vinh, Vũ Quang ở trường phổ thông Chu văn An; nhưng Trung bị ốm, đau đầu mà không vào đại học được. Vũ Ký cưới vợ cho Trung là cô Lưu Thị Duyên lúc 32 tuổi…thật là chu đáo! Bùi Tín tiết lộ là bạn thân của Vũ Ký, nên biết rất rõ, theo bài viết đó, mức độ khả tín bao nhiêu? Trong bài viết, tác giả nhằm đưa ra bộ mặt thật đáng thương của đương kiêm tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, đắc cử 2 nhiệm kỳ, nay có thể hy sinh thêm một nhiệm kỳ 5 năm làm vua không ngay nữa hay làm chức nầy đến mãn đời càng đạt mục đích yêu cầu; cũng như Dương Thu Hương, khi Nông Đức Mạnh mới lên làm tổng bí thư, thì khen là có bộ mặt dể mến….Nguyễn Tất Trung, tức Nông Đức Mạnh có cuộc đời” bi đát, đáng thương như thế!” mà còn phấn đấu lên đến tổng bí thư, thay thế cha Hồ Chí Minh lãnh đạo đảng và nhà nước, sớm trở thành tỷ phú Đô La Mỹ trong thời gian ngắn, dù bị Trần Quốc Hoàn cho liếm, chích thuốc độc, đầu óc bị lụn bại, thế mà còn biết cách làm thế nào để lên làm chức lãnh đạo cao cấp nhất nước, nếu Trung tỉnh táo như người thường, thì hắn làm tới cái gì nữa. Như vậy nếu có đầy đủ tình thương gia đình, biết cội nguồn, tỉnh táo…thì chắc có lẽ Nguyễn Tất Trung dám cạnh tranh giàu có với nhà tỷ phú Bill Gate lắm! Người Cộng Sản như Bùi Tín, viết hay nói đều” chưa trừ thuế”.

Từ ngày Bùi Tín có mặt ở hải ngoại với bình phong” phản tỉnh” làm cho tập thể người Việt thêm lộn xộn, phân hóa: có người ngây thơ tin, kẻ đón gió qui phục để kiếm chút quyền lợi, bọn nằm vùng tìm đến để tái phối trí lực lượng, tập hợp thành một thế lực giống như Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ trước 1975. Đám sinh viên du học con cháu cán bộ, cán bộ gián điệp nằm vùng, thành phần được đào tạo dưới lá cờ đỏ sao vàng và” chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại” có mặt tại hải ngoại, có khả năng trở thành” lực lượng nồng cốt” để đối đầu với tập thể người Việt tỵ nạn Cộng Sản, mà Bùi Tín là người có khả năng tập hợp chúng lại dưới danh nghĩa” dân chủ đa nguyên cụi”. Bùi Tín là con vi trùng Cộng Sản được cấy ra hải ngoại, nằm mai phục, chờ thời cơ bùng phát, gây dịch bịnh khi có điều kiện thuận lợi. Hắn phản tỉnh nhưng luôn coi lá cờ máu, sao vàng, rập khuôn ngoại bang Nga, Tàu là cờ của nước Việt Nam, lòi ra cái đuôi phản tỉnh giả, có nhiều người còn nghi ngờ hắn được đảng cài sang nằm vùng, thật là nguy hiểm. Ngoài sự đánh phá bằng tuyền thông qua những bài viết” lập lờ đánh lận con đen” mỗi khi có biến động chính trị, tin tức sôi động…thì Bùi Tín được một số cơ quan truyền thông mời phỏng vấn, viết báo…. để biện minh cho đảng ( như vụ tết Mậu Thân). Bên trong là những hoạt động giúp đảng Cộng Sản nhuộm đỏ cộng đồng tỵ nạn hải ngoại, tức là hắn vẫn” ăn cơm tự do, đội mo Cộng Sản”, cút cung tận tụy đảng như ngày nào.

Theo một bài viết của Tân Phong trong tờ Văn Nghệ Tiền Phong, số 384 có nói về âm mưu bán đứng cộng đồng hải ngoại của nguyên tổng thống đệ nhị Cộng Hòa NGUYỄN VĂN THIỆU và BÙI TÍN: do sự sắp xếp, tổ chức của một thuộc cấp thân tín và trung thành với ông Thiệu là đại tá Mai Viết Triết, nên tại Paris có một cuộc họp kín, được cho là” HÒA ĐÀM PARIS 2″. Tuy nhiên cuộc họp kín nầy lại bị ai đó thâu băng, lọt vào tay đại tướng Nguyễn Khánh, được gởi sang Hoa Kỳ, nên nhiều giới chức quan trọng Mỹ biết hết những toan tính bán đứng hải ngoại cho giặc Cộng qua chiêu bài” hòa hợp hòa giải”, trong đó vai trò của Nguyễn Văn Thiệu như một thái tử Sihanouk của Miên, áp dụng tại Việt Nam.

Ông Thiệu là người thầm lặng, có công rất lớn giúp cho trung tướng Dương Văn Minh đánh bật quân phòng vệ tổng thống Phủ, ông Thiệu chỉ huy đánh giặc không hay bằng cầm quân đánh quân ta thì xuất sắc, đến nổi tổng thống Ngô Đình Diệm phải bỏ chạy và sau đó bị giết cùng bào đệ Ngô Đình Nhu. Nhờ vậy mà thăng quan tiến chức, thời cơ, lên là tổng thống. Sau khi ra lịnh rút bỏ quân khu 1, quân khu 2 một cách phi lý, lịnh lạc bất nhất, khó hiểu, miền Nam đang hấp hối do ông gây ra, thì ông và gia đình, thuộc cấp thân tín nỡ lòng” trở thành chiến sĩ ra khơi”. Miền Nam và quân lực Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu anh dũng, nhưng tiếc thay gặp phải người lãnh đạo hèn, không quyết tâm, tham sinh quí tử nên bị mất một cách tức tưởi. Nếu để cho những vị lãnh đạo như tướng Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, thì đất nước khó lọt vào tay giặc Cộng.

Trong cuộc chiến tranh lạnh, miền Nam là đồng minh hiếm hoi bị Hoa Kỳ tháo chạy, trong khi Đài Loan, Nam Hàn, Tây Đức…vẫn đứng vững và ngày nay trở thành hùng mạnh; do đó trước khi trách Hoa Kỳ, hảy coi lại những người lãnh đạo như ông Thiệu, Kỳ..chớ đừng đổi thừa tại” đồng minh tháo chạy”, những người lãnh đạo chưa tận nhân lực, chạy trước nên miền nam bị mất, trong khi hơn 1 triệu chiến sĩ vẫn kiên cường chiến đấu. Trong suốt thời gian” trở thành chiến sĩ ra khơi”, ông Thiệu đóng vai luôn” chiến sĩ thầm lặng” nên ông không lên tiếng gì, có lần, hình như vào năm 1980, trước cao trào thuyền nhân đi tìm tự do, một nhà báo phỏng vấn, ông tỉnh bơ cho là:” mấy người tỵ nạn không mắc mớ gì đến tôi”.

Bằng chứng là trong suốt thời gian dài, ông Thiệu chưa hề đến thăm những nạn nhân do ông và Cộng Sản gây ra tại các trại tỵ nạn. Nhưng bỗng nhiên vào năm 1997, ông Thiệu cho thành lập tổ chức gọi là:” PHONG TRÀO TÁI THIẾT VÀ XÂY DỰNG DÂN CHỦ TẠI VIỆT NAM”.Đó là cái bước chuẩn bị sau khi ông thỏa hiệp qua hội đàm Paris 2 với Bùi Tín. Sau khi ra thanh lập tổ chức, ông Thiệu bò sang Hoa Kỳ định cư, chắc là để huy động những thuộc cấp trung thành để hợp cùng Bùi Tín” mưu bá đồ vương”, may mắn là ông Thiệu lăn ra chết bất ngờ. Từ đó, câu nói:” đừng nghe những gì Cộng Sản nói, hảy nhìn kỷ những gì Cộng Sản làm”, người ta tin là của ông Thiệu; nhưng thật ra nếu ông Thiệu nghĩ ra câu nầy thì không bỏ chạy trước.

Câu đó có người cho là của thượng tá Tám Hà, ( ???) người trong chăn biết chăn có rận nên nói ra sau khi ra hồi chánh. Ông Thiệu nghe hay hay nên nói trên đài phát thanh quốc gia và từ đó trở thành tục ngữ dành cho người Cộng Sản. Ông Thiệu thật thâm độc, đón gió trở cờ từ lâu mà người Việt hải ngoại không biết, ông Nguyễn Cao Kỳ đón gió ồn ào, nhưng không nguy hiểm bằng thứ” đón gió thầm lặng”. Những kẻ ra mặt theo Việt Cộng ít nguy hiểm hơn kẻ thù dấu mặt, như các tờ báo đón gió, lâu lâu đâm sau lưng bằng những bài viết, hình ảnh như vụ chậu rửa chân bằng lá cớ vàng ba sọc đỏ vừa qua trong số báo xuân 2008 ở Little Saigon (Hoa Kỳ), nay lộ mặt thì nên có thái độ. Từ ngày nhận báo Người Việt bị đồng bào biểu tình phản đối vô thời hạn, thì ở Úc Châu, bỗng nhiên hai đài phát thanh tiếng Việt SBS ở Sydney lẫn Melbourne thường hay có lối đánh bóng, họ lất tin tức và đọc là” theo tin báo Người Việt tại Hoa Kỳ…” khiến những thính giả nghe đài bực mình và nghĩ là họ có quan hệ bí mật, liên kết với nhau?. Trên mạng lưới truyền thông, có rất nhiều tờ báo, tại sao SBS lại lấy tin từ báo Người Việt?

Bàn tay lông lá của Bùi Tín thò nhiều nơi, nhưng nó núp đằng sau bình phong” phản tỉnh” mà nhiều người ngây thơ, lười biếng suy luận không để ý. Ở tận bên tiểu bang xa xôi miền viễn Tây nước Úc ( Western Australia) có một người tên là LÊ QUANG VINH, xưng là đại úy không quân Việt Nam Cộng Hòa, nhưng đi tỵ nạn rất sớm, không biết có ở tù cải tạo hay không? Ông được coi là những người Việt tỵ nạn đến Úc đầu tiên, nên có điều kiện học hành. Lê Quang Vinh cũng không lạ gì với hội liên trường Nguyễn Đình Chiểu-Lê Ngọc Hân, là người từng được cô Ngọc Hân, trưởng đài phát thanh SBS ở Sydney đánh bóng, giới thiệu tận tình như là: người Việt xuất sắc, dù chưa được chính phủ Úc gắng huy chương.

Trong một bài báo của tờ The West Australia ( có chừng 1 triệu đọc giả) tiếng Anh, có bài của Cyril Ayris tựa là” the coup that failed” phát hành ngày thứ bảy, 20-4-2000, nói về đại úy không quân Lê Quang Vinh vào ngày 30-4-1975, ông dẫn một trung đội cố vượt qua bao chướng ngại để tới Dinh Độc Lập với ý định bắt sống Dương Văn Minh để ngăn chận đầu hàng. Người ngoại quốc nào rành về cuộc chiến Việt Nam, nghe ông Vinh biết nói tiếng Anh khá rành, xưng là đại úy kể là viết ra để nhận tiền nhuận bút hay làm hết công việc cho chủ báo. Trong bài đó, ông Vinh cố đưa lên hình ảnh” bệ rạt” của quân lực VNCH là đói khát, quần áo dơ bẩn, phải tìm nhà xin cơm; khi trung đội ông đi đến cầu Bình Lợi, thì bị chận lại bởi các đơn vị khác như thiết giáp, thế là ông phải ra lịnh cho lính làm chiếc Cầu tre để vượt sông vì không thể qua cầu. Chính vì thế mà đi trễ, nên kế hoạch bất thành. Nhưng đây là chuyện bịa, ở trên sông Saigon có sẵn tre đâu? Lính chẳng lẽ không biết vượt sông mà phải làm cầu tre cho mất thời giờ vô ích? Câu chuyện nầy như bác Ba Phi, người nói láo nổi tiếng ở vùng quê miền Nam, đến nổi Việt Cộng còn phải nể, do đó ông Lê Quang Vinh được người dân ở đây đặt tên là ” Đại úy Cầu Tre”.

Năm 1994, Ông Vinh có sang Âu Châu, lúc đó là phó chủ tịch ngoại vụ hội cựu quân nhân Tây Úc, có lên một đài phát thanh phỏng vấn. Ông bí mật” yết kiến” với đại tá Bùí Tín, được tặng quyển” Hoa Xuyên Tuyết” mang về khoe nhiều người. Không biết hai bên móc nối bí mật thế nào mà sau đó không lâu, ông Vinh xuất tiền cá nhân cho ra đời quyển sách bằng tiếng Anh, tựa là” DEFY THE DEATH SPIRIT” ra mắt tại thư viện Alexander, lớn nhất ở thủ phủ Tây Úc là Perth, do ông Peter Fox, bộ trưởng đa văn hóa tiểu bang chủ tọa với nhiều quan khách Úc, chính trị gia, một số người Việt, cựu quân nhân tham dự; sách nầy được phổ biến rộng rải ở Úc châu, có đăng quảng cáo trên tờ báo của hội cựu chiến binh Úc R.S.L là tờ Listening Post…sách viết theo thể loại hư cấu” fiction” nhưng bên trong lồng vào những sự kiện lịch sử trong cuộc chiến tranh Việt Nam; cho nên quyển sách nầy vô cùng tai hại, ông Vinh chỉ nói sơ sơ về tội ác của Việt Cộng thôi như là người viết khách quan nhằm thuyết phục người ngoại quốc, trong khi ông đưa ra những sự kiện làm người ngoại quốc hiểu lầm cuộc chiến chính nghĩa của quân lực VNCH và những quân nhân từng đem máu xương chiến đấu vì lý tưởng tự do đau lòng, uất hận:

-Dã man: có lần chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, dùng trực thăng ra tận chiến trường để mổ bụng lấy mật một tên Việt Cộng để chửa trị bịnh suyển cho con là Nguyễn Hữu Tài. Chuyện nầy phi lý, ông chuẩn tướng tham mưu trưởng quân đoàn 4 mà lại bay trực thăng ra chiến trường chỉ để lấy mật người? Vụ nầy nhằm trét cứt vào mặt tướng lãnh quân lực Việt Nam Cộng Hòa, là tướng ác ôn…

-Sau năm 1975, vợ sĩ quan đi làm đĩ cả đám.

Sự xúc phạm nầy khiến nhiều người phẩn nộ, trung úy không quân Nguyễn Tư, nhà văn ở Úc Châu, sau khi đọc xong quyển sách nầy, có viết một bài dài, trọn trang A 4 trong số báo Việt Luận 1055, ngày 12-1-1996. Sau đó ông Vinh về Việt Nam như đi chợ, khiến nhiều quân nhân, đồng bào nghi ngờ, và từ những năm 1995, ông đã làm công tác” DU SINH VẬN” đưa rước con cháu cán bộ du học, giúp đỡ ăn ở, đi chơi trong thời gian” trao dồi kinh sử” ở Úc. Ngày nay, theo một nguồn tin, thì ông Vinh có lập văn phòng lo thủ tục di dân, du học tại Việt Nam, tiếp tục đưa hạt giống đỏ cấy vào cộng đồng hải ngoại.

Như vậy, sự kiện nguyên tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, đại úy cầu tre Lê Quang Vinh…trong vụ quan hệ tới Bùi Tín, là điều cảnh giác, không biết trong bóng tối, Bùi Tín đã tổ chức bao nhiêu” cơ sở” mạng lưới hoạt động có lợi cho đảng Cộng Sản ở hải ngoại? Bàn tay lông lá của hắn có thể đã vói khắp các nơi có người Việt tỵ nạn cư ngụ, bằng chứng là khi đi đến đâu, hắn cũng có người đón rước như một nhân vật quan trọng. Mặt nổi thì dễ nhận ra như tổ chức Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên, tên mới của Nhóm Thông Luận do kỷ sư Nguyễn Gia Kiểng chủ xướng, trong đó có cả những người Cộng Sản như Nguyễn Ngọc Giao, nguyên phát ngôn viên của Mặt Trận Giải Phóng của luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Cho nên tổ chức nầy công nhận cả cờ vàng lẫn cờ đỏ, treo cờ Việt Cộng công khai tại hải ngoại.

Bùi Tín có những hoạt động bí mật, vụ bác sĩ Bùi Duy Tâm về Hà Nội với bên ngoài là” nhận tiền, hàng của Bùi Tín gởi về gia đình ở Việt Nam”, nhưng thật ra là chuyện móc nối thành lập đại học Dân Lập Thăng Long, do giáo sư Hoàng Xuân Xính, tiến sĩ Sorbone làm hiệu trưởng. Đại học nầy do Pháp tài trợ từ A đến Z. Bà nầy là cháu của Hoàng Xuân Hãn, có chồng miền Nam, bà mê Bác đảng nên từ chối chức giáo sư ở đại học Paris. Không rõ chuyện này đi đến đâu, tuy nhiên, đây cũng là một trong những hoạt động bên trong của Bùi Tín.

Nhận dạng ra một tên đặc công đỏ mặc áo phản tỉnh trà trộn, người Việt hải ngoại chẳng lẽ lặng yên, để mặc cho hắn tự tung tự tác, tiếp tục phun nọc độc, tổ chức bí mật, để chờ bị tiếp thu như ngày 30-4-1975 hay sao? Xin đề nghị vài điều để hành động:

1-Đối với người tỵ nạn: tẩy chay, không đi nghe những buổi nói chuyện của Bùi Tín, dù bất cứ cá nhân, tổ chức nào mời. Các tổ chức quốc gia, đảng phái… đừng nên mời Bùi Tín tham dự bất cứ sinh hoạt nào, không nên mời hắn làm diễn giả, vì đây là tên đặc công đỏ, chứ không phải là” thượng khách” của quí vị đâu. Chẳng lẽ trong số 3 triệu người Việt hải ngoại, không có ai có đủ bản lãnh, tài năng, sáng suốt để nhận định tình hình đất nước bằng” thiên tài Bùi Tín”?

2- Các cơ quan truyền thông như đài phát thanh, truyền hình, đừng mời Bùi Tín phỏng vấn mỗi khi có biến động trong và ngoài nước. Không nên hỏi ý kiến của một tên đặc công đỏ, tức là tạo cho hắn uy tín đối với quần chúng, hắn cũng nhân dịp đó mượn diễn đàn để tuyên truyền, bóp méo sự thật một cách tinh vi trong lớp áo” phản tỉnh” Những đài nào mời hắn phỏng vấn là lộ mặt” cùng phe”, tức là tự họ khai báo với đồng bào, từ đó tránh xa, không nghe, không ủng hộ quảng cáo, là đài bị mất nguồn tài chánh.

3-Các tờ báo tiếng Việt nên cẩn thận khi đăng những bài của Bùi Tín, hắn viết rất khéo, nhằm tuyên truyền cho chế độ, tung hỏa mù, dể tạo ra sự hiểu lầm. Các cơ quan truyền thông nên vạch trần những bài viết tuyên truyền, tung hỏa mùa của hắn để cho những người ngây thơ sáng mắt, tránh bị mắc lừa lần nữa.

4-Những gia đình nào từng bị Bùi Tín sát hại, họ là nhân chứng sống như ông Võ Tự Đản, hảy nhờ luật sư nộp đơn truy tố trước tòa án các nước dân chủ, đó là tội phạm hình sự như những tên sát nhân, diệt chủng Hitler, Pol Pot…nếu phát động thì đồng bào sẽ không làm ngơ, yểm trợ tài chánh để lôi ra ánh sáng những tên sát nhân, nay lợi dụng dân chủ, mặc chiếc áo phản tỉnh để tiếp tục lếu láo, đâm sau lưng nạn nhân lần nữa.

5-Riêng với Bùi Tín, tất cả đều tùy thuộc vào thái độ ăn năn hối cải thật sự, để được đồng bào khoan hồng; trước tiên hắn phải làm” tờ tự kiểm” với nhân dân, ghi ra hết những tội ác từ khi gia nhập đảng Cộng Sản đến nay. Yêu cầu phổ biến rộng rải trên các cơ quan truyền thông, đây là thướt đo lòng thành thật biết ăn năn, phản tỉnh thật. Nếu hắn vẫn ngoan cố thì nạn nhân đưa ra tòa, pháp luật các nước thường thi hành công lý công bằng, không dung tha những tên sát nhân hàng loạt như Melosevic, Nong Chia..việc đưa Bùi Tín ra trước vành móng ngựa nên thực hiện càng sớm càng tốt để cho vong linh nạn nhân được ngậm cười nơi chín suối và cộng đồng người tỵ nạn triệt hạ được một tên đặc công đỏ nguy hiểm.

Tóm lại, sự có mặt của Bùi Tín ở hải ngoại ví như” bải cứt chó” được con chó Cộng Sản phóng uế trên lề đường của một thành phố khang trang, sạch sẽ ở Tây Phương. Nên người đi bộ phải cẩn thận, kẻo đạp phải cứt chó là thúi cả chân và còn bị nhiều người khác tránh xa. Nhất là những người” mặc veston cà vạt” sang trọng, lãnh đạo hội đoàn, đoàn thể…hảy cẩn thận, đạp phải cứt chó Bùi Tín mà vào nơi sang trọng, thì mùi thúi tác hại cả môi trường đấy./.

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in ĐẠI TÁ CS BÙI TÍN TÊN” THỢ HÓT NGHIỆP CHUYÊN” ĐẶC CÔNG ĐỎ MẶC ÁO PHẢN TỈNH | Tagged: , , , , | 2 Comments »

Nhận xét về nhân vật Hoàng Minh Chính

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 8, 2008

Nhận xét về nhân vật Hoàng Minh Chính

– Trần Thanh

Từ khi ông Hoàng Minh Chính qua đời vào tháng 2 năm 2008, đã có rất nhiều dư luận khen chê về con người này. Số người ủng hộ đã lấy ống đu đủ thổi ông lên tới chín tầng mây xanh, biến ông thành một tầm cỡ ngang với tên đại quốc tặc Hồ Chí Minh, thậm chí còn hơn cả đức thánh Trần Hưng Đạo!!! Thôi thì đủ hết mọi ngôn từ “hoành tráng” đã được những thợ thổi ống đu đủ gán ghép cho “cụ”, nghe nổ đôm đốp như pháo điện quang: cụ là biểu tượng của thời đại, là anh linh của dân tộc, là hồn thiêng của sông núi, là nhà dân chủ kiệt xuất, tên tuổi đáng được ghi vào trang sử vàng của dân tộc! ..v..v… Đối với những người không ủng hộ thì họ đưa ra nhận xét: Hoàng Minh Chính chỉ là một nhà dân chủ dỏm, một tên lưu manh chính trị, một tên sát nhân, một tên việt gian không hơn không kém!

Sau đây chúng ta thử đánh giá về nhân vật chính trị này và rút ra kết luận ông ta là người như thế nào? Một người thực lòng yêu nước, thực lòng đấu tranh cho dân chủ hay chỉ là một kẻ cơ hội chủ nghĩa, chính khách xôi thịt, đối lập dỏm đi bưng bô cho việt cộng?

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA HOÀNG MINH CHÍNH:

Tên thật là Trần Ngọc Nghiêm, bí danh Lê Hồng, sinh năm 1920. Ông đã từng ở tù Sơn La vào thập niên 1940 chung với những tên cộng sản gộc khác như Lê Đức Thọ, Lê thanh Nghị, Trần Quốc Hoàn. Năm 1957, ông được tên Hồ cho đi du học Liên Xô, học trường đảng cao cấp. Năm 1961, ông được bổ nhiệm làm viện trưởng Viện triết học Mác Lê. Năm 1967, ông bị bè nhóm Duẩn-Thọ ghép tội “chống đảng”, bị đi tù nhiều đợt từ năm 1967 đến 1996. Tổng cộng toàn bộ thời gian ông bị ở tù và quản chế từ thời Pháp đến thời cộng sản là 20 năm.

Nói về tuổi đảng thì ông Chính là một trong những đảng viên cộng sản gộc ngang với Lê Đức Thọ: ông vào đảng năm 1939, lúc đó còn mang tên là đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1947 ông là bí thư đảng đoàn trung ương đảng Dân Chủ kiêm tổng thư ký đảng Dân Chủ.

NHẬN XÉT VỀ NHỮNG HUYỀN THOẠI BAO QUANH NHÂN VẬT HOÀNG MINH CHÍNH:

Huyền thoại 1:

Ông Chính là người can đảm dám chống lại đảng, chống lại bè nhóm Duẩn-Thọ nên bị bọn chúng bắt đi tù và quản chế 15 năm.

Tại sao ông ta chống đảng? Theo các chuyên gia thổi ống đu đủ thì ông ta, sau khi đi du học Liên Xô về, thấy đường lối “chung sống hòa bình” của tên trùm cộng sản Liên Xô là Cút-Xếp (Khrushchev) hay quá nên ông ta đề nghị đảng nên đi theo đường lối này. Tuy nhiên lúc bấy giờ, năm 1963, bè nhóm Duẩn-Thọ đang nắm trọn quyền hành trong tay và bọn chúng chủ trương theo Trung Cộng (!) thôn tính miền Nam bằng vũ lực, cho nên bọn chúng đã khai trừ đảng, cách chức viện trưởng Mác Lê và tống cổ ông Chính vào tù!

 

 

Nhận Xét 1:

Huyền thoại này được bịa ra nhằm tô vẽ cho ông Chính một điểm son rằng ông là người yêu chuộng hòa bình và ông ta dám lên tiếng chống đối bè nhóm Duẩn-Thọ. Nhưng nếu tìm hiểu kỹ thì ta thấy:

– Thời điểm năm 1963 là thời điểm tên Hồ vẫn còn là tên bạo chúa đầy quyền lực và sắt máu. Tôi đã chứng minh điều này trong bài viết “Bác Hồ là dân oan???” Hai tên Duẩn-Thọ không thể dám làm hại ông Chính nếu không có sự đồng ý của Hồ. Huyền thoại 1 muốn trút mọi tiếng xấu lên đầu hai tên Duẩn-Thọ, cho rằng hai tên này là thành phần hiếu chiến, muốn xâm lăng miền Nam, trong khi đó ông Chính và “bác” Hồ thì muốn đi theo đường lối “chung sống hòa bình” của tên trùm cộng sản Cút-Xếp!

– Cút-Xếp là tên lãnh tụ cộng sản của Liên Xô nắm quyền lực trong thời gian từ 1953 đến 1964, vốn xuất thân là một cu li hầm mỏ, thất học, bản tách rất thô lỗ, cục súc và hiếu chiến. Khi đi họp Đại hội đồng Liên hiệp quốc hắn đã từng đấm tay trên mặt bàn, hò hét như thằng điên và rút giày ra đập chan chát trên bàn! Đặc biệt hắn đã từng gọi tên trùm cộng sản Mao Trạch Đông là “con điếm già” khiến cho sự bang giao giữa hai nước hết sức căng thẳng!

Bản chất của bọn cộng sản là nói một đằng, làm một nẻo, bất cứ tên lãnh tụ nào cũng vậy, từ những tên trùm cộng sản Nga Tàu cho đến những tên trùm việt gian cộng sản. Vì vậy nên chúng ta thấy: tên Cúp-Xếp miệng hô hào “chung sống hòa bình” nhưng năm 1962, hắn đã cho đặt dàn hỏa tiễn nguyên tử tại Cu Ba, đe dọa nước Mỹ! Năm 1956 hắn đã xua xe tăng đàn áp đẫm máu cuộc nổi dậy tại Hung Gia Lợi, làm cho khoảng 2500 người chết và 200 ngàn người phải đào thoát ra nước ngoài. Năm 1961, hắn trợ giúp cộng sản Đông Đức tiếp tục xây bức tường ô nhục phân đôi nước Đức.

Thêm một điều khác rất quan trọng, đó là: Khi bọn cộng sản ở vào thế yếu thì chúng đề nghị chung sống hòa bình. Tên Cút Xếp đề nghị chung sống hòa bình, tư bản và cộng sản có thể cùng tồn tại chớ không nhất thiết phải tiêu diệt lẫn nhau. Bọn việt gian cộng sản cũng đã áp dụng kế sách này. Tên Hồ đã từng tuyên bố “giải tán” đảng cộng sản vào tháng 11 năm 1945, hoặc đổi tên đảng thành đảng Lao Động năm 1951.

Hoàng Minh Chính cũng áp dụng kế sách chung sống hòa bình, nghĩa là CỘNG SẢN VÀ QUỐC GIA CÙNG TỒN TẠI, CÙNG CHIA SẺ QUYỀN HÀNH. Hay nói một cách khác đó là chủ trương HÒA HỢP HÒA GIẢI. Khi bọn chúng ở vào thế yếu thì bọn chúng hô hào “hòa hợp hòa giải” để rồi sau đó chúng sẽ lựa thế tiêu diệt dần những đảng phái quốc gia! Điều này bọn chúng đã từng làm hồi năm 1945, bây giờ vẫn bổn cũ soạn lại! Con rắn độc hổ mang mà ở chung chuồng với con thỏ, con gà thì sớm muộn gì nó cũng ăn thịt hai con kia!

Hoàng Minh Chính là một con cờ của bọn việt gian cộng sản. Bọn chúng đang tính kế “tẩu vi thượng sách”, dự trù phương án khi chế độ cộng sản bị yếu thế thì phải thỏa hiệp chia bớt quyền hành cho các đảng phái quốc gia. Hoặc khi chế độ cộng sản bị sụp đổ thì bọn chúng còn có chỗ trú ẩn, đó là cái dù Hoàng Minh Chính, đảng Dân Chủ 21!!! Hoàng Minh Chính đã từng tuyên bố khi nói chuyện tại đại học Harvard năm 2005 :”NHỮNG NHÀ DÂN CHỦ KHÔNG BAO GIỜ CHỦ TRƯƠNG LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN”

Có thể nói Đảng Dân Chủ 21 và đảng Việt Tân là cá mè một lứa, cùng phường lưu manh chính trị, chuyên đi lừa bịp đồng bào. Cả hai đều chủ trương KHÔNG XÓA BỎ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN MÀ CHỈ CANH TÂN ĐỂ LÀM CHO NÓ TỐT HƠN, bởi vì dù sao những người cộng sản đã có công đánh đuổi giặc Pháp, đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào, bây giờ bọn chúng xứng đáng được ngồi trên đầu 85 triệu dân để bóc lột, vơ vét!

Như trên đã nói, tên Cút-Xếp đã từng thóa mạ tên Mao Trạch Đông là “con điếm già”, gây ra sự căng thẳng giữa hai nước, dẫn đến sự xung đột về biên giới vào tháng 5 năm 1962. Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết, hai tên quan thầy bất hòa, dẫn đến một vài con muỗi nhép như Hoàng Minh Chính, Đặng Kim Giang, Vũ Đình Huỳnh bị hy sinh, bị tống cổ vào tù để làm vừa lòng quan thầy Trung Cộng. Năm 1964, Cút-Xếp bị bộ chính trị Liên Xô ép buộc phải về hưu thì ba năm sau Hoàng Minh Chính đi tù! Quan thầy Liên Xô đã về vườn rồi, trong khi quan thầy Mao vẫn còn đó, mối hận bị sỉ nhục là “con điếm già” vẫn còn đó. Vì vậy để bớt bị “bác” Mao chiếu tướng, Hồ phải hy sinh Hoàng Minh Chính bằng cách cho Chính vào nhà đá nghỉ mát! Đó là biện pháp vắt chanh bỏ vỏ rất đểu cáng mà tên Hồ chính là thủ phạm chớ không phải là bè lũ Duẩn-Thọ. Hơn nữa hai tên Duẩn-Thọ là tay sai đi theo quan thầy Liên Xô chớ không phải Trung Cộng!

– Xét cho cùng, việc ông Chính “chống đảng” rồi bị đảng bỏ tù vì ủng hộ đường lối “chung sống hòa bình” của Cút-Xếp là điều khó tin. Đó chỉ là một lý do đưa ra để biện minh cho việc ông ta đi ở tù và gán cho ông một lý tưởng cao đẹp. Khi thấy một tên đảng viên cộng sản bị khai trừ khỏi đảng hoặc bị đi ở tù, ta phải tìm hiểu nguyên nhân thật kỹ. Không phải bất cứ tên nào bị khai trừ, bị đi tù thì đương nhiên tên đó trở thành nhà “đấu tranh cho dân chủ” và đáng được cộng đồng người Việt ở hải ngoại choàng vòng hoa, ban cho giải thưởng “nhân quyền” và đưa hắn lên bàn thờ ngồi! Có rất nhiều lý do bị khai trừ đảng, bị đi tù: – đấu đá lẫn nhau, tranh giành quyền lực, tiền bạc, giành gái, hiếp dâm, ăn cắp, ăn cướp, ăn hối lộ ..v..v.. Lấy ví dụ như tên Nguyễn Việt Tiến, thứ trưởng bộ giao thông vận tải. Tên này đã bị khai trừ ra khỏi đảng, bị truy tố ra tòa và tạm giam nhưng cuối cùng hắn đã được tòa xử TRẮNG ÁN! Hắn và đồng bọn đã ăn cắp khoảng HAI TRĂM TRIỆU ĐÔ LA, cuối cùng rồi huề cả làng! Không thấy có tên đảng viên nào của Đảng Dân Chủ 21 của ông Chính đứng ra đấu tranh chống tham nhũng trong vụ này! (Cương lĩnh của đảng Dân Chủ 21 có đề cập đến việc “triệt để chống tham nhũng”!)

Tên Lưu manh Nguyễn Việt Tiến đã sống như một hoàng đế không ngai trong những biệt thự, lâu đài riêng của hắn. Một thằng chó đẻ, cấp bậc chỉ là thứ trưởng mà còn sống như hoàng đế như vậy thì mấy thằng đầu gấu khác cấp bậc cao hơn phải ăn cắp tới cỡ nào? Như vậy phải chăng tên Tiến này cũng là …. “nhà dân chủ”???!!!

Thời điểm năm 1963 là lúc mà ông Chính vẫn còn là một đảng viên cộng sản rất trung kiên, sẵn sàng sống chết với chế độ, bảo vệ chế độ cho tới cùng. Nếu ông ta được vào bộ chính trị như Lê Đức Thọ thì liệu ông có “chống đảng” hay không? Vì vậy, việc ông ta bị đi tù chỉ là kết quả của việc đấu đá, tranh giành địa vị, quyền lực trong nội bộ của bọn việt gian cộng sản. Bản chất của đảng cộng sản là đảng cướp và mỗi một tên đảng viên cộng sản là một tên cướp, không đâm cha chém chú thì cũng hãm hiếp chị dâu chớ không có tên nào hiền! Tên nào hiền nhất cũng đã từng phạm tội giết một vài người một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong phạm vi quyền lực của hắn. Trùm sò là tên Hồ thì giết mười triệu người, một tên nhà văn cắc ké thì cũng phải giết vài chục người bằng ngòi bút! Tổ sư bồi bút như Tố Hữu thì đã giết cả trăm ngàn người rồi và những “tác phẩm” của hắn để lại sẽ còn giết người dài dài!!!

Huyền thoại 2:

Năm 1947 ông Chính là tổng thư ký của đảng Dân Chủ. Ông đã “hoạt động cách mạng” cùng với đảng cộng sản để giành độc lập cho dân tộc, xây dựng tổ quốc xã hội chủ nghĩa giàu mạnh. Ông là nhà “lão thành cách mạng”!

Nhận xét 2:

Cái gọi là “đảng Dân Chủ” thật ra chỉ là cánh tay nối dài của đảng cộng sản nhằm lừa bịp người dân và thế giới là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có dân chủ và đa đảng! Còn quá trình “hoạt động cách mạng” của ông Chính chỉ là quá trình giết người*, nhất là trong giai đoạn đấu tố 1955-1956. Trong thời gian này, tên việt gian Hoàng Minh Chính, đội trưởng đội đấu tố, đã giết người anh ruột của mình để lập công với “bác” Hồ và giết hàng ngàn người dân khác thuộc tỉnh Quảng Bình! Máu của người dân dính trên hai bàn tay của hắn tới mấy chục năm sau vẫn còn mùi tanh, vậy mà có những thằng ngu đần ở San Jose đã làm lễ truy điệu, quỳ vái lạy cái thằng đồ tể giết người đó!!! Chính nhờ thành tích giết người không gớm tay như vậy nên hắn đã được tên Hồ thưởng công, cho đi du học Liên Xô năm 1957!

Tên đại việt gian Hồ Chí Minh và bè đảng của hắn hoàn toàn không có một công trạng gì trong việc đánh đuổi giặc Pháp năm 1954. ĐÁNH ĐUỔI GIẶC PHÁP LÀø CÔNG CỦA TOÀN DÂN. Trong giai đoạn lịch sử đó, nhiều người không hề biết Việt Minh là gì. Họ chỉ biết có người khởi xướng đi đánh Pháp là họ đi theo. Sau này hiểu rõ ra thì đã muộn! Tên Hồ đã chơi trò con chim tu hú* cướp công của những người quốc gia vốn đã hoạt động cách mạng chống Pháp từ trước đó rất lâu, trong thập niên 1930. Vì vậy khi ta thấy một thằng lưu manh nào tự xưng là đảng viên cộng sản “lão thành cách mạng” có công đánh đuổi giặc Pháp thì ta phải hiểu rằng đó là thằng điếm, bè đảng của Hồ Chí Minh, chơi trò con chim tu hú, sống trên xương máu của toàn dân! Năm 1945, lực lượng võ trang của Hồ chỉ có đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân gồm một trung đội 34 người đi chân đất. Cả trung đội chỉ có vài cây súng, còn lại toàn là gậy gộc, giáo mác. Với một lực lượng như vậy thì không thể nào chống lại một tiểu đội của lính Pháp chứ đừng nói gì hàng chục sư đoàn khác. Vậy thì con số hàng triệu người khác có võ trang cùng nổi dậy TRÊN TOÀN QUỐC là ở đâu ra? Đó chính là những người dân tình nguyện tham gia đánh Pháp và những người lính thuộc nhiều đảng phái quốc gia khác nhau, kể cả những người đã từng đi lính cho Pháp rồi quay lại chống Pháp. Chúng ta cần hiểu rõ sự kiện lịch sử này để đừng bị những thằng điếm “lão thành cách mạng” lừa bịp!

Một điều cần lưu ý là đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân của tên Hồ ban đầu chỉ có 34 người, trong số đó chỉ có 5 người Việt, còn lại toàn là những người dân tộc thiểu số như người Tày, người Nùng, người Dao ..v..v.. Tên Hồ đã dụ dỗ, lợi dụng những người thiểu số đi theo hắn để “giải phóng” đất nước và sau này khi đã được lên ngôi vua thì Hồ và bọn đàn em đã lần lượt giết hết những người đã đi theo chúng ngay từ đầu. Tên thượng tướng Chu Văn Tấn, người Nùng đã bị bọn Duẩn-Thọ giam lỏng và chết trong cô đơn, tủi nhục năm 1984.

Huyền thoại 3:

Ông Chính đã bị tra tấn, bị đối xử rất dã man trong nhà tù cộng sản. Thời gian bị giam trong tù là 12 năm và 5 năm bị quản chế. Ông xứng đáng được phong thánh vì vậy cho nên ông đã được đảng Dân Chủ 21 và đảng Việt Tân làm lễ truy điệu với BỐN QUẢ DƯA HẤU!

Nhận xét 3:

Nếu so sánh trường hợp của ông Chính với hàng trăm ngàn quân dân cán chính và các biệt kích VNCH bị việt cộng đày đọa, giam cầm trước và sau năm 1975 thì có thấm vào đâu! Nội tác giả “Đóa Hồng Gai”, chị Nguyễn Thanh Nga đã bị việt cộng giam cầm suốt 10 năm trời. Chị là chiến sĩ thuộc biệt đội Thiên Nga trước năm 1975 và sau năm 1975 chị tiếp tục hoạt động phục quốc trong tổ chức của cha Nguyễn Văn Hiệu ở Hố Nai. Việt cộng đã cùm chân chị liên tiếp 9 tháng và tra tấn chị tới mức bị tàn phế, khi được trả tự do, chị phải chống gậy!!! Thử tưởng tượng một phụ nữ mới khoảng 30 tuổi mà khi đi đứng phải chống gậy như người già 80 tuổi thì ta thấy tội ác của cộng sản nó như thế nào! Hiện giờ chị đã phải ngồi xe lăn! Thành tích ở tù và bị tra tấn trong tù của ông Chính không nghĩa lý gì hết so với những chiến sĩ của VNCH bị việt cộng đày đọa. Cần nói thêm ở đây, sau năm 1975, chị Nga vẫn tiếp tục hoạt động chống cộng bằng cách viết sách tố cáo tội ác của cộng sản. Nếu diễn tả theo kiểu của các chuyên gia thổi ống đu đủ thì đó là “chống đảng” và “đấu tranh cho dân chủ”!

Huyền thoại 4:

Ông Chính là người đấu tranh:
– đòi đa nguyên đa đảng
– đòi cơ cấu quốc gia tam quyền phân lập
– đòi dân chủ hóa đất nước triệt để
– đòi được tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tuyển cử có quốc tế giám sát
– đòi được lập hội chống tham nhũng
– đòi được quyền ứng cử và bầu cử tự do, công bằng, trung thực có quốc tế giám sát để xây dựng một quốc hội mới, nhà nước mới và hiến pháp mới.

Phương pháp đấu tranh của đảng Dân Chủ 21 là: ĐẤU TRANH BẤT BẠO ĐỘNG, ĐỐI THOẠI HÒA BÌNH, BÌNH ĐẲNG, BAO DUNG, cùng nhau xây dựng xã hội tự do dân chủ, hạnh phúc, đích thực của dân, do dân và vì dân.

Nhận xét 4:

Những điểm nêu trên là những điểm chính, quan trọng nhất trong bản Cương Lĩnh của đảng Dân Chủ 21, công bố vào tháng 6 năm 2006.

Ông Chính “đòi” là một việc nhưng đòi được hay không lại là chuyện khác! Việt cộng nó có đồng ý hay không là quyền của nó! Trong toàn bộ bản Cương …. Ẩu, KHÔNG THẤY CÓ ĐIỀU NÀO ĐỀ CẬP TỚI VIỆC XÓA BỎ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI TOÀN TRỊ THỐI NÁT. Ông Chính đòi xây cái nhà mới, toàn bộ đều là mới hết, từ quốc hội, nhà nước đến hiến pháp. Nhưng cái nhà cũ ông không dám đập bỏ thì xây cái nhà mới ở đâu? Không lẽ xây chồng lên cái nóc nhà của tòa nhà cũ?

Bởi vậy nếu tinh ý thì chúng ta có thể nhìn thấy ngay cái CHIÊU BÀI HÒA HỢP HÒA GIẢI CỦA CÁI ĐẢNG DÂN CHỦ 21!!! Đó là quỳ lạy bọn việt gian cộng sản, xin tụi nó bố thí cho một số ghế trong QUỐC HỘI BÙ NHÌN!!!

Phương pháp đấu tranh để “ĐÒI” là: – ĐỐI THOẠI HÒA BÌNH, BÌNH ĐẲNG, BAO DUNG!!!

Đây là phương pháp ĂN MÀY, ĂN XIN. Bọn việt gian cộng sản không bao giờ chấp nhận và cũng không bao giờ coi những người đi “đòi” là bình đẳng với bọn chúng. Cái thằng đi ăn mày mà còn muốn “bao dung” tha thứ cho thằng đang ở thế mạnh, nắm trọn quyền hành? Ý của ông Chính khi dùng hai chữ “bao dung” có nghĩa là không hận thù. Ông ở ngoài Bắc, ông đâu có CẢM NHẬN được hết những nỗi đau khổ tận cùng của 20 triệu dân miền Nam, nhất là giai đoạn sau năm 1975 họ phải sống trong gông cùm nô lệ hết sức bạo tàn của bọn cộng sản phi nhân: cả triệu gia đình bị tan nát, nhà cửa ruộng vườn bị việt cộng cướp sạch, cả triệu người đã bị chết trong các trại cải tạo và trên đường đi vượt biển ..v..v..

Thù ghét và yêu thương là những tình cảm tự nhiên của con người. Chúng ta yêu thương những gì làm đẹp cho cuộc đời, những sự hy sinh cao cả. Nhưng đối với tội ác thì chúng ta phải thù ghét, phải đấu tranh để chống lại nó và xóa bỏ nó. Nếu ai cũng muốn bao dung và “tha thứ” cho tội ác thì đó là hình thức khuyến khích cho tội ác ngày càng phát triển. Bọn việt gian cộng sản sẽ tiếp tục gây ra tội ác vì chúng biết rằng những người quốc gia là những người rộng lượng, sẵn sàng tha thứ hết cho những tội ác tày trời mà chúng đã, đang và sẽ phạm! Thử tưởng tượng trong một quốc gia mà không có một bộ luật hình sự để ngăn ngừa và trừng phạt tội ác thì quốc gia đó sẽ ra sao?

Lòng bao dung của con người phải được đặt cho đúng đối tượng, đúng chỗ, đúng lúc. Những người quốc gia phải đấu tranh để xóa bỏ chế độ cộng sản. Đối với những tên cộng sản đầu sỏ đã gây ra nhiều tội ác thì phải đưa bọn chúng ra tòa xét xử và bọn chúng xứng đáng được nhận bản án tử hình, mỗi thằng được lãnh một viên kẹo đồng vào đầu! Toàn bộ những tài sản mà bọn chúng đã ăn cắp, ăn cướp của dân phải được trả lại cho dân. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta không có lòng bao dung và đem giết hết tất cả những đảng viên cộng sản hoặc trả thù con cháu của những người này như bọn chúng đã từng làm. Chúng ta sẵn sàng tha thứ cho những kẻ biết phục thiện và nếu họ muốn hợp tác, chúng ta sẵn sàng mở rộng cánh tay chào đón. Đó chính là sự khác biệt giữa người quốc gia và người cộng sản. Trước năm 1975, đã có rất nhiều cán bộ cao cấp của cộng sản trở về với chính nghĩa quốc gia qua chính sách chiêu hồi và họ đã được đối xử rất tốt. Thượng tá Tám Hà, nhà văn Xuân Vũ là hai trường hợp điển hình.

Tuy nhiên, cần nhắc lại: lòng bao dung phải được đặt cho đúng đối tượng, đúng chỗ, đúng lúc. Những người đang đấu tranh chính trị phải chứng tỏ tối thiểu mình là con người có lương tri, lương tâm và có thể phân biệt được đâu là cứt đâu là cơm, đâu là thối đâu là thơm, đâu là chính đâu là tà. Cứt thối mà cứ bốc bỏ vào miệng để ăn thì nên vào nhà thương điên để điều trị, không nên khoác áo “nhà dân chủ”, gây tai họa cho xã hội, đất nước!!!

Đấu tranh chính trị mà chỉ có một phương pháp duy nhất là “ĐỐI THOẠI” để đạt được TỰ DO? Nghe như chuyện đùa! Hai chữ TỰ DO phải được trả bằng máu. Nếu chỉ bằng đối thoại mà có tự do thì thế giới này đã có hòa bình từ lâu rồi và đức Đạt Lai Lạt Ma đâu có phải sống lưu vong mấy chục năm trời trên thế giới?

Nếu bọn việt gian cộng sản thỏa mãn hết những cái “đòi” của ông Chính, đó là bọn chúng tự ký bản án tử hình cho chính bọn chúng!

Do đó đây là vấn đề SỐNG CHẾT, bất cộng đái thiên, nếu còn quốc gia thì không có cộng sản và ngược lại. Phải lật đổ bọn cướp, xóa bỏ toàn bộ cái chế độ hung tàn bạo ngược nhất trên thế giới thì mới xây dựng được một quốc gia tự do, dân chủ. Còn nếu lật không được thì phải tiếp tục cam chịu làm nô lệ. Có “đối thoại” một ngàn năm nữa với bọn việt gian cộng sản cũng vô ích!

Cũng ví như một người muốn đi dự tiệc cưới, ăn diện thật đẹp, mặc bộ đồ vét, thắt cà vạt nhưng lại đội nón cối và mang dép râu!!! Người này vẫn còn luyến tiếc cái nón cối và đôi dép râu, không dám quăng bỏ! KHông thể luyến tiếc cái chế độ ăn cướp, không dám xóa bỏ nó mà chỉ nghĩ đến chuyện canh tân. Không xóa bỏ chế độ việt gian cộng sản thì không thể nào DÂN CHỦ HÓA TRIỆT ĐỂ ĐƯỢC.

Ông Chính đã dùng nhóm chữ “DÂN CHỦ HÓA”. Điều này có nghĩa là tiến hành xây dựng dân chủ trên một cái nền đã có sẵn. Đó là cái nền DÂN CHỦ BÁC HỒ!!! Tên Hồ Chí Minh đã từng nói: xã hội xã hội chủ nghĩa dân chủ gấp triệu lần xã hội của chủ nghĩa tư bản!

Nói tóm lại Đảng Dân Chủ 21 chỉ là cái đảng lưu manh lừa bịp, một đảng đối lập dỏm.

Huyền thoại 5:

Phương án Tiểu Diên Hồng của Hoàng Minh Chính. Những kẻ thổi ống đu đủ thường xuyên ca ngợi “cụ” Chính là người đấu tranh cho dân chủ qua phương án Tiểu Diên Hồng. Nó là cái gì? Tóm tắt là: – Đại diện cho ba bên cùng ngồi vào bàn tròn để thảo luận một cách bình đẳng về những vấn đề quốc kế dân sinh. Nếu một vấn đề nào được cả ba bên cùng nhất trí thì đưa sang chính phủ thực hiện. Còn nếu chưa đồng ý thì tiếp tục ngồi thảo luận cho tới khi nào đồng ý!!!

Đại diện cho ba bên gồm những ai? Đó là: – một bên đại diện cho đảng việt gian cộng sản, một bên đại diện cho trí thức trong nước, một bên đại diện cho trí thức ở hải ngoại!

Nhận xét 5:

Đây chỉ là một trò bịp rẻ tiền do Hoàng Minh Chính chủ xướng. Trước hết nói về vấn đề đại diện. Tại sao chỉ có thành phần trí thức trong và ngoài nước được tham gia vào hội nghị bàn tròn, còn những thành phần khác bỏ đi đâu? Xã hội Việt Nam trong thế kỷ 21 vẫn đa số, khoảng 80 phần trăm, là nông dân và công nhân. Hai thành phần đông nhất và quan trọng nhất thì không có đại diện. Hay là ông Chính khinh họ là ngu dốt, không xứng đáng được ngồi vào bàn tròn để thảo luận? Chính những thành phần này mới thực sự là những người yêu nước và khi cần hành động thì họ là người trực tiếp đổ máu chớ không phải là những tên trí thức tay sai ngồi ở bàn tròn lý luận suông hoặc thổi ống đu đủ!

Còn ở hải ngoại đa số những việt kiều cũng đều là những công nhân đang làm việc trong nhiều ngành nghề khác nhau, kể cả kỹ sư cũng là một loại công nhân. Thành phần trí thức chỉ là thiểu số và thực tế đã chứng minh trong vài chục năm qua, những kẻ phản bội, đón gió trở cờ, cam tâm đi làm tay sai trâu ngựa cho bọn việt gian cộng sản chính là những tên trí thức! Tôi không dám quơ đũa cả nắm nhưng sự thực phũ phàng cho chúng ta thấy một điều: càng trí thức chừng nào thì càng mất dạy, đốn mạt, phản dân hại nước, đi bưng bô cho việt cộng chừng đó! Những tên trí thức ngu dốt, vô liêm sỉ này cứ tưởng rằng với những tấm bằng cấp mà bọn chúng lấy được ở hải ngoại, nếu về nước chắc sẽ được bọn việt gian cộng sản trọng dụng. Nhưng thật sự bọn chúng đã lầm. Cộng sản chỉ cần những kẻ NGU DỐT và DỄ SAI BẢO chớ không cần trí thức. Đối với bọn chúng trí thức không khác gì một cục cứt khô! Bọn chúng không cần những trí thức giúp canh tân đất nước. ĐẤT NƯỚC CÀNG NGHÈO THÌ CÀNG TỐT, BỌN CHÚNG MỚI CÓ CỚ ĐI ĂN MÀY KHẮP THẾ GIỚI, XIN VIỆN TRỢ NHÂN ĐẠO RỒI TỪ ĐÓ MỚI ĂN CẮP, LÀM GIÀU!

Những ông bà nào ở hải ngoại tự xem mình là trí thức thì nên ý thức được thân phận “cục cứt khô” của mình nếu đang có ý định về nước để kiếm chác một cái ghế nào đó! Có thể bọn việt gian cộng sản sẽ ban cho những tên bưng bô này một vài job béo bở như làm công an khu vực, công an giao thông, làm cai ngục, làm hải quan ở phi trường, làm chủ tịch phường ..v..v..!

Tiếp theo là vấn đề BÌNH ĐẲNG. Đã gọi là “hội nghị bàn tròn” có nghĩa là mọi thành viên trong buổi họp đều phải bình đẳng và có quyền hành ngang nhau. Bàn tròn, khác với bàn hình chữ nhật là không có vị trí chủ tọa. Trong một hội nghị kiểu bàn hình chữ nhật, vị trí chủ tọa là ở đầu bàn, như chúng ta đã thấy hình tên việt gian Đỗ Ngọc Yến ngồi họp với đám đầu gấu việt cộng.

Sau đây là một ví dụ về ý nghĩa bàn tròn: trước năm 1971, Đài Loan đã từng là một trong năm thành viên thường trực của đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Năm thành viên đó là Mỹ, Liên Xô, Anh, Pháp và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Những thành viên này có quyền phủ quyết và chỉ cần một trong năm thành viên bỏ phiếu chống thì nghị quyết của hội đồng thường trực không thể được thông qua. Đài Loan chỉ là một nước nhỏ tí teo so với Mỹ hoặc Liên Xô nhưng quyền hạn của họ hoàn toàn bình đẳng đối với các thành viên khác. Như vậy mới thực sự mang ý nghĩa “hội nghị bàn tròn”.

Trong khi đó thì hội nghị bàn tròn Tiểu Diên Hồng của ông Chính như thế nào? Có phải là hai cục cứt khô và một con gấu đang ngồi “thảo luận” tại một cái bàn hình tròn cho ra vẻ là dân chủ và bình đẳng không? Con gấu nó đang nắm hết mọi quyền hành từ A tới Z còn hai cục cứt khô thì chỉ có hai bàn tay không! Giả sử có một vấn đề được đưa ra để thảo luận:

– Có nên giải tán đảng cộng sản rồi thực hiện cuộc trưng cầu dân ý dưới sự giám sát của quốc tế hay không?

Nếu hai cục cứt khô đồng ý mà con gấu nó không đồng ý thì làm gì được nó? Nếu tiếp tục thảo luận thì biết đến bao giờ mới đạt được sự đồng ý? Vài trăm năm nữa?

Và giả sử có một vấn đề khác được nêu ra:

– Toàn dân có nên tiếp tục tín nhiệm đảng cộng sản, ủy quyền cho đảng tiếp tục độc quyền cai trị đất nước hay không?

Nếu hai cục cứt khô KHÔNG ĐỒNG Ý nhưng con gấu nó đồng ý, nó vẫn cứ đưa “nghị quyết” sang cho chính phủ thi hành thì làm gì được nó?

Tóm lại, cái gọi là “Tiểu Diên Hồng” chỉ là một trò hề rất rẻ tiền mà ngay cả một đứa con nít nó cũng biết. Vậy mà những tên thổi ống đu đủ cứ ca ngợi “cụ” Chính lên tới trời xanh, nào là cụ là”tấm lòng vằng vặc yêu quê hương, yêu dân tộc”, nào là “suốt đời cụ luôn ĐAU ĐÁU nghĩ tới quê hương đất nước”! Thối quá! Làm chính trị mà không phân biệt được đâu là cứt đâu là cơm thì nguy hại cho đất nước biết chừng nào!

Huyền thoại 6:

Cụ Chính đấu tranh đòi đa nguyên, đa đảng, đòi tam quyền phân lập. Những điều này có ghi rõ trong bản Cương lĩnh của đảng Dân Chủ 21. Đòi đa đảng cũng có nghĩa là đòi xóa bỏ điều 4 trong hiến pháp của việt cộng.

Nhân xét 6:

Muốn đòi trời đất gì thì đòi mà bọn việt gian cộng sản nó vẫn nắm giữ CÔNG AN, QUÂN ĐỘI và TRUYỀN THÔNG thì không làm gì được nó. Ai cũng biết rằng quốc hội của việt cộng chỉ là quốc hội bù nhìn và hiến pháp của bọn chúng chỉ là miếng giấy chùi đít. GIẢ SỬ NÓ CÓ ĐỒNG Ý HỦY BỎ ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP và cho phép 100 đảng phái đối lập thật sự (không phải cuội) được công khai hoạt động, cũng không làm gì được nó! Vì sao? Vì nó đang nắm độc quyền truyền thông. Một trăm đảng đối lập ví như một trăm chiếc xe hơi, còn truyền thông thì ví như xăng. Có xe hơi mà không có xăng thì chiếc xe cũng trở thành vô dụng! Không có phương tiện truyền thông trong tay thì các đảng phái không thể nào xâm nhập và vận động quần chúng một cách hữu hiệu. Mọi tội ác của cộng sản vẫn tiếp tục bị bưng bít. Người dân không biết những tội ác của cộng sản thì không có một động lực nào thúc đẩy họ phẫn nộ đứng dậy để lật đổ bạo quyền. Trong khi đó thì mọi phương tiện về truyền thông của bọn việt gian cộng sản vẫn tiếp tục tuyên truyền, lừa bịp người dân bằng những tin tức ngụy tạo. Đó là lý do vì sao tên thủ tướng việt cộng Nguyễn Tấn Dũng đã từng nói: – không bao giờ cho phép tư nhân được nắm giữ các phương tiện truyền thông. Sách báo của việt cộng tràn ngập ở hải ngoại nhưng sách báo ở hải ngoại vẫn tiếp tục bị cấm không được nhập vào trong nước.

Và giả sử nó có cho phép một trăm đảng đối lập được hoạt động trong quốc hội cũng không làm gì được nó. Bởi vì quốc hội của việt gian cộng sản chỉ là quốc hội bù nhìn, để làm kiểng, để lòe bịp thế giới. Nó không phải là quốc hội theo đúng nghĩa một cơ quan lập pháp, có thực quyền hiến định như quốc hội của các nước tiên tiến khác trên thế giới. Và khi thấy tình thế chính trị thực sự đe dọa cho sự tồn vong của cái đảng mafia của chúng thì bọn chúng có thể GIẢI TÁN QUỐC HỘI, GIẢI TÁN TOÀN BỘ HỆ THỐNG TÒA ÁN với lý do “an ninh quốc gia” hoặc “tổ quốc lâm nguy” và XÉ BỎ HIẾN PHÁP. Đến lúc đó bọn chúng sẽ tuyên bố mọi quyền điều hành đất nước là nằm trong tay công an và quân đội, kẻ nào lơ mơ chống đối là bắn bỏ tại chỗ không cần xét xử, vả lại cũng chẳng còn có tòa án đâu mà xử!!!

Khi đến nước đường cùng bọn việt gian cộng sản sẵn sàng chơi trò cù bựa, tựa như những tên cờ bạc bịp chơi xóc đĩa: khi thấy bị thua đậm quá thì tên đầu nậu sẽ nháy mắt ra hiệu cho một tên cò mồi la lớn “cảnh sát, cảnh sát!” Những con bạc nghe lời hô báo động, hốt hoảng bỏ chạy tán loạn, bỏ luôn cả những số tiền đặt trên chiếu bạc. Tên trùm cờ bạc bịp chỉ việc quơ trọn chiếu bạc rồi biến mất! Bọn việt gian cộng sản là những tên trùm lưu manh, điếm đàng. Chỉ cần chúng nắm giữ ba yếu tố quan trọng nhất là công an, quân đội và truyền thông là cũng đủ chết cha những người đấu tranh rồi. Huống chi trong tình hình hiện tại chúng đang nắm giữ hết 100% mọi phương tiện điều hành quốc gia! Ví dụ: Chúng cho phép một trăm đảng đối lập được hoạt động nhưng luật pháp của chúng thì CẤM TỤ HỌP TRÊN NĂM NGƯỜI Ở NGOÀI ĐƯỜNG thì có khác nào trò đùa dai của ông quan Trạng Quỳnh? Chúng ta còn nhớ câu chuyện ông Trạng Quỳnh cho phép quân lính triều đình được đến tự do ỉa trong vườn trồng rau của ông. Nhưng ông ra điều kiện : tao cho phép ỉa nhưng cấm đái. Thằng nào vi phạm sẽ bị chém đầu tại chỗ! Kết quả là không có tên lính nào dám tới bởi vì chúng biết rất rõ hai cái việc đái và ỉa luôn luôn đi đôi với nhau!

Nếu không thể lật được bọn cộng sản liền thì ít nhất chúng ta phải có một hệ thống truyền thông hoạt động thật mạnh, BẤT HỢP PHÁP trên toàn cõi Việt Nam. Sách báo, truyền đơn, truyền thanh, internet phải được phổ biến đến càng nhiều người trong nước càng tốt. Nếu mắt xích này hoạt động có hiệu quả, nó sẽ tạo thành trớn để phá tiếp những mắt xích khác, dẫn đến việc chặt phá gông xiềng, giải phóng cho toàn nô lệ ở trong nước.

DO ĐÓ:

1. TRUYỀN THÔNG ĐẤU TRANH CỦA CHÚNG TA PHẢI HOẠT ĐỘNG TRONG NƯỚC THẬT HỮU HIỆU. ĐÂY LÀ KHỞI ĐIỂM ĐÚNG ĐỂ DẪN ĐẾN VIỆC PHÁ SẬP CHẾ ĐỘ VIỆT GIAN CỘNG SẢN HUNG TÀN BẠO NGƯỢC.

2. Đấu tranh bằng phương pháp “đối thoại hòa bình” là ăn cứt mà cứ tưởng là ăn cơm!

3. Đấu tranh bằng cách đòi hủy bỏ điều 4 hiến pháp là đánh trật mục tiêu. Tử huyệt của kẻ thù không phải nằm ở đó. Phí thời gian, hao tổ công sức, vô ích!

KẾT LUẬN:

Ông Hoàng Minh Chính là nhà dân chủ dỏm. Ông ta “chống đảng” để cứu đảng cũng y như tên tướng ngụy quân cộng sản Trần Độ vậy thôi. Tại sao lại là “chống đảng để cứu đảng”? Mục đích của hai nhân vật này là làm quân sư quạt mo cho đảng, muốn đảng sửa sai một vài điều để bộ máy bóc lột được tinh vi hơn trước để còn tồn tại lâu dài. Hoàng Minh Chính và Trần Độ đã từng là đảng viên cộng sản, đã từng nắm giữ những chức vụ quan trọng trong đảng, đã từng được hưởng những ơn mưa móc từ vua Hồ. Ông Chính từ một cục đất sét, qua bàn tay phù thủy nhào nặn của tên Hồ mà bỗng chốc trở thành “giáo sư”, viện trưởng viện triết học! Và rất nhiều những tên cộng sản khác trong cái đảng cướp của Hồ đều là một loại như thế. Nhiều tên còn tệ hơn nữa, là một bãi cứt trâu ở ngoài ruộng, vậy mà qua bàn tay phù thủy của Hồ đã biến thành “giáo sư”, “tiến sĩ” ráo trọi, tha hồ mà hãnh diện với thế giới! Bởi vậy bọn chúng phải nhớ ơn bác Hồ chớ! Những người như ông Chính hay Trần Khuê nếu có sống ở Mỹ thì cho dù có đi học 100 năm cũng chưa chắc gì tốt nghiệp được lớp 12, đừng có nói gì trở thành giáo sư viện trưởng một cách quá dễ dàng như dưới triều đại của bọn việt gian cộng sản!

Ông Chính là nhà dân chủ bịp cho nên cái đảng Dân Chủ 21 do ông “phục hoạt” cũng là cái đảng bịp. Đây là trò bịp rất có hậu ý và do bọn việt gian cộng sản núp đằng sau làm đạo diễn. Có rất nhiều nhà “lão thành cách mạng”, cũng nhiều tuổi đảng, cũng bị ở tù như ông Chính mà tại sao bọn đầu gấu lại chỉ tuyển chọn có một nhân vật Hoàng Minh Chính để làm con bài đối lập dỏm?

Bởi vì: – Hoàng Minh Chính đã có sẵn cái nhãn hiệu “chống đảng” từ hồi năm 1963 và hắn ta đã từng là tổng thư ký của đảng Dân Chủ hồi thập niên 1950. Theo sự tính toán của bọn đầu gấu, nếu khai thác cái nhãn hiệu “chống đảng” của ông Chính thì bọn chúng sẽ có lợi. Chỉ cần sửa đổi cốt truyện 100001 đêm là đảng ta sẽ có một cái bẫy rập cò ke thật đơn giản nhưng cũng thật tinh vi để gài bắt những con thiêu thân ở hải ngoại! Cốt truyện được sửa đổi là: – Cách đây trên 40 năm, ông Chính đã từng ủng hộ đường lối “chung sống hòa bình” của Cút Xếp, vậy nó là cái gì? Cút Xếp cho rằng cộng sản và tư bản có thể cùng tồn tại song song, không nhất thiết phải tiêu diệt lẫn nhau, cũng ví như con mèo và con chuột cùng sống chung trong một cái chuồng. Vậy ngày hôm nay ông Chính cho phục hoạt lại đảng Dân Chủ cũng với chủ trương “CHUNG SỐNG HÒA BÌNH” GIỮA NGƯỜI QUỐC GIA VÀ NGƯỜI CỘNG SẢN. Diễn đạt một cách rõ ràng hơn nó là: HÒA HỢP HÒA GIẢI! Người quốc gia và người cộng sản cùng chia sẻ quyền hành để cai trị đất nước! Ông Chính đã tuyên bố rất rõ ràng: đảng Dân Chủ 21 không bao giờ chủ trương lật đổ chính quyền. Phương pháp đấu tranh của đảng là đấu tranh bất bạo động, tôn trọng luật pháp, thảo luận BÌNH ĐẲNG, BAO DUNG với chính quyền cho đến khi nào đạt được những mục tiêu đa nguyên, đa đảng, tam quyền phân lập! Đúng là một trò hề rẻ tiền!

Con bài Hoàng Minh Chính là do bàn tay điếm lưu manh của bọn việt gian cộng sản phù phép, tạo dựng nên. Nó nhằm hai mục đích chính:

1. Lừa bịp cộng đồng người Việt tại hải ngoại, dụ dỗ những kẻ trí thức nhưng ngu đần như tên việt gian Nguyễn Xuân Ngải tự nguyện chui đầu vào cái bẫy rập. Càng nhiều trí thức tham gia thì cái đảng của chúng càng “có giá” giống như Mặt trận giải phóng miền Nam thời trước. Vẫn bổn cũ soạn lại mà vẫn có nhiều thằng chó đẻ háo danh, tham tiền chui đầu vào!

2. Chuẩn bị cho đường rút lui của bọn việt gian cộng sản. Bọn chúng biết rất rõ không có chế độ độc tài nào có thể tồn tại lâu dài. Sớm muộn gì ngày tàn của bọn chúng cũng sẽ đến. Nếu như chế độ của bọn chúng bị sụp đổ thì chúng đã chuẩn bị sẵn cái đảng bịp Dân Chủ 21, cho cái đảng này lên nắm chính quyền. Đây chỉ là một hình thức bình mới rượu cũ. Trần Khuê là tên kế thừa Hoàng Minh Chính và tên này đã từng viết rất rõ trong tác phẩm “Đối thoại năm 2000” của hắn: Hồ Chí Minh là THÁNH HỒ NGANG HÀNG VỚI VUA HÙNG!!! Như vậy ta đã thấy rất rõ âm mưu xảo quyệt của bọn việt gian cộng sản qua lá bài Hoàng Minh Chính. Đó là lý do vì sao trong cái gọi là CƯƠNG LĨNH của bọn chúng, ta thấy có đủ hết mọi mâm cỗ rất hấp dẫn, nào là đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập, quốc hội mới, hiến pháp mới, nào là chống tham nhũng, đấu tranh cho dân oan, chống nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em ..v..v.. Đủ hết mọi thứ ăn chơi, cộng đồng người Việt tại hải ngoại muốn thứ gì là trong mâm cỗ Dân Chủ 21 có thứ đó. TUY NHIÊN CHỈ CÓ MỘT THỨ KHÔNG THẤY ĐỀ CẬP ĐẾN, ĐÓ LÀ LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN ĐỂ LÀM MỚI LẠI TỪ ĐẦU!!! Bọn cướp vẫn đang ngang nhiên ngồi trên đầu 85 triệu dân, kẹp cổ, bịt miệng, bóp nghẹt toàn bộ các tự do nhân quyền và ĐÔ LA ĐANG TUÔN VÀO TÚI CỦA BỌN CHÚNG NHƯ NƯỚC. Vậy mà bây giờ đảng Dân Chủ 21 muốn “đối thoại” ôn hòa với bọn chúng, thuyết phục bọn chúng từ bỏ mọi quyền lợi hết sức béo bở thì đời nào chúng nghe? Tôi nhớ trước đây cô phóng viên Suối Linh có đưa ra một ví dụ nôm na nhưng hợp lý, đó là: một đứa trẻ con đang ăn kẹo, nếu ta muốn nó nhả cái kẹo ra thì phải tát cho nó mấy cái, chớ không thể dùng “đối thoại hòa bình” mà nó chịu nhả kẹo ra!

Tổng thống Nga Boris Yeltsin đã từng tuyên bố: chế độ cộng sản không thể được sửa chữa mà phải bị vất vào thùng rác. Một chiếc xe hơi đã quá cũ, quá hư nát thì phải quăng nó vào nghĩa địa xe hơi. Càng cố sửa chữa thì càng tốn tiền mà không giải quyết được việc gì. Phải đấu tranh mạnh để xóa bỏ toàn bộ chế độ cộng sản cho dù có phải đổ máu và chết nhiều người. Tự do phải được trả bằng máu, không ít thì nhiều. Bọn việt gian cộng sản thường xuyên cho những tên cò mồi chính trị tung ra những luận điệu sau đây nhằm kéo dài thời gian để chúng tiếp tục cai trị và bóc lột:

– Phải đấu tranh ôn hòa bất bạo động, bao dung, tôn trọng luật pháp!
– Phải có tinh thần bao dung tha thứ cho những người cộng sản! (chưa làm rụng được một sợi lông chân của bọn chúng, đã nghĩ đến chuyện tha thứ cho kẻ thù. Sao mà có nhiều chúa Giê Su …. dỏm quá!)
– Phải chờ người Mỹ bật đèn xanh mới đấu tranh được!
– Phải giáo dục cho người dân trong nước hiểu thế nào là dân chủ mới được (dự trù mất khoảng 10 năm!)
– Phải làm một cuộc cách mạng nhung để tiết kiệm xương máu, phải chờ một ông Goóc Ba Chớp Ba Nháng Việt Nam xuất hiện!
– Phải chờ chính những người cộng sản trong nước đứng dậy làm cách mạng vì chỉ có cộng sản mới diệt được cộng sản!
– Phải đấu tranh một cách ôn hòa, văn minh lịch sự qua những hội nghị Tiểu Diên Hồng (khoảng 1000 năm nữa thì thành công!)

Nhiệm vụ xóa bỏ chế độ hung tàn, bạo ngược nhất trên thế giới là nhiệm vụ của toàn dân trong và ngoài nước. Muốn thoát khỏi ách nô lệ thì tự những người nô lệ phải chủ động hành động chớ không phải ngồi đó mà chờ cho người Mỹ bật đèn xanh hay đèn vàng. Chúng ta không còn nhiều thời gian nữa. Nước Việt Nam đã và đang biến thành quận Quảng Nam của Trung Cộng rồi, chỉ còn chờ hợp thức hóa trên giấy tờ mà thôi. Chúng ta sẽ mất nước như những người dân Tây Tạng đang bị.

Để kết thúc bài viết này, tôi kêu gọi những người đang tham gia cái đảng bịp Dân Chủ 21 hãy thức tỉnh và xin ra khỏi đảng. Hãy giải tán cái đảng bịp đó đi là vừa. Không phải người quốc gia nào cũng đui mù, không thấy được đó là trò bịp của bọn việt gian cộng sản. Những trò bịp này chỉ có ông Chính và một vài tên cán bộ cao cấp khác của đảng biết rõ. Vợ con của ông Chính cũng chưa chắc gì được biết. Những đảng viên tép riu bị dụ dỗ vào đảng chỉ là những con cờ đáng thương. Họ cứ tưởng là họ đang làm được một điều gì có lợi cho dân cho nước nhưng thực ra họ đang phản dân hại nước!

Bọn việt gian cộng sản đã bỏ ra rất nhiều tiền để thổi con nhái Hoàng Minh Chính biến thành con bò và mạ vàng tên tuổi của nhân vật này, biến ông ta thành ÔNG THÁNH DƯA HẤU! Khi ông ta chết, đám tang được tổ chức rất linh đình, có cả đại sứ Mỹ tới tham dự. Tro cốt của ông đã được đem lên tận đỉnh núi Ba Vì để rắc, hòa tan vào sông núi. Đây là chuyện riêng của ông, miễn bình luận. Ngoài ra, có nguyên cả một trang nhà trên internet chuyên đề về ca tụng công đức của “ông thánh” Hoàng Minh Chính! Khi còn sống thì ông ta được sang Mỹ để “chữa bệnh”, ra điều trần trước quốc hội Mỹ, đi “diễn thuyết” nhiều nơi ở Mỹ, kể cả đến đại học Harvard nói chuyện bằng tiếng Việt cho mấy thằng Mỹ bị …. điếc nghe! Ông Chính cũng được trao giải thưởng về Nhân Quyền. Và mới đây nhất thì bọn việt gian cộng sản bỏ tiền ra thuê mướn mấy con bò quỳ lạy, làm lễ truy điệu cho nhà dân chủ dỏm Hoàng Minh Chính! Vì là những con bò không có đầu óc suy nghĩ cho nên mấy con bò đã để trên bàn thờ ông Chính BỐN QUẢ DƯA HẤU! Tục ngữ người Việt ta có câu: XANH VỎ ĐỎ LÒNG. Ý nói những kẻ lưu manh điếm đàng, khẩu phật tâm xà. Màu xanh bên ngoài của quả dưa hấu tượng trưng cho “nhà dân chủ”, còn màu đỏ bên trong tượng trưng cho gian đảng việt gian cộng sản!!! Như vậy là bọn chúng tự chửi cha bọn chúng, tự tố cáo bọn chúng! Âu có lẽ là do trời xui khiến vậy đó. Nội hình ảnh bốn quả dưa hấu để trên bàn thờ ông Chính là đủ nói lên tất cả, ông ta là hạng người như thế nào rồi, chúng ta không cần phải tìm hiểu thêm chi nữa!

Nghĩ mà thương cho ông THÁNH DƯA HẤU*
Suốt cuộc đời “đau đáu” vì dân
Nhưng TỰ DO phải trả bằng MÁU
Chớ không thể bằng cúi lạy van xin!!!
HẾT

Trần Thanh
Ngày 24 tháng 4 năm 2008

CHÚ THÍCH:

1. *Con chim tu hú thường tìm đến những tổ chim của con sáo, chờ khi con chim sáo đi vắng, bèn lẻn vào xơi tái hết các trứng sáo rồi đẻ trứng của nó vào thay thế. Sau đó nó chuồn đi mất. Con sáo ngây thơ đi tìm mồi về cứ tưởng mấy cái trứng trong ổ là của mình, nai lưng ra ấp ủ, nuôi bầy chim lớn lên mà hết sức là vui sướng! Nó có ngờ đâu nó đang nuôi con giùm cho con chim tu hú, còn các con của nó thì đã chết toi từ lâu rồi!

Tên Hồ Chí Minh cũng chơi trò lưu manh y như vậy. Cái tổ chức gọi là Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh là do cụ Hồ Học Lãm, một người cách mạng quốc gia thành lập năm 1936 tại Trung Quốc. Năm 1940 cụ Lãm bị bệnh nặng tại Quế Lâm, Hồ Chí Minh thừa cơ đớp luôn tổ chức của cụ, biến nó thành Việt Minh!

Ngày nay băng đảng Việt Tân cũng đang chơi trò con chim tu hú. Bất cứ một tổ chức hay một đoàn thể nào của người quốc gia vừa ra đời thì y như rằng ngay sau đó có những tên lưu manh chính trị của đảng Việt Tân xuất hiện và tìm cách len lỏi vào để lũng đoạn và cướp lấy tổ chức! Những cuộc biểu tình hoặc mít tinh do các đoàn thể quốc gia tổ chức cũng bị bọn Việt Tân lợi dụng, chơi trò “con chim tu hú”. Khi số người tụ họp khá đông thì bọn chúng giương cờ đảng Việt Tân lên để quay phim, chụp hình rồi phổ biến đến các cơ quan truyền thông của ngoại quốc rằng đảng Việt Tân tổ chức biểu tình! Những người Mỹ không rành thủ đoạn của bọn lưu manh cứ tưởng đảng Việt Tân là đảng phái chính trị có tầm cỡ lớn như đảng Dân Chủ hoặc Cộng Hòa của Mỹ và đảng Việt Tân có mặt khắp nơi trên thế giới, kể cả trên mặt trăng hoặc dưới địa ngục cũng có!!!

2. * Phần chú thích về tiểu sử của Hoàng Minh Chính dưới đây được trích lại từ bài viết “Phong Trào Dân Chủ Việt Nam là gì” của tác giả Lê Bạch Trúc Quân đã đăng trên báo điện tử Hồn Việt:

(*) – Hoàng Minh Chính chỉ là tên khai sinh”, tên thật của Chính là Trần Ngọc Nghiêm sinh ngày 10 tháng 1 năm 1919 tại Lệ Thủy, Quảng Bình. Đầu năm 1940 Chính tham gia hoạt động cho Cộng Sản tại Hà Nội. Cuối năm 1940 Nghiêm bị Pháp bắt vì tội toan tính rải truyền đơn chống Pháp, sợ bị xử tử hình nên Chính khai nhỏ 3 tuổi tức Chính sinh 1922, Chính bị đem giam ở trại tù Sơn La, ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, thì Chính và đồng bọn phá tù trốn về với Việt Minh. Năm 1946 kháng chiến chống Pháp toàn quốc bùng nổ, ngày 19 tháng 12 Trần Ngọc Nghiêm tức Hoàng Minh Chính được Hồ Chí Minh cho về làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn “Quyết Tử” ở Quảng Bình, Chính thẳng tay tiêu diệt các phần tử trí thức mà Chính nghi là họ có thể theo Pháp. Trần Ngọc Nghiêm tức Hoàng Minh Chính giết luôn cả anh ruột của y, Chính chặc đầu anh mình buộc trên ngọn sào, cắm giữa sông Minh Lệ để khủng bố người dân toàn tỉnh Quảng Bình. Lúc đó chị dâu của Chính đang mang thai phải trốn sang một vùng khác, sau đó lẫn trốn vào Nam và sinh được một đứa con trai. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 người con trai này cũng đã vượt thoát sang Mỹ và chỉ mang theo trong người một số tang chứng. Vào giữa tháng 8 năm 2005 khi nghe tin Hoàng Minh Chính tức Trần Ngọc Nghiêm và vợ y sang Mỹ để giải độc cho Việt Cộng, người “cháu” này đã gọi điện thoại báo cho cơ quan an ninh và anh ta kể lại rõ ràng câu chuyện mắt thấy tai nghe từ người mẹ đau khổ của anh, anh đưa ra một số tang chứng và nói rõ là: “Hoàng Minh Chính tức Trần Ngọc Nghiêm chú ruột của anh đã chặt đầu bố anh để lập công với Cộng sản”. Đa số người dân Quảng Bình ngày nay những người lớn tuổi ai cũng biết rõ câu chuyện trên.

Cuối năm 1954 Cộng sản về chiếm Hà Nội Chính được thăng quân hàm thiếu tướng cùng với Nguyễn Minh Cần là hai thiếu tướng trẻ tuổi nhất của quân đội Cộng sản Bắc Việt. Riêng Nguyễn Minh Cần làm phó bí thư thành ủy Hà Nội dưới quyền của Bác sĩ Trần Duy Hưng nhưng Cần lại nắm toàn quyền, vì Bác sĩ Trần Duy Hưng không phải là đảng viên Cộng sản. Đến năm 1955-1956 Hoàng Minh Chính được cử làm “đại đội trưởng đại đội dấu tố tỉnh Quảng Bình”. Những người nông dân hiền lành bị Hoàng Minh Chính kết tội “Trí, Phú, Địa, Hào” bị Hoàng Minh Chính ra lệnh giết sạch, người ta ước lượng là số người bị Chính giết có thể đến 50,000 ngàn – năm mươi ngàn – người. Năm 1998 cục Phản gián Yết Kiêu Hà Nội cho Nguyễn Minh Cần đi sang Nga rồi sang Đông Đức sau đó Cần qua Tây Đức và cuối cùng là Nguyễn Minh Cần sang “thăm” Hoa Kỳ dưới sự bảo lãnh của báo Người Việt có trụ sở tại miền Nam California Hoa Kỳ . Hiện nay Nguyễn Minh Cần nắm toàn bộ báo chí ở Mỹ, Cần dùng báo chí (văn hóa) để chỉ đạo cho chính trị, cũng như thông báo các tin tức cần thiết về cho Cộng sản Hà Nội.

Năm 1961 Hoàng Minh Chính tức Trần Ngọc Nghiêm được phong quân hàm Thượng tướng công an và sau đó Chính được đề cử làm viện trưởng viện nghiên cứu chủ thuyết Cộng sản mà bọn Cộng sản quen gọi Chính là lý thuyết gia hàng đầu của chế động Cộng sản. Nắm chức vụ “Lý Thuyết Gia” Hoàng Minh Chính đương nhiên trở thành “cố vấn chỉ đạo tối cao của đảng Cộng sản Hà Nội”. Như vậy Hoàng Minh Chính tức Trần Ngọc Nghiêm phải là tên Cộng sản sắt máu và trung kiên nhất với chế độ).

3. Ông Hoàng Minh Chính kể từ nay sẽ có biệt hiệu là ÔNG THÁNH DƯA HẤU! Lý do vì ông đã được hai cái đảng việt gian, Dân Chủ 21 và Việt Tân làm lễ truy điệu cùng với bốn quả dưa hấu trên bàn thờ!!!

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Trần Thanh Hiệp, Đoàn Viết Hoạt

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 8, 2008

Chính thống Dân Chủ và Dân Chủ Chính Thống
Lộ Trình Dân Chủ Hoá Việt Nam
Xã Hội Dân Sự Tại Việt Nam Hiện Nay

Trên đây, là những đề tài được đưa ra trong một cuộc hội thảo tại Oregon ngày chủ nhật 31 / 8 / 2008.


Diễn giả là LS Trần Thanh Hiệp, Giáo sư Đoàn Viết Hoạt và kỹ sư Nguyễn Trực.

Tôi không biết ông Nguyễn Trực. Tôi chỉ biết hai ông Trần Thanh Hiệp và Đoàn Viết Hoạt

Ông Trần Thanh Hiệp đỗ luật sư năm 1960. Háo danh và thích ngụy biện, đó là những đức tính nổi bật của ông.


Tháng 2/ 1965, ông tham gia nội các Phan Huy Quát . Bốn tháng sau, nội các này tự giải tán, trao quyền lại cho “Chính Phủ Người Nghèo” của Nguyễn Cao Kỳ .

Tháng 9 năm 1967, ông ra ứng cử thượng nghị viện trong liên danh Tự Tiến (dấu hiệu Tay Nắm Tay ) cùng với các ông Trần Văn Đỗ, Trần Văn Tuyên, Nguyễn tiến Hỷ, v.v..


Tháng 9 / 1995, ông tự nhận là Chủ Tịch ỦY Ban Đặc Cử Của Văn Bút Quốc Tế Tái Thống Nhất Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Một văn thư của ông được phổ biến, đầy dẫy ngụy biện và khoe khoang. Nào là “chính thống dân chủ”, nào là “chính thống pháp định”, nào là “chính thống cách mạng” Ông dịch sai nhiều lắm. Thí dụ: “Détournement de la loi,” ông dịch là “sang đoạt luật pháp”.

Háo danh , kiêu căng và ngụy biện .Đó là Trần Thanh Hiệp. Hiện nay, ông Hiêp được coi là quân sư cho đảng Đại Việt của bà Nguyễn tôn Hoàn. Bà Nguyễn Tôn Hoàn là ai? Là bà con với vợ của tên cưu thủ tướng Việt Cộng Phan Văn Khải.


Đó là Trân Thanh Hiệp

Còn Đoàn Viết Hoạt?

Hồi còn Miền Nam VN Tự Do, ông Hoạt là một tâm phúc của Thích Minh Châu. Thích minh Châu, tức nhà sư Việt Cộng nằm vùng, cùng lý tưởng với tên cán bộ Việt Cộng Thích Trí Quang.
Tháng Tư năm 1975, Việt Cộng vào Sàigòn, ông Hoạt ra Ngã Tư Bẩy Hiền đón rước, cùng với Nguyễn Đan Quế. Sau đó, vì không được VC trọng dụng, ông bất mãn, chửi chế độ, rồi bị bắt giam . Thập niên 1980, sau khi được Việt Cộng phóng thích, ông đã cùng gia đình di cư sang Mỹ .

Chưa hết.

Năm 2001, tên phó thủ tướng VC Nguyễn Tấn Dũng sang Mỹ công tác, ông Hoạt đã “đón rước” tên Dũng vói “Đề Cương Vận Động Dân Chủ”.

Vẫn chưa hết.

Ngày 1 tháng 12/2001, ông Hoạt có mặt trong buổi lễ tưởng niệm cố đảng trưởng Đại Viêt Quốc Dân Đảng Trương Tử Anh tại khách sạn Le Petit Trianon Hôm đó, ông lên diễn đàn trình bày những vận động của ông cho một Nước Việt Nam Mới.

Điều đáng nói, là : buổi lễ hôm đó đã do Hoài Sơn chủ tọa.

Hoài Sơn, tức Ung Ngọc Nghĩa,, là em ruột của Ung Ngọc Ky . Theo quyền “Chung Một Bóng Cờ” của Hà Nội, thì Ung Ngọc Ky là một cán bộ cao cấp của đảng. Ung Ngọc Ky từng là Ủy Viên Ban Thư Ký Trung Ương Mặt Trận Dân Chủ,và Thứ Trưởng Phủ Thủ Tướng Chính Phủ Lâm Thời Cách Mạng Miền Nam. Vẫn theo tài liệu Việt Cộng, thì Ung Ngọc Ky, cũng như Huỳnh Tấn Phát và Mã thị Chu, đã lập được nhiều công lớn nhân danh Bác và Đảng

Trên đây là vài nét chính về hai ông Trần Thanh Hiệp và Đoàn Viết Hoạt, những kẻ thời cơ chủ nghĩa , đâu có ăn thì tìm đến.

Tôi nhớ đến Rubashov trong “Darkness At Noon” của Arthur Koestler.

Lúc sắp bi đảng CS hành quyết về tội phản đảng, Rubashov — lãnh tụ đảng CS — đã quỳ xuống tạ lỗi. Không tạ lỗi với Đảng, với Nhà Nước, với chủ nghĩa Mác- Lê . Mà tạ lỗi với đồng bào , với tổ quóc, với lịch sử.

Cuộc đấu tranh của Người Việr Tỵ Nạn chúng ta hôm nay, là cuộc đấu tranh nhằm loại trừ bạo quyền cờ đỏ sao vàng, nhân danh dân tộc Việt Nam, nhân danh tổ quốc Việt Nam, và nhân danh lịch sử Việt Nam.


Chúng ta không nên, cũng như không được phép, nhân nhượng hoặc lịch sự đối với những kẻ từng có thành tích tay sai Việt Cộng, những tên ‘thời cơ chủ nghĩa, đâu có ăn thì tìm đến.”

Houston, Thứ Hai mùng 1 tháng 9 / 2008


Nguyễn Văn Chức

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »