Tudodanchu's Weblog

Freedom, Democracy, Human Rights, No Communism For Vietnam

Archive for Tháng Chín 10th, 2008

Chiến địch bắt bớ và đàn áp ở Thái Hà tăng tốc, đang khi TGM Hà Nội gặp Trợ lý Ngoại giao Hoa Kỳ

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 10, 2008

Chiến địch bắt bớ và đàn áp ở Thái Hà tăng tốc, đang khi TGM Hà Nội gặp Trợ lý Ngoại giao Hoa Kỳ

VietCatholic News (Thứ Tư 10/09/2008 20:22)

Chiến địch dọa nạt, bắt bớ, và đàn áp những người hiệp thông cầu nguyện ở Thái Hà đã bắt đầu

HÀ NỘI – Nhà cầm quyền CSVN đã lên tiếng cảnh cáo sẽ bắt giữ “Những ai cố tình vi phạm, kích động, xúi giục hay gây rối sẽ bị xử lý nghiêm khắc” trong vụ việc giáo xứ Thái Hà đòi lại tài sản. Sang hôm nay công an bắt thêm 4 người liên quan tới việc càu nguyện ở Thái Hà, thì chiều hôm nay (10.09.2008) tại toà tổng giám mục Hà Nội, Đức TGM Ngô Quang Kiệt cũng tiếp Ngài trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ đặc trách Á Châu, cùng phó đại sứ và tham tán đặc trách Nhân quyền của Toà đại sứ Hoa Kỳ Tại Hà Nội. (Chi tiết cuộc gặp chưa được tiết lộ, nhưng chúng tôi sẽ tường trình sau).

Một phóng viên của VietCatholic ở Hà nội đưa tin cho chúng tôi như sau: “Những ngày qua, có nhiều động thái cho thấy có thể có nhiều diễn biến phức tạp với Thái Hà cũng như với các giáo dân. Những sự phức tạp đó bắt nguồn từ việc nhà cầm quyền Hà Nội không chấp nhận lắng nghe tiếng nói của người dân mà chỉ dựa vào những ý định áp đặt của họ. Phần tôi, tôi cũng đã bị công an đến thẩm vấn mấy lần và còn đe dọa không được tiếp tục viết bài thông tin về tình hình ở Thái Hà. Tôi trả lời họ, tôi chỉ viết những điều mình thấy, những điều mình nghĩ, những tiếng nói của lương tâm khi thấy sự bất công và là tiếng kêu bé nhỏ cho sự đau thương gian khó của cộng đồng giáo dân nhỏ bé đã không được ai chú ý đên. Rộng hơn, đó là một đất nước mà sự dối trá đã bị lan tràn. Những điều đó, với lương tâm người Công giáo là không được bỏ qua, vì vậy tôi đã nói lên tiếng nói của mình, dù có thể một số người không vừa ý… tuy nhiên họ cảnh cáo và đe dọa nếu không nghe họ sẽ truy tố… Hiện nay, căn cứ những gì mà nhà nước đang làm, một số người có sự lo lắng cho tôi, tôi xin cảm ơn nhiều tất cả những người đó và cảm ơn Giáo Hội Hiệp nhất trong tình huynh đệ. Xin mọi người cầu nguyện cho tôi nhiều. Sau mấy lần tiếp xúc, hiện họ vẫn còn chưa bắt, nhưng những ngày tới, chưa biết sẽ ra sao.”

Những lời đe dọa từ phía chính quyền CS Hà Nội:

Thứ trưởng Bộ Công An CSVN Nguyễn văn Hưởng xác định “Công an Hà Nội khởi tố vụ án hình sự, khởi tố, bắt tạm giam một số bị can có hành vi quá khích, gây rối, hủy hoại tài sản là biện pháp cần thiết và đúng pháp luật” và lại còn “chỉ đạo Công an Hà Nội cần tiếp tục điều tra, làm rõ những đối tượng có hành vi vi phạm để xử lý đúng tính chất, mức độ”.

Bản tin đó còn đưa lời Nguyễn Ðức Nhanh, giám đốc Sở Công An CSVN Hà Nội, nói rõ “riêng việc linh mục có mặt tại các địa điểm có đông giáo dân tụ tập, cầu nguyện trái phép hoặc tại địa điểm có hành vi gây rối, hủy hoại tài sản thì việc có mặt đó đã là hành vi xúi giục, kích động.”

Bản tin tờ CAND (cơ quan tuyên truyền của Bộ Công An CSVN) ngày Thứ Hai 8/9/2008 hàm ngụ cho thấy không loại trừ việc bắt giữ và truy tố ngay cả các giám mục, linh mục, tu sĩ đến cầu nguyện cùng với giáo dân ở khu đất mà giáo xứ và Dòng Chúa Cứu Thế đang áp lực đòi lại.

Bản tin của tờ CAND thuật lời Nguyễn Ðức Nhanh còn vu cho các linh mục dòng Chúa Cứu Thế là “vu cáo, bịa đặt” khi kể lại sự kiện là giáo dân đã bị đàn áp bằng roi điện, dùi cui vào ngày 28.8 và bị xịt hơi cay đang khi cầu nguyện vào đêm ngày 31/8/08.

Bài báo cũng không quên đả kích Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt “chỉ đạo linh mục đoàn giáo phận Hà Nội ra thư hiệp thông với dòng Chúa cứu thế xứ Thái Hà, nội dung lập lờ, kích động linh mục, giáo dân kiên quyết đòi đất khu vực này. Ông Kiệt còn gắn việc chiếm đất của một số giáo dân Thái Hà với vụ việc tại 42 Nhà Chung, Hà Nội.”

Thế rồi ngày hôm nay 10.9.2008, trên tờ Hà Nội Mới lại mượn lời của một công dân có email: laclaclonglinh@yahoo.com.vn cho rằng “Những việc làm đi ngược lại lợi ích của cộng đồng, đi ngược lại cả những điều răn dạy của Chúa, thiết nghĩ cũng không cần phải kể ra nữa vì nó quá rõ ràng, đáng lên án và cần phải xử lý nghiêm” và đưa ra 3 biện pháp mạnh sau đây:

“1/ Trừng trị nghiêm khắc bằng pháp luật những hành vi phạm pháp của nhóm giáo dân gây rối kể cả những linh mục đang hàng ngày, hàng giờ kích động bằng lời nói, việc làm cũng như các bài viết phản động của họ. Dù có là gì đi chăng nữa thì họ vẫn đã và đang là công dân của nước Việt Nam nên phải chịu sự quản lý của pháp luật Việt Nam.
2/ Truy cứu trách nhiệm những cán bộ công chức nhà nước thiếu trách nhiệm có liên quan đã để xảy ra tình trạng này.
3/ Chính quyền cần thu hồi lại ngay mảnh đất, lập đề án xây dựng công viên cây xanh hoặc các công trình phúc lợi khác”

Đài truyền hình Việt Nam trong bản tin thời sự tối ngày 10/09/2008 còn cáo buộc là giáo dân vẫn tiếp tục tập trung cầu nguyện trái phép, mang thêm ảnh, tượng vào khu đất, và đe doạ “Sẽ có một ngày các đối tượng gây rối bị bắt bị đem ra xử trước pháp luật”.

Tiếp tục bắt người liên quan tới vụ cầu nguyện tại Thái Hà

Hôm nay 10.9.2008 Công an Hà nội cũng loan báo tin quyết định khởi tố thêm 4 bị can về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Thực ra chiến dịch đàn áp bắt người cầu nguyện ở Thái Hà đã bắt đầu ngay từ ngày 28.8 khi công an bắt giữ 8 người tại khu đất Thái hà, và cho đến nay những người đó vẫn chưa được thả về nhà.

Tờ Dân Trí ở Hà nội đưa tin như sau: “Liên quan đến vụ án gây rối trật tự công cộng và hủy hoại tài sản tại Công ty cổ phần May Chiến Thắng, ngày 10/9, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Đống Đa đã ra quyết định khởi tố thêm 4 bị can về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Sau một thời gian thu thập chứng cứ, tài liệu và nhân chứng, Công an quận Đống Đa tiếp tục khởi tố và bắt giam 2 tháng đối với Nguyễn Thị Nhi (sinh năm 1962), trú tại huyện Ngọc Hồi, Kon Tum và Nguyễn Đắc Hùng (sinh năm 1977), trú tại Thôn Đầm, xã Tân Hoà, Quốc Oai, Hà Nội về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Điều 34 và 126 Bộ luật Hình sự. Cùng với tội danh trên, Công an cũng đã khởi tố cho tại ngoại đối với Nguyễn Thị Việt, phường Thịnh Quang và Thái Thanh Hải, phường Nam Đồng, đều ở quận Đống Đa, Hà Nội. Cơ quan điều tra cũng đã ra lệnh truy nã đối với bị can Ngô Thị Dung (54 tuổi, trú tại tập thể Vĩnh Hồ, quận Đống Đa), đã bị khởi tố ngày 1/9 về tội “hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” tại Công ty may Chiến Thắng nhưng đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Trước đó, ngày 28/8, cơ quan công an đã khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với bà Lê Thị Hợi (trú ở số 8 ngách 62 Quan Trạm, Thổ Quan, Đống Đa, Hà Nội), ông Lê Quang Kiệm (trú ở số 8 ngõ 162 Tôn Đức Thắng, Hàng Bột, Đống Đa, Hà Nội) về hành vi hủy hoại tài sản. Trong những ngày qua, bất chấp các quy định của pháp luật và thông báo của các cấp chính quyền, nhiều lần các linh mục cùng với giáo dân vẫn tiếp tục đưa thêm tượng, bàn thờ vào tiến hành làm lễ, cầu nguyện trái phép trên đất của Công ty cổ phần may Chiến Thắng ở số 178 Nguyễn Lương Bằng.”

Một cộng tác viên khác của VietCatholic ở Hà Nội viết như sau: “Tình hình giáo Xứ Thái Hà tiếp tục căng thẳng, và đang leo lên một nấc thang nguy hiểm mới… Quan chức công an cộng sản phát biểu bôi nhọ linh mục, tu sĩ giáo dân Thái Hà trên các tờ báo của Nhà nước và họ đe dọa rằng sẽ khởi tố và bắt giam cả các tu sĩ, bắt thêm giáo dân cầm đầu. Giám đốc công an Hà Nội còn đe doạ cả linh mục từ nơi khác dẫn đầu đoàn giáo dân đến cầu nguyện hiệp thông tại Thái Hà, ông nói sẽ nghiêm minh “xử lý” linh mục có mặt tại khu đất để “kích động giáo dân… Họ cũng cáo buộc Đức Tổng Giám Mục Hà Nội là ra lệnh cho linh mục đoàn ra thư hiệp thông với Thái Hà, cố ý gây kích động giáo dân phản loạn…”

Một giáo sư tại một Đại học ở Hà nội viết cho chúng tôi biết như sau: “Ở vụ việc Thái Hà này, người ta lo ngại là họ đã khởi tố các giáo dân và sau khi khởi tố thì họ bắt luôn, mặc dù những người khách quan nhìn vào, thì họ cho rằng đó chỉ là một vụ việc dân sự. Theo chúng tôi nhận định, có thể họ muốn bắt giữ những người có tiếng nói như linh mục, phóng viên, nhà tranh đấu dân quyền, cốt ý để cảnh cáo cho sợ và làm cho giáo dân Thái hà và Giáo hội cô đơn, mặt khác để đe dọa những ai muốn giúp đỡ Giáo hội”.

Xiết chặt vòng vây thông tin và tiếp cận thế giới bên ngoài

Đường cáp internet của Dòng Chúa Cứu Thế ở Thái Hà đã bị “ai đó” cắt giây 3 ngày qua, nên tạm thời vẫn chưa liên lạc được. Một vị linh mục ở Nhà Dòng cho biết đường giây điện thoại cầm tay cũng bị tắt luôn không gọi được. Muốn liên lạc hay muốn gửi email ra ngoài, phải nhờ người khác hoặc tìm cách nào đó mới vhuyển tin được.

Một giáo dân ờ Thái Hà gửi email cho VietCatholic tường trình như sau: “Tại Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà, các tu sĩ đã dọn dẹp nhà cửa, sắp xếp ngăn lắp tài liệu, kinh sách… chuẩn bị cho việc công an bắt các Cha và kèm theo khám nhà Dòng. Có tin từ phía công an đưa kín ra ngoài là người mà công an đang nhắm tới và muốn bắt đầu tiên là linh mục NVK”.

Giáo dân này còn tỏ ra không lo lắng gì khi đưa tin thêm: “Giáo dân Thái Hà chúng tôi cũng chuẩn bị cho việc công an sẽ bắt thêm những người “tích cực” tham gia, tình nguyện hướng dẫn anh em giáo dân khắp nơi về cầu nguyện. Những người này đang gói gém đồ hầu mang theo nếu phải vào tù. Họ cũng thu dọn nhà cửa, chuẩn bị người ở nhà để công an bắt, khám nhà có người ở lại trông nhà “.

Một thông tín viên khác của VietCatholic mô tả tình hình hôm nay ở Thái Hà như sau: “Về phía công an, lực lượng công an mặc sắc phục được tăng quân số, thường trú có khoảng 120 tên, đổi ca 4 lần/24h, nhưng tập trung trong khu nhà kho, nhà làm việc của công ty may Chiến Thắng, họ ít xuất hiện ngoài khu vực… Lực lương công an mặc thường phục có khoảng 100 tên rải rác từ ngoài đường vào đến khu đất… Lực lượng “ăng ten” của công an nhiều vô số… chúng ngồi la liệt bên đường, trong quán nước, trà trộn vào trong giáo dân thỉnh thoảng phát ngôn những từ ngữ khiêu khích… Nhưng giáo dân đã được các tu sĩ chuẩn bị tinh thần trước, không mắc mưu của kẻ xấu…”

Thông tín viên này còn viết thêm rằng khi nghe tin công an sắp bắt thêm người, anh ta hỏi dò một cụ ông tuổi 60 rằng “Ông có sợ không?” – Ông ta trả lời như sau: “Cộng sản nhiều mưu sâu kế độc, tàn ác vô luân, bàn tay đã nhuốm máu bao dân lành, chắc chắn nó không chịu thua dễ dàng… Nó sẽ mở ra trang sử các chân phước tử đạo Việt Nam thế kỷ 21… Đối với người Công Giáo tử vì đạo là một phúc rất lớn, con cái Chúa phải tranh đấu, phải hy sinh liên nỉ mới được chọn. Chúa gọi rất nhiều Chúa chọn thì ít! Lậy Chúa, Vì Ngài đã gọi Thái Hà chúng con! Xin Ngài chọn chúng con!”

Thế mới đáng kính phục chứ!

Trong khi đó, các tin tức phổ biến cho thấy từ cuối tuần quan đến nay, hầu hết các giám mục thuộc Giáo khu Hà nội, mấy trăm linh mục của nhiều giáo xứ tại Việt Nam gửi thư hiệp thông và hậu thuẫn cho công cuộc đấu tranh đòi đất của giáo xứ và Dòng Chúa Cứu Thế tại Thái Hà. Một số giám mục còn đến tận nơi dâng thánh lễ, cầu nguyện hiệp thông với giáo dân tại khu đất đang đòi. Giáo dân từ nhièu nơi xa xôi vẫn tìm cách vượt vòng kiểm soát và cấm cản của công an CSVN các địa phương để về Thái Hà cầu nguyện hiệp thông.

Những lời đả kích, đe dọa phổ biến trên tờ CAND có vẻ như được đưa ra để đối phó lại sự hậu thuẫn rộng rãi của cộng đồng Công Giáo Việt Nam, cả trong và ngoài nước, dành cho giáo xứ và Dòng Chúa Cứu Thế tại Thái Hà.

Đang khi đó, Đức Giám Mục Thái Bình có một bài viết hôm nay với tiêu đề “Kẻ dùng gươm sẽ chết vì gươm” trong đó Ngài lên tiếng cáo giác chính quyền làm ngơ trước hành vi, cũng như nguy cơ xâm lấn đất đai, biển đảo, kế hoạch xâm lược từ Trung Quốc, trong khi lại dùng vũ lực với giáo dân tay không ôn hoà cầu nguyện đòi công lý trên một vuông đất nhỏ hẹp vốn của họ bị cưỡng chiếm trái lẽ. Rồi Ngài trích dẫn kinh thánh mà kết luận: Kẻ dùng gươm sẽ chết vì gươm.

Diễn biến từ phía Ngoại Giao Hoa Kỳ tại Việt Nam

Phía Ngoại gia Hoa Kỳ, qua Tòa Đại Sứ Mỹ ở Hà Nội và Saigòn đã có một loạt cuộc gặp những người hoạt động dân chủ trong tuần lễ diễn ra chuyến thăm của Thứ trưởng Ngoại giao John Negroponte. Chiều hôm nay Đức TGM Ngô Quang Kiệt cũng tiếp ông trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ đặc trách Á Châu, cùng phó đại sứ và tham tán đặc trách Nhân quyền của Toà đại sứ Hoa Kỳ Tại Hà Nội.

Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, John Negroponte, có mặt tại Hà Nội hôm nay cho chuyến thăm ba ngày. Tin từ Hà Nội nói trước chuyến thăm, đại diện của Sứ quán Hoa Kỳ đã đến gặp hai ông Nguyễn Khắc Toàn và Lê Quốc Quân. Cuộc tiếp xúc được cho là đã đề cập nhiều vấn đề liên quan nhân quyền, dân chủ và tự do tôn giáo.

Ông Nguyễn Phương Anh, một nhà hoạt động ở Hà Nội, nói với BBC rằng ông cũng thuộc số người mà phía Mỹ muốn gặp trong mấy ngày tới. Ông nói đây là sự “động viên rất lớn cho chúng tôi và thân nhân các gia đình anh em đấu tranh dân chủ đang bị giam cầm”.

Hôm mồng bốn tháng Chín, tại Saigòn, Tòa Tổng lãnh sự Mỹ đã gặp thân nhân của một số người mà Mỹ gọi là tù nhân tôn giáo và chính trị. Trước đó một ngày, phái đoàn Mỹ cũng đến gặp Hòa thượng Thích Quảng Độ, người đứng đầu Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, không được nhà nước thừa nhận.

Ngoài ra, hôm 20 tháng Tám, trong buổi họp báo kỷ niệm một năm nhiệm kỳ, Đại sứ Michael Michalak nói tự do ngôn luận là “giá trị then chốt của nước Mỹ… Khi chính phủ có thêm lòng tin đối với người dân, sẽ có thể có tự do ngôn luận hơn nữa”.

Đồng Nhân

http://vietcatholic.net/News/Html/58334.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Chơi đòn hạ sách

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 10, 2008

Chơi đòn hạ sách

VietCatholic News (Thứ Ba 09/09/2008 12:07)

Lữ Giang

Trong cuộc đấu tranh của giáo dân Hà Nội để đòi lại Toà Khâm Sứ và đất của giáo xứ Thái Hà, thay vì đối thoại chân thành để giải quyết bằng một giải pháp công bằng và hợp lý, Ban Tôn Giáo Chính Phủ, Mặt Trận Tổ Quốc và Ủy Ban Nhân Dân (UBND) Thành Phố Hà Nội đã xử dụng các biện pháp hạ sách sau đây để đối phó:

1.- Khủng bố: Huy động lược lượng công an và cảnh sát, kể cả công an chìm, để trấn áp. Bí mật dùng bình xịt hơi cay để làm cho các buổi tập họp cầu nguyện bị tán loạn. Gài cho bạo động rồi dùng pháp luật để đe doạ, v.v.

2.- Huy động hệ thống truyền thông nhà nước để vu khống, xuyên tạc sự thật. Dùng giáo gian hay những tên mạo nhận là công giáo… để đưa ra những lời phát biểu chống lại cuộc đấu tranh của giáo dân.

3.- Dùng các tổ chức của Giáo Hội Phật Giáo Nhà Nước, thường được gọi là Giáo Hội Phật Giáo quốc doanh, tung hoả mù để chống lại những đòi hỏi của giáo dân.

4.- Xử dụng giấy tờ giả như những chứng từ pháp lý để đối kháng với những đòi hỏi hợp lý cũa giáo xứ Thái Hà!

Trong thời kỳ tiến xuống “xã hội chủ nghĩa”, khi hệ thống thông tin bị bưng bít, có thể xử dụng các biện pháp trên đây để khống chế quần chúng có hiệu quả. Nhưng trong thời đại ngày nay, khi Đảng CSVN bị bắt buộc phải sống chung với các xã hội văn minh, phải gia nhập WTO, phải tham gia Hội Đồng Bảo An LHQ…… các biện pháp nói trên trở thành vô hiệu quả. Ngoài sự hiện diện của các cơ quan ngoại giao và các tổ chức quốc tế ở trong nước, hệ thống thông tin toàn cầu đã xâm nhập được vào hầu hết mọi khu vực của đất nước. Do đó, khi Đảng và Nhà Nước cho áp dụng các trò bẩn như trong thời kỳ đi xuống “xã hội chủ nghĩa”, sẽ bị dư luận trong nước cũng như quốc tế lật tẩy và tố cáo ngay.

Hai biện pháp đầu được coi là hai biện pháp cố hữu được dùng để trấn át trong các chế độ cộng sản. Biện pháp thứ ba và biệt pháp thứ tư là hai biện pháp đặc biệt được áp dụng trong vụ đòi đất của giáo dân Hà Nội nên chúng tôi xin phân tích về hai biện pháp này.

KHI NHÀ NƯỚC LÀM GIẤY GIẢ!

Giáo xứ Thái Hà đã đưa lập luận sau đây để xác định khu đất 60.000 mét vuông ở Thái Há Ấp vẫn còn thuộc quyền sở hữu của giáo xứ: Chính quyền chưa hề có văn kiện pháp lý nào trưng thu khu đất này. Dân chúng và các cơ quan của chính quyền đã tự ý đến chiếm rồi mua bán đổi chác với nhau, chỉ để lại cho giáo xứ 2.700 mét vuông, không đủ để đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt tôn giáo.

Để chống lại lập luận này, UBND Thành Phố Hà Nội nói rằng ngày 24.10.1961 Linh mục Vũ Ngọc Bích, người quản lý Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội và giáo xứ Thái Hà, đã ký giấy bàn giao đất cho nhà nước quản lý. Giáo xứ Thái Hà quả quyết Linh mục Vũ Ngọc Bích không hề ký bất cứ giấy tờ nào “dâng”, “hiến” hay “bàn giao” đất của giáo xứ cả. Vã lại, dù Linh mục Bích có ký giấy bàn giao đi nữa, giấy đó cũng vô giá trị vì ông chỉ là người quản lý chứ không phải sở hữu chủ.

Ngày 26.8.2008, Dòng Chúa Cứu Thế – Giáo xứ Thái Hà, đã nhận được công văn số 680/UBND-NNĐC cuả UBND Thành Phố Hà Nội về việc cung cấp tài liệu giải quyết khiếu nại và gửi kèm theo 4 băn bản photocoppy, gồm có:

1.- Bản kê khai tổng số nhà giao cho nhà nước quản lý ký ngày 10.11.1961.

2.- Bản mẫu kê khai nhà quản lý ký ngày 9.11.1961.

3.- Đơn xin xin “được giao lại” đất của linh mục Vũ Ngọc Bích ký ngày 27.5.1963.

4.- Văn bản đề ngày 24.12.1991 của Linh mục Vũ Ngọc Bích gửi ban chủ nhiệm Hợp tác xã Dệt thảm Đống Đa về việc xác nhận đã nhận của ban 40 triệu đồng.

Qua các văn kiện nói trên, Dòng Chúa Cứu Thế và giáo xứ Thái Hà khám phá ra các sự gian dối sau đây:

(1) Đơn xin “được giao lại” đất của Linh mục Vũ Ngọc Bích ký ngày 27.5.1963 đã được đánh máy trên máy vi tính, sử dụng font chữ của Microsoft Word. Sự kiện này cho thấy đơn này không thể có từ năm 1963 mà mới được làm trong thời gian gần đây, vì Công Ty Microsoft mới được thành lập ngày 1.4.1975, nên năm 1963 không thể có kiểu font đó để xử dụng.

Điều này cho thấy đơn xin “được giao lại” đất của Linh mục Vũ Ngọc Bích ký ngày 27.5.1963 mà UBND thành phố Hà Hội xuất trình để chứng minh là tài liệu giả.

(2) Bốn văn kiện mà UBND Thành Phố Hà Nội đưa ra làm chứng từ đều có nghi vấn:

– Có văn kiện lại bị sửa cách viết chữ, tháng (văn bản 1) hay năm (văn bản 3). Chữ viết tên và chữ ký của văn bản 3 không gióng các văn bản khác.

– Chỉ có một chứng từ lập năm 1961 có đóng dấu, nhưng hai dấu lại đè lên nhau và xem lại thì không phải là con dấu của giáo xứ Thái Hà!

Văn bản thứ 4 đề ký ngày 24/12/1991 (ngày mừng lễ Noel) là văn bản đã được cơ quan Truyền hình nhà nước đưa lên để cho rằng đây là văn bản Linh mục Vũ Ngọc Bích đã ký nhận 40 triệu đồng từ năm 1961. Nhìn kỷ, ai cũng dễ dàng nhận thấy chữ ký của Linh mục Bích trong văn bản này hoàn toàn khác với chữ ký của các văn bản khác.

Như vậy, UBND Thành Phố Hà Nội đã cố ý giả mạo giấy tờ để sang đoạt tài sản của nhân dân.

HUY ĐỘNG PHẬT GIÁO QUỐC DOANH

Chúng ta nhớ lại, cuối năm 2007 và đầu năm nay, khi Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đòi lại Toà Khâm Sứ Việt Nam, Ban Tôn Giáo Chính Phủ và Mặt Trận Tổ Quốc đã huy động Giáo Hội Phật Giáo quốc doanh và các cơ quan truyền thông của “giáo hội” này để chống lại.

Ngày 17.1.2008, Website “phattuvietnam. net”, cơ quan Phật Giáo vận của Mặt Trận Tổ Quốc, cho đăng “Thư ngỏ gửi ngài Ngô Quang Kiệt Tổng Giám Mục Địa Phận Hà Nội nhân vụ việc Toà Khâm Sứ” của một người ở trong nước giấu tên cho rằng khu Tòa Giám Mục Hà Nội và Tòa Khâm Sứ hiện nay trước đây là chùa và tháp Báo Thiên của Phật Giáo.

Ngày 18.2.2008, Website này đã công bố văn thư của Hòa Thượng Thích Trung Hậu, hiện là Trưởng Ban Văn Hóa Trung Ương của GHPGVN, đã thừa ủy nhiệm Ban Thường Trực Hội Đồng Trị Sự của Giáo Hội này, gởi đến Thủ Tướng Nguyễn Tiến Dũng yêu cầu “xem Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một trong những thành phần chủ yếu để tham khảo” trước khi có quyết định về việc trao Tòa Khâm Sứ cho Giáo Phận Hà Nội!

Tiếp theo, vô số bài của các tổ chức thuộc Giáo Hội Phật Giáo quốc doanh được đưa ra để bôi nhọ và chống lại Thiên Chuá Giáo.

Sự kiện này một lần nữa chứng minh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam ở trong nước hiện nay chỉ là một công cụ chính trị của Đảng và Nhà Nước chứ không phải là một tôn giáo hay một giáo hội đúng nghĩa.

ĐÂM THUÊ CHÉM MƯỚN

Website “Phattuvietnam. net” đúng là một công cụ đâm thuê chém mướn của Ban Tôn Giáo Chính Phủ và Mặt Trận Tổ Quốc, bên ngoài trang nhà này đề bảng “Nam Mô A Di Đà Phật” nhưng bên trong chứa toàn những bố dao găm. Trong phần chủ trương, trang nhà này có ghi:

“Trang web PHẬT TỬ VIỆT NAM hình thành bằng chính tâm nguyện sống và làm theo lời Phật dạy, làm tốt đạo đẹp đời, với phương châm: Đạo Pháp – Dân tộc – Thời đại. Tất cả không ngoài chủ trương:

1.- Phổ cập, thảo luận Phật pháp, xem đây là diễn đàn Tăng Ni Phật tử khắp nơi trên phương tiên truyền thông đại chúng.

2.- Cung cấp, cập nhật, tổng hợp các thông tin họat động Phật sự trong nước và quốc tế đến Chư Tôn Đức Tăng Ni Phật tử, các nhà nghiên cứu Phật giáo, cũng như các đối tượng khác muốn tìm hiểu đạo Phật.

3.- Hoằng pháp lợi sinh trên tinh thần Phật giáo đi vào cuộc đời, xây dựng nền tảng đạo đức xã hội, vì lợi ích số đông loài người và chư Thiên.

4.- Trao đổi và nghiên cứu các vấn đề Phật học trong sự hòa hợp, thanh tịnh – kiến hòa đồng giải (không liên quan đến các vấn đề chính trị, kỳ thị tôn giáo hay lợi ích cá nhân).”

Nhưng mở trang nhà này ra, chúng ta thấy toàn tin tức về hoạt động vận động quần chúng của nhóm sư quốc doanh và các bài đánh phá theo chỉ thị của Mặt Trận Tổ Quốc. Trong vụ Toà Khâm Sứ, chúng tôi thấy xuất hiện nhiều bài nham nhở xuyên tạc lịch sử và tôn giáo với những luận điệu láo phét, chẳng hạn như:

– Lịch sử tang thương về chùa Báo Thiên ở Hà Nội xưa

– Vụ phá chùa Báo Thiên xây Nhà thờ Lớn trong tiểu thuyết Mẫu Thượng ngàn của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh.

– Nhân chuyện ông Ngô Quang Kiệt nhất định đòi đất, nhìn về những diễn biến tôn giáo gần đây tại Việt Nam.

– Nhân vụ Tòa khâm: Di sản văn hóa – Cội nguồn lịch sử của một dân tộc.

– Phật giáo Thiền chứ không ngủ của Trần Chung Ngọc (!).

– Từ việc chiếm chùa Báo Thiên xây nhà thờ Lớn tìm hiểu bộ mặt thật của ‘giám mục’ Purinier.
– Thư trao đổi gửi ngài Nguyễn Văn Sang – Giám mục Thái Bình.
– Chùa Báo Thiên có bị thực dân Pháp và tay sai phá đi xây Nhà thờ Lớn?
– Giáo hội Phật giáo Việt Nam lên tiếng về vụ đòi “Tòa khâm”.

– Vụ đòi tòa khâm: câu chuyện về chiếc giếng cổ và cây thánh giá
– Vụ cầu nguyện đòi Tòa khâm: Về một thế đứng văn hóa trong tôn giáo.

– Từ hàng cột hiên chùa Bà Đá nghĩ về công thổ và hòa hợp Tôn giáo trong lòng Dân tộc.

– Cầu nguyện đòi “Toà khâm”: nên nhìn vào sự thật.

– Vụ “tòa khâm”: Lương tâm cầu nguyện?

– Nhân vụ đòi “Toà khâm”: Mong Nghĩ Niềm Chung.

– Lịch sử – Pháp lý – Hiện thực – Tình người.

– Ước nguyện của Phật tử về “Thành phố Vì Hòa bình”.

– Tâm thư gửi đồng bào Công giáo “cầu nguyện” đòi “Tòa khâm sứ”.

– Thư ngỏ gửi Ngài Ngô Quang Kiệt – Tổng Giám mục địa phận Hà Nội nhân vụ việc “Tòa Khâm sứ”, v.v.

Trong cuộc tranh đấu để đòi lại đất của giáo xứ Thái Hà hiện nay, chúng tôi thấy trang nhà phattuvietnam. net đã phóng lên bài bài “Nhân chuyện ông Ngô Quang Kiệt nhất định đòi đất, nhìn về những diễn biến tôn giáo gần đây tại Việt Nam” hôm 29.5.2008; bài “Cầu nguyện đòi đất: ‘ông tiền chủ, bà tiền chủ ở đâu’?” hôm 2.9.2008; bài “Cầu nguyện “đòi đất”: Một kiểu “đối thoại” bằng luật rừng” hôm 5.9.2008… để vu khống và bôi nhọ cuộc đấu tranh của Công Giáo.

MỘT THÍ DỤ ĐIỂN HÌNH

Số lượng bài đánh phá đăng trên trang nhà “Nam Mô A Di Đà Phật” phattuvietnam. net quá nhiều, chúng tôi chỉ xin đưa ra đây một vài đoạn chính của bài “Nhân chuyện ông Ngô Quang Kiệt nhất định đòi đất, nhìn về những diễn biến tôn giáo gần đây tại Việt Nam” của người đứng tên là Nguyễn Mai Sơn để đọc giả xem miệng lưỡi của nhóm bồi bút của Ban Tôn Giáo Chính Phủ và Mặt Trận Tổ Quốc trong phattuvietnam. net “Nam Mô A Di Đà Phật” như thế nào. Sở dĩ chúng tôi chọn bài này vì đây là một bài viết tương đối có lý luận. Qua bài này, chúng ta có thể thấy được phần nào cách nhìn của nhà cầm quyền về cuộc đấu tranh của giáo dân Hà Nội. Đa số các bài khác đều được viết theo lối của các bà bán cá ở các chợ Đồng Xuân, Đông Ba, Cầu Ông Lãnh…

Vì bài báo quá dài, chúng tôi chỉ xin trích đăng lại hai phần quan trọng và đưa ra một vài nhận xét, đó là phần phân tích về mục tiêu cuộc đấu tranh của giáo dân Hà Nội và chuyện đòi nhà đất. Những tiểu mục được chúng tôi thêm vào cho dễ đọc hơn.

Mở đầu bài báo viết:

“Ngoài ý tứ quyết “sống mái” của TGM Ngô Quang Kiệt: “nhất định đòi Tòa Khâm sứ” (bất chấp sự thật lịch sử là mảnh đất đó được cướp từ đất chùa, bất chấp dư luận xã hội trong đó có phản biện của Phật giáo) là việc “đòi hỏi việc nhà cầm quyền cũng như dân tộc ghi nhận đóng góp của Giáo hội cho đất nước”.

1.- Phân tích về mục tiêu cuộc đấu tranh của giáo dân Hà Nội

Bài báo viết tiếp:

“Theo một số nguồn tin, ông Ngô Quang Kiệt – Tổng Giám mục Hà Nội trong chuyến thăm cộng đồng Ki-tô giáo người Việt tại Đức đã mạnh miệng tuyên bố “TGM Hà Nội nhất định đòi Tòa Khâm sứ”.

“Phát biểu trên xuất hiện gần thời điểm phái đoàn Vatican chuẩn bị sang thăm Việt Nam. Cũng trong tin này, ôngng Nguyễn Văn Phương, thuộc Bộ Truyền giáo Vatican nói về sự quan tâm của Vatican đến Tòa Khâm sứ, Thánh địa La Vang và Giáo hoàng Học viện ở Đà Lạt.

“Tuy nhiên, trong tin “Phái đoàn Vatican sắp tới Hà Nội” của BBC Việt ngữ, Linh mục Stephanô Bùi Thượng Lưu lại cho rằng: “Việc đòi lại đất chỉ là bề nổi. Điều ẩn hiện đằng sau mà Giáo hội đòi hỏi là việc nhà cầm quyền cũng như dân tộc ghi nhận đóng góp của Giáo hội cho đất nước”.

“Đúng là ba “miếng” đất kia chỉ là bề nổi, là sự “ẩn hiện” có tính toán, nếu quan hệ giữa Việt Nam và Vatican được thiết lập. Việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với một quốc gia (Vatican) mà quá khứ có nhiều ân oán, tình thù với nhau cũng là chuyện bình thường, vấn đề là những “điều kiện” mở đường cho nó sẽ ở mức độ nào giữa nhận thức chung trong mối quan hệ: “hai bên cùng có lợi”.

“Nếu cái “điều kiện” đó có thể đáp ứng lớn hơn mức bức tường mà hai bên có thể thỏa mãn thì việc tranh chấp vài miếng đất có thể coi “như có như không”. Đó là điều ai cũng nhìn ra, tuy nhiên ai là người sẽ “nhượng bộ” để đổi lấy những ích lợi cụ thể thì vẫn còn là một câu hỏi.

“Cần nói thêm, Trung Quốc vẫn chưa mặn mà với việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Vatican, vì gần như Trung Quốc đã làm được cái việc tách Giáo hội Công giáo Trung Quốc ra khỏi Vatican trong thế độc lập tương đối.

“Điều đáng chú ý, ngoài ý tứ quyết “sống mái” của TGM Ngô Quang Kiệt: “nhất định đòi Tòa Khâm sứ” (bất chấp sự thật lịch sử là mảnh đất đó được cướp từ đất chùa, bất chấp dư luận xã hội trong đó có phản biện của Phật giáo) là việc “đòi hỏi việc nhà cầm quyền cũng như dân tộc ghi nhận đóng góp của Giáo hội cho đất nước”. Cũng là “đòi” cả thôi nhưng ở hai cấp độ khác nhau.

“Đòi đất kiểu “quyết liệt” như TGM Ngô Quang Kiệt đích thực là bề nổi, nhưng không phải không có chủ ý lấy “gân” thử “gân” và cái “đòi” ấy là rất cụ thể. Còn việc “đòi hỏi việc nhà cầm quyền cũng như dân tộc ghi nhận đóng góp của Giáo hội cho đất nước” mà Linh mục Bùi Thượng Lưu nói tuy to tát nhưng rất thiếu tế nhị, nếu không nói là tự nhận mình ở cái thế “bên lề”.

2.- Chuyện đòi đất

Về chuyện đòi đất, bài báo lý luận như sau:

“Khi nói đến từ “đòi” người ta thường liên hệ đến việc bị lấy mất, bị xâm chiếm. Nhưng không ai lấy mất những “đóng góp” của Giáo hội Công giáo Việt Nam cho đất nước mà phải đòi. Khi đòi “dân tộc” phải ghi nhận đóng góp ấy, liệu có “đòi” dân tộc và cụ thể là Phật giáo phải quên đi những di sản văn hóa chùa chiền, đình miếu bị chính sách đồng hóa hủy diệt không?

“Dĩ nhiên, trên khắp thế giới, thời nào cũng thế, nhà cầm quyền, những người lập ra chế độ chính trị, chính sách, hiến pháp, pháp luật, quân đội, nhà tù được toàn dân nhất trí (theo tiêu chí phổ thông đa số thắng thiểu số) họ có quyền lực cao nhất để “hướng dẫn xã hội”.

“Đó là cái thế “cầm quyền” của họ, họ “lấy” bằng cách gì và họ “trả” như thế nào với những tài sản tôn giáo, phi tôn giáo cũng là cái thế cách “cầm quyền” của họ, và điều đó không phải không có ý nghĩa trong những thời điểm lịch sử nhất định.

“Công giáo Việt Nam từ trong lịch sử đã “cưỡng chiếm” biết bao nhiêu chùa chiền của Phật giáo một cách bất hợp pháp, ai là người sẽ đòi món nợ ấy với họ?

“Hiện tại, Công giáo Việt Nam chỉ là một tổ chức trong một quốc gia và phải chịu qui định bởi luật pháp của quốc gia ấy. Trong ba cơ sở mà Công giáo có ý định “đòi” (“bề nổi”, “ẩn hiện”) thì có đến hai cơ sở là di sản Phật giáo từng bị cưỡng chiếm và phá hủy rồi xây lên đó những nhà thờ (Tòa khâm sứ cũ và đất La Vang).

“Nếu nói một cách “công lý” và “công bằng” thì Công giáo Việt Nam nên suy nghĩ nhiều hơn về điều này, không nên tiếp tục khơi lại những vết thương đau của lịch sử dân tộc.

“Không phải ngẫu nhiên vụ cầu nguyện đòi đất Tòa Khâm sứ nổ ra và có phản ứng dây chuyền trên khắp cả nước. Bởi một động thái tôn giáo của nhà nước trước đó được xem là “bất lợi” cho tiến trình phát triển của Công giáo Việt Nam chính là trong mùa Phật đản năm 2007, Nhà nước tuyên bố đăng cai tổ chức Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc.

“Tâm lý lo ngại có thể bị rơi ra khỏi sự quan tâm đã chuyển sang thái độ phản ứng “đòi” đất. Tuy nhiên, tất cả sự “ẩn hiện” đó đều hy vọng vào một khả năng duy nhất “thúc ép” Việt Nam “bình thường hóa” với Vatican.

“Có thể vụ cầu nguyện đòi đất chỉ là một bức màn của một sân khấu đã được đạo diễn sẵn, nhằm đẩy Chính phủ Việt Nam vào một thế bí đối với dư luận trong và ngoài nước: “cướp đất”, “đàn áp tôn giáo”, “vi phạm nhân quyền”…

“Sau đó chính Vatican lại can thiệp và làm cho sự việc lắng dịu. Sức mạnh “can thiệp” đó nhằm vào một chủ đích lớn hơn, bởi gần như sức ép dư luận “quốc tế” mà Vatican có khả năng chi phối là rất nặng kí. Kế sách vừa đánh vừa nhử, lùi một bước tiến ba bước quả là ngoạn mục…”

MỘT VÀI NHẬN XÉT

I.- Phần phân tích về mục tiêu cuộc đấu tranh của giáo dân Hà Nội

Về sự “ẩn hiện” có tính toán của Giáo Hội Việt Nam trong việc đòi đất chúng tôi xin miễn bàn vì không có bằng chứng xác thực.

Còn về việc Linh mục Bùi Thượng Lưu nói rằng “Giáo hội đòi hỏi là việc nhà cầm quyền cũng như dân tộc ghi nhận đóng góp của Giáo hội cho đất nước”, chúng tôi thấy có sự xuyên tạc. Chúng tôi tin rằng Linh mục Bùi Thượng Lưu không có ý nói nhà cầm quyền cũng như dân tộc phải ghi nhận đóng góp của Giáo hội cho đất nước, trái lại Linh mục muốn nói lên ước mong của Giáo Hội Việt Nam là nhà cầm quyền để cho Giáo Hội được góp phần vào việc xây dựng đất nước, đặc biệt là trên các lãnh vực bác ái, giáo dục và văn hoá. Hiện nay, nhà cầm quyền đã nới rộng phạm vi hoạt động bác ái của Giáo Hội, nhưng vẫn không cho tham gia vào lãnh vực giáo dục và văn hoá. Điều này sẽ gây thiệt thòi lớn cho dân tộc, nhất là cho thế hệ tương lai.

II.- Về chuyện đòi đất

Chúng tôi xin đưa ra một số nhận xét vắn tắt.

(1) Vấn đề quyền đặt ra luật pháp của người cầm quyền: Chúng tôi đã nói nhiều lần, khi từ bỏ “xã hội chủ nghĩa” để đi vào xã hội văn minh, những điều khoản của luật man rợ hay luật ăn cuớp như luật cải cách ruộng đất và luật nhà đất hiện nay phải được hủy bỏ. Trong văn thư gởi nhà cầm quyền ngày 12.10.2002 Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã trình bày nhiều vấn đề cần được sửa đối, trong đó có khoản yêu cầu “xóa bỏ những luật lệ bất công và những biện pháp trái với luân thường đạo lý trong truyền thống văn hóa của dân tộc, vì lẽ đây là những cơ chế và biện pháp làm tha hóa con người. Cơ chế xin-cho là một điển hình về luật lệ bất công.”

Vã lại, với luật pháp hiện tại, chính nhà cầm quyền không tôn trọng, làm cả giấy tờ giả để cướp đoạt tài sản của dân chúng, làm sao đòi hỏi người dân không được chống lại những sự bất công được?

(2) Về chuyện Công Giáo cướp đất: Chúng tôi đã trình bày nhiều lần, nhưng nhà cầm quyền cứ cho lặp đi lặp lại để đánh lừa dư luận.

(3) Vấn đề ghen tức vì chính phủ đăng cai tổ chức Vesak 2007: Đây là chuyện ít ai tưởng tượng nổi. Các cơ quan truyền thông hải ngoại cũng như nhiều tổ chức Phật Giáo đều lên tiếng tố cáo chính quyền bày trò lừa bịp này để chứng minh cho thế giới rằng Việt Nam thật sự có tự do tôn giáo. Nhưng cái trò ma giáo này không đánh lừa được ai.

Nhìn chung, gần như bài nào cũng lặp lại luận điệu vu khống Giáo Hội Công Giáo đã cướp đất và cướp chùa Phật Giáo để lôi kéo tín đồ Phật giáo đứng về phía chính quyền và đánh lạc hướng những sự sai lầm, độc đoán và vi phạm luật pháp của các viên chức chính quyền.

Nhưng như chúng tôi đã nói ngay từ đầu, những biện pháp hạ sách mà Đảng và Nhà Nước đang áp dụng để ngăn chận phong trào chống lại sự chiếm đoạt bất công tài sản của dân chúng sẽ không giải quyết được gì. Dư luận trong và ngoài nước không bao giờ tin vào những luận điệu tuyên truyền bịp bợp mà chính phủ đang cố gắng đưa ra, kể cả những bài “Nam Mô A Di Đà Phật” trên trang nhà phattuvietnam. net, vì các thông tin khác đã cho mọi người biết sự thật.

Muốn từ bỏ “xã hội chủ nghĩa” và hội nhập vào xã hội văn minh, cần có những đối thoại thẳng thắng và chân thành để giải quyết các khó khăn còn tồn động và đưa đất nước đi lên.

Về phía Công Giáo, chúng tôi xin nhắc lại: Trong bài giảng tại Santiago de Cuba hôm 24.1.1998, Đức Giáo Hoàng John Paul II đã nhấn mạnh: “Giáo Hội, hiện diện giữa lòng xã hội, không nhằm đi tìm bất cứ hình thức quyền hành chính trị nào khi thực hiện sứ mạng của mình; Giáo Hội chỉ muốn là hạt giống phát sinh những thiện ích của mọi người bằng sự hiện diện của mình trong các cơ cấu xã hội…”

Lữ Giang

http://vietcatholic.net/News/Html/58280.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Hình Ảnh Phật Tử Chân Chính Ở Santa Ana Biểu Tình Phản Đối Ma Tăng Gây Quỹ “Về Nguồn”

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 10, 2008

VNNB – đăng lúc 04:44PM, 09/07/08

Hình Ảnh Phật Tữ Chân Chính Ở Santa Ana Biểu Tình Phản Đối Ma Tăng Gây Quỹ “Về Nguồn” .

Sunday, September 7, 2008 5:45 AM.

BIỂU TÌNH PHẢN ĐỐI GÂY QUỸ VỀ NGUỒN

CHIỀU THỨ BẨY 06 THÁNG 9, 2008

 

Ma tăng Thiện Hương bị cảnh sát đuổi vào vì có hành vi gây hấn với đoàn biểu tình.


Nhận được tin, phóng viên Khuôn Hội GG có mặt ngay chùa Bát Nhã 803 S. Sullivan St, Santa Ana


 Lối vào mặt tiền khuôn viên hang ổ Về Nguồn, như là một thách thức cộng đồng Nam Cali, có nhân viên trật tự soát vé ra vào. Ôi cửa thiền luôn rộng mở là thế đó !


 

Giờ khai mạc đã qua lâu rồi, các em đang múa hát, nhưng sao bàn vẫn trống trơn ! Ôi tiệc Về Nguồn sao mà buồn thế !!


 

Cổng ra khỏi hang ổ Về Nguồn một chiều nhạt nắng


 

Chiếc pick up truck yểm trợ biểu tình với tấm bill board sư Giác Nhiên xếp hàng thăm lăng “boác”


 

 Sáng kiến độc đáo: loa cầm tay tự chế bằng cách ghép các ly nhựa, người biểu tình nầy vừa kêu gọi,vừa thu hình.


 

(hãy lưu giữ những bức hình nầy làm tãi liệu tham khão trong quá khứ). Một góc hình ảnh của đoàn biểu tình. Những hình ảnh nầy lôi cuốn những kẻ hiếu kỳ, kể cả người ngoại quốc, khiến nhân viên phụ trách phải hết hơi giải thích. Một tấm bìa dày do một người biểu tình đứng cầm


Một góc ảnh khác của đoàn biểu tình liệt kê các khuôn mặt dị giáo. Không hiểu sao những ma tăng nầy vẩn dày dạn trơ trẻn nói cười


Lại một tấm bìa khác dựng tại một bức tường khiến người qua lại không khỏi trầm trồ. Một người biểu tình giải thích mục đích với một nữ Phật tử dự định tham dự tiệc gây quỹ Về Nguồn, hiểu ra, người nầy cám ơn và bỏ về


Đúng là tự phát, người biểu tình nầy kể lại là ông ta tự bỏ tiền túi ra thực hiện tấm bìa nầy


 Một góc cạnh cảm động của đoàn người biểu tình, những người ăn cơm nhà, vác ngà voi, miệt màđấu tranh chống ma tăng, bảo vệ GHPGVNTN


Vì đạo pháp, vì dân tộc, những Phật tử chí thành nầy không quản ngại nắng cháy da, một lòng bảo vệ chánh pháp


Đoàn thanh niên Phật tử Bát Nhã ùa ra kéo sư Thiện Hương vào vì sư có hành động kém dân chủ, lấy ba toong đập vào tấm bìa của người biểu tình, miệng không ngớt chữi thề. Sư nên học chữ nhẫn với các em đi !


Người đi tham dự tiệc “Về Nguồn” (hang ỗ cs nằm vùng) lèo tèo quá, trái lại người hiếu kỳ kéo đến ngày càng đông, khiến đoàn biểu tình hăng hái hô to các khẩu hiệu chống đối.


Nữ Phật tử Bác Sĩ Nha Khoa Đàm Bảo Kiếm, trong một chiều nhạt nắng.


 

Một Nữ Phật tử đứng bất động sau khi chứng kiến các hình ảnh trưng ra của đoàn biểu tình 


Đặc phái viên Tâm Pháp của Khuôn Hội Garden Grove, đang trực tiếp tường trình quang cảnh cuộc biểu tình tự phát trước hang ổ (VC) Về Nguồn


 

Mặt trời đã xế thấp, bóng ngã càng dài, nắng vàng báo hiệu ngày sắp tàn, mặc …. ta cứ biểu tình !


Cảnt sát Santa Ana rút lui dần vì đoàn biểu tình biết tôn trọng luật, không như sư đầu đàn Thiện Hương trong hang ổ Về Nguồn cứ muốn xông ra choảng nhau với dân biểu tình, theo kiểu công an đánh dân oan


 

Trẻ em Mễ hiếu kỳ, ủng hộ đoàn biểu tình, la chộ cảnh


Chiếc pick up truck vẫn nhẫn nại chạy tới lui trước cổng chùa Bát Nhã với hình ảnh sư Nhất Hạnh (mặt bên nầy bill board) bệ kiến chủ tịch nước VC


Bên kia đường, trước hang ổ cs nằm vùng, hai Phật tử say sưa bàn luận tình hình ma tăng


Sư nữ Diệu Thái, chánh thủ quỹ Về Nguồn, vội quay lưng, khi thấy máy ảnh dơ lên.


Chiếc “nón lá Huế chống cộng” trong ánh dương tà ! 


Chiếc xe van của quý sư cô đậu chờ khi nắng còn lên cao, giờ mặt trời xụp, một sư cô vội vả mở cửa hông. lấy một tấm khung có khánh vàng leo xuống.


 Mặc dù trời đã nhá nhem, nhưng sư cô vẫn cẩn thận, dùng khăn lam che mặt, hấp tấp mang khung có khánh vàng, rảo vội về chùa.


Nhưng sư cô vẫn che mặt cầm khánh vàng quay về thọ tội với sư bà đang ngồi chờ trên xe. Sư Cô không thể vào chùa được vì vào là Bất Hiếu với Đại Lão Hòa Thượng đang bị lao khổ trong gọng kềm của Cộng sản !!!

http://www.vietnamdaily.com/index.php?c=article&p=45794

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

BỨC THƯ NGỎ : Cảnh Giác Ma Tăng

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 10, 2008

BỨC THƯ NGỎ : Cảnh Giác Ma Tăng

Tâm Linh – đăng lúc 08:33AM, 09/07/08

BỨC THƯ NGỎ

Quý Phật Tử Thân mến,

Cộng Sản Việt Nam muốn tiêu diệt Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ở trong và ngoài nước. Vậy Phật Tử phải sáng suốt nhìn rõ chân tướng tu hành để khỏi vướng vào tội lổi. Đối với Phật Giáo Việt Nam, đây là thời kỳ mạt Pháp, tôi không nói tới Phật Giáo của các quốc gia khác trên thế giới, mà tôi chỉ nói tới Phật Giáo Việt Nam trong và ngòai nước đã do thế lực chính trị của Cộng Sản xen vào, thêm vào đó, một số các Chư Tăng không có “Trí Tuệ Bát Nhã của Phật nên bị Cộng Sản mua chuộc dẩn đi theo con đường lạc đạo, ma chướng, mà không thấy, hay giả vờ không thấy, đưa đến chổ Thầy chống Thầy, Phật Tử chống Phật Tử, rồi Đạo Phật chống Đạo Phật, để cho Cộng Sản hát khúc khải hoàn ca.

Hình bóng uy nghi của người Phật Tử được thể hiện qua ba đức tính, mà ba đức tính đó phải quyện vào nhau như hình với bóng đó là “Bi-Trí-Dũng” Vậy “Bi” là thương xót, thương tâm. Trí là Khôn ngoan, hiểu biết có đạo đức. Có nhiều người có trí nhưng vô đạo đức. Dũng là dũng cảm, dũng khí, can đảm, vô úy có nghĩa không sợ hải. Đa số Phật Tử học và hành chử “Bi” rất nhiều, nhưng đã bỏ quyên chử “Trí và Dũng”, cho nên quý vị không hưởng được phước đức đầy đũ còn đưa Giáo Hội PGVNTN đến chổ suy thoái. Ví dụ: Cộng Sản Việt Nam gởi ra nước ngoài một ông thầy gốc Công An như Thích Nhật Từ chẳng hạn, mặc áo Cà Sa, và được huấn luyện rất kỷ càng để hoạt dộng, tuyên truyền những âm mưu dối gạt của Cộng Sản, dựa trên giáo lý của Đức Phật, ông ta giảng cho Phật Tử rằng: Phật Tử cố gắng lo tu cho mình, mổi ngày cứ lo niệm Phật, đừng để ý tới người khác, đừng nói xấu người khác, mình nói xấu người khác là có tội. Phật Tử lắng lòng nghe răm rắp, khen Thầy giảng đúng và hay quá, bao nhiêu tiền trong túi móc ra cúng dường cho Thầy hết. Vậy là Thầy ôm được mớ tiền đem về nước tiêu xài hã hê, rồi Cộng Sản bắt bớ Chư Tăng, và đàn áp các vị Chánh Đại Diên thuôc GHPGVNTN, phá Chuà, sách nhiểu các Phật Tử, trong lúc đó ở hải ngọai thì lo tu cho mình không lên tiếng, không cảnh giác, ai chết mặc ai, cứ nghỉ mình nói ra là có tội. ai làm chi thì mặc họ. Ôi!! Thầy dạy đúng sách vở của Đảng.

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, hay Giáo Hội Quốc Doanh của nhà nước Cộng Sản, nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc, mà Mặt Trận Tổ Quốc nằm trong Đảng Cộng Sản Việt Nam là Đảng giết người, lường gạt, láo khoét, bóp cổ người dân để bọn chóp bu Chính Trị Bộ vơ vét bỏ túi và tận hưởng. PGVN là bức bình phong làm tay sai cho Cộng Sản, để chúng ban cho một chút lợi lạc, để rồi Cộng Sản vin cớ phô trương ra hải ngoại là trong nước có tự do tôn giáo, trông như một lớp sơn hào nhóang bên ngoài để che mặt Quốc Tế về mặt ngọai giao.

Nếu qúy Phật Tử đã hổ trợ cho một vị Tăng làm việc sai trái chống lại GHPGVNTN, tù đày và quản chế hai vi Cao Tăng suốt gần ba mươi năm nay, chẳng khác nào quý vị hổ trợ cho một tên giết người, mà ông ta thiếu tiền để rèn giao cho sắc bén, tới xin quý vị giúp đỡ, qúy vị sẳn lòng, như vậy đã vô tình mà giúp cho kẻ sát nhân. Vậy quý vị đã tốn tiền mà qúy vị không có một chút phước đức nào cả, dù rằng qúy vị có tâm Từ Bi thương người, giúp đỡ kẻ khó, làm nhiều việc thiện, gọi là bố thí, nhưng than ôi qúy vị đã giúp lộn người, vì thiếu sự sáng suốt, (Trí Tuệ) không biết người xin tiền ở từ đâu, Thầy thiệt hay Thầy giả, do đó, Phật Tử có “Bi” mà không có “Trí” và “Dũng”, không biết nhận xét, không giám nói lên sự thật, cho nên qúy vị đã lâm vào tội lổi, vì đã giúp cho người làm việc bất lương, cho nên chữ “Bi” cuả quý vị bị trừ đi hết cả, kết cuộc phước đức cuả qúy vị chỉ còn lại con số “KHÔNG” to tướng, mà trong lòng qúy vị cứ nghĩ rằng mình có nhiều phước đức lắm.

Hiện nay Ma Tăng cũng như Phật Tử thiếu trí tuệ Bát Nhã, bạ đâu theo đó, ở Hải ngoại nhiều Phật Tử đã hổ trợ cho nhóm Về Nguồn, nối liền với nhóm Già Lam ở trong nước của Thầy Tuệ Sỹ đánh phá Chư Tăng Chùa Chiền, Phật Tử thuộc GHPGVNTN, lại còn tung ra Giáo Chỉ số 9 giả, Di Chúc giả của Đức Cố Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang, còn tung tin Thầy Tuệ Sỹ lên thay Viện Trưởng Viện Hóa Đạo của Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ. Tại Hoa Kỳ hai ông Bạch Hoa Mai, và ông Nguyễn Châu không thuộc GHPGVNTN, mà cứ xưng danh Đại Diện Huynh Trưởng GĐPT. Trong ngày tang lễ của Đức Đệ Tứ Tăng Thống hai ông đến phá rối đám tang, tự tiện đọc Điếu Văn bị các Thầy và Phật Tử giử an ninh ở Tu Viện Nguyên Thiều đuổi đi. Còn Chư Tăng hải ngọai có một số theo nhóm về nguồn sang họp ở Canada năm rồi, chống lại GHPGVNTN, chống lại Giáo Chỉ số 9 của Đức Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang. Trong danh sách ở tại Miền Bắc California có Hòa Thượng Nguyên Lai Chùa Hồng Danh, và Thượng Tọa Thích Nhật Huệ Chùa Duyên Giác tham dự. Thật đau buồn cho Phật Tử ở San Jose.

Phật Tử nên cảnh giác mổi khi Phật Tử nghe Chư Tăng đến San Jose giảng Pháp, Phật Tử nên biết, Chư Tăng Ni đó từ đâu đến và thuộc Giáo Hội nào. Các nhóm Gia Đình Phật Tử cũng vậy, nếu biết họ chống lại GHPGVNTN, xin qúy Phật Tử không đến, không hổ trợ, không cúng dường. Đức Phật đã dạy rằng : Theo ta mà không hiểu ta là phản lại ta” Chư Tăng cũng như Phật Tử, hiểu Phật chưa đũ, mà phải “hành” theo chánh pháp của Đức Phật, không vì vật chất, đố kỵ, mà bị lôi cuốn vào thế tục, bảo mình là Phật Tử, nhưng không hiểu Giáo lý Phật dạy như thế nào, nên thực hành sai trái, hổ trợ cho ma vương, để chống lại Đạo Pháp chân chính, là GHPGVNTN đã đựơc truyền thừa từ 2000 năm qua, dưới sự nối tiếp lảnh đạo sáng suốt của Đức Đệ Tứ Tăng Thống Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang vừa mới viên tịch do âm mưu của Cộng Sản trong Bệnh Viện Quy Nhơn, mà cả thế giới đều biết.


Đại Lão Hòa Thượng Thích Qủng Độ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN bị tù dày và quản chế suốt 28 năm qua.

Đức Phật dạy cho Phật Tử rằng : tại gia đình con cái kính trọng cha mẹ tức là kính trọng Đức Phật vậy.Tại sao các Chư Tăng lại quay đầu ngoảnh mặt, để chống lại các vị Bổn sư của mình, chẳng khác nào là hổn láo với cha mẹ mình, vậy thì tu hành ở đâu?.hiếu thảo ở đâu? lễ nghĩa ở đâu?. Là người Phật Tử phải biết như thế để chọn lựa Chư Tăng mà tu học.

Đã là Phật Tử, nhưng không khâm tuân Giáo Chỉ số 9 của Đức Cố Đệ Tứ Tăng Thống, không thi hành chỉ dẩn của Hòa Thượng Viện Trưởng, thì các Phật Tử đó từ đâu ra, và họ đã và đang phản bội, chống lại GHPGVNTN. Họ sẽ xuống địa ngục, ngạ quỉ và súc sanh.

Hơn lúc nào hết Phật Tử phải sang suốt, dùng Tuệ Giác trước, sau đó mới đem tâm từ bi của mình ra để giúp đỡ và bố thí, và Phật Tử luôn luôn cảnh giác gian tà, để đi theo con đường chánh đạo, để Phật Giáo được trường tồn, quê hương được an lạc, không còn ma vương lạc đạo, để chúng sanh được giải thoát ra khỏi luân hồi.

Tâm Linh.

http://www.vietnamdaily.com/index.php?c=article&p=45788

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Video: Ông Chủ tịch Cộng Đồng CGVN giáo phận Orange và giáo dân phát biểu về Thái Hà

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 10, 2008

Video: Ông Chủ tịch Cộng Đồng CGVN giáo phận Orange và giáo dân phát biểu về Thái Hà

VietCatholic News (Thứ Hai 08/09/2008 23:20)  

Video:

http://catholicvideo.org/VcatMedia/video/showvideo.aspx?video=80908Phamtac.wmv

ORANGE – Trong cuộc phỏng vấn với Ông Chủ tịch Ban Cháp Hành Cộng Đồng Công giáo Việt Nam tại giáo phận Orange, ông Phạm văn Tạc, Ông đã diễn tả nhận định của mình như sau: “Giáo phận Hà nội và giáo phận Orange giờ đã kết nghĩa, như vậy có ngĩa là những gì đang xẩy ra cho anh em của chúng ta ở Thái hà cũng có nhĩa là xẩy ra cho anh chị em Công giáo ở đây… Cộng đồng CGVN ở Orange đã tổ chức các buổi cầu nguyện để tỏ tình hiệp thông trong Giáo Hội. Và những gì xẩy ra ở Thái Hà bên Việt nam cũng chứng tỏ rằng Giáo hội Việt nam vẫn còn đang bị bách hại, giáo hội thực sự chưa có tự do tôn giáo…

Bà Đặng Tuyết Hoa, người nguyên gốc Hà nội và hiện nay sống ỡ Burbank, Los Angeles cũng đã phát biểu rằng Bà rất quan tâm tới những sự việc xẩy ra ở Thái Hà và ngày nào bà cũng theo dõi vì những sự việc đang xẩy ra ở đó… Bà thấy đồng bào giáo dân của mình bị công an đáng chảy máu ra … thì rất đau buồn vì tình trạng như vậy… Chỉ biết xin Chúa thương cho những giáo dân còn đang bi bắt giữ không biết đã được về chưa!…

VietCatholic

http://www.vietcatholic.org/News/Html/58261.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Không Chào Cờ

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 10, 2008

Không Chào Cờ

(Trích đăng nguyệt San Con Ong Việt số 96 tháng 9, 2008, mục Mỗi Kỳ Một Chuyện Tào Lao của Trần Bì)

Tuần trước, tôi từ Cali. qua Virginia thăm một cựu đồng chí, cũng thuộc loại “chạy làng” đảng Cộng Sản Việt Nam. Chúng tôi đang phàn nàn về việc đảng ta cho in bản đồ Việt Nam để công bố cho thế giới và để làm tài liệu giáo dục, thấy phần biển Việt Nam trống trơn, các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa không thấy vẽ vào? Như vậy đảng ta đã chính thức dâng đất, dâng biển, dâng đảo cho Trung Quốc vĩ đại để bảo vệ sự sống còn của đảng Cộng Sản Việt Nam. Từ thời Hồ chủ tịch cho đến các tổng bí thư sau nầy, đã chủ trương, tuy không thành văn bản, nhưng phải triệt để nằm lòng là “Thà mất nước chứ không mất đảng” (Cộng Sản Việt Nam). Vì đảng Cộng Sản là đảng quốc tế, nước Việt Nam có sát nhập vào nước Trung Quốc vĩ đại thì cũng là của đảng Cộng Sản quốc tế, chứ mất đi đâu mà lo!

Thời đồng chí tổng bí thư Đỗ Mười, có lần qua thăm hữu nghị Trung Quốc có đề nghị đảng Cộng Sản Trung Quốc làm lãnh tụ, các đảng Cộng Sản anh em như Đảng Cộng Sản Việt Nam, Cu Ba, Bắc Triều Tiên sẽ là vệ tinh, cùng nhau bảo vệ, phát triển đảng, phản công bọn tư bản, hoàn thành sự nghiệp giải phóng các dân tộc trên khắp thế giới. Đảng Cộng Sản Trung Quốc hoan hô sáng kiến đó, đồng chí Đỗ Mười, muốn chứng tỏ quyết tâm thể hiện “tinh thần vô sản quốc tế”, bèn trình ra một kiến nghị mà đảng Cộng Sản Việt Nam đã soạn sẵn là xác nhận biên giới phía Bắc Việt Nam sẽ lùi lại khoảng mười ki lô mét về phía Nam. Như vậy Trung Quốc được đảng ta “dâng” cho Trung Quốc vĩ đại trên mười nghìn cây số vuông. Đồng thời đồng chí tổng bí thư Đỗ Mười còn tái xác nhận bờ biển Việt Nam cũng lùi vào gần thềm lục địa và như vậy các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc vĩ đại đúng như văn bản xác nhận của đồng chí thủ tướng Phạm văn Đồng năm 1959.

Trong lúc hai chúng tôi đang hoan hô lời dạy của bác Hồ “Thà mất nước chứ không mất đảng” thì có một ông, tuổi trên năm mười bước vào ngồi nghe rồi cũng hoan hô rằng “nghị quyết 36” của đảng ta đang phát huy tác dụng. Chúng tôi nói rằng “Đảng ta tốn hàng trăm triệu Mỹ kim không phải để cho các đồng chí tình báo hải ngoại chia nhau mà thôi, mà còn chia cho các Việt kiều yêu nước “ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng Sản” nữa. Điển hình như ông hồng y Phạm Minh Mẫn không cho cờ vàng ba sọc đỏ trưng ra trong kỳ đại hội Trẻ ở Úc năm nay”. Tôi góp ý là đừng gọi ông Phạm Minh Mẫn là hồng y. Ông đã vì mấy triệu đô la, vì danh vọng mà bán linh hồn cho quỉ Cộng Sản rồi thì đượng sự không còn là một con chiên của Chúa nữa, nên gọi là Phạm Minh Mẫn thôi. Ông sồn sồn nầy còn bảo rằng nghị quyết 36 đã mua được một nhóm cựu sinh viên Thụ Nhân Đa Lạt, không biết mấy trăm nghìn đô la, nên trong một buổi đại hội quốc tế Thụ Nhân ở tiểu bang Virginia đã dẹp lá cờ vàng ba sọc đỏ, nghĩa là không chào cờ vàng ba sọc đỏ. Ông sồn sồn nầy cũng là cựu sinh viên Thụ Nhân nên lấy làm ân hận đã không tham gia ban tổ chức để chia chác, ít nhất cũng mấy chục nghìn đô xài đỡ. Ông ta bảo rằng có ông đồng môn đưa cho tờ giấy nầy, nội dung thắc mắc là vì sao trong đại hội, nơi công cộng mà không có chào cờ Quốc Gia? Tôi bảo “Nếu ông ta có chân trong ban tổ chức đại hội đó thì sẽ không thấy có gì đáng thắc mắc cả”.

Nội dung bản văn đó như sau:

Đại Hội Quốc Tế Mà Không Chào Cờ?

Tôi tên Thắng. Tối ngày 4 tháng 7 năm 2008, có đến dự buổi Đại Hội Quốc Tế Thụ Nhân năm 2008 (The “Thu Nhan Internationnal Grand Reunion 2008”) tại Fairview Park Marriott Hotel 3111 Fairview Park Drive Falls Church Virginia 22042.

Trước giờ khai mạc đại hội, tôi ra ngoài sân hút thuốc, khi đi vào, tôi thấy ở hành lang, trước cửa phòng đại hội có năm, sáu người đang nói chuyện, vẻ mặt rất căng thẳng. Hai người thấp, nói giọng Bắc, một người cao, nói giọng Nam (tôi không rõ tên), đang nói chuyện với một cô mặc áo vàng, rất đẹp, tôi hỏi mới biết, cô làm ở cơ quan truyền thông tiếng Việt nào đó. Tôi đến gần và nghe được (đại ý như sau):

“Tại sao khai mạc đại hội thế giới ở một nơi công cộng mà lại không có chào cờ. Cờ Mỹ cũng không, cờ Việt Nam Cộng Hòa cũng không? Đó là cố ý chứ không phải vô tình mà Ban Tổ Chức quên, vì bao giờ khai mạc buổi lễ nơi công cộng đều có chào cờ và mặc niệm. Đây chỉ thấy ông trưởng ban tổ chức Huỳnh Trung Trực mời mọi người đứng lên “một phút mặc niệm những cựu sinh viên Thụ Nhân đã chết…” mà không có chào cờ. Tôi có hỏi ông trưởng ban tổ chức Huỳnh Trung Trực “Tại sao không chào cờ vàng ba sọc đỏ? Các anh chị có biết. Các anh chị sinh ra, lớn lên dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ăn hạt cơm của người dân Việt Nam Cộng Hòa cày cấy, được giáo dục bởi các cô thầy Việt Nam Cộng Hòa. Trong khi các anh chị nhởn nhơ, vui thú cắp sách đến trường để nên người trí thức thì có biết bao nhiêu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa ngã gục ngoài chiến trường để bảo vệ cho các anh chị được an toàn, thoải mái, sung sướng đi học?

Nghị quyết 36 của Việt Cộng đã chi ra hàng trăm triệu đô la để mua chuộc, đánh phá cộng đồng người Việt tị nạn Cộng sản hải ngoại mà mục tiêu trước hết là tìm cách dẹp bỏ lá cờ vàng ba sọc đỏ. Lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng cho tự do, dân chủ, nhân quyền mà người Việt hải ngoại và cả tám mươi triệu người dân trong nước đấu tranh để loại bỏ chế độ độc tài đảng trị, vô nhân, thối nát ra khỏi chính quyền? Ông Huỳnh Trung Trực nói với tôi rằng: “Anh không thích thì anh về”.

Tôi (người đứng nghe) không cho rằng ông Huỳnh Trung Trực ăn tiền Việt Cộng hay trong ban tổ chức có Việt Cộng nằm vùng xâm nhập đốc xúi. Ông Huỳnh Trung Trực là người có ăn học, ông qua Mỹ để tị nạn Cộng Sản chứ không phải là cán bộ của tòa đại sứ Việt Cộng qua Mỹ công tác, nên việc không chào cờ trong buổi Đại Hội Thụ Nhân Thế Giới tại khách sạn Merriott vừa rồi cần được ông giải thích trước cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản. Vì có thể đó là bước đầu (nếu cộng đồng không có phản ứng) tạo tiền lệ cho các tổ chức ăn tiền Việt Cộng làm theo.

Nhưng trước hết, xin quí báo gọi hỏi ông Huỳng Trung Trực ĐT: (703) 403-6636 để xác nhận có đúng như vậy không (?) trước khi quí báo cho biết quan điểm của mình.

Trân trọng kính chào.

Thắng

http://www.conongviet.com/

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Về những kẻ ngậm máu phun người

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 10, 2008

(Những vết bầm trên người dân oan Đặng Thị Thông do công an đánh)

Về những kẻ ngậm máu phun người

Trần Khải Thanh Thuỷ

Cho đến giờ phút này( 4 giờ chiều ngày 9-9-2008) đã có 7 người bị bắt vì cả gan bước chân đến nhà tôi , trong vòng vẻn vẹn 20 ngày (19-8 đến 9-9) . Tất cả những người đến này, dưới con mắt của công an đảng đều không tử tế gì. Bao gồm các ông: Nguyễn Kim Nhàn (dân oan Bắc Giang) Võ văn Nghệ (dân oan Thanh Hoá), Nguyễn Công Huân (dân oan Yên Bái) Đặng thị Thông( Dân oan Thái Bình), Nguyễn văn Minh (dân oan Đà Lạt), Nguyễn văn Chính (công dân Hà Nội), Nguyễn thị Huần ( dân oan Vĩnh Phúc)…dù họ đến vì bất cứ lý do gì, thăm hỏi, chuyện trò hay mua giúp tôi chai mật ong, túi cỏ ngọt, hoặc bắt mạch chữa bệnh, xoa bóp, bấm huyệt vì chứng bệnh đau đầu kinh niên của tôi. Khi ra về ( nhiều người chưa kịp vào nhà) đều bị túm lên đồn, và phải chịu những hành động vô cùng phi lý, là hạch sách vặn vẹo, quát tháo,

Nào:

-Có biết Trần Khải Thanh Thuỷ là một kẻ phản động từng bị bắt vào tù vì tội chống đảng, nhà nước không?

– Ai cho quan hệ với phản động hả?

– Có nhận tiền của phản động do Trần Khải Thanh Thuỷ đưa không?

-Quan hệ với phản động từ bao giờ ?

-Qúa trình tham gia phản động v.v

Hoặc:

– Định chống chính quyền hả, chống chính quyền là chúng tao đánh chết.

Rồi :

– Có phải nó bán sách trong nước không được nên mới phải vu khống bác hồ là nghìn tên trăm mặt để lấy tiền phản động không?

Khi những người này phản đối lại:

– Tôi không biết anh giữ cấp bậc gì nhưng các anh nói thế không được. Nếu chính quyền làm sai thì với trách nhiệm công dân, chúng tôi có quyền chống

Hoặc:

– Trần Khải Thanh Thuỷ không phải người phản động, mà ngược lại là nhà văn tiến bộ, được thế giới biết tới, đã từng cứu giúp dân oan, là người của dân oan

Và:

– Nếu các ông coi Trần Khải Thanh Thuỷ là phản động, phải cô lập, cách ly thì đề nghị các anh treo biển nói rõ tội phản động của Trần Khải Thanh Thuỷ, cấm không cho bất cứ ai, dù là dân oan, dân chủ, bác sĩ, thầy thuốc vào thì chúng tôi sẽ không vào, còn không dám đề biển cấm thì chúng tôi cứ đến

Những lý lẽ vô cùng xác đáng, thể hiện rõ quyền làm người, làm cứng họng lũ công an đảng tặc, song lập tức bị cái gọi là công an chửi rủa, lăng mạ bằng những lời lẽ vô cùng thất đức, vô văn hoá như :

– Câm mồm, vả cho vỡ miệng bây giờ.

Hoặc:

– Lại còn bao che cho phản động hả? Tao gang họng ra bây giờ

Thậm chí chị Nguyễn Thị Thông vì không chịu viết tường trình, không viết giấy cam đoan, còn bị cả chục thằng công an phường Đức Giang( không mặc sắc phục, không đeo biển hiệu cùng lũ đầu gấu( cả nam lẫn nữ) đánh đập dã man bằng cách đóng cửa, tắt đèn, nhảy vào giật tóc, cấu véo, dùng cán vợt cầu lông quật túi bụi xuống mặt, xuống đầu đến mức gây thương tích, đặc biệt một tên công an còn lợi dụng cảnh tranh tối tranh sáng, trong phòng bịt kín dùng gậy đánh vào đầu gối chị Thông, miệng không ngớt rủa xả:

– Đánh dập xương bã chè mày ra, cho mày hết cách đi gặp phản động

8 giờ tối, chúng mới thả chị về, sau khi không ép được chị ký vào biên bản sai ngoa, dối lừa, bịp bợm, phản động của chúng- một lũ chó của thời đại đồ đểu Hồ Chí Minh, chúng còn cử một nhóm thanh niên choai choai, tay lăm lăm hòn gạch đi theo để nếu chị có ấm ức quay lại nhà tôi, thông báo mọi việc để tôi kịp thời cấp báo sang hệ thống Báo đài hải ngoại thì sẽ ném gạch, hành hung chị…

Việc làm này của đảng cầm quyền cộng sản thật vô cùng lố bịch và trâng ráo, thể hiện một não bộ tối tăm, ngu dốt và cuồng tín …

Không cần phải là người am hiểu, từng trải, tất cả những ai phải sống trong lòng xã hội cộng sản bạo tàn đều biết rằng đảng sợ ngòi bút đanh thép của tôi cũng như sự ảnh hưởng sâu rộng của tôi trong quần chúng nên cố tình vu khống, bôi nhọ, triệt hạ người tốt, cam đảm như tôi, để xoá dần những ảnh hưởng của tôi với đám đông, đặc biệt vô hiệu hoá vai trò của tôi trong cộng đồng xã hội. Như con cua bò ngang trong lòng đảng, bị đảng cố tình bẻ càng, bẻ chân, để tôi không còn bò được nữa. Vì thế, tất cả những ai ra vào, qua lại nhà tôi đều bị đảng biến thành cộng sự của tôi, thậm chí rình canh cả ngày không chộp được ai, để bẩm báo, tâng công, lĩnh lương, xét thưởng, công an còn bắt cả ông xe ôm lên phường chỉ vì dám ngang nhiên đứng chờ khách ở ngõ dẫn vào nhà tôi, với tội danh dựng ngược: ” Làm liên lạc cho Trần Khải Thanh Thuỷ”.

Cánh đồng nát chuyên mua sách báo cũ, trông giống như những người dân oan các tỉnh lập tức lọt vào tầm nhắm của chúng và gây ra không ít cảnh dị thường, khi bắt họ cùng cả xe đạp cũ rách lên đồ phương trình diện.

Càng làm những chuyện đồi bại , đảng càng trở thành lố bịch, hèn kém trước mặt dân, làm cho dân không những không sợ mà càng đứng về phía tôi hơn. Hơn nữa đảng thừa biết rõ sức mạnh của tôi nằm ở ngòi bút, ở ngôn ngữ, nên cho dù đảng có bắt hết được những người ra vào nhà tôi phải sợ, không bao giờ dám có ý nghĩ quay lại nhà tôi nữa , thì cũng không thể nào dập tắt được những tiếng nói trung thực của tôi. Giữa thời đại công nghệ thông tin hiện đại, trò của đảng qúa xưa rồi , đảng thu phương tiện làm việc này, bà con gửi tiền về để tôi mua phương tiện làm việc khác. Đảng cắt internet lần này, tôi khôi phục lần khác bằng nhiều cách, cốt để thông tin được với thế giới bên ngoài, thu giữ điện thoại của tôi thì anh em , tổ chức gửi tiền về để tôi mua lại lần khác, đảng đánh tôi một, bà con giơ lưng, xoè tay đỡ cho tôi hai. Cho đến nay đảng đã lộ rõ bộ mặt cướp của mình bằng cách tràn vào nhà tôi thu gĩư trắng trợn 4 máy vi tính, hàng chục ổ USB, hai máy Scan, 6 điện thoại di động , hàng chục đĩa mềm, đĩa CD v.v trị giá hơn 100 triệu đồng, vậy mà vẫn không hề đạt được mục đich của mình, không làm sao bắt tôi phải sống trong nghèo khổ, bất hạnh được , ngược lại, một điều nhỡn tiền là càng đánh tôi và các nhà dân chủ, người bất đồng chính kiến, tội ác của đảng càng được lưu giữ trong bộ nhớ của bà con trong và ngoài nước, còn nỗi đau của tôi được cả cộng đồng cưu mang, chia xẻ. Đảng làm mọi cách để bịt miệng tôi, thì bà con kiều bào bằng mọi cách giúp tôi cất cao tiếng nói, và thế là như một con rối trên vũ đài chính trị, lũ công an đảng chỉ làm xấu đi hình ảnh đảng trong mắt công chúng, hoàn toàn là tác dụng ngược. Bắt tôi thì lại như Lê thị Công Nhân, Lê thị Kim Thu, bị hết tổ chức nhân quyền này, trung tâm nhân đạo kia để ý, mà không bắt tôi , thì đảng phải dùng đủ thủ đoạn baì bây để cản trở gây khó dễ cho tôi , để tôi vì ươn hèn, sợ hãi mà phải bỏ bút. Song điều ấy là không tưởng, đảng biết rõ con người tôi, chỉ biết phục tùng cái thiện vô điều kiện, nếu đảng đi theo con đường chính nghĩa thì đảng không cần lôi kéo, thuyết phục, tôi cũng theo, ngược lại đảng biết rõ đảng và lũ công an dưới quyền đảng chỉ chuyên làm những việc bạc ác, hại người, “làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền” nên không thể nào thu phục được lương tâm, không thể nào bắt một người như tôi sợ hãi được, và tất cả gậy của đảng đánh vào tôi lại dội xuống đầu đảng mà thôi .

Để lột tả một phần bản chất của đảng trong việc vu vạ, bôi xấu tôi, tôi xin trích dẫn bài viết của tác giả Trần Hùng, một cư dân – và là một nhà giáo đã về hưu tại Hải Phòng :

Thưa ông giám đốc đài truyền hình Việt Nam,`

Tôi đã già, đã sống gần hết cuộc đời dưới chế độ cộng sản. Tôi nghe đài báo, xem ti vi của chính phủ đã nhiều. Tôi thấy ngày nay dân trí đã cao, thông tin đến với người dân không còn một chiều như trước. Cho nên mỗi thông tin về phương diện chính trị của quý vị luôn đặt ra cho người nghe, người đọc những câu hỏi lớn. Đỗ Thành Công có phải là kẻ khủng bố không? Luật sư Đài và Lê Thị Công Nhân hoạt động dân chủ có phải vì tiền không? Nữ sỹ Trần Khải Thanh Thuỷ viết bài miệt thị đảng, chế độ cộng sản, công an của đảng có phải vì mỗi bài được trả 30 USD không; hay vì cái gì khác?

Biết tôi viết thư gửi ông, một người bạn có suy nghĩ này nhờ tôi gửi kèm : vì báo chí đều của đảng cộng sản nên bạn tôi khẳng định các ông toàn đưa tin vu khống bậy bạ về những người hoạt động dân chủ, nhân quyền; vì những người đó đối lập với đảng cộng sản. Cái trò vu khống bậy bạ trên chỉ có thể lọt tai các ông chứ không thể lọt tai bạn tôi. Ngậm máu phun người ta, không biết quần áo người ta có bẩn không nhưng trước hết là mồm mình bẩn đã! Không chỉ mồm của đảng cộng sản Việt Nam có máu mà từ 6 chục năm tiếm quyền, tay của đảng cộng sản Việt Nam đã vấy máu. Dùng học thuyết chuyên chính vô sản để trị nước thì rõ là máu người dân phải nhuộm từ gan ruột của đảng ra đến tay chân. Cải cách ruộng đất là máu ai? “giải phòng miền Nam” là máu ai? Học tập cải tạo đối với quân-dân-chính chế độ Việt Nam cộng hoà là máu ai?

Bây giờ với linh mục Nguyễn Văn Lý, luật sư Nguyễn Văn Đài, luật sư Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thuỷ và nhiều nhà đấu tranh dân chủ khác, bàn tay của đảng cộng sản Việt Nam lại còn muốn vấy máu tiếp nữa. Đài báo ti vi các ông lại còn ngậm máu phun người tiếp nữa. Với chúng tôi, những nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền là những vị anh hùng. Họ đã nhận ra con đường phải đi của dân tộc sớm hơn chúng tôi, họ dũng cảm hơn chúng tôi. Chúng tôi kính phục họ. Chủ nghĩa cộng sản độc tài toàn trị đẻ ra các vị thì lý tưởng dân chủ pháp quyền phải đẻ ra họ. Các vị là hiện tại đen tối của dân tộc. Họ là tương lai của đất nước. Ngậm máu phun người thì mồm mìmh bẩn. Gieo gió ắt gặt bão. Xem

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=59718  

Người xưa bảo: “Đã là hảo hán thì tất phải có kẻ thù”. Kẻ thù của tôi chính là đảng cộng sản dốt nát, đui mù chuyên quyền độc ác. Kẻ chuyên gây ra cho dân tộc Việt Nam những điều bất hạnh khốn khổ nhất. Cho dù đảng có ngậm máu phun người thì miệng đảng càng hôi tanh và tôi càng chống đảng đến cùng. Đơn giản vì không cần phải là một nhà văn tôi cũng nhận thức được điều này: Ở đâu có cộng sản, ở đó không có chính nghĩa, không có tự do dân chủ, không có tự do tôn giáo. Vì vậy còn hoà hợp với cộng sản là bản thân mình tự sát, là cả dân tộc không đất sống

Hang đá 11/9/2008

TKTT

Hội viên hội văn bút quốc tế

Kẻ “Suy đồi đạo đức, làm tay sai cho lưu vong phản động nước ngoài” (lời Đảng)

http://www.vietnamexodus.org/vne0508/vnenews/bandocviet/tktt/ngammauphunnguoi.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Phụ Nữ Chăm Văn Lâm Bất Khuất

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 10, 2008

(Bản đồ hành chánh huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận)

Phụ Nữ Chăm Văn Lâm Bất Khuất

Vào khoảng 12 giờ trưa ngày 23 tháng 7 một nguồn tin cho biết: Có phái đoàn Thủ tướng chính phủ và phái đoàn tỉnh ủy Ninh Thuận đang khảo sát dự án xây dựng nhà máy điện nguyên tử ở khu vực Sơn Hải, xã Phước Dinh, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Sau khi khảo sát dự án, phái đoàn lái xe về ngang qua thôn làng Văn Lâm, xã Phước Nam, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận thì có một đoàn phụ nữ ở đây biểu tình, ngăn chặn và giữ hai chiếc xe ô tô 7 chổ ngồi. Chiếc thứ 3 vừa đến thì cũng bị chặn lại, một đoàn xe đi phía sau chở Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng liền quay đầu tìm đường hướng khác chạy về tỉnh ủy Ninh Thuận.

Khoảng 15 phút sau, ở tỉnh ủy điều động lực lượng công an phối hợp với bộ đội dân phòng cùng hợp tác với một đội ngũ quay phim hùng hậu lái xe cơ giới đến hiện trường để “dẹp loạn” hầu lấy về hai chiếc xe đoàn phụ nữ đang giam giữ.

Tiếng còi xe cơ giới hú inh ỏi của lực lượng vũ trang chính quyền vừa đến nơi, các chiến sĩ công an và bộ đội dân phòng nhảy xuống xe và dùng dùi cui điện để giải tán đám đông, hai chiến sĩ quay phim “nhà nghề” bắt đầu bấm máy hành động thu hình ảnh các nhân vật và đám đông tại hiện trường để trình cấp trên làm tang chứng. Lúc này đoàn phụ nử chạy qua bao vây xe cơ giới, lợi dụng sơ hở không ai để ý, chiếc xe thứ 3 nhấn ga quay đầu chạy biến mất trở về Sơn Hải.

Ðứng trước sự trấn áp, đe dọa của lực lượng vũ trang chính quyền, hàng trăm phụ nữ vẫn đứng im không hề lùi bước, tay cầm tay, vai kề vai và đồng thanh hô to “tha, doa, klau” bằng tiếng Chăm (nghĩa là 1,2,3), họ xông vào đội ngũ lực lượng vũ trang, dựt lấy dùi cui điện, đập nát kiếng xe cơ giới, túm lấy máy quay phim nhưng không thành. Lực lượng bộ đội, công an và hai chiến sĩ quay phim hoảng hốt gọi đồng đội của mình nhảy lên xe, nhấn ga tháo chạy về tỉnh uỷ.

Sau cuộc tháo chạy của lực lượng vũ trang, đoàn phụ nữ dựng lều, trải chiếu nơi đây để canh chừng hai chiếc xe vừa thu giữ được. Dân làng đổ xô ra xem, đoạn đường giao thông bị tắt nghẽn suốt vài tiếng đồng hồ. Ðêm đến, họ mang trái cây tươi đến đây ăn vui, các bà cụ cao niên mang trầu cau đến nhăm nhi, chuyện trò hể hả thâu đêm suốt sáng.

Sang ngày thứ hai sau cuộc xô sát, phía chính quyền tỉnh ủy tỉnh Ninh Thuận không có động tĩnh gì nhưng liên tục gửi người thân cận với địa phương để thương lượng nhưng đoàn phụ nữ nhất quyết không cho lấy hai chiếc xe.

Khoảng 5 giờ chiều thứ Sáu ngày 25 tháng 7 đoàn phụ nữ đồng ý trao trả hai chiếc xe cho chinh quyền khi nghe những lời hứa suông của một cán bộ trung ương.

Thứ Bảy ngày 26 tháng 7, công an huyện Ninh Phước lái xe cơ giới đến Văn Lâm mời và chở một số trẻ em và những thân nhân đoàn phụ nữ này đến đồn công an để chất vấn, điều tra xem ai là tác giả đằng sau cuộc bạo động này.

***

Ðoàn phụ nữ này là ai? Ðiều gì đã làm cho họ phẫn nộ đến thế?
Mời quí vị đón đọc bài phân tích tiếp theo của chúng tôi đăng vào kỳ tới. Mong quí vị theo dõi:

Vấn đề dân tộc Chăm xuống đường ngày 23-7-2008 tại Ninh Thuận

Qasim Tu
Chủ nhiệm Web Champaka

http://www.champaka.org/cgi-bin/viewitem.pl?324&tinvietnam

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Vấn đề dân tộc Chăm xuống đường ngày 23-7-2008 tại Ninh Thuận

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 10, 2008

(Bản đồ hành chánh huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận)

Vấn đề dân tộc Chăm xuống đường ngày 23-7-2008 tại Ninh Thuận

Trình bày và phân tích bởi
Qasim Từ

Cuộc xuống đường của dân tộc Chăm đòi quyền sở hữu đất đai vào ngày 23 tháng 7 năm 2008 tại thôn làng Văn Lâm, xã Phước Nam, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận đã gây bao xôn xao trong quần chúng Chăm ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Ðây là một biến cố quan trọng phát xuất từ nhiều nguyên nhân mà chúng tôi muốn đưa ra để phân tích ở đây.

Dân tộc Chăm là một sắc dân sinh sống chuyên về nghề nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi, có một một lãnh thổ đất đai riêng được công nhận kể từ triều đại vua Thiệu Trị, bao gồm hầu hết những ruộng rẩy nằm trên đồng bằng ở phía Ðông giáp biển Nam Hải và núi rừng ở phía Tây giáp tỉnh Lâm Ðồng được xem như là kho sản phẩm lâm nghiệp và nông trường chăn nuôi dành riêng cho dân tộc Chăm. Cũng nhờ qui chế đất đai này, dân tộc Chăm có đủ cơ hội để phát triển nhanh chóng môi trường nhân sinh của họ.

Sau ngày giải phóng Miền Nam vào năm 1975, Nhà Nước Việt Nam quốc hữu hóa toàn diện đất đai thuộc quyền sở hữu của người Chăm, để sáp nhập vào tài sản của hợp tác xã nông nghiệp hay nông trường quốc doanh. Chính sách chiếm đoạt đất đai này đã biến dân tộc Chăm thành một tập thể vô sản, lâm vào cảnh nghèo đói khốn cùng.

Sau năm 1990, chính quyền Việt Nam quyết định giải thể hợp tác xã nông nghiệp và nông trường quốc doanh, tập trung toàn bộ đất đai bị tịch thu và trưng dụng để chia đều cho mỗi đầu người dù họ là dân tộc Chăm hay người Kinh, nhất là người Kinh từ miền Bắc vừa mới di cư ồ ạt vào miền Nam sau ngày giải phóng. Kể từ đó, mỗi gia đình người Chăm chỉ hưởng một vài sào, công đất để nuôi thân qua ngày. Ðây là một thảm trạng xã hội vô cùng bi đát chưa từng xảy ra trong lịch sử của dân tộc này. Một cộng đồng tộc người chỉ biết sống về ngành nông nghiệp, nhưng thiếu đất đai canh tác và thiếu công ăn việc làm để thay thế cho nghề nông, không thể nào thoát ra khỏi nạn nghèo đói và bần cùng.

Cuộc xuống đường của dân làng Chăm thôn Văn Lâm vào ngày 23 tháng 7 năm 2008 đòi Nhà Nước phải trả lại đất đai của họ là tiếng chuông báo hiệu cho sự chuyển động trong tiến trình đấu tranh của dân tộc Chăm mà không ai có thể đoán được hậu quả của nó. Cuộc vùng dậy của họ phát xuất từ một nguyên nhân chính đáng.

Sau ngày giải phóng, Nhà Nước Việt Nam tịch thu đất đai của 73 hộ người Chăm thôn Văm Lâm tổng cộng hơn 320 mẫu để xác nhập vào nông trường quốc doanh Quán Thẻ thuộc xã Phước Nam, huyện Ninh Phước, tỉnh Thuận Hải (cũ). Năm 1996, Nhà Nước ra lệnh giải thể nông trường này. Thay vì phải trả lại 320 mẫu đất đai cho người Chăm thuộc quyền sở hữu của họ, tỉnh Ninh Thuận lại quyết định cấp phát một số đất đai trên cho người Kinh phục vụ cho nông trường Quán Thẻ làm sở hữu, phần còn lại đem bán cho công ty tư nhân Vịnh Hạ Long nhưng không đưa ra một nguyên nhân chính đáng nào, một qui ước bồi thường như thế nào, bất chấp sự khiếu nại và kêu oan của 73 hộ người dân Chăm, chủ nhân lâu đời của 320 mẫu đất trên.

Kể từ năm 1996, 73 hộ dân Chăm bắt đầu đệ trình đơn khiếu kiện đòi lại đất đai của mình, nhưng chính quyền tỉnh Ninh Thuận không đứng ra giải quyết. Năm 2004, dân làng người Chăm thôn Văn Lâm kéo nhau đến tận Hà Nội để nhờ chính quyền trung ương can thiệp, nhưng cũng không có kết quả. Năm 2006, họ quyết định xuống đường biểu tình đòi hỏi chính quyền địa phương giải quyết hồ sơ đất đai này, nhưng không ai chú tâm đến nguyện vọng của họ. Ngày 6 tháng 12 năm 2007, tập thể đàn bà và phụ nữ Văn Lâm tập trung biểu tình trước trụ sở UBND tỉnh Ninh Thuận đòi chính quyền trả lại đất đai của họ. Thay vì giải quyết nguyện vọng của nhân dân, tỉnh ủy Ninh Thuận điều động công an và bộ đội dân phòng dùng hai chiếc xe cơ giới chở những đàn bà và phụ nữ Chăm Văn Lâm vứt bỏ ở huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận và ở Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa cách thị xã Phan Rang khoảng chừng 50 cây số.
Hành động hà hiếp đàn bà và phụ nữ người Chăm thôn Văn Lâm vô tội, vì họ chỉ xin Nhà Nước trả lại đất đai của họ mà thôi, đã trở thành một chuyển động xã hội khó xử, kéo theo sự phẫn nộ của toàn thể người Chăm về sự đối xử bất công của chính quyền đối với dân bản địa, tạo thêm bầu không khí nặng nề trong mối liên hệ giữa người Chăm và Nhà Nước Việt Nam.

Ðất đai tạo ra từ mồ hôi và nước mắt bị chính quyền chiếm đoạt, chạy lên tỉnh kêu oan thì bị chính quyền tỉnh ngược đãi, ra tận Hà Nội để nhờ chính quyền trung ương can thiệp thì cơ quan trung ương khước từ. Không một ai cứu xét nguyện vọng của họ suốt hơn 10 năm qua.

Một khi không tìm ra nơi nương tựa đẻ giãi bày nổi oan ức, thống khổ của mình, dân tộc Chăm chỉ còn giải pháp cuối cùng là dấn thân vào con đường đấu tranh bạo động, bất chấp tù tội, để đòi lại cho bằng được đất đai thuộc quyền sở hữu của họ. Chính vì thế, 73 hộ dân Chăm ở thôn làng Văn Lâm, hầu hết là đàn bà và phụ nữ, quyết định xuống đướng biểu tình, ngăn chặn xe của phái đoàn Thủ Tướng Việt Nam và tỉnh ủy Ninh Thuận nhân dịp đến khảo sát dự án xây dựng lò điện hạt nhân ở khu vực Phước Dinh, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận vào ngày 23 tháng 7 năm 2008 vừa qua.
Thoạt đầu, đoàn phụ nữ Chăm biểu tình rất ôn hòa, bất bạo động với hai biểu ngữ nhỏ viết bằng tay “Thủ Tướng cứu dân với” và “Ðền bù đất cho 73 hộ”. Tiếc rằng đội ngũ công an và bộ đội dân phòng dùng quyền lực để dải tỏa hàng ngũ đàn bà và phụ nữ, biến vụ biểu tình bất bạo động thành những vụ ẩu đả giữa đôi bên, kéo theo bao sự hoang mang trong quần chúng Chăm mà không ai có thể đo lường hậu quả của nó.

Người Chăm là một dân tộc bản địa thật thà, chất phác, đã từng hiện hữu trên khu vực này từ ngay khai thiên lập địa và gắn liền với đất đai của họ như một tín ngưỡng thiêng liêng. Chính vì thế, mọi chính sách chiếm đoạt đất đai của dân bản địa trở thành một hành động vi phạm đến thế giới thần linh của dân tộc này, một hệ thống tín ngưỡng đã từng giáo dục dân tộc Chăm thành một tập thể tộc người có một bản chất riêng biệt, nhìn qua bề ngoài họ rất là hiền hòa chất phác, nhưng bên trong họ là dân tộc rất gan dạ và trực tính sẵn sàng hy sinh cả tánh mạng để bảo vệ danh dự của họ, sẵn sàng dấn thân vào lao tù, chấp nhận chống lại với bất cứ bạo lực, một khi quyền lợi, sở hữu đất đai của họ bị lường gạt và chiếm đoạt. Biến cố ngày 23 tháng 7 năm 2008 tại thôn Văn Lâm là một minh chứng cụ thể.

Sau bao cuộc chiến tang thương trước cuộc Nam Tiến của dân tộc Việt, lịch sử chỉ để lại cho dân tộc Chăm một chũi đền tháp hoang tàn đổ nát nằm ngổn ngang trên suốt chiều dài ở miền trung Việt Nam và một tập thể tộc người chưa đầy 100.000 người dân, sống lặng lẻ, co cụm nghèo đói ở khắp các tỉnh Việt Nam và tập trung chủ yếu ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, chờ ngày bị đồng hóa và diệt vong. Hôm nay, họ không mong muốn gì hơn là mong mỏi Nhà Nước Việt Nam đùm bọc họ, tạo cho họ điều kiện “quyền được sống” trong biên giới truyền thống của họ, công nhận quyền sổ hữu đất đai của họ, xem dân tộc bản địa này như một công dân thật sự của quốc gia Việt Nam, phá bỏ mọi chiêu bài chụp mũ ghép họ vào tập thể phản động chống phá Ðảng và Nhà Nước để đòi tự trị, độc lập, v.v.
Một dân tộc chưa đầy 100.000 người không còn mảnh đất để trồng rau, không còn con trâu để cày ruộng, sống co cụm trong nghèo đói, lặn hụp trong tập thể khổng lồ hơn 80 triệu người Kinh, chờ ngày bị đồng hóa, lai căng mất gốc. Chỉ có Ðảng và Nhà Nước Việt Nam mới có đủ quyền lực giúp dân tộc Chăm tìm lại cuộc sống an bình và thịnh vượng hơn, cứu mang họ để dân tộc này còn giữ lại sắc thái văn hóa truyền thống của họ trong thế kỷ thứ 21 này. Ðể đưa chính sách này đến thàng công, Ðảng và Nhà Nước cũng nên lắng nghe nguyện vọng chân thành mà dân tộc này thiết tha yêu cầu hơn là tin vào những báo cáo từ chính quyền địa phương cung cấp mà đa số hồ sơ báo cáo của chính quyền không phản ảnh trung thực những gì đã xảy ra tại địa phương. Vụ xuống đường của dân tộc Chăm ngày 23 tháng 7 năm 2008 là một bài học đáng suy nghĩ.

Qasim Từ
Chủ nhiệm Web Champaka

http://www.champaka.org/cgi-bin/viewitem.pl?331&chinhtri

Posted in Uncategorized | Tagged: | 3 Comments »

Dân Oan Bà Rịa -Vũng Tàu Bị Công An Đàn Áp – Đánh Chảy Máu Và Bắt Về Đồn Công An

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 10, 2008

Dân Oan Bà Rịa -Vũng Tàu Bị Công An Đàn Áp – Đánh Chảy Máu Và Bắt Về Đồn Công An

Sáng ngày 10 tháng 09, 2008, khỏang gần 20 dân oan kéo đến ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để kêu oan và khiếu kiện về vấn đề đất đai. Nhưng khi đến nơi được khỏang 20 phút thì một lực lượng công an cộng sản ập đến, đánh đập và trấn áp bà con. Xin mời quý bạn đọc theo dõi buổi nói chuyện của chúng tôi với dân oan Bà Rịa Vũng Tàu.

 Tốc Độ 56K Modem

 Lấy Xuống Máy Nghe

 Xin bấm vào đây để nghe

 Xin bấm vào đây để lấy xuống máy nghe

http://www.vietnamexodus.org/vne0508/modules.php?name=News&file=article&sid=734

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Hành trang và cuộc lên đường

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 10, 2008

Hành trang và cuộc lên đường

Bảo Giang

Ngày 08-9-2006, một số người trẻ ở trong nước đã làm cuộc vận hành mang tính lịch sử khi tự minh đứng dậy làm cuộc Thăng Tiến, rồi kêu mời toàn dân và các đoàn thể chính trị phi cộng sản hãy cùng nhau tiến về mục tiêu của đất nước là hoàn tất hành trình tranh đấu cho Tự Do Dân Chủ, Nhân Quyền và Công Lý cho Việt Nam..

Khi đứng dậy, xắp xếp hành trang và nhập cuộc hành trình tranh đấu cho Tư Do. Dân Chủ, Nhân Quyền và Công Lý cho Việt Nam, những người trẻ như Lê thị Công Nhân, Nguyễn Phong, Nguyễn bình Thành và các thành viên Thăng Tiến, nói chung, tuy không có bề dầy kinh nghiệm trong đấu tranh sắt máu chính trị, nhưng bắt nguồn từ Tấm Lòng cho đất nước, do truyèn thống của Tiền Nhân để lại, họ đã khẳng định và công bố một đường lối, một chương trình lâu dài để cùng thực hiện với non sông, không phải là một hoài bão, nhưng là một cuộc cải cách toàn diện nhằm Thăng Tiến Việt Nam và đưa Việt Nam vào trường quốc tế bằng chính những giá trị cao qúy của Việt Nam: là:

“ Thăng Tiến Tổ quốc Việt Nam về các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tâm linh để Dân tộc được sống trong một Đất nước hòa bình, độc lập, tự do ; Xã hội đạo đức, văn minh ; Quốc Dân thịnh vượng, hạnh phúc.

– Bênh vực và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của toàn thể Đồng bào Việt Nam, không phân biệt chủng tộc, văn hóa, tôn giáo, chính kiến, quốc nội, hải ngoại, cụ thể là :

a. Các Nhân quyền và Dân quyền cơ bản (26 quyền, xem tài liệu đính kèm).

b. Các phúc lợi an sinh, xã hội theo tiêu chuẩn quốc tế.

c. Tái lập và thực thi các quyền tư hữu trọn vẹn và chính đáng của toàn Dân.

* Bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Dân tộc và Tổ quốc Việt Nam trước Quốc tế. ( trích cương lĩnh tạm thời).

Ở đây, họ không tạo ra một triết thuyết mới cho hành trình tranh đấu, nhưng cuộc Thăng Tiến Việt Nam do họ chủ trương được khẳng định đặt trên những nền tảng giá trị nhân bản, giá trị tín ngưỡng mà toàn thể nhân loại văn minh ngày nay đang thực hiện hay đang hướng tới là:

“1. Các học thuyết nhân bản về xã hội và kinh tế đã được các Nước dân chủ, văn minh áp dụng có hiệu quả và uy tín để xây dựng hòa bình, công lý, nhân quyền, dân quyền, thăng tiến văn hoá, xã hội và phát triển kinh tế ổn định, bền vững.

2. Các Tuyên ngôn và Công ước Quốc Tế về Nhân quyền và Dân quyền của Liên Hiệp Quốc.

3. Các giá trị tín ngưỡng, tôn giáo.

4. Truyền thống văn hoá, đạo đức tốt đẹp và bền vững của Dân tộc Việt Nam.

5. Khát vọng của toàn Dân Việt Nam về Hòa bình, Sự thật, Công bằng, Nhân ái, Tự do, Dân chủ”. (trích CLTT)

Khi đem Tâm Tình để thực hiện một giấc mơ Tự Do Dân Chủ, Nhân Quyền và Công Lý cho đất nước, những người trẻ này không chủ trương dùng dép râu, dao mã tấu để đấu tố, bịt mặt và diệt tình người hay đòi phanh thây uống máu quân thù như Việt cộng. Trái lại, bằng tâm tình khoan dung nhân ái, họ đã công bố phương thức thực hiện hành trình Thăng Tiến Việt Nam bằng lương tri và nhân bản là:

“1. Đấu tranh ôn hòa và bất bạo động bằng các phương cách :

a. Sử dụng mọi phương tiện truyền thông đại chúng để phổ biến trung thực và đầy đủ các thông tin nhằm giúp Quốc dân và Quốc tế nhận thức đúng đắn về mọi vấn đề liên quan đến sinh mệnh của Dân tộc Việt Nam.

b. Tập hợp và tổ chức Quốc Dân đòi lại 26 Nhân quyền và Dân quyền cơ bản.

c. Hướng dẫn quần chúng từng bước giành quyền lãnh đạo Đất nước thông qua bầu cử tự do và công bằng”(trích CLTT).

Nhưng tại sao những người trẻ thuộc thế hệ ba mươi, bốn mưoi này đã ngối lại bên nhau, cùng luận bàn và đưa ra một chương trình hành động để tranh đấu cho mục tiêu tối hậu là Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, Công Lý cho Việt Nam?

Chẳng lẽ, họ không thể tìm ra được bầt cứ một hình ảnh nào khả dĩ khá trong mớ lý thuyết và thực hành hỗn độn của nhà nước Việt cộng từ khi họ mở mắt chào đời cho đến nay chăng?

Hay sau mấy chục năm bị nhồi sọ, bị bịt mắt, nay họ đã nhìn rõ cái bộ mặt cực gian ác của cái gọi là “tư tưởng và đạo đức” Hồ chí Minh là kẻ đẻ ra cái nhà nước Việt cộng này? Hoặc gìa, họ đã nhận chân được cả một guồng máy chính trị, lãnh đạo của nhà nước Việt cộng này chỉ chạy được là do chất nhờn bịp bợm, dối trá, vô đạo của các thế hệ cán cộng nhớn nhỏ gắn kết lại, nên buộc tuổi trẻ phải thay đổi tư duy, đứng dậy và lên đường làm cuộc Thăng Tiến Việt Nam?

Để có thể trả lời những câu hỏi này một cách đứng đắn, tưởng cũng nên nhắc qua một qúa trình của lịch sử cận đại, ngõ hầu, có thể giải thích đụợc nguyên do tạo nên cuộc hành trình Thăng Tiến Việt Nam mà giới trẻ Việt Nam ngày nay đang hướng tới.

Đầu thế kỷ mười chín, Nguyễn Ánh nhờ Giám Mục Bá Da Lộc hỗ trợ mà thắng cuộc chiến với nhà Tây Sơn để lập thành triều đại nhà Nguyễn trên toàn cõi Việt Nam. Nhưng với chính sách bế môn tỏa cảng và đặc biệt là cuộc bách hại tôn giáo đẫm máu dưới thời Minh Mạng, Thiệu Tri, Tự Đức, đã là một cái cớ để cho bọn thực dân Pháp làm cuộc viễn chinh tại Đông Dương và đặt Việt Nam dưới ách đô hộ của chúng.

Cuộc chiến chống ngoại xâm bắt đầu nổ ra từ đó và lên đến cao điểm vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 với những cuộc kháng chiến lừng lẫy của cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyển Thiện Thuật, Đinh Công Tráng….. và sau này là việc các đảng phái quốc gia ra đời. Một trong những đảng phái Quốc Gia gây ấn tượng trong lòng dân chúng vào thời gian này là Việt Nam Quốc Dân Đảng., Phong Trào Duy Tân….v.v ..

Vào đầu thập niên 1930, Hồ chí Minh, tên tay sai và làm nô lệ cho cộng sản Quốc Tế đã cùng với một số bộ hạ như Trần Phú, Đặng Xuân Khu, Phạm văn Đồng … đã thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên tại Việt Nam với danh xưng là đảng Cộng Sản Đông Dương. Từ đây chúng phát triển và áp đặt vào xã hội thuần lương của Việt Nam chủ thuyết Tam vô : Vô gia đình, vô tôn giáo và vô tổ quốc của cộng sản. Để có thể thực hiện chủ thuyết này trên phần đất Việt Nam, chúng trìệt để áp dụng sách lược khủng bố chính trị để mưu cướp. chính quyền.

Duới chiêu bài giải phóng dân tộc, chúng đã lừa gạt được rất đông đảo hàng ngũ đồng bào Việt Nam từ công nông thương đến học sinh và giới sỹ phu cùng nổi dậy để đánh đuổi thực dân Pháp. Kết qủa, ngày 02-9-1945 chúng đã cướp công kháng chiến của toàn dân và công bố thành lập nhà nước Việt cộng với cái tên là: Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Sau ngày 02-9-1945, bộ mặt thật của Hồ chí Minh và cộng sản đã lộ nguyên hình là những kẻ nô tài phục vụ cho đế quyền cộng sản quốc tế thay vì nhu cầu giải phóng dân tộc và độc lập cho Việt Nam. Rât nhiều các nhân sỹ và đồng bào Việt Nam đã trực tiếp quay mũi súng chống lại bọn Việt Minh do Hồ lãnh đạo, trong đó có cả đức cố Giám Mục Hồ Ngọc Cẩn và dẫn đến cuộc di cư vĩ đại từ bắc vào Nam năm 1954.

Hiệp định Geneve chia đôi đất nước ngày 20-7-1954 là kết qủa phải đến trong âm mưu thôn tính dần dần toàn cõi Việt Nam của cộng sản thế giới.

Cuộc đấu tố từ 1954-1957 dưới mỹ từ cải cách rộng đất thực chất chỉ là cuộc bạo hành chính trị nhằm tiêu diệt nền luân lý trong xã hội Việt Nam và đặt nền móng cho sự việc tước đoạt quyền tư hữu và tóm gọn tài sản của toàn dân vào tay chi bộ đảng cộng sản đông dương, và đó cũng là cuộc khởi đầu để chúng thi hành chủ nghĩa Tam Vô trên toàn cõi Việt Nam. Bởi lẽ không diêt được niềm tin của con người với con người, không dùng chính sách ngu dân và đấu tố, cộng sản không bao giờ có thể thực hiện nổi sách lược tam vô để đồng hóa con người như một sinh vật chỉ biết lao động cho cái chủ nghĩa duy vật tồi tệ của chúng

Ngày 30-4-1975 cộng sản nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam. Các cấp lãnh đạo của miền nam, người thì tuẫn tiết vì dân, kẻ bỏ ra hải ngoại và phần lớn thì bị cộng sản trả thù bằng những năm tháng trong ngục tù. Từ đó, chúng đã tạo ra làn sóng người vượt biên vượt biển, trốn chạy cộng sản vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.

Dưới sự chỉ đạo của lá cờ đỏ mà Việt cộng cắm từ buị lau, bờ cỏ cho đến đầu đường xó chợ, có thể nói, học sinh Việt Nam không hề được học hỏi về luân lý, đạo đức xã hội, không hề được day dỗ để biết thế nào là Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín. Trái lại, họ chỉ được dạy về cái gọi là “tư tưởng và đạo đưc Hồ chí Minh” “đạo đức cách mạng Việt cộng”, hoặc học về những phương cách “đấu tố tư bản, đấu tố tự do”, “đấu tố những người muốn giữ gìn và bảo vệ công lý và nhân phẩm con người”…

Với cuộc cách mạng đấu tố công lý, tiêu diệt tình người và sự triệt để áp dụng nền văn hóa dép râu nón cối ấy vào xã hội Việt Nam. Hiện tình đất nước Việt Nam hôm nay ra sao và thế hệ Việt Nam hôm nay thấy những gì?

Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài báo, chúng tôi sẽ không đề cập đến phần, nhìn xem Việt Nam ngày nay ra sao. Mà chỉ viết về những ưu tư của thế hệ hôm nay và cuộc hành trình Thăng Tiến Việt Nam của họ mà thôi..

Sau khi thấy máu Việt tộc cứ mãi nhỏ xuống theo ngọn cờ đỏ của Việt cộng, ( nhỏ xuống bằng đủ mọi cách, từ dân oan cho đến triệt hạ tư do và bóp nghẹt công lý và đàn áp các nhà dân chủ) Người tuổi trẻ Việt Nam không thể không nghĩ đến đến những ngôn từ làm nền cho cái khẩu hiệu của nhà nước này là : Độc Lập, Tự Do, Ấm No, Hạnh Phúc mang ý nghĩa gì? Đó là hướng đi hay là một cuộc lừa dối vĩ đại?.

A. Chữ Độc Lập:

Đây là một từ ngữ người ta không thể sờ thấy được, nhưng có thể cảm nghiệm được. Hơn thế, ngươì ta có thể sẽ lấy chính máu xương của mình ra mà bảo vệ lấy sự độc lập của dân tộc. Hãy xem, Việt cộng đã làm gì cho hai chữ Độc Lập này?

1, Trước mắt, họ thấy, Việt cộng và guồng máy lãnh đạo nhà nước này luôn luôn dùng những loại từ đao to, búa lớn về chữ Độc Lập để khoa trương, lừa bịp hơn là thực hành. Bỏi lẽ, chính những kẻ lãnh đạo cái nhà nước này là những kẻ đã ký giấy bán nước cho ngoại bang. Điển hình là Hồ chí Minh và Phạm văn Đồng vì làm thân nô lệ cho tàu nên chúng đã đại diện cho cái nhà nước ấy mà công nhận chủ quyền về lãnh hải của Trung Cộng trên đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào năm 1958. Trong khi đó, vì nền Độc Lập và chủ quyền của đất nước, năm 1974, dân quân miền nam đã liều chết để giữ Hoàng Sa và Trường Sa. Ở đây cũng nên nhắc lại là, trong lúc người miền nam hy sinh để bảo vệ mảnh đất của quê hương thì bọn Việt cộng miền bắc như đã đồng lõa với bọn tàu bằng cách nhân cơ hội này, mở rộng chiến tranh tại miền nam. Kết qủa, Trường Sa Hoàng Sa rơi vào tay Tàu cộng mà Việt cộng không dám có nửa lời phản đối.

2. Việt cộng sẽ giải thích chữ Độc Lập ra sao, sau khi Phạm văn Đồng, Hò chí Minh ký công hàm bán nươc năm 1958, lại đến phiên Nguyễn Mạnh Cầm, Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu ký Nghị Định Thư về biên giới và lãnh hải vào năm 1999 và 2000 để nhường nhiều phần đất và lãnh hãi của Tiền Nhân cho tàu cộng?

3. Việt cộng sẽ trả lời ra sao khi cấm cản các sinh viên học sinh và mọi tầng lớp nhân nhân biểu tình chống bọn bành trướng trung cộng khi chúng cưỡng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam? Chúng sẽ trả lời ra sao khi hàng ngũ công an Việt cộng đàn áp nhân dân thì cực kỷ tài giỏi, nhưng lại là những đầy tớ trung thành và tận tụy lo cho tàu cộng khi đứng làm rào cản an ninh cho hàng ngũ tàu cộng phất cờ tàu trên đất nước Việt? Và chúng sẽ trả lời ra sao về vệc có hàng đoàn hàng lũ di dân tàu cộng sang sinh sống trên đất Việt mà không cần có hộ chiều và nhà nước Việt cộng cũng không thể kiểm soát được những kẻ di dân gỉa dạng du khách này hiện đang cu ngụ ở những nơi nào trên đất nước Việt nam. Chúng có dám kiểm tra giấy tờ những kẻ di dân chiếm đất này không?

Ôi! Độc Lập!

B. Chữ Tự Do:

Trên giấy trắng mực đen, ngay cả trên cái gọi là tờ giấy biên nhận hiến pháp của nhà nước Việt cộng cũng công nhận qiyền tự do hội họp, sinh hoạt cũng như tự do tôn giáo của người dân. Kết qủa, người ta thấy những gì?.

Lãnh đạo Việt cộng có toàn quyền tự do, xưa là đấu tố nhân dân nay là mở quy hoạch vùng này, mai mở quy hoạch vùng khác để cướp đoạt quyền tư hữu về điền thổ của người dân để buôn bán và chia chác cho nhau và cho ngoai nhân để kiếm lời. Trong khi đó ngươì chủ thực sự của mảnh đất qua nhiều đời thì trở thành trắng tay. Điển hình là cuộc cải cách ruộng đất ở ngoài bắc từ 54-1957 chúng đã giết chết khoảng 60 ngàn người và tóm gọn toàn bộ đất đai vào tay nhà nước. Nay thì các hợp tác xã chắc không còn và sổ đỏ, ( giấy chủ quyền đất) hẳn là nằm trong tay các đảng viên nhớn nhỏ? Ngay những tài sản của tôn giáo, chúng cũng tìm cách chiếm đoạt. Bởi lẽ, những vị trí ấy toàn là những vị trí bán được nhiều tiền mà cán bộ nhà nước không cần phải mua. Cứ tự do mà chiếm cứ, buôn bán chia nhau là hợp pháp luật!
Riêng phần tự do hội họp, tự do ngôn luận, báo chí, truyền bá tư tưởng chúng viết trên tờ giấy lộn thì xin… kiếu. Người dân tưởng nhầm là có và đòi hỏi Tự Do thì cánh của nhà tù lúc nào cũng mở rộng. Hãy vào đó mà thực hiện giấc mộng tự do trên giấy!.Bởi vi trong cuốn Pháp Chế Xã Hội Chủ Nghĩa, địch từ tiếng Nga được in ở Hà Nội vào năm 1988, trong đó nhà nước Việt cộng như ngầm công bố câu nói nền tàng của Frederic Engels, là cơ sở xây dựng chế độ này là..” Nhà nước được lập nên không phải vì Tự Do, Nói cách khác, có nhà nước thì không có Tự Do, mà có tự do thì không có nhà nước xã hội chủ nghĩa”
Hỡi ơi, Tự Do!

C. Chữ Ấm No

Lớp cán cộng được nhà nước Việt cộng định nghĩa là đầy tớ của nhân dân phát xuất từ ngày 02-9-1945 và bùng nổ, phấn khởi hồ hởi phát triển sau mùa đấu tố 54-57 đến nay thì nhà sang cửa rộng Cơ sở thì nơi nào cũng có Riêng người được phong làm chủ đất nước thì biến thành dân oan đi khiếu kiện đòi đất đòi nhà trên bề diện cả nước. Hai giai cấp nòng cốt lãnh đạo và đi làm cách mạng, đẻ ra nhà nước Việt cộng là Nông Dân và Công Nhân thì nay sửa soạn Xuống Hố Cả Nước. Bởi lẽ, nông dân không còn mảnh ruộng để cày bừa. Nếu có thì sống trên ruộng lúa mà lo không có gạo nấu cơm. Phần công nhân thì có lẽ chưa bao giờ sức lao động của họ bị bóc lột thô bạo đến như thế. Ấy là chưa kể đến những móc ngoặc từ nhà nước với giới chủ nhân để trân lộc sức lao động cần cù của người dân. Và cũng chưa nói tới việc nhà nước bán dân đi làm nô lệ lao động, nô lệ tình dục ở nước ngoài và cũng chưa nói tới việc thiều dinh dưỡng trầm trọng đối với các trẻ em ở trong nước..

Ấm No ở đâu ra?

D. Chữ Hạnh Phúc,

Từ điển Việt Nam thời Việt cộng cũng có chữ Hạnh Phúc hay sao? Chuyện này cũng lạ và khôi hài như chuyện Hồ chí Minh không có vợ, không có con đấy nhỉ? Hồ nói phét một đời là hy sinh cho dân cho nước, và không có vợ không có con! Nay thì Tăng tuyết Minh và Nông thị Xuân ở đâu? Hồ chí Minh là kẻ độc ác và vô gia đình như thế thì hạnh phúc của người dân kiếm ở đâu ra? Nếu có thì hẳn là do câu chuyên sau: ” Dưới chân dung Hồ chủ tịch, mặc quần xong, đồng chí bố hỏi con gái? Thế lào? Xoàng, thua cả bác và anh nhớn? Ai bảo thế? Mẹ!”

Đấy, hạnh phúc của xã hội chủ nghĩa là thế đấy.

Bởi những lý do ấy, tuổi trẻ Việt Nam hôm nay không thể ngồi yên. Trái lại, họ đã kiểm tra lại hành trang rồi lên đường, làm cuộc Thăng Tiến cho đất nước. Khi đi, họ đã biết trước là chẳng có cuộc tranh đấu nào không có mồ hôi, máu và nước mắt. Và cũng chẳng có vinh quang nào mà không kết tụ bằng nước mắt và máu. Thành qủa của cuộc Thăng Tiến Việt Nam không tự nhiên mà có, nhưng phải vào cuộc và tranh đấu bằng toàn bộ sức mạnh và ý chí của mình. Như thế, hành trình của người trẻ Việt Nam hôm nay có thể sẽ khởi đi từ nhà trường đến nhà tù cộng sản rồi vào xã hội. Tuy nhiên, bước đi thăng trầm ấy không thể ngăn cản được những dòng máu còn nóng, còn nặng tình với quê hương và dân tộc. Trái lại. Họ vẫn đi. Đi trong hiên ngang, đi trong tự tin của dân tộc như Lê thị công Nhân, một trong những ngưòi trẻ kiệt xuất của Việt Nam trong lớp Thăng Tiến ấy đã khẳng định rằng:

“Gia đình tôi đã chuẩn bị cho trường hợp xấu nhất, đó là tôi sẽ bị khởi tố và có thể bị đi tù. Nhưng tôi xin khẳng định một lần nữa, đó vẫn chưa phải là điều tồi tệ nhất có thể xảy ra…”

“Nhưng tôi xin khẳng định bằng tất cả lương tâm, trách nhiệm và tình cảm của mình đối với đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam là tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho dù chỉ còn có một mình tôi để đấu tranh, trước hết là giành lấy Nhân Quyền cho chính mình, và giành lấy Nhân Quyền, Dân Chủ và Tự Do cho người dân Việt Nam. Cộng sản Việt Nam đừng có mong chờ bất kỳ một điều gì gọi là thỏa hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng từ phía tôi.” (LTCN)

Ngày nay, Lê thị Công Nhân và nhiều nhà Dân Chủ khác đã Nhập Ngục Cứu Quốc và cả thế giới loài người đã nghe và súc động vì những lời nhân bản ấy.

Chúc các bạn trẻ vững tiến trên đường Thăng Tiến. Và hoàn tất sứ mạng lịch sử đem lại Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Công Lý cho Việt Nam..

… Em ơi, Tổ Quốc chờ em đấy,

Mau lớn khôn lên giữ cõi bờ…

Bảo Giang

9 – 2008

Cập nhật ( 08/09/2008 )

http://thangtien.de/index.php?option=com_content&task=view&id=1865&Itemid=274

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

MỞ NẮP THÙNG RÁC” GIÁO DỤC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 10, 2008

MỞ NẮP THÙNG RÁC” GIÁO DỤC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”.

TRƯƠNG MINH HÒA.

Trước 1975, một số người dân miền Nam vì chưa nhìn thấy bộ mặt thật của Cộng Sản, hay mang tâm trạng” đứng núi nầy trông núi nọ”, do ảnh hưởng thời kỳ 9 năm kháng chiến dỏm của Mặt Trận Việt Minh, nên mang ảo tưởng về phía bên kia bờ giới tuyến 17 là tốt hơn hoàn cảnh hiện tại miền Nam, nơi mà họ đang sinh sống; đó là thành phần thân Cộng nhan nhản từ thành thị đến nông thôn, dễ trở thành du kích khủng bố nếu sống ở nông thôn và bị lôi cuống vào thành phần thứ ba của đại tướng Dương Văn Minh, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Thích Trí Quang, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan….nếu ở thành thị. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, một số người mơ mộng ấy tỉnh dậy sau khi nhìn thấy tận mắt những” đỉnh cao trí tệ loài người” từ A đến Z, toàn là một lũ:” dốt, ngu, ác, tham” nhưng mở miệng nói toàn là những ngôn từ đao to búa lớn: giải phóng, cách mạng, dân chủ, cải tạo xã hội…..

Trong việc chửa trị bịnh tật, nhiều người dân miền Nam đã biết tài năng” vượt bực” của các bác sĩ hệ lớp 10 miền Bắc, rập khuôn theo quan thầy Liên Sô và đám được đảng phong quân hàm bác sĩ, quân y sĩ mật khu miền Nam ( trình độ chỉ biết đọc biết viết, học 6 tháng là thành bác sĩ); đó là những” lương y như đồ tể” trở thành giám đốc, chỉ huy các bịnh viện công, làm thầy các bác sĩ được đào tạo từ thời quốc gia, hay du học ở các nước Tây Phương; đám bác sĩ Việt Cộng tha hồ mở phòng mạch tư để kiếm tiền, có lối điều trị” cơ bản” là cấy nhao theo phương pháp Filatov của Liên Sô là đau đâu cấy nhao đó; đa số đều xa lạ với các dụng cụ y khoa do” bọn tàn dư chế độ Mỹ-Ngụy để lại” và có cùng mẫu số là” không rành các tên thuốc ngoại quốc” bằng tiếng Anh, Pháp….do đó, khi chiếm được miền Nam, bác sĩ Tôn Thất Tùng, bộ trưởng Y Tế bèn triệu tập các” bác sĩ cách mạng” để học tập trong vòng 6 tháng về những thứ” tàn dư y khoa, lạc hậu lổi thời, phản động” do bọn đế quốc Mỹ, chế độ Ngụy để lại mà biết cách sử dụng ( bác sĩ Việt Cộng có thể gọi là Bác Sĩ Tarzan). Tại các trường học, giáo chức nào có gốc lính đều bị đi cải tạo, nữ giáo chức có chồng lính cũng bị ảnh hưởng việc giảng dạy, sớm muộn gì cũng bị đuổi và phải tìm công việc khác để sinh sống. Thay vào đó là những cán bộ giáo dục, được họ nâng cấp thành” kỷ sư tâm hồn” điều hành, chỉ đạo hệ thống giáo dục, thanh lọc học đường theo nguyên tắc” Hồng hơn chuyên”, cụ thể là biện pháp” học tài thi lý lịch”, làm mai một biết bao tài năng của đất nước, chỉ vì sự phân biệt đối xử bất công nầy ngay tại học đường.

Phụ huynh, học trò, học sinh, sinh viên miền Nam đã nhìn thấy tận mắt các” kỷ sư tâm hồn” với trình độ văn hóa kém, nhưng rất giỏi về dùng từ ngữ” đấu tố, chụp mũ”, nói láo, nhất là cái môn chính trị chủ nghĩa Marx Lenin, là các thầy cô nói chuyện” thao thao bất tuyệt” như con vẹt, nói dài, nói dai, nói dở và nói phét là” mặt mạnh” của tất cả các cán bộ Cộng Sản từ trung ương đến địa phương. Chế độ Cộng Sản tại Việt Nam là một” thoái trào lịch sử” lập lại thời Tần Thủy Hoàng bên Tàu với câu châm ngôn truyền từ năm 200 trước Tây Lịch, nay bia miệng vẫn còn:” đốt sách, chôn học trò, miền Bắc sau 1954 đã chịu cảnh nầy và sau 1975 được lập lại ở miền Nam. Trong học đường ngày nay, thay vì giết học trò nhỏ, thì chính sự chính sách chèn ép, trù dập đối với những thành phần có quan hệ đến chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, khiến cha mẹ lâm vào hoàn cảnh nghèo khổ, mặt khác cái chính sách kinh tế bao cấp, ngăn sông cách chợ với hệ thống trạm kiểm soát chằn chịt như mạng nhện, tùy tiện, khiến nhiều gia đình miền Nam phải cho con nhỏ nghỉ học để đỡ chi phí, có thêm người đi làm kiếm cơm. Học sinh trung học thì bị đẩy đi sang chiến trường Campuchea để nhờ quân Khmer Đỏ giết dùm, còn lại là trở thành lực lượng thanh niên xung phong, bị đài lên các vùng rừng thiêng nước độc, hoang dã, thay vì tiếp tục được học hành; thế là các mầm non bị đảng Cộng Sản Việt Nan thanh toán một sạch, trong khi con cháu của họ thì được học hành, ưu tiên đủ mọi thứ, do cái lý lịch của gia đình và trở thành” chất xám” của xã hội chủ nghĩa sau nầy, nối tiếp sự nghiệp” đè đầu cỡi cổ dân chúng” của cha mẹ để lại.

Trong xã hội, các hung thần trong Ban Thông Tin Văn Hóa ra sức truy lùng các sách vở miền nam, nhất là sách viết bằng tiếng Anh, Pháp, là coi như” phản động, đồi trụy” vì các” đỉnh cao trí tệ loài người” không có đủ trình độ để” tiếp thu” thứ chữ nghĩa của” bọn đế quốc tư bản phản động”; hễ cái gì mà cán bộ thuộc về HAI KHÔNG là:”- không đọc được-không hiểu được” đều là văn hóa phản động; thế là biết bao sách quí bị đốt, số còn lại thì dân chúng sợ liên lụy nên dùng vào việc gói đồ, đi cầu, vò làm giấy hút thuốc….nên chỉ sau thời gian ngắn, sách vở coi như bị tiêu hủy, thay vào đó là các sách vở tuyên truyền từ miền Bắc mang vào. Trong học đường, chương trình giáo dục y khuôn miền Bắc được áp dụng triệt để, được các” kỷ sư tâm hồn” hết lòng nhồi nhét theo lịnh đảng, nên sau thời gian ngắn, học trò, học sinh, sinh viên Việt Nam đều trở thành” những con vẹt” giỏi về từ ngữ Cộng Sản, nhưng dốt về kiến thức, lạc hậu khoa học kỷ thuật và thấm nhuần thứ” đạo đức cách mạng” theo lời dạy của” bác Hồ” là: báo cáo với nhà nước, đấu tố cha mẹ, sớm học cách lừa lọc để sống, xem đảng trọng hơn cha mẹ….. Có thể nói là nền giáo dục Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản có khả năng biến bất cứ học sinh, học trò thành những” lãnh tụ” nói năng như vẹt, nói dốc, cải bướng và hay có tật muốn làm thầy đời và nhiều thói hư tật xấu khác.

Nền giáo dục” chủ yếu” nhồi sọ thứ chủ nghĩa man rợ Marx Lenin, theo gương những tên gian manh bán nước, nhưng được nâng cấp thành tư tưởng Hồ Chí Minh, nên sau thời gian dài, các thế hệ mầm non đất nước bị” dắt tay nhau đi theo tấm bản chỉ đường của đảng Cộng Sản” đưa đến những hệ quả nghiêm trọng về kiến thức, suy tư, đạo đức. Từ đó cái chương trình giáo dục cũng phải được” định hướng, chỉ đạo” theo cán bộ trung ương đảng, nên mức độ sai nầy cứ tăng dần theo năm tháng với những” phương án” giáo dục do bộ giáo dục và đào tạo đề ra, theo định hướng xã hội chủ nghĩa; mà ai cũng biết những tên lãnh đạo, có quyền lực quyết định mọi thứ đều là” lũ dốt, ít học”. Cho nên các” kỷ sư tâm hồn” chỉ làm theo lịnh trên, dù biết sai mà vẫn cứ nhắm mắt đi, nếu có nói cũng không ai nghe và nhiều khi còn mang họa vào thân. Lối giáo dục theo lối mòn từ thời Hồ Chí Minh đến nay mang tính chất chủ quan, hể cái gì của xã hội chủ nghĩa là ưu việt, cái gì của bọn” đế quốc tư bản” là xấu xa, phản động, cứ thế mà phát huy:

” Trăng Liên Sô tròn hơn trăng nước Mỹ.
Đồng Hồ Trung Quốc tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ”
(Việt Phương, chánh văn phòng thời thủ tướng Phạm Văn Đồng).

Hay là:” thằng Mỹ chỉ lên đến mặt Giăng, ông Liên Thô lên đến mặt Giời bằng xe tám bánh..”

Và những học sinh, sinh viên được học rất nhiều về Marx, Lenin, Mao, nhất là Hồ Chí Minh, từ cuộc đời sự nghiệp được thiêu dệt như là thánh thần, anh hùng dân tộc. Ngoài ra những nhân vật thật giả lẫn lộn như Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Trổi….cũng trở thành những” bài học lịch sử” của dân tộc.

Sự thụt lùi giáo dục qua những sai lạc chồng chất từ hàng chục năm qua trong ngành giáo dục, nay đã đến lúc không còn có thể duy trì mãi mãi nữa, vì hết thuốc chửa, nay cái thùng rác giáo dục Việt Nam cần phải mở nắp để cho mùi xú uế bay khắp nơi. Do đó vào đầu tháng 9, trong khi đảng và nhà nước đang rối bời về lạm phát gia tăng phản lực, mức tăng trưởng tụt dốc…thì mùa khai trường lại đến và lại có chuyện” sửa sai toàn bộ hệ thống các sách giáo khoa từ lớp 1 đến 12″ thật là một chuyện khó tin, nhưng có thật tại Việt Nam. Các nước dân chủ, hay ngay cả miền Nam trước 1975, chương trình giáo dục được soạn thảo rất kỷ, nếu có sai thì đính chánh ngay và năm sau sửa chửa; tuy nhiên dưới chế độ Cộng Sản, sách vở giáo khoa đã đi” chệch hướng” từ hàng chục năm qua, đào tạo biết bao thế hệ” học sai, nghĩ lệch” rất nhiều, ngày nay họ trở thành những nhà khoa bảng, có thể đang làm những công việc quan trọng trong nước, đương nhiên là có nhiều tiến sĩ, phó tiến sĩ, thạc sĩ, bác sĩ, giáo sư…..các trường đại học” đào tạo chánh qui” còn như thế, thì các” chuyên gia” có bằng cấp cấp đại học, hậu đại học thuộc giới:” dốt như chuyên tu, ngu như tại chức” còn tệ hại đến mức độ nào nữa. Sai về chánh tả, ngôn ngữ thì đính chánh, nhưng sai luôn về khoa học kỷ thuật là điều đáng lưu ý, dù có một vài tay giáo sư lên tiếng. Nền giáo dục tại Việt Nam bị co cụm ở đáy giếng, và những con ếch Việt Cộng nhìn lên, thấy bầu trời chỉ nhỏ bằng miệng giếng, nên cứ tiếp tục:” sống, lao động, học tập, chiến đấu theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Kiến thức của học trò, học sinh, sinh viên của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ quanh quẫn chung quanh” hàm râu Bác Hồ”* nên càng ngày càng tụt hậu.

Tuy nhiên, tại hải ngoại, từ lâu, hiện tượng xâm nhập văn hóa từ trong nước với những” đỉnh cao trí tệ loài người” cứ âm thầm qua cửa ngõ VĂN HÓA của những người được Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc ban cấp” tư cách tỵ nạn Cộng Sản” lại có những việc làm đi ngược lại những gì mà họ khai báo để sớm định cư. Dựa vào văn hóa để” nối giáo cho giặc” bằng nhiều hình thức:

-Các cơ quan truyền thông, lợi dụng báo chí, đài phát thanh, truyền hình…du nhập từ ngữ của Việt Cộng và họ cập nhật từng ngày, nên ngày nay xuất hiện lối ghép chữ từ các cơ quan truyền thông trong nước áp dụng như: động thái, trang cụ, cách tân, đặc tình….. đài phát thanh đưa một số nhà văn trong nước lên phát biểu, với những từ ngữ khó hiểu, lối nói đầy” tự kêu” huênh hoang về nền văn học trong nước; và sau cùng là được người điều khiển đài có vài lời góp ý khen ngợi một cách lố bịt. Đây là hình thức” giao lưu, giao điểm, hợp lưu văn hóa” tuyên truyền thâm độc từ ra từ trong nước xâm nhập thật tinh vi, mà các cơ quan truyền thống gốc tỵ nạn đã và đang” mở cửa cho giặc tràn vào”.

-Đưa ra những tác phẩm của các văn nô trong nước, ca tụng là” phản tỉnh” nhưng thật ra bên trong có chứa cả hệ thống từ ngữ Việt Cộng, lối tuyên truyền một chiều, như gọi miền Nam là Ngụy quân, Ngụy quyền….ca tụng thời kỳ đánh Tây, đánh Mỹ là làm cách mạng, khéo léo binh vực cho tên Việt gian Hồ Chí Minh..

-Một số người tự nhận là” Nhà Phê Bình Văn Học” chụp lấy những tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ trong nước và dùng thuật ngữ mổ xẻ…là hình thức gián tiếp giới thiệu những” văn hóa Cộng Sản” ở hải ngoại, tạo sự hiện diện thường trực.

-Một vài tổ chức đem những bài viết của những người phản tỉnh trong nước như Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Hộ…. đăng trên các tờ báo của họ, đánh bóng là” nhà đấu tranh, phản tỉnh, tù nhân lương tâm..”, như vậy, thì những kẻ làm ác, gây nợ máu, đến khi gần chết thì phản tỉnh là được trở thành người yêu nước. Chuyện nầy được vào tổ chức, như Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, từ thời còn Liên Minh Việt Nam Tự Do, thường quảng báo những người phản tỉnh trong nước. Triết lý Phật Giáo rất thâm sâu, nếu không nắm vững dễ áp dụng sai, gây ra đại họa, làm nên tội ác; đó là” tu nhất kiếp, ngộ nhất thời” nhằm khuyến người làm ác hảy quay đầu về nẽo chánh là được tha thứ. Câu chuyện ngụ ngôn của 18 tên cướp, bổng giác ngộ, vứt vũ khí, nấu thành nước và thành” La Hán”. Những người áp dụng sai, có cái tâm bất lương, nghĩ một cách lệch lạc là:” ta cứ đi làm ác, sau khi có túi vàng, vứt bỏ khí giới, giác ngộ và thành chánh quả”. Đó là những tên cướp biển trong vịnh Thái Lan, là dân đánh cá, gặp thuyền tỵ nạn là cướp, giết người, hãm hiếp phụ nữ một cách dã man, khi vào tới bờ, bõ khí giới, vào chùa sám hối là tội ác được tha thứ và cũng có thể” thanh tâm trường an lạc”… đó cũng là một trong những lý do mà thuyền nhân Việt Nam bị hại nhiều nhất trên đường tìm tự do; cái triết lý của Phật Giáo uyên thâm, nhưng cũng dễ bị kẻ ác lợi dụng làm nhiều điều ác đức.

-Một số cơ quan truyền thông hải ngoại cũng đã và đang làm công tác” giao lưu văn hóa” thật tai hại, đó là lối” đọc báo trong nước”, họ lợi dụng lối nầy để trích đăng, đọc trên đài những tác giả từ các tờ báo trong nước, giới thiệu và tuyên truyền cho những người đọc báo, nghe đài.

-Vài tấn kích văn hóa của giặc Cộng ở hải ngoại dể nhìn thấy, đó là sự: Sách Nhiễu và làm Rối Loạn truyền thông:

1-Sách Nhiễu truyền thông: một số người Việt đang sống tại các nước dân chủ, có thể là thành phần:

-Gián điệp nằm vùng-Trở cờ đón gió ( vì có quan hệ, làm ăn, họ hàng, quyền lợi tại Việt Nam)
-Những người ngây ngô, ở tại các nước dân chủ mà chưa hiểu gì về quyền tự do và giới hạn
-Thành phần được Việt Cộng gởi qua sau nầy qua diện du trí, đoàn tụ, hôn nhân ( cũng có thể tôn giáo bảo lãnh..)….những người nầy vô tình hay cố ý méo mó” tự do ngôn luận” là muốn các cơ quan truyền thông tiếng Việt phải” công bằng” trong việc đăng, đọc những bài viết của các tờ báo trong nước ( do Việt Cộng chủ trương) và những bài báo của các trang website của những tay sai Việt Cộng thành lập ở hải ngoại.

Tự do ngôn luận được tôn trọng ở các nước dân chủ, nhưng cũng phải có giới hạn để bảo đảm tính chất nhân bản, đạo lý. Do đó các cơ quan truyền thông các nước tự do, không ai đăng những bài báo” cổ vũ khủng bố, giết người, cướp của”, nhất là các tờ báo của người Do Thái, không bao giờ đăng bài” binh vực tên đồ tể Hitler”. Báo của người Việt tỵ nạn cũng thế, tên đồ tể Hồ Chí Minh và đảng siêu cướp Cộng Sản không thể được các tờ báo tiếng Việt đăng; ngoại trừ những tờ báo của chúng trá hình, một điều chắc chắn là trước 1975, báo Chiến Sĩ Cộng Hòa không bao giờ đăng những bài ca tụng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, những thành phần nêu trên nại lý do” công bằng” để gài các cơ quan truyền thông tiếng Việt đăng những bài của Việt Cộng; trong khi đó, họ biết rõ là” tất cả các tờ báo trong nước đều không bao giờ đăng tải những bài báo nói thật về cuộc đời tình dục của Hồ Chí Minh, hành vi bán nước, dâng đất, đảo, vùng biển cho Trung Cộng” được nhiều tờ báo hải ngoại phổ biến. Xin đơn cử một trường hợp sau đây, đăng trên tờ Nam Úc Tuần Báo, số 660, phát hành ngày 5 tháng 9 năm 2008, trong phần” Diễn Đàn Bạn Đọc”, trang 43 có ý kiến như sau ( trích nguyên văn):

” NAM ÚC TUẦN BÁO CHƯA CÔNG BẰNG:Trên mục Diễn Đàn Bạn Đọc của NUTB trong số báo tuần qua 29/8/2008, tôi rất đồng ý với quan điểm của ông Nguyễn Hữu Ba, ông viết”….nếu tôi cũng không lầm thì hình như từ trước đến giờ NUTB chưa đăng bài nào của tiến sĩ T.C.N. Vậy thì để cho công bằng, trung thực và rộng đường dư luận. Tôi đề nghị NUTB nên cho đăng bài phản biện của TS Trần Chung Ngọc ( hiện có trên giaodiemonline) vào số báo kế tiếp (hết trích).

Cá nhân tôi cũng nhận xét như vậy, tờ NUTB tính đến nay đã 13 năm, hầu như tuần nào cũng có những bài chỉ trích đối với nhà nước Việt Nam, nhưng tôi chưa bao giờ thấy NUTB đang những bài viết của họ. Vậy thì để công bằng và rộng đường dư luận, quý vị cũng nên cho đăng những bài viết đang gây xôn xao dư luận hiện nay, đó là đề tài tranh chấp đất đai của người Công Giáo tại xứ Thái Hà, được phổ biến rộng rải trên các tờ báo:

Saìgon Giải Phóng
(www. Sggp.org.vn)
Báo Hà Nội Mới
(www. Hanoimoi.com.vn.)
Báo An Ninh Thủ Đô.
( http://www.anninhthudo.vn)
hay Báo Nhân:
(www. Nhandân.com.vn) vì đây là tiếng nói của nhà nước và nhân dân Việt Nam.
Trân trọng kính chào quý báo.
MỘT KIỀU BÀO TẠI NAM ÚC.
( chấm dứt).”

2-Tạo rối loạn truyền thông: Sau khi những tờ báo giấy, điện tử của Việt Cộng ở hải ngoại bị lộ mặt, để đánh lừa dư luận, tạo tình cảnh” hổn loạn truyền thông” khiến người đọc không phân biết thật-giả; như chuyện Tây Du Ký, nhân vật Tôn Ngộ Không bị ma quái giả dạng, khiến Tam Tạng không nhìn ra, đọc chú cũng làm cho hai người ngả lăn ra. Do đó, trong thời gian gần đây, vài tờ báo của Việt Cộng bỗng lấy những bài báo của những người chống Cộng mạnh trên các diễn đàn thân hữu, đăng trên diễn đàn của họ. Xin mọi người hảy đề cao cảnh giác trước những biến hóa của Việt Cộng trên mặt trận truyền thông.

Một mũi nhọn văn hóa rất nguy hiểm khác thành hình, chẳng khác nào” mật khu văn hóa tại hải ngoại”, đó là cái gọi là Viện Nhân Văn Và Nghệ Thuật Việt Nam Hải Ngoại, thuộc Trung Tâm Văn Hóa Nguyễn Trường Tộ, đang có dự án thành lập” Đại Học Nhân Văn Hải Ngoại”, là một nơi dùng bình phong” văn hóa” khoát lên lớp vỏ bọc” phi chính trị” để che đậy những mưu đồ” chính trị đen tối” bên trong, mục tiêu” mơ hồ” về tôn giáo, triết học, tư tưởng, lịch sử, địa dư, ngôn ngữ, văn chương…. được coi là” Ổ GIAO LƯU VĂN HÓA” tinh vi, là tế bào ung thư văn hóa đang thành hình trong cơ cấu văn hóa hải ngoại.

Trung Tâm Văn Hóa nầy là nơi qui tụ những khoa bảng hải ngoại, có thể có sẵn từ một tổ chức ngoại vi của băng đảng Việt Tân, là Hội Chuyên Gia, thêm vào thành phần khoa bảng của nhóm Giao Điểm (đa số các bài viết thường có kèm theo học vị tiến sĩ, giáo sư..) và những” đỉnh cao trí tệ loài người” từ các trường đại học trong nước với những” tiến sĩ, bác sĩ, kỷ sư, phó tiến sĩ, hàn lâm..” đã được đào tạo từ” sai lệch” trong chương trình giáo dục hàng chục năm qua. Những thành phần” ung thư văn hóa, văn học, chất xám” nầy, tập hợp lại thành” mụt ung thư văn hóa hải ngoại”, thật là nguy hiểm vô cùng, nếu không chửa trị hay cắt đứt, thì mụt ung thư nầy lan sang các cơ cấu khác, nhất là” các tế bào non” là con cháu của người tỵ nạn.

Trung Tâm Văn Hóa Nguyễn Trường Tộ với các tổ chức râu ria khác: Viện Văn Hóa và Nghệ Thuật Việt Nam Hải Ngoại, Đại Học Nhân Văn Hải Ngoại…có tầm vóc tác hại rất lớn, là những nơi mở cửa cho giặc tràn vào, được coi là” cõng rắn cắn gà con”, nọc độc văn hóa tác hại từ từ nhưng khó tẩy nếu nó ăn sâu vào tận não bộ, là sách lược” trăm năm trồng người” mà tên Việt gian Hồ Chí Minh dạy cho lâu la. Một trung tâm văn hóa mà không phục vụ văn hóa, chỉ lợi dụng văn hóa để làm lợi cho giặc Cộng trong sách lược giao lưu văn hóa, nhuộm đỏ cộng đồng, cần phải cảnh giác. Lý do là họ lập ra các trung tâm nầy để làm gì? Lối học hàm thụ trên internet không khác gì lối” quảng cáo hàng trên E bay”, cấp bằng do cái viện đại học cấp chỉ để treo phòng khách cho vui, nhưng cũng thích hợp cho những người ham mê học vị cao mà không tốn công học hành. Đây mới đúng là” mảnh giấy lộn” dành cho các Ông Nghè Tháng Tám thời đại ở hải ngoại, nhưng nhờ vậy mà trung tâm giao lưu văn hóa, hình thức” hòa hợp hòa giải” cao cấp và tinh vi mới có người ghi danh. Khi thấy những ai có treo tờ giấy lộn do Đại Học Nhân Văn cấp, thì biết họ là thành phần nào trong xã hội.

Sau nhiều năm dấu kín, nay cái thùng rác” giáo dục” của Việt Cộng đã mở ra, múi thúi bay khắp nơi, qua việc sửa sai cả hệ thống giáo dục, mà từ trước đến nay, kiến thức đào tạo chẳng khác nào” xây nhà lầu trên bải sình”, nay đã lún sâu, khiến cho toàn bộ các văn bằng được bộ giáo dục và đào tạo cấp trở thành” rác”, đó là đội ngũ” khoa bảng” với hổn danh” tiến sĩ Cầu Muối”. Từ lâu, những thứ rác nầy đã được một số người ở hải ngoại góp nhặt, thành sản phẩm” recycle” và trịnh trọng đặt rác vào hàng văn hóa, văn học, thế mới nguy và đáng cảnh giác.

TRƯƠNG MINH HÒA

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Tâm trạng của một TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 10, 2008

Tâm trạng của một TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ

Những Đợt Sóng Ngầm Chống Cộng Mãnh Liệt Đang Chờ Cơ Hội Bộc Phát hay là Những Con Người Đang Đi Vào Chốn Thiền Định Vô Vi ?

(Thân tặng các Chiến Hữu đã một thời cùng chung cảnh ngộ khổ nhục trong các trại tù Cộng Sản Việt Nam. Kính gửi các Hội Tù Nhân Chính Trị tại Hải Ngoại để góp thêm tài liệu hội chứng)

VÕ ĐẠI TÔN.

 

(Hình chụp trên đường trở về Việt Nam tại biên giới Thái -Lào năm 1981.)

(Vượt biển sang Mã Lai tháng 5.1975 – Định cư tại Úc Đại Lợi tháng 6.1976 – Thành lập các Phong Trào Phục Quốc Hải Ngoại : Lực Lượng Dân Quân Yểm Trợ Phục Quốc Việt Nam tại Úc Châu/Tân Tây Lan, và Chí Nguyện Đoàn Hải Ngoại Phục Quốc tại Hoa Kỳ và Âu Châu, năm 1977 – Trở về quê hương năm 1981 bằng đường bộ từ Thái Lan xuyên qua Hạ Lào về Tây Nguyên Việt Nam, bị sa cơ tại biên giời Lào Việt và bị Cộng Sản Việt Nam giam cầm tại trại tù Thanh Liệt (B-14) ngoại thành Hà Nội suốt 10 năm 1 tháng 17 ngày – Phản kháng lại chế độ Cộng Sản Việt Nam tại buổi Họp Báo Quốc Tế do CSVN dàn dựng ngày 13.7.1982 – Nhờ áp lực Quốc Tế, sự can thiệp của Chính Phủ Úc Đại Lợi và vận động của Cộng Đồng Người Việt Tự Do Hải Ngoại, CSVN đã trục xuất về lại Úc Châu ngày 11.12.1991, sau hơn 10 năm bị biệt giam. Hiện định cư tại Úc Châu, giữ trách vụ Tổng Ủy Viên Điều Hợp Trung Ương, tổ chức đấu tranh Liên Minh Quang Phục Việt Nam – Liên lạc qua email: lmqpvn06@gmail.com ).

 

Những đợt sóng ngầm chống Cộng mãnh liệt đang chờ cơ hội bộc phát hay là những con người đang đi vào chốn thiền định vô vi ?

 

Vị y sĩ chuyên khoa ngoại quốc tại Úc, sau một tuần lễ chữa bệnh cho tôi về nội tạng cũng như tâm thần, ngồi trầm ngâm cố chọn lời nhẹ nhàng nhất để kết luận:

 

“Trong mấy chục năm tôi làm nghề chữa bệnh, Ông là bệnh nhân lạ lùng nhất, vượt ra ngoài những chẩn đoán y khoa thông thường. Một trong những điều lạ lùng mà tôi tự hỏi :- tại sao Ông vẫn còn sống ? Xin lỗi Ông khi tôi phải nói lên điều đó”.

 

Tôi im lặng mĩm cười. Biết nói gì hơn với một người ngoại quốc ? Phải trải qua một chặng đường lịch sử dài hơn nửa thế kỷ của một dân tộc bị đày đọa bởi chiến tranh, nghèo đói lạc hậu, bị cai trị bởi những chế độ mà nền dân chủ chưa được hoàn thiện vì bối cảnh an ninh chung của đất nước, và nhất là bị dìm sâu dưới đáy vực tiền sử của chế độ cộng sản bạo tàn dùng nhà tù và hận thù để tiêu diệt Con Người, thì may ra mới khai thông được phần nào những điều mà vị y sĩ kia đang thắc mắc.

 

Từ mấy chục năm nay, sau khi ra khỏi ngục tù cộng sản, đã bao lần tôi muốn mạo muội thay mặt cho một số bạn tù bị kiên giam, hoặc cho chính bản thân mình, trải lòng lên trang giấy tâm trạng của một người tù chính trị sau khi được tự do. Gọi là thêm phần đóng góp vào tài liệu tham khảo về một trong những thực trạng xã hội cay nghiệt nhất của nhân loại nói chung trong thời đại này, để cho các nhà chính trị, khoa học xã hội, y sĩ và chuyên khoa tâm thần, cũng như các thế hệ mai sau của Việt Nam sẽ tìm hiểu được nỗi đọa đày phải gánh chịu của lớp cha ông trên dòng sinh mệnh nghiệt ngã của dân tộc. Bao lần cầm bút rồi lại ngậm ngùi đắn đo đặt xuống. Nhưng hôm nay, qua lời thắc mắc của vị y sĩ ngoại quốc nói trên, tôi cảm thấy cần phải nói lên một vài nỗi niềm đã muốn che đậy dưới lớp bụi thời gian. Không van xin cầu khẩn. Không ta than nỗi đời. Không tự trách và cũng không oán hờn lòng người dửng dưng. Chỉ muốn viết lên một vài sự thật gọi là khảo luận tự thân và coi như là món quà tinh thần chia sẻ cùng các bạn Tù Nhân Chính Trị : – những người đã thực sự góp máu một lần nữa vào công cuộc giải trừ cộng sản, quang phục quê hương. Những viên gạch lót đường trong âm thầm và cô đơn nhất. 

 

(Hình chụp sau khi ra tù Việt Cộng trở về Australia năm 1991.)

 

Tôi không muốn nhắc lại sự kiện lịch sử đen tối vì sao chúng tôi, mấy trăm ngàn quân-cán-chính miền Nam, và những người còn tiếp tục chống lại chế độ cộng sản Việt Nam, đã bị cầm tù, vì điều đó ai cũng hiều rõ, nếu còn chút Công Tâm. Đại đa số những người đành bỏ nước ra đi tìm tự do từ 1975 đến nay và luôn cả hàng triệu triệu người dân còn sống trong nước, mỗi gia đình ít nhất cũng có một hai thân nhân đã bị cộng sản giam cầm hoặc bị chết âm thầm trong các trại tù gọi là “tập trung cải tạo”. Đây là một cái tang chung của dân tộc mà những nhà viết sử sau này cần viết lên đậm nét gọi đích danh thủ phạm là đảng Cộng Sản Việt Nam.

 

Trở lại với bản thân của người tù chính trị đã được tự do. Cho dù đã bị giam cầm tại nơi nào trên quê hương, tập thể lao động hoặc cách ly kiên giam, đã bóc một vài cuốn lịch hoặc mười mấy năm dư, những ai đã bị cộng sản cầm tù chứ không phải “cải tạo” theo mỹ từ Việt Cộng dùng để lừa bịp mị dân, đều mang trong lòng ít nhiều tâm trạng giống nhau tuy hoàn cảnh có vài khác biệt. Những ai chưa hề ở tù cộng sản, dù là bậc trí thức uyên thâm thuộc lòng sách vở cổ kim, dù là nhà chính trị hay khoa học xã hội lão luyện, cũng không bao giờ thấu hiểu được tâm trạng của chúng tôi cùng những nỗi đày đọa tinh thần từ trong quá khứ còn mang theo hiện tại mà chúng tôi đành phải âm thầm gánh chịu. Nỗi cô đơn từ trong trại tù, trong xà lim, trong chuồng sắt, lại biến dạng thành một nỗi cô đơn khác ngoài đời tự do. Cả hai đều nặng trĩu ngập hồn. Tạm ngược dòng thời gian, tâm trạng của chúng tôi nói chung đều bắt nguồn từ kỹ thuật hủy diệt con người tinh vi và trò ảo thuật tuyên truyền dối trá của kẻ thù chiến thắng, từ gia đình, xã hội, mặc cảm nội thân, cuộc sống còn lại trước mắt mà quỹ thời gian ngày càng vơi cạn, và cuộc chiến đấu còn đang dang dở.

 

Trong vòng tay sắt của Cộng Sản Việt Nam:

 

Ngay từ khi cưỡng chiếm được miền Nam bằng xảo thuật tuyên truyền, bằng sự vi phạm trắng trợn các hiệp định quốc tế, bằng bạo lực sắc máu, tập đoàn lãnh đạo cộng sản miến Bắc xuyên qua những luận trình nghiên cứu khoa học và lịch sử, phối hợp với thực tế hiển nhiên, đã từng lo sợ phải đương đầu với sự chống đối của nhân dân miền Nam, đặc biệt là hàng ngũ cả triệu quân-cán-chính Việt Nam Cộng Hòa. Vì lẽ đó, một mặt họ lo ve vuốt dân chúng tại những vùng vừa bị cưỡng chiếm bằng nhiều chiêu bài lừa bịp mị dân, một mặt lo tìm phương tiện và địa bàn để cách ly những người thuộc chế độ cũ. Họ không phải đợi đến sau ngày 30.4.1975, khi đã thành lập các ửy ban quân quản tại các địa phương, mới bắt đầu tung ra những trò xảo quyệt để lấy lòng dân.

Tôi còn nhớ rõ, vào những ngày đầu tháng 4 năm 1975, khi tôi nhận lệnh cùng một số đồng đội về Quân Đoàn 4 trong một công tác đặc biệt, ban điệp báo của chúng tôi đã khai thác được một chỉ thị của Cục “R” Việt Cộng gửi cho các toán tuyên vận nội thành của họ. Nội dung cho lệnh tuyên truyền rỉ tai trong dân chúng là khi Việt Cộng chiếm được miền Nam thì sẽ có một cuộc tắm máu tiêu diệt hết “ngụy quân ngụy quyền”, chọn các thiếu nữ xinh đẹp miến Nam để gả cho các thương phế binh Việt Cộng gọi là đền ơn đáp nghĩa “cách mạng”, phụ nữ nào có tóc uốn quăn và móng tay sơn đỏ hồng thì sẽ bị cạo đầu và rút móng tay.

Chính cấp trung ương Cục của Việt Cộng đã ra lệnh tuyên truyền như vậy. Dân chúng lúc bấy giờ rất hoang mang dao động tinh thần và một số đông phụ nữ đã tự động cắt tóc, cạo móng tay. Bầu không khí lo sợ Việt Cộng trả thù bao trùm khắp nơi. Nhưng đến khi chúng gần tiến chiếm được Saigon, vào cuối tháng 4 – 1975, lại có một bản chỉ thị khác được tung ra ngay, cũng phát xuất từ trung ương Cục “R”. Nội dung hoàn toàn trái ngược với chỉ thị trước đó. Lần này ra lệnh cho các đơn vị bộ đội miền Bắc phải triệt để giúp đỡ dân chúng, tiếp tế gạo muối, đối đãi ân cần lễ phép với mọi người, nhất là phải cố gắng lịch sự tối đa với phụ nữ. Đấy là một âm mưu dân vận xảo quyệt nhất, đen-trắng-xám cũng đều do cấp lãnh đạo Việt Cộng tạo ra.

Một mặt họ vờ đối xử tử tế với dân, mặt khác lại đi tuyên truyền là những điều mà người dân đã từng lo sợ về vụ tắm máu, cạo đầu, rút móng tay, cưỡng ép thiếu nữ lấy thương phế binh… đều do “Mỹ Ngụy” tung ra để chống Cộng. Trong lúc giao thời chưa rõ thực hư, một số đông dân chúng miền Nam đã cả tin vào những lời tuyên truyền sau này của Việt Cộng, thấy bộ đội miền Bắc “dễ thương và hiền quá”, lại thấy cấp lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa đã bỏ chạy di tản hết, người dân vô tình “hồ hởi phấn khởi” tiếp đón cộng sản vào Nam với vòng tay lớn thân thương !!!. Tạm yên về mặt tâm lý quần chúng, cộng sản lại dùng thủ đoạn dần dần cách ly quân-cán-chính Việt Nam Cộng Hòa ra khỏi miền Nam, “gọi đi trình diện học tập vài tháng” rồi lưu đày biệt xứ ra Bắc để triệt tiêu mọi mầm mống chống đối nổi loạn. Từ địa bàn giam cầm, tập trung lao động, dinh dưỡng, khai báo, đặt nội tuyến trong hàng ngũ tù nhân, mọi chi tiết đều được tập đoàn lãnh đạo cộng sản điều nghiên tỉ mỉ theo từng biến động tình hình.

 

Thậm chí họ cũng họp bàn mỗi khi muốn ban phát một điếu thuốc lào, một thìa đường hoặc muối, giấy phép thăm nuôi tiếp tế, cho từng đối tượng tù nhân mà họ gọi là “cải tạo viên”. Điều này các bạn Tù Chính Trị đã được tự do, đều có viết lại trong các tập hồi ký, mọi người ở hải ngoại đã đọc rõ. Ngay bản thân tôi cũng đã từng nêu trong cuốn “Tắm Máu Đen” đã xuất bản ngay sau ngày trở về Úc, 1992 (tái bản tại Hoa Kỳ năm 2000). Vì lúc nào cũng canh cánh lo sợ chúng tôi uất hận đến mức phải vùng lên đòi quyền sống của con người, cho nên những kẻ gọi là chiến thắng đã dùng mọi thủ đoạn ác độc nhất để hủy diệt tinh thần và thể xác chúng tôi. Dùng thủ đoạn trong bóng tối vì dù sao họ cũng có phần lo ngại quốc tế biết được thì họ sẽ gặp bất lợi về tuyên truyền ngoại giao. Và lúc nào họ cũng muốn chuẩn bị trước những vấn đề liên quan đến từng đối tượng gọi là nguy hiểm để phòng khi hữu sự thì đem ra khai thác có lợi cho họ.

 

Nào những “tác phẩm” do chính phòng Phản Gián của Bộ Nội Vụ (Công An) CSVN viết đi sửa lại, tiểu thuyết hóa với bao điều ngụy tạo lạ lùng như “Chân dung tướng Ngụy”, “Bộ mặt thật của CIA-Mỹ”, “Kế hoạch Z của Võ Đại Tôn”, “Từ bóng tối đến ánh sáng”, “Chính sách khoan hồng nhân đạo của Đảng”. “Ảo vọng Đông Tiến của Hoàng Cơ Minh”… cùng những bản gọi là “Tự khai, Tự Thuật”, những đơn xin khoan hồng, những cuộc phỏng vấn phát thanh truyền hình dàn dựng “học thuộc lòng” chu đáo, của các Tù Nhân đã được nhiều người biết đến. Nào những tấm ảnh đã được đạo diễn khôn khéo cho tù nhân đi “tham quan” các nơi trước khi được thả về. Tất cả đều được tồn kho lưu hồ sơ chờ lúc cần thiết thì cho tung ra tại quốc nội cũng như hải ngoại để làm lũng đoạn niềm tin cộng đồng và vô hìệu hóa cuộc chiến đấu tiếp tục của tù nhân chính trị.
Có những “tác phẩm ngụy tạo” như trên đã được CSVN cho tái bản ba bốn lần và chuyển ra hải ngoại. Tiếc rằng đã có một vài tờ báo gọi là “quốc gia” vui mừng trích đăng mà không kèm lời phê phán âm mưu thâm độc của CSVN, và không có nhận định khách quan với lương tâm chức nghiệp truyền thông để binh vực cho hoàn cảnh của tù nhân chính trị. Cá nhân tôi, vì từ hải ngoại trở về, mà người cộng sản gọi là “tên trùm phản động, điệp viên CIA” cũng nằm trong thành phần “được họ chiếu cố” đặc biệt, che trước chắn sau, bao vây mọi mặt, áp đảo tinh thần và lưu hồ sơ ngụy tạo từng chi tiết nhỏ để phòng hữu dụng về mặt tuyên truyền sau này. Điều đó đã xảy ra. Nếu anh em tù nhân chính trị nào “yếu bóng vía” sợ dư luận vô tình hay phủ phàng “chụp mũ”, không đủ lời biện bạch, thì đành phải im lặng rút vào bóng tối yên thân. Như vậy, người cộng sản lại thắng thêm một lần nữa, như bóng ma theo dõi cuộc đời của tù nhân chính trị.

 

(TRẠI TÙ THANH LIỆT (B-14) NGOẠI THÀNH HÀ NỘI (Hình do một ký giả ngoại quốc tặng năm 1992).)

 

Chính tên Thứ Trưởng Bộ Nội Vụ CSVN Lê Minh Hướng trước đây (sau này là Bộ Trưởng Công An và đã qua đời) đã từng nói với tôi trước giờ tôi được tự do và bị trục xuất về lại Úc (ngày 11.12.1991), sau khi bị biệt giam 10 năm 1 tháng 17 ngày :

 

“Anh được Đảng và Nhà Nước khoan hồng cho làm lại cuộc đời thì phải có những lời tuyên bố trung thực về chính sách nhân đạo của Đảng. Nếu anh còn ngoan cố chống đối chúng tôi, tất nhiên chúng tôi cũng sẽ có cách làm cho đám Việt kiều phản động ở nước ngoài không ai tin anh cả. Chính họ sẽ vô hiệu hóa sự hoạt động chống phá Cách Mạng Việt Nam của anh đấy. Chúng tôi sẽ có cách, tùy anh suy nghĩ và tự quyết !”.

 

Suốt trong cuộc chiến, người cộng sản đã tìm hiểu mọi chương trình huấn luyện, khả năng quân sự, trình độ văn hóa, cuộc sống hàng ngày của tầng lớp quân-cán-chính Việt Nam Cộng Hòa. Sau ngày chiếm được miền Nam, nhờ có hồ sơ cá nhân còn lưu lại trong các Nha Sở (chưa kịp hủy bỏ), họ lại được dịp tìm hiểu cặn kẽ thêm lý lịch của từng đối tượng tù nhân chính trị, phối hợp với những điều họ bắt buộc tù nhân khai đi báo lại cả mấy chục lần suốt mấy năm đầu gọi là “cải tạo”. Có người trước khi được thả về vì một hoàn cảnh hoặc điều kiện nào đó còn phải khai báo thêm một lần cuối để lưu hồ sơ. Tất nhiên là anh em tù nhân chính trị phải “giả dại qua ải”, vừa viết vừa lách cho khôn khéo. Vỏ quýt dày móng tay nhọn gặp nhau ở điểm này. Vì đã nắm được cái gọi là “toàn bộ lý lịch” của tù nhân chính trị như vậy, người cộng sản lúc nào cũng nhận thức rằng đây là một lực lượng chống cộng mãnh liệt nhất, không dễ gì tẩy não được.

 
Với thâm tâm hận thù, lo sợ, và bản chất dã man, tập đoàn lãnh đạo cộng sản Việt Nam lúc nào cũng muốn tiêu diệt hết cả khối tù nhân chính trị miền Nam để trừ hậu họa, nhưng vì còn e ngại quốc tế sẽ lên án vi phạm nhân quyền trắng trợn cho nên họ dùng thời gian làm vũ khí để giết chúng tôi. Giam tù không xét xử, vô hạn định. Cứ vài ba năm lại ký thêm một “án lệnh” bắt tiếp tục tập trung lao động vì “chưa cải tạo tốt”. Ngoài thời gian “cao su” đó, họ còn dùng phương cách lưu đày biệt xứ để cách ly gia đình, lam sơn chướng khí, lao động nhọc nhằn vượt quá sức chịu đựng và phẩm giá của con người, ăn uống thiếu dinh dưỡng, chèn ép tình cảm, gây chia rẽ hận thù nội tuyến, để triệt tiêu chúng tôi trong bóng tối. Ai còn may mắn sống gượng được để trở về với tự do thì cũng thân tàn ma dại, không còn đủ sức đối kháng. Tâm trạng của chúng tôi lúc nào cũng chênh vênh bên bờ vực thẳm, sống không nổi mà chết cũng không xong, u uất, thất vọng, hận thù chồng chất hoặc buông xuôi quên cả bản thân mình là Con Người. Rồi đến khi tình hình có gì đột biến hoặc tự thấy đã giam cầm chúng tôi quá lâu, không có công pháp quốc tế nào có thể chấp nhận được điều dã man trắng trợn này, thì người cộng sản buộc lòng phải trả tự do cho tù nhân chính trị về đoàn tụ với gia đình hoặc trục xuất ra khỏi nước gọi là “chính sách khoan hồng nhân đạo”! Nhưng trước khi thả, họ vẫn sắp đặt chu đáo nhiều phương án để vô hiệu hóa khả năng tiếp tục chống đối của chúng tôi.

Họ ngụy tạo hồ sơ, giả mạo chữ ký, thêm bớt nhiều điều đã bắt tù nhân khai báo trong suốt thời gian giam giữ, đạo diễn quay phim chụp ảnh, phỏng vấn, chiêu đãi vuốt ve, cho đi “tham quan” một vài thắng cảnh, thăm lăng Hồ Chí Minh, như đã nói trên, để chờ có dịp thì sẽ tung ra sau này (qua các tờ báo tay sai hoặc bọn nằm vùng, thư nặc danh phát tán trên các mạng lưới thông tin, tài liệu ngụy tạo gửi các hội đoàn…) hòng phản công lại những sự thật mà anh em tù nhân nào còn muốn tiếp tục chống đối họ trong các sinh hoạt chính trị công khai tại hải ngoại. Đấy cũng là một âm mưu thâm độc dùng để tiếp nối việc hủy diệt tù nhân chính trị sau khi được tự do, và làm lũng đoạn Niềm Tin trong cộng đồng hải ngoại. Nhưng thế vẫn chưa đủ, họ còn tìm cách làm cho người tù phải sống trong hoang mang, hy vọng đủ điều trước ngày giờ được tự do. Họ bày vẽ ra nhiều hoạt cảnh xa thực tế ở ngoại quốc, cho loan truyền tin đồn thất thiệt đầy cả màu hồng, đối với tù nhân nào sắp được xuất ngoại để làm cho người tù sống trong ảo tưởng với tràn trề hy vọng về cuộc sống mới. Đến khi va chạm thực tế, nếu không có điều gì được hài lòng về chính trị xã hội thì chính người tù phải mang tâm trạng chán chường thất vọng, bi quan yếm thế và không còn muốn “nhập cuộc” tiếp tục đấu tranh chống cộng.

Tất nhiên là đa số chúng tôi, với kiến thức và kinh nghiệm cuộc sống, qua tin tức gia đình và thân nhân bạn bè, cũng biết được trò tuyên truyền bịp bợm của cộng sản hòng lũng đoạn tinh thần chúng tôi, nhưng vì là con người vừa từ bóng đêm rùng rợn của địa ngục bước ra cho nên luôn mang trong lòng ước vọng được thấy lại ánh sáng mùa Xuân trước mắt, ánh sáng tự do đổi đời. Vì lẽ đó, một số đông chúng tôi đã và đang sống trong tâm trạng căng thẳng giữa nhiều thực trạng phũ phàng của xã hội bên ngoài. Trong những lần qua Mỹ sinh hoạt, tôi có dịp may mắn gặp lại một số chiến hữu vừa được tự do, đi theo diện H.O., tâm sự cho biết :

 

“Trong thời gian chờ đợi xuất ngoại, có nhiều tên cán bộ CSVN lân la đến thăm hỏi và vờ đưa cho xem nhiều bức thư ngụy tạo từ ngoại quốc gửi về, nội dung viết là chính phủ Hoa Kỳ vì “muốn chuộc lại lỗi đã bỏ rơi đồng minh” sẽ cho anh em tù nhân chính trị hưởng mọi trợ cấp ưu đãi nhất, thậm chí còn cho truy lãnh lương tiền theo tỷ lệ số năm tù, các hội đoán hải ngoại sẽ tổ chức tiếp đón nồng hậu, gia đình đang chờ đợi trong cảnh giàu sang hạnh phúc…”.

 

Đến khi sống trong thực tế tại nước ngoài với vết thương tù chưa thành sẹo thì một số anh em bị ngỡ ngàng trước bao nỗi niềm chua xót. Từ đó, chỉ muốn an phận qua ngày, âm thầm, cô đơn, mỏi mòn với hận thù quá khứ, hờn tủi trong hiện tại, vô vọng trước tương lai với tuổi già sức yếu và bệnh tật. Thay vì nung nấu trong lòng với mối hận thù đối với chế độ cộng sản đã nhẫn tâm hủy diệt một phần đời mình để tiếp tục đấu tranh, một số tù nhân trong cảnh ngộ này, lại mang tâm trạng chán chường. Đấy lại là một âm mưu thâm độc nữa của CSVN để tiếp tục vô hiệu hóa mọi khả năng chống đối của lực lượng chống cộng hùng hậu tại hải ngoại.

Trở về với gia đình thân yêu:

Không có một người tù nào không mang trong lòng nỗi nhớ thương và mơ ước được đoàn tụ với gia đình, siết chặt trong vòng tay người vợ thương yêu và những đứa con sau bao tháng năm dài xa cách. Bao nhiêu là mộng đẹp đã nâng niu từng đêm trong cảnh sống đọa đày. Thế nhưng, không phải gia đình nào cũng toàn vẹn hạnh phúc, những đổ vỡ nát tan vì hoàn cảnh chia lìa bao tháng năm không phải là chuyện bất ngờ chỉ có trong tiểu thuyết. Có người tù khi được trở về thì bơ vơ lạc lõng, gia đình đã di tản từ lâu, không nơi nương tựa. Có người lại gặp cảnh phũ phàng, vợ vì hoàn cảnh sống phải đành lấy chồng khác, con cái thất tung. Đau đớn nhất là trong thời gian mình đi tù thì có những tên cán bộ công an CS đến dùng quyền lực để quyến rũ, lừa gạt, chiếm đoạt vợ con, nhà cửa của mình, đến khi trở về thì bẽ bàng, nổi trôi, vất vưởng, hận thù chất ngất trong lòng.

Thực tế cay đắng với tâm trạng chán chường, biết hận ai đây ? Hận thù CS thì cũng không làm gì được trước hoàn cảnh bơ vơ. Còn một số anh em được ra nước ngoài đoàn tụ với gia đình đã định cư trước đây thì cũng không phải là toàn vẹn ước mơ. Đã có bao nhiêu gia đình tan nát vì hoàn cảnh, vì thời gian ? Không ai thống kê được số lượng này vì thuộc về tình cảm riêng tư, người trong cuộc thì muốn che giấu vì nhiều mặc cảm với đời. Nếu chưa đến nỗi tan nát thì dù sao đi nữa, hình ảnh “hoàng tử ngày xưa” của người chồng mới ra tù trong lòng người vợ cũng chỉ là một tiếng thở dài, ngượng ngập. Hình hài biến đổi tang thương quá. Ngày nào còn quyền uy sung túc, công danh địa vị, tuổi trẻ hào hoa, bây giờ chỉ là một lão già lẩm cẩm mang đầy bệnh tật, lạc hậu, trắng tay. Đàn con thì đã sống lâu ở xứ người, hình hài là Việt Nam nhưng đầu óc suy nghĩ theo lối Mỹ lối Tây, không biết gì về cội nguồn xứ sở, về quá khứ cha ông, đã gặp lại cha mình trong cái nhìn xa lạ dửng dưng. Tình cảm phụ tử dường như bị dựng lên một vách tường ngăn cách, lạnh lùng. Hình ảnh của những đứa con mang trong tâm tưởng suốt những năm tháng tù đày bây giờ đã hiện ra trước mắt, nhưng không phải là những điều đã mơ. Chẳng phải lỗi tại mình, chẳng phải tại lỗi vợ con.

 
Tâm trạng này chỉ biết âm thầm nén xuống tận đáy lòng, gửi qua khói thuốc cô đơn vào những đêm khuya vắng. Rồi lại tự thấy mình trở thành gánh nặng trong cuộc sống đã ổn định của vợ con, phải chìu lụy như sống bên lề. Thất cơ lỡ vận. Đã bao lần muốn vùng dậy để làm cuộc sống mới, chứng tỏ vẫn còn phong độ, đền đáp nghĩa tình gia đình, nhưng thực tế lại không như ý tưởng. Tuổi già sức yếu, tinh thần chưa ổn định, biết làm sao hơn ? Tự cảm thấy mình đang bị tụt hậu trong cuộc chạy marathon đường dài rồi bổng nhiên bỏ cuộc lúc nào không hay. Sống tạm qua ngày như một loại dây leo.

Mặc cảm:

Khi được tự do, điều trước tiên người tù chính trị cảm thấy mình trở nên quá lạc hậu trước đời sống văn minh đã đổi thay với tốc độ ánh sáng. Trước 1975, không phải người quân nhân cán bộ nào cũng được đi tu nghiệp hoặc công du xứ người. Đối với một số đông anh em, lần đầu tiên được ra nước ngoài theo diện đoàn tụ với vợ con đã phải ngỡ ngàng trước cảnh sống mới đầy đủ vật chất và khoa học kỹ thuật tân tiến. Ngay cả bản thân tôi, dù trước đây đã sống nhiều năm ở ngoại quốc, nhưng sau hơn mười năm tù trở về cũng tự thấy mình như người rừng rú. Trố mắt nhìn máy vi tính chẳng biết sử dụng ra sao, không dám bấm nút video, nghe nói đến điện thoại truyền hình là như nghe chuyện phong thần huyền thoại. Máy móc tân tiến phục vụ cho đời sống thường nhật trong nhà, xe cộ, đường sá thênh thang, tất cả đã làm choáng ngợp, phải chui vào vỏ ốc tiền sử của thế giới riêng mình. Thậm chí những ngày đầu ngồi nhìn bát cơm trắng mà chẳng dám ăn vì không biết có phải là sự thực hay mơ. Bên cạnh sự lạc hậu bẽ bàng như vậy, còn có sự so sánh thấy mình quá già nua, thân xác tiều tụy, trí nhớ mông lung, lẩm cà lẩm cẩm, “hội chứng lao tù” với sự nóng giận, tự ái bất chợt dằn vặt ngày đêm, không theo kịp với nhịp sống mới vốn rất bình thường chung quanh.

Vốn liếng kiến thức chỉ là những năm tháng tù đày, kể ngắn thì không hết chuyện, thuật dài thì người nghe đâm chán, xoay quanh thì cũng chỉ thấy mình còn đang bị bao vây bởi dây kẽm gai, cuốc đất trồng rau, bón phân tưới nước, cơm hẩm muối nhạt, xà lim hoang lạnh. (Mặc dù cá nhân tôi bị biệt giam hơn mười năm, không được sống tập thể lao động, nhưng tôi hiểu được điều đó) . Không còn là thời sự nữa, tất cả quá khứ đã bị cuốn xoay vào các lớp sống sinh hoạt nhộn nhịp thực dụng hàng ngày. Từ đó, tâm trạng của người tù chính trị bị dằn vặt bởi hai loại mặc cảm :

Tự Ti, vì thấy mình bị thua sút quá trong cuộc sống mới này, đối với gia đình và ngay cả bản thân, và, Tự Tôn vì cho rằng mình đã góp xương máu thực sự vào nỗi thăng trầm của đất nước quê hương, không ai được quyền phê phán, ta cứ ngẩng cao đầu ngạo nghễ mà sống. Gặp lại bạn bè trà dư tửu hậu thì tụm nhau kể lể những cái gọi là “hào quang quá khứ”, những cuộc hành quân, những chuyện vui buồn đời tù, coi như tự mình đang ngồi chùi lại cho sáng những tấm huy chương ngày nào… ngại rằng đời sẽ quên ta ! Vết tù là một vết chàm lịch sử, khắc sâu như nét Thát Đát ngày xưa.

 
Cuộc sống còn lại trong xã hội:

Những yếu tố khách quan tiêu cực trong xã hội, đối với người còn kẹt lại trong nước thì đã bị bao vây xâm chiếm đến độ quen rồi, coi như là cuộc sống bình thường, không còn bận tâm phê phán nữa. Còn ở hải ngoại cũng vậy, cuộc sống “di tản đổi đời” vàng thau lẫn lộn cũng đã làm cho những người ra đi từ trước trở thành “vô nhiễm”, coi như là những chuyện tiếu lâm.Nhưng đối với anh em tù nhân chính trị vừa mới được tự do, ôm mộng tưởng từ trong trại tù bước ra còn ở lại quê hương hay đã được xuất ngoại đều mang tâm trạng hẩng hụt, lạ lùng. Đặc biệt đối với số anh em được định cư đoàn tụ với gia đình tại nước ngoài, hoặc như bản thân tôi đã xa hải ngoại hơn mười năm dài, cuộc sống trong xã hội cộng đồng dường như có một bức tường vô hình chắn ngang. Lúc nằm trong tù thì tự vẽ ra trong óc bao nhiêu dự án cho cuộc đời còn lại của mình và cho cuộc đấu tranh chống cộng nói chung, chờ mong ngày thoát khỏi cảnh cá chậu chim lồng thì cố gắng lắp ghép lại với những sinh hoạt bên ngoài cho thành “đại sự”.

 
Nhưng thực tế như một cơn mưa lạnh, lòng tù nhân lại càng run rẩy. Cuộc sống cộng đồng tưởng rằng náo nhiệt trong sinh hoạt đoàn kết đấu tranh, triệu lòng như một, nhưng chỉ thấy phần lớn đang náo nhiệt cho đời sống riêng mình. Mấy năm gần đây lại có số người ồ ạt về quê hương du lịch hoặc đầu tư thương mại, vung tiền vui chơi thỏa dạ, quên mất câu nói đầy sĩ nhục đối với cộng đồng chúng ta của Phạm Văn Đồng trước đây :”Bọn bỏ nước ra đi là đồ phản quốc, tham nhũng, đĩ điếm, trốn chạy nợ máu nhân dân”. Bây giờ thì lại trở thành “Khúc ruột xa nghìn dặm thân thương của Tổ Quốc”.Nhìn cuộc sống mới, từ địa ngục trở về, người tù chính trị bao lần tự hỏi : – Thân ta bị tù đày suốt bao năm dài vô ích quá phải không ?

 

Dòng đời vẫn bình thản chảy trôi còn số đông anh em tù nhân chính trị chúng tôi thì như những khúc củi từ rừng xa xuôi về, bị cuốn giạt vào bờ hoặc tự trôi tìm ốc đảo nương thân. Tìm thăm một số bạn bè quen biết đã định cư sau ngày quốc nạn đến nay nơi xứ người thì bị choáng ngợp trước cảnh giàu sang sung túc tất nhiên phải có của họ. Hơn mấy thập niên rồi thì cho dù không có cơ may hoạnh phát cũng đủ dư thừa vật chất qua sức lao động cần cù. Bước chân tù đạp lên những tấm thảm lót nền nhà tráng lệ mà cảm thấy như lòng mình chùng xuống. Mừng cho bạn, thương cho mình. Tình cảm bạn bè vẫn còn đó nhưng sao tự thấy xa lạ, có phải vì mặc cảm hay không ? Trong cốc rượu mừng người về từ cõi chết, tiếng bạn cười hả hê yêu cầu kể lại toàn những chuyện tiếu lâm trong tù, những chuyện “cán ngố” , để nghe cho vui. Hỏi về chuyện đấu tranh chống cộng thì bạn dửng dưng trả lời :

 

“Thôi ông ơi, ông già rồi, vả lại đã đi tù gần chết mà còn chưa sáng mắt ra hay sao, đấu với đấm làm gì nữa ? Nào, kể chuyện tù nghe chơi, dẹp mấy chuyện chính chị chính em sang một bên đi…!”.

 

Đấy là lời bạn nói, rồi ai về nhà nấy, cuộc đời lại tiếp tục trôi đi. Nếu có một số anh em tù nhân chính trị nào còn muốn bày tỏ thái độ bất khuất. tiếp tục công khai tranh đấu để vạch trần sự thật về chế độ lao tù đầy thù hận và sắt máu của CSVN trước dư luận cộng đồng cũng như quốc tế, đòi lại danh dự con người đã bị tập đoàn lãnh đạo cộng sản dã man chà đạp, góp công cứu những đồng đội còn kẹt lại, thì lập tức cơ quan tuyên vận nằm vùng tại hải ngoại của công sản tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ với nhiều trò ảo thuật ngụy tạo. Một số người đã mang sẵn trong lòng nhiều đố kỵ cá nhân, nhiều ganh ghét vô lý hoặc hiểu lầm nông cạn, nghi ngờ đủ điều, lại vin vào đấy để vùi dập thêm tinh thần của tù nhân chính trị. Niềm tin lại thêm một lần băng hoại, người tù giật mình chới với, đớn đau. Tự hỏi : “Tại sao ?”. Thay vì giúp đỡ nâng người tù đứng dậy, chung vào hàng ngũ đấu tranh, thì có người lại dùng “ác khẩu”, tin tức nặc danh, để thêu dệt đủ điều, soi mói đủ chuyện, bàn luận xuyên tạc bên cốc rược chung trà làm cho một số anh em tù nhân chính trị cảm thấy chán chường, ngao ngán. Họ được thỏa lòng ganh tỵ còn người cộng sản thành ngư ông thủ lợi. Tôi chợt nhớ đến mẫu chuyện trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư tiểu học ngày xưa, người đi đường bị chó đuổi, căm tức, vờ la lên “chó dại” là cả làng bủa ra vây đánh con chó đến chết. Ác khẩu là vậy. Từ những sự kiện đại loại như thế, người tù chính trị mang tâm trạng ngao ngán, lòng ta ta biết, chí ta ta hay, hoặc tự trở về với nỗi cô đơn, yếm thế, như lời thơ Cụ Nguyễn Du “

 
Sự đời đã tắt lửa lòng
Còn chen vào đám bụi hồng làm chi ?

 
Không cảm thông nỗi đau đớn tủi nhục của người tù trong quá khứ, không giúp nâng người tù đứng dậy trong sinh hoạt hiện tại, mà lúc nào cũng có người “phán” những câu nghi ngờ nối dáo thêm cho kẻ thù : “Bị đày đọa như vậy mà sao còn sống được ?- Tại sao không chết trong tù ?- Tại sao lại được thả ra ? – Có cam kết điều gì với cộng sản không ? – Coi chừng nằm vùng đấy ! …”Cũng từ đó và vì thế, có một số anh em tù nhân chính trị đã đi tìm đạo học Thiền, coi đời là cõi Vô Vi, chán ngán nhân tình thế thái, hoặc tìm nơi nào cách xa phồn hoa đô hội, không sinh hoạt cộng đồng, để sống yên thân cho qua ngày tháng còn lại. Chìm sâu trong âm thầm lặng lẽ, cách biệt bạn bè, xã hội cộng đồng mất đi những cán bộ đấu tranh dày dạn kinh nghiệm và hàng ngũ quốc gia thêm phần phân tán.

 
Đối với cuộc chiến đấu còn đang tiếp diễn:

Ai cũng biết, muốn xây dựng lâu đài Tự Do cho quê hương Việt Nam thân yêu, cần phải có nhiều tay thợ đủ ngành nghề. Lẽ ra hàng ngũ tù nhân chính trị, nếu được nuôi dưỡng tinh thần chính đáng, dẹp bỏ tiểu dị để chăm lo đại đồng, là một lực lượng chống chế độ cộng sản hùng hậu nhất. Đặc biệt là tại hải ngoại vì có nhiều hoàn cảnh và môi trường sinh hoạt dễ dàng hơn trong nước đối với anh em còn kẹt lại chưa được xuất ngoại đoàn tụ gia đình hoặc không muốn ra đi. Hùng hậu, vì đã từng trực diện với CSVN, đổi kinh nghiệm sống còn bằng chính máu mình, hiểu rõ mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù, có nhiều thời gian trui rèn ý chí và nghĩ suy sắp sẵn nhiều dự án trong đầu, tuổi đời chín chắn.

 
Trong cục diện đương đầu với CSVN hiện nay cũng như trước đây, lúc nào chúng ta cũng cần quan niệm đây là cuộc chiến đấu của Toàn Dân, của sự Kết Hợp Lòng Người. Không ai có thể đơn độc hành động. Lực lượng tù nhân chính trị lúc nào cũng là mối lo sợ của tập đoàn lãnh đạo cộng sản nếu xã hội cộng đồng quốc gia nói chung biết chân thành tận dụng tâm lý và kinh nghiệm của đa số anh em chúng ta. Trong thời gian chúng ta bị tù đày thì các tổ chức đấu tranh, cộng đồng, đã cố gắng tạo ra nhiều phong trào vạch trần vi phạm nhân quyền của CSVN, đòi công luận quốc tế buộc họ phải trả tự do cho chúng ta. Đấy là điều phải làm đúng với lương tâm và tình chiến hữu. Nhưng khi chúng tôi được trở về với tự do rồi thì công cuộc đấu tranh còn phải tiếp nối đường dài. Như đã nói ở trên, tâm trạng của anh em tù nhân chính trị không phải là van xin cầu khẩn lòng thương hại của bất cứ ai, cũng không ta thán oán hờn, nhưng vì xã hội cộng đồng đã vô tình đưa đẩy một số anh em chúng ta vào thế tiêu cực, nản lòng. Điều tác hại nhất làm nao chí anh em là những lời xuyên tạc đố kỵ đầy ác ý của những kẻ thiếu lương tâm trong sáng, rỉ tai truyền miệng những lời vu khống, moi móc đời tư quá khứ mông lung nào đó để làm đề tài chuốc rượu hả hê vui cười.

Từ đó, có một số anh em chán chê bỏ cuộc, sống âm thầm bên lề cuộc đấu tranh chung. Còn những tù nhân chính trị nào tiếp tục quyết liệt bày tỏ Thái Độ sống còn trong việc góp sức vào công cuộc giải trừ cộng sản, quang phục quê hương, thì lại cảm thấy mình quá cô đơn vì việc góp công cứu nước đâu chỉ có một tổ chức với vài trăm chiến hữu thâm tình. Hoạt động âm thầm hay chừng mực thì bị bao kẻ ngồi lê chụp mũ là đã bị “thấm đòn thù” cho nên không dám làm mạnh, hoặc đã an phận thủ thường, bỏ cuộc. Hoạt động năng nổ hăng say thì bị xuyên tạc là háo danh tham lợi, bị vạch lá tìm sâu qua những khiếm khuyết vô tình. Chưa kể đến âm mưu rình rập ngày đêm của cán bộ cộng sản hải ngoại hoặc tay sai để gây thêm chia rẻ và phân tán niềm tin còn lại trong cộng đồng tỵ nạn nói chung. Một tấm hình do CS dàn dựng trước, một tờ đơn xin khoan hồng bị bắt buộc ký trong vòng vây khổ nạn, một bản khai đã bị sửa đổi thêm bớt, được CS tung ra đã trở thành những cây “gậy sắt” để cho một số người chụp lấy mà “quất sụm” những anh em nào còn có lòng muốn góp công vào đại nghĩa Dân Tộc, tiếp thêm chứng từ vào bản cáo trạng chống lại chế độ CSVN. Người tù chính trị trở thành nạn nhân của hai nguồn dư luận ác ý đó, quay quit trong sinh hoạt mới từ địa ngục trở về. Một số anh em chúng ta , khi được trở về với tự do thì lại bị dằn vặt giữa nhiều trạng thái tâm lý ngổn ngang:

– Chán nản thì lại tiếc cho máu xương của mình đã hao phí vô ích trong các trại tù suốt quãng đời trung niên, ngậm ngùi nhớ lại những cái chết đau thương không nhắm mắt của bạn đồng đội.

– Còn tiếp tục đấu tranh thì bị phủ đầu bởi bao nỗi oan khiên vô lý, chưa kể đến sự than vãn ngày đêm của gia đình và nỗi cô đơn của bản thân ít người hiểu được.

– Với sự dồn nén tâm lý u uất sau nhiều tháng năm lao tù, tâm thần chưa ổn định, tự cho mình “lạc hậu” trước thực tế hải ngoại, một số đông tù nhân chính trị mặc nhiên chọn cho mình thế đứng “khán giả, trọng tài” để khen-chê mọi sinh hoạt cộng đồng hoặc đấu tranh trong môi trường mới, chứ không chịu ghép mình thành “diễn viên” trên sân khấu chính trị chống cộng hoặc trên đấu trường cách mạng bản thân và tập thể 

 
TẠM KẾT

Không phải chỉ riêng anh em tù nhân chính trị mà toàn thể dân tộc chúng ta ngày nào chưa thấy được ánh sáng của Tự Do Dân Chủ và Nhân Bản trên quê hương đau khổ thì ngày đó còn tự cảm thấy cuộc đời tạm dung là vô nghĩa, vật chất dư thừa tại hải ngoại nói riêng nếu có được cũng chỉ là phù du. Nhưng vì những suy nghĩ này được viết ra trong sự lắng đọng của tâm hồn trải qua bao cuộc sóng gió của nội tâm và ngoại cảnh, tôi xin tạm được phép thay mặt cho một số bạn bè tù nhân của chúng tôi đã thoát cũi sổ lồng để nói lên đôi chút nỗi niềm của Tù Nhân Chính Trị đối với Tổ Quốc thân yêu. Được hy sinh ngoài trận tuyến hoặc bị kẻ địch cầm tù vì đấu tranh cho sự sinh tồn của Tổ Quốc Tự Do là niềm Vinh Dự tối cao của người công dân có lý tưởng chân chính. (Xin có một lời nhắn chân thành đến các chiến hữu tù nhân chính trị: – mong quý Bạn đừng bao giờ theo thói quen lặp lại danh từ “cải tạo” mị dân, lừa bịp vô nhân đạo mà CSVN đã trịch thượng gán ép cho chúng ta, như có người thường nói “Tôi đi cải tạo 12 năm tại miền Bắc hoặc 5 năm tại miền Nam…”

 
Không ai có quyền “cải tạo” lòng yêu nước của chúng ta, chính nghĩa đấu tranh của chúng ta !. Vì là nạn nhân của thời cuộc, của bài toán chính trị toàn cầu do các cường quốc áp đặt lên thân phận của một nước nhược tiểu thiếu lãnh đạo chân chính, nạn nhân của một chế độ CS phi nhân dùng chính sách trả thù dã man để hủy diệt mọi mầm mống chống đối, chúng ta đành chấp nhận hoàn cảnh tù đày nhưng vẫn ngang nhiên ngẩng cao đầu mang danh hiệu TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ, chứ không phải và không bao giờ là “cải tạo viên” !).

 

Một số anh em tù nhân chính trị vì hoàn cảnh và môi trường sinh hoạt phải mang tâm trạng nhiều mặc cảm: – tuổi già sức yếu, nội thương bị tra tấn chưa lành, lạc hậu với nền văn minh hiện đại. Văn hóa và nhất là ngoại ngữ chưa đủ thời gian trau giồi lại, gia đình một số bị chia lìa tan nát, sự ngăn cách cảm thông giữa hai thế hệ già trẻ, anh em cảm thấy mình bị thua sút về nhiều phương diện đối những người đi trước, các hội đoàn đấu tranh bị ít nhiều phân hóa, tinh thần bị nhiều kẻ “thời cơ” lợi dụng, lòng người vẩn đục Niềm Tin… người tù chính trị nói chung vẫn còn mang trong lòng chữ Tâm trong sáng. Nếu có anh em nào “rửa tay gác kiếm” tìm chốn an phận vô vi thì xã hội cộng đồng cũng cần phải cảm thông vì mỗi con người chỉ có một giai đoạn phục vụ. Những năm tháng bị tù đày cũng là một giai đoạn phục vụ cam go nhất đời. Còn nếu có anh em nào, nhờ hoàn cảnh và sức khỏe chưa đến nỗi nhược lắm, vẫn còn tự nguyện dấn thân đóng góp công sức vào đại cuộc chung thì chúng ta phải mở rộng lòng nâng đỡ tinh thần với Tình Chiến Hữu viết hoa để cùng nhau thăng tiến trên đường trở về trong vinh quang Tự Do của Dân Tộc.

 

Xin dẹp bớt cho chúng tôi những ổ trâu ổ gà và giúp giảm nhẹ gánh hành trang còn đầy những nỗi niềm chua xót, những tâm trạng não nề. Trong lịch sử nhân loại, Việt Nam đã phải chịu nhiều tang thương dâu biển, và trong những thập niên qua, người tù chính trị Việt Nam nói riêng là một tập thể khốn khổ nhất vì đã bị kẻ cầm quyền cộng sản đày đọa thể xác tinh thần quá mức chịu đựng của con người. Theo tài liệu tâm lý xã hội của Hoa Kỳ và các nước phương Tây (Cơ Quan Nghiên Cứu về Tù Nhân Chính Trị và sự tái hội nhập vào xã hội), tù binh hoặc tù nhân chính trị của họ sau khi về với tự do đều được nhiều cơ quan chính phủ đặc biệt chăm sóc thường xuyên, bồi dưỡng sức khỏe, khám nghiệm tâm thần, với nhiều chương trình xã hội ưu đãi. Ngay cả đến ngày hôm nay, những tù binh Mỹ từ Bắc Việt trở về đã mấy chục năm qua vẫn còn được hàng năm tái khám sức khỏe và tiếp tục được giúp đỡ ổn định đời sống bản thân, gia đình.

 

Còn tù nhân chính trị Việt Nam, thời lượng tù dài hơn, bị đối xử dã man hơn, nhưng vì chúng ta là những người mất nước cho nên đâu có chính phủ nào triệt để lo toan giúp đỡ mọi mặt, ngoài một vài ân huệ nhân đạo. Ngay cả bản thân tôi, sau hơn mười năm bị biệt giam, có lần tự tìm đến một cơ quan xứ người chuyên trách về hồi phục sức khỏe và tìm việc làm cho tù nhân, cũng chỉ được “mời” trả lời hàng chục câu hỏi trên mẫu in sẵn và được nhìn nhân viên phụ trách trố mắt ngạc nhiên, không hiểu tại sao tôi đã về VN để bị bắt ?. Lời khuyên cuối cùng nhận được là nên đi khai xin tiền trợ cấp thất nghiệp !. Chỉ có người Việt Nam nào đã từng khốn khổ vì chế độ cộng sản phi nhân mới cảm thấy rùng rợn khi nghe đến tên các trại tù Suối Máu, Hoàng Liên Sơn, Hà Tây, Thanh Liệt, Thanh Phong, Thanh Cẩm, Tiên Lãnh, An Điềm, Lam Sơn, Phan Đăng Lưu, Cổng Trời… Từ những địa ngục trần gian đó, chúng tôi đã trở về. Với những tâm trạng dày vò ngày đêm, người tù chính trị chỉ còn một lời kêu gọi lương tâm xã hội cộng đồng lần cuối :

 

– Nếu anh em chúng tôi còn ai tiếp tục đấu tranh được thì hãy nâng đỡ tinh thần để chúng ta cùng nhau nhịp bước đồng hành. Chúng tôi nhất định sẽ hiện diện trong hàng ngũ những người con yêu của Tổ Quốc Việt Nam trên đường về lại quê hương trong vinh quang của Tự Do Dân Chủ, lót đường cho các thế hệ mai sau được sống làm Người Việt Nam đúng nghĩa trong an lạc hưng thịnh, tự do và tự chủ của Dân Tộc.

– Còn nếu có người nào trong cộng đồng vì còn quá bận nhiều việc riêng tư đã quên đi nỗi thống khổ mà quê hương còn đang cam chịu dưới chế độ cộng sản, hoặc người nào vì đố kỵ ganh ghét cá nhân nào đó, không muốn tiếp sức cho người tù gượng dậy, thì cũng nên im lặng cho chúng tôi tiến bước, tất nhiên là chúng tôi không đi sai con đường lý tưởng Quốc Gia Dân Tộc. Im lặng khách quan cũng là một đóng góp cho dù là tiêu cực còn hơn là có những hành động, ngôn ngữ mĩa mai, cản đường, ngoại trừ những kẻ manh tâm làm tay sai cho cộng sản trong giờ phút này.

 

– Đối với những lực lượng đấu tranh vì Tự Do Dân Tộc, tù nhân chính trị – gồm đại đa số là quân-cán-chính VNCH và những người còn có lương tâm lo cho tiền đố đất nước – lúc nào cũng chân thành hợp tác và chia sẻ trách nhiệm.

 

– Riêng đối với tập đoàn lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã từng nhẫn tâm coi chúng tôi không phải là đồng loại, chúng tôi nhắn gửi một lời:

 

Tập thể Tù Nhân Chính Trị và Tù Nhân Lương Tâm đã và đang bị CSVN cầm tù, vẫn còn Hiện Diện trong mọi hoạt động vì chính nghĩa Tự Do Dân Chủ và vẫn còn SỐNG TRONG LÒNG DÂN TỘC !

 

Võ Đại Tôn

 

Tù Nhân Chính Trị Úc Châu.

 

http://www.take2tango.com/?display=4986

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »