Tudodanchu's Weblog

Freedom, Democracy, Human Rights, No Communism For Vietnam

Archive for Tháng Chín 11th, 2008

BÍ MẬT CỦA MỘT CÂU KINH PHẬT

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 11, 2008

LTS: Tại sao cán bộ cộng sản, lũ khỉ nón cối dép râu, kể cả Nguyễn Tấn Dũng – Phan Văn Khải, Nông Đức Mạnh, sau năm 1975, từ trong rừng ra, bỗng chốc trở nên giầu nứt đố đổ vách? Câu chuyện thật được kể qua ngòi viết của nhà văn Phạm Thành Châu – trích từ Nguyệt San Con Ong Việt số 85 phát hành tháng 7, 2008

 

BÍ MẬT CỦA MỘT CÂU KINH PHẬT

 

—— Phạm Thành Châu ——

 

Vừa rồi, chúng tôi, những người bạn chí thân từ thời còn đi học ở Việt Nam trước 1975, rủ nhau qua Canada thăm mấy ông bạn khác. Chúng tôi đến thành phố Montreal vào mùa hè nên không lạnh lắm. Ở Mỹ hay Canada, nhà cửa, cách sinh hoạt không khác nhau mấy. Và việc đi thăm bạn bè thì cũng chẳng có gì đáng kể ra đây nếu không có một câu chuyện, mà nếu bạn nghe được, chắc cũng sẽ ngạc nhiên, đặt nhiều câu hỏi.

Chuyện hơi dài dòng, xin bạn kiên nhẫn.

Chúng tôi gồm ba cặp vợ chồng, được gia đình người bạn tiếp đón rất thân tình. Ông ta còn gọi các bạn khác ở gần đó, kéo đến, nên buổi họp mặt thật đông vui.

Khi bữa cơm gia đình đã mãn, các bà lo dọn dẹp chén bát để pha trà và các ông đang chuyện trò sôi nổi, thì ông bạn chủ nhà đổi đề tài: “Có một chuyện thực, xảy ra ở Việt Nam, khoảng năm 1982. Một chuyện kỳ lạ mà bà chị tôi vừa là người trong cuộc vừa là nhân chứng. Lúc còn ở Việt Nam, chị tôi dấu kín vì sợ đến tai công an thì sẽ bị tra hỏi, có thể bị tù cũng nên. Nay chị tôi đến xứ tự do, sẽ kể thoải mái. Trong câu chuyện, có gì thắc mắc, xin cứ hỏi chị tôi”.

Người chị của chủ nhà, đang ngồi với các bà, được yêu cầu kể chuyện. Chị ta xin phép vài phút để lên lầu, lát sau đi xuống, tay cầm một phong bì đặt trước mặt và bắt đầu kể. Mọi người yên lặng, lắng nghe.

– “Gia đình tôi, sau bảy lăm (1975), chỉ còn đàn bà vì đàn ông đều vô tù cải tạo hết cả. Khoảng năm tám mươi (1980), chúng tôi được móc nối để vượt biên nhưng vẫn phải chờ ít nhất một người đàn ông đi tù cải tạo về mới quyết định được. Năm đó, cậu em tôi được thả về, chúng tôi báo cho người tổ chức, họ bảo, có một chuyến, phải đi ngay. Từ Sài Gòn chúng tôi đón xe về Cà Mau dự đám cưới. Đám cưới thật nhưng ăn cưới chỉ là cái cớ. Dân địa phương thấy người lạ từ Sài Gòn về ăn cưới thì biết ngay, nhưng rình bắt là công việc của công an. Thế nên, ai cũng chờ đợi màn thứ hai là khuya nay, công an sẽ phục ở bãi đáp để tóm gọn quí vị quan khách nầy. Trò nầy xảy ra thường xuyên, nhưng họ không biết rằng vụ vượt biên nầy lại do chính công an địa phương đứng ra tổ chức, nên tối đó quí vị công an với các viên chức xã ấp có nhiệm vụ phải nốc rượu cho thật say, để sáng ra, ai cũng không biết gì cả!

Khuya đó, chúng tôi bị gọi dậy, cấp tốc lên đường. Từ nhà ra biển chỉ vài cây số. Trời quá tối. Chúng tôi âm thầm theo người trước mặt, đi vòng vèo trên các con đường đất. Trong bóng đêm tối đen, thỉnh thoảng, bên đường lại có một toán chui ra nhập bọn, tôi đoán, cả đoàn chúng tôi, ít ra cũng hơn trăm người. Mặc dù đã được dặn trước là khi xuống thuyền phải tuyệt đối yên lặng và trật tự, không được chen lấn cãi cọ, nhưng khi thấy mấy chiếc tắc xi (thuyền nhỏ đưa ra thuyền lớn), người ta ùa nhau lội xuống nước, tranh nhau leo lên thuyền. Cậu em tôi đi trước, tay bồng hai đứa con, vợ nó níu lưng đi sau, tôi níu áo cô ta để khỏi lạc nhau. Chỗ bãi đó toàn sình, ngập đến đầu gối khiến ai nấy bì bõm mãi mà chưa đến thuyền. Cậu em tôi phải kéo hai người đàn bà chúng tôi phía sau nên càng vướng víu, chậm chạp. Mọi người như những bóng ma âm thầm, chen nhau leo lên thuyền.

Khi cậu em tôi bỏ được hai đứa nhỏ lên thuyền, đẩy được vợ nó lên, đến lượt tôi thì bỗng có tiếng súng, tiếng la hét:

– “Tất cả đứng yên! Đưa hai tay lên. Ai bỏ chạy sẽ bị bắn bỏ”.

Tôi thấy ánh đèn pin loang loáng cách chỗ chúng tôi vài trăm thước. Chủ thuyền vội đẩy thuyền ra. Cậu em tôi chỉ kịp níu lấy be thuyền, người vẫn còn ở dưới nước. Tôi và khoảng vài chục người đành đứng nhìn mấy chiếc thuyền lẫn vào bóng tối, mờ dần ngoài biển khơi. Lúc đó tiếng súng và tiếng hô hoán “Đứng yên! Bỏ chạy bắn bỏ” càng như gần hơn khiến mọi người vội chạy ngược về phía bờ. Như đã dặn trước:

– “Khi bị bể, phải chạy tránh xa ánh đèn của công an, trốn cho kỹ, chờ vài hôm, yên tĩnh mới tìm cách ra lộ đón xe về”.

Vậy là mạnh ai nấy chạy. Tôi bương đại lên bờ, chạy ngược hướng tiếng súng. Vừa chạy vừa run, miệng niệm: “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quảng Đại Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát”. Cứ nhắm mắt, nhắm mũi chạy đại, vấp mô đất hay gốc cây té xuống thì vùng dậy chạy tiếp. Lúc đầu hình như có người cùng chạy với tôi, quay lại thì không thấy ai cả! Tôi chạy độ nửa tiếng, thấy đã xa, vừa hoàn hồn thì hai chân rã rời, nhấc không lên. Tôi ngồi đại xuống đất, thở dốc. Lúc đó khoảng một giờ sáng. Tôi nhìn quanh. Một bên là biển đen sì, rì rào tiếng sóng, một bên là bờ rừng, với hàng cây là những khối đen, cao hơn đầu người, trông như những con ác thú đang chờ mồi. Tôi đoán, có lẽ công an rình bắt một vụ vượt biên khác, cách chúng tôi vài ba trăm mét, chủ thuyền tưởng bị bể, nên bỏ chạy, vì thế mọi người mới chạy thoát.

Từ lúc lên xe ở Sài Gòn đến khi về Cà Mau, tôi hoàn toàn không biết mình đang ở đâu? Bây giờ ngồi bơ vơ giữa đồng không mông quạnh, chung quanh tối mù, tôi tự hỏi mình sẽ làm gì, hay phải ngồi như thế nầy cho đến sáng? Lúc nãy, chạy, người toát mồ hôi, bây giờ, gió biển thổi vào, tôi lạnh run cầm cập. Tôi thầm ước cho công an đến bắt mình, có người cùng bị bắt với nhau cũng yên tâm, rồi sau đó muốn ra sao thì ra! Cái xách nhỏ trên vai tôi vẫn còn. Tôi tìm chai nước lạnh, uống mấy ngụm. Trong xách chỉ có vài chai nước lạnh, mấy viên thuốc say sóng, mấy hộp sữa đặc, cái khăn nhỏ, một mớ đô la và vàng cùng quyển kinh Phật. Không hiểu sao, trong lúc hoảng loạn mà tôi còn giữ được cái xách?

Đang ngồi rầu rĩ, bỗng nhiên, tôi thấy từ xa, có ánh đèn thấp thoáng, có lẽ là đèn dầu hôi, loại thường thấy ở thôn quê, cách tôi hơn một cây sốâ. Tôi mừng rỡ, quên cả mệt, đứng lên, nhắm ánh đèn mà đi. Tôi đi như chạy, té lên, té xuống, mà không thấy đau, cứ nhắm ánh đèn bương tới, vì sợ người ta tắt đèn thì không biết làm sao tìm đến. Độ nửa giờ sau, tôi đến nơi. Đó là một nhà lá, cửa mở, một cây đèn bão, (loại đèn để đi trong gió mà không sợ tắt) đặt trên một chiếc ghế nhỏ, để ngay trước cửa, nhờ vậy mà từ hướng bên trái ngôi nhà, tôi vẫn thấy được.

Khi đến trước cửa, tôi kêu lên:

– “Có ai trong nhà không? Cho tôi vào với”.

Có tiếng đàn ông nói lớn:

– “Vào đi! Đừng sợ!”.

Khi bước vô cửa tôi mới nhận ra là có một người đàn ông đang ngồi hút thuốc lào, cạnh một cái bàn để giữa nhà. Người đàn ông đứng lên, ra đem cây đèn bão và chiếc ghế vào. Nghe giọng lơ lớ, với cách dùng chữ, tôi đoán ông ta là người Bắc giả giọng Nam. Tôi bước vào nhà. Nhà không rộng lắm nhưng đặt ba nơi ba chiếc giường rộng, có trải chiếu tươm tất. Ông ta chỉ chiếc ghế:

– “Ngồi đấy đi!”.

Tôi nói cám ơn, vì áo quần dính sình, không dám ngồi, sợ dơ ghế. Ông ta bảo, giọng bình thản như việc nầy đã từng xảy ra nhiều lần:

– “Thế thì đi tắm đi! Tôi có sẵn áo quần của bà xã tôi, thay tạm. Áo quần bẩn thì giặt đi, phơi ra ngoài gió, sáng mai khô ngay, thay trả lại cho tôi, rồi tôi sẽ đưa ra bến xe, đón xe về Sài Gòn”.

Nghe nói sáng mai đón xe về Sài Gòn, tôi mừng quính, không ngờ mình may mắn gặp được cứu tinh. Tôi thấy có cảm tình với người đàn ông tử tế đó, định nói lời cám ơn, nhưng nhìn thấy hai con mắt của ông ta, tôi rùng mình khiếp sợ. Ông ta khoảng năm mươi tuổi, dáng người tầm thước, mặt sạm nắng, hai gò má cao, tóc ngắn, chân tay gân guốc … nghĩa là ông ta đúng là một nông dân, chỉ đôi mắt là khủng khiếp. Tuy đèn dầu tù mù nhưng đôi mắt vẫn ánh lên những tia sáng lạnh lẽo, vừa uy quyền, tàn nhẫn vừa như giễu cợt. Tôi sợ quá, cảm tưởng như mình là con chuột đã bị con mèo chộp được trong móng vuốt nhưng vẫn giữ đấy chờ con mồi chết khiếp mới từ từ thưởng thức. Thấy tôi đứng bất động vì sợ, ông ta cười, giọng dịu dàng nhưng vẫn uy quyền, như ra lệnh:

– “Tôi không hại cô đâu. Cô đừng sợ. Tôi nghe tiếng súng nổ là biết ngay vượt biên bị bể nên thắp đèn lên để ai chạy thoát thì đến đây tá túc, sáng mai tôi lấy thuyền đưa ra bến xe về nhà. Tôi đã cứu hàng mấy trăm người rồi. Ai cũng về nhà an toàn. Đừng sợ. Để tôi lấy áo quần cho cô thay tạm. Hôm nay vợ tôi ra chợ thăm đứa con gái, sáng mai, tôi đưa đi, nhân tiện đón vợ tôi về. Đói bụng thì có cơm nguội trong nồi với con cá khô trong bếp, lấy ra mà ăn”.

Ông ta nói nhỏ nhẹ, từ tốn nhưng tôi vẫn sợ, răm rắp theo lệnh. Ông ta vào buồng đem ra một bộ đồ đàn bà màu đen, trao cho tôi rồi thắp một cây đèn cầy, chỉ lối đi ra sau chái nhà:

– “Có cái phòng tắm sau kia. Sẵn nước với khăn lau. Tắm xong, mặc tạm, còn bộ đồ bẩn thì giặt đi, phơi lên, sáng mai khô, mặc vào, trả lại bộ đồ cho vợ tôi”.

Tôi riu ríu cầm áo quần và cây đèn cầy, ra nhà sau, vào phòng tắm, đóng cửa lại, gắn cây đèn sáp lên bệ, xây lưng về phía đèn, cởi đồ ra, dội nước. Tôi làm một cách vô thức, như bị thôi miên bởi cặp mắt của ông ta, tôi đoán, đang nhìn tôi qua khe hở của vách phòng. Tôi tắm qua loa, mặc áo quần vào. Còn nửa thùng nước, tôi đổ ra cái thau nhỏ sẵn đó, vò bộ đồ dính sình rồi treo lên một sợi dây kẽm trong phòng tắm. Khi tôi lên nhà trên thì ông ta chỉ cái giường, có giăng sẵn mùng:

– “Cô ngủ trên giường nầy. Tôi ngủ trong phòng. Ngủ đi cho khỏe, đừng sợ mà thao thức. Mai đi sớm”.

Tôi nói:

– “Dạ. Cám ơn!” rồi chui vô mùng. Ông ta tắt đèn, đi vào buồng.

Tôi nằm trên giường, mắt mở thao láo, không dám ngủ. Có chiếc mền mỏng, tôi lấy quấn chặt quanh người rồi nằm lắng nghe, không biết chuyện gì sẽ xảy ra? Tôi chỉ mong được ông ta tịch thu hết số đô la và vàng tôi mang theo rồi tha cho tôi về nhà. Tôi cứ lẩm nhẩm niệm Quán Thế Âm, cầu Phật Bà cứu khổ cứu nạn. Trong đêm tối, tất cả im lặng, chỉ có tiếng sóng biển rì rầm nghe như tiếng xe chạy rất xa. Bấy giờ tôi mới thấy người rã rời, vừa mỏi vừa đau ê ẩm khắp nơi, nhất là những chỗ bị mô đất hay gốc cây đập mạnh vào khi tôi chạy bị ngã. Suy nghĩ miên man, tôi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay.

Khi tôi tỉnh dậy thì trời đã sáng. Vừa xếp mùng, mền xong thì ông ta từ trong buồng bước ra.

– “Ngủ có được không?”.

– “Dạ. Đi mệt quá nên ngủ say một giấc đến sáng”.

Tôi nói mà không dám nhìn ông ta, sợ thấy đôi mắt kinh khiếp đó.

– “Cô thay đồ rồi chúng ta đi ngay. Tôi chở cô ra bến xe ngoài chợ, họ sẽ đưa cô lên bến xe tỉnh, đón xe về Sài Gòn. Cô viết vào miếng giấy trên bàn kia, tên họ địa chỉ của cô. Tôi cần biết về cô để sau nầy dễ xác nhận”.

Tôi ra sau nhà, thay đồ, đem bộ đồ của vợ ông ta để trên giường, đến chỗ cái bàn, viết tên họ, địa chỉ vào miếng giấy. Ông ta chỉ cái xách nhỏ của tôi “Đừng quên cái xách tay”. Tôi thấy quyển kinh của tôi để ra ngoài nhưng không dám lấy bỏ vào xách, mà làm như không thấy, chỉ vơ vội cái xách, cầm đi theo ông ta. Ra ngoài sân, tôi mới biết, trước nhà là một con sông rất rộng, có lẽ là cửa sông, còn biển thì nằm bên trái căn nhà, cách một cây số. Nhà ông ta nằm giữa một vùng hoàn toàn hoang vắng, chung quanh là sình lầy với cây đước, vẹt, sú gì đó mọc mênh mông, chạy đến mút mắt. Tôi không hiểu vì sao vợ chồng ông ta lại đem nhau ra ở chỗ nầy? Không ruộng vườn, không thuyền bè đánh cá, không có người chung quanh, ngay đến con chim cũng không thấy bay qua. Có chăng là mấy con cua còng gì đó nằm trên mặt sình dương mắt nhìn tôi. Con đường từ nhà ra bến sông được đắp cao, có lẽ là lối duy nhất đưa ông ta ra chiếc thuyền, đến với xã hội loài người.

Ông ta xuống thuyền, tôi bước theo. Nhờ mấy miếng bê tông làm thành tam cấp nên tôi xuống thuyền không khó khăn lắm. Chiếc thuyền nhỏ, dài khoảng sáu, bảy mét, rộng hơn hai mét, gắn máy đuôi tôm. Ông ta tháo dây cột thuyền, giật máy, đưa thuyền ra giữa giòng sông.

Chiếc thuyền chạy giữa hai bờ rừng vắng vẻ, hoang vu. Một lúc thật lâu thì xa xa thấp thoáng mấy mái nhà sau hàng dừa nước, rồi vài chiếc thuyền xuất hiện, chạy ngược chiều. Thuyền ghé vào một bến đò, có nhà cửa, quán ăn, một chợ thôn quê nhỏ và một bến xe lam (xe Lambretta, ba bánh dùng chở khách). Ông ta cột chuyền, ra dấu cho tôi cùng lên bờ. Mọi người thấy ông ta thì cúi đầu chào vẻ kính cẩn và sợ hãi. Ông ta không thèm nhìn ai, đi thẳng đến chiếc xe lam, nói gì đấy với người chủ xe. Người chủ xe khúm núm gật đầu, miệng dạ nhịp, rồi đến nói với tôi:

– “Mời cô lên xe. Xe chạy ngay bây giờ”.

Ông ân nhân không để ý đến lời cám ơn của tôi, cũng không nói với ai tiếng nào, xuống thuyền, giật máy, quay thuyền ra giữa giòng. Khi ngồi trong xe lam, tôi thấy mọi người đang tò mò nhìn tôi với vẻ sợ hãi rồi thì thầm với nhau gì đấy. Ông xe lam nổ máy, chở một mình tôi, vòng vèo trên đường đất trong xóm rồi đưa xe ra đường lớn, chạy vào thành phố. Ông ta chạy thẳng đến bến xe khách, ngừng cạnh một xe đầy khách, mời tôi xuống, đưa tôi đến ông tài xế, thì thầm với ông ta. Ông tài xế mời tôi lên ngồi ghế trước. Tôi lục trong xách nhỏ, thấy gói đô la và vàng còn nguyên, lấy ra một mớ tiền Việt đưa trả cho hai người, nhưng ai cũng khoát tay.

– “Anh Năm dặn rõ là ảnh sẽ trả tiền xe cho cô, chúng tôi đâu dám nhận”.

Chiều hôm đó, tôi về đến nhà.

Khoảng một tháng sau, người tổ chức đến gặp tôi, báo tin là mọi người đến đảo an toàn, thân nhân sẽ gửi thư sau. Ông ta hỏi tôi rất tỉ mỉ về vụ những người không kịp lên thuyền, tôi kể lại sự việc. Ông ta bảo những người kẹt lại đã bị công an bắt, chỉ thiếu hai gia đình, gồm bốn người, không có tin tức. Hai gia đình nầy thì tôi biết, họ là thương gia xuất nhập cảng trước bảy lăm, rất giàu. Trước khi đi, họ đã bán nhà, vì tin chắc sẽ đi lọt, như vậy, họ ôm của cải theo (vàng và đô la), phải nhiều lắm.

Chuyến vượt biển lần đó khiến tôi sợ quá, không dám nghĩ đến, ai rủ đi cũng lắc đầu.

Khoảng một năm sau, tôi nhận được một lá thư, tên người gửi lạ hoắc. Tôi hoàn toàn không biết ai đã gửi đến.

Chị ta cầm lá thư đưa lên “Mấy năm sau, chồng tôi đi tù về. Chúng tôi qua Mỹ theo diện HO. Vợ chồng tôi qua Canada ở chơi với gia đình cậu em. Gần mười năm mà tôi vẫn còn giữ lá thư nầy. Để tôi đọc cho quí vị nghe.

– “Gửi bà H. (là tên tôi). Bà còn nhớ, lần vượt biển ở Cà Mau, bị bể và bà được tôi cho trọ qua đêm, hôm sau đưa ra bến xe, về thành phố Hồ Chí Minh. Tôi biết bà thắc mắc. Tôi là ai? Tại sao lại ở nơi vắng vẻ? Tôi sinh sống bằng cách nào?

Tôi cho bà rõ. Tôi là công an, có nhiệm vụ ở đó để đón lỏng những người vượt biên bị bể chạy thoát được. Công an chúng tôi làm nhà cách nhau một vài cây số, dọc bờ biển, nơi thường có bến bãi vượt biên, có thuyền con đón ra thuyền lớn. Như vậy, khi công an đến bắt vượt biên, người nào chạy thoát cũng chỉ quanh quẩn đâu đấy, thấy đèn là tìm đến, thế là nộp mạng cho chúng tôi. Tôi bảo rằng có vợ ở chung nhưng thật ra, vợ con tôi đều ở ngoài Bắc, tôi vào đây công tác đã được bốn năm, khi nào ổn định sẽ đưa gia đình vào thành phố Hồ Chí Minh, vì chẳng ai có thể ở nơi hoang vắng nầy.

Mỗi công an chúng tôi đã chuẩn bị sẵn các tiện nghi, nước nôi, lương thực, giường chiếu để đón những người vượt biên tìm đến nhờ cứu giúp. Tôi cho ăn uống, ngủ lại, sáng hôm sau, cho họ xuống thuyền, nói là chở ra bến xe để họ về nhà, nhưng kỳ thực, thuyền đi được nửa đường là bị công an chận bắt. Tôi cũng bị bắt để không ai nghi ngờ.

Thông thường, nếu nhiều người tìm đến thì tôi bảo họ, có gì đem theo nên kê rõ, nhất là tiền bạc, quí kim, để tránh chuyện lấy cắp của nhau. Nếu chỉ một người thì tôi chờ lúc người đó đi tắm sẽ lục xách tay, kiểm tra những gì đem theo. Tôi còn rình nhìn lúc họ đi tắm, cởi đồ ra, sẽ thấy những gì họ lận theo người?

Tôi không bao giờ lấy của ai bất cứ gì, nên khi giải giao họ (đưa lên thuyền để bị công an chận bắt), công an chấp pháp lấy lời khai, sẽ thấy rằng tôi rất trong sạch. Tôi từng được công an tỉnh và trung ương biểu dương nhiều lần về thành tích chận bắt người vượt biên cũng như tinh thần chí công vô tư, không tơ hào đến của cải, vật chất của người bị bắt. Nhưng không ai biết rằng, hễ người nào đem nhiều đô la, vàng ngọc, hột xoàn là tôi thủ tiêu, chôn xác trong rừng. Tôi đào sẵn những cái hố, muốn giết ai, khuya đó, tôi lận súng trong người, bảo họ đi theo tôi để tôi chỉ đường mà đi ra đường chính đón xe về. Vào rừng, tôi bắn chết, đạp xuống hố, hôm sau ra lấp đất lại. Không người nào thoát khỏi tay tôi, vì chung quanh toàn sình lầy, có bỏ chạy một quãng là ngập người dưới sình, tôi chỉ rọi đèn pin, đi tìm và bắn họ rất dễ dàng.

Tôi có nói bao nhiêu người bị tôi thủ tiêu với bà cũng chỉ làm bà kinh hoàng chứ chẳng ích lợi gì. Tất cả của cải cướp được, tôi đưa cho vợ tôi đem về quê chôn giấu. Hột xoàn, đô la, vàng ngọc, châu báu … Nghĩa là vợ chồng tôi rất giàu. Vợ tôi bảo, có thể bỏ vốn lập những công ty, mua máy móc để sản xuất hàng hóa xuất khẩu hoặc mua nhà cửa ở Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh cũng không hết của. Dĩ nhiên gia đình tôi ngoài Bắc vẫn sống đạm bạc như bao nhiêu người khác, để tránh bị nghi ngờ.

Tôi dự định sẽ làm thêm vài năm, kiếm một số tiền vàng nữa rồi xin ra khỏi ngành.

Tính ra, tôi ở đó đã được bốn năm, cho đến cái đêm bà tìm đến nạp mạng cho tôi.

Như mọi khi, lúc bà đi tắm, tôi rình xem bà cởi đồ (để biết của cải lận theo người) rồi lên kiểm tra xách tay của bà. Tôi thấy trong xách có nhiều vàng và đô la. Như vậy, số phận của bà đã được tôi quyết định. Bà sẽ bị tôi thủ tiêu. Trong lúc lục xét xách tay tôi thấy có một quyển kinh, khổ lớn hơn những quyển kinh khác, mà những người vượt biên khác thường đem theo. Quyển kinh lớn đó khiến tôi tò mò. Theo thông lệ, tất cả kinh Phật của những người vượt biên, tôi giữ lại, khi nào lên tỉnh, tôi tặng cho người bạn đang trụ trì một ngôi chùa lớn, gần chợ. Anh ta là công an, đi tu là công tác, vẫn lãnh lương công an. Tôi tặng các quyển kinh Phật cho chùa để ai đến lễ chùa mà “thỉnh” những kinh đó thì biết ngay, người đó sẽ vượt biên và chúng tôi theo dõi. Vì tò mò và vì nghiệp vụ, tôi mở quyển kinh của bà ra, để sát ngọn đèn cho dễ đọc. Tôi đọc một cách tình cờ, một câu kinh nằm ngay giữa trang kinh. Chỉ một câu thôi. Câu duy nhất đó khiến tôi lạnh toát người vì kinh sợ. Tôi sợ đến choáng váng, muốn té xỉu, đến độ ngồi chết lặng một lúc thật lâu. Tối đó, tôi không ngủ được …

Hiện nay tôi đã ra khỏi ngành công an. Tôi đã đi tu ở một vùng núi miền Tây Nguyên, rất hẻo lánh, xa hẳn phố phường, làng xóm. Ngôi chùa nhỏ được cất bên góc núi. Rất xa, dưới chân núi, cách nơi tôi ở, thấp thoáng những nhà sàn của những người thuộc sắc tộc thiểu số. Mỗi buổi sáng, tôi lạy Phật, tụng kinh, rồi lên đồi cuốc đất, trồng khoai sắn, rau quả. Buổi tối tôi lại tụng kinh và suy ngẫm lời Phật dạy. Tôi bảo với vợ tôi là tôi làm nhiệm vụ trên giao, không nên gặp nhau nhiều, thỉnh thoảng lên tiếp tế lương thực mà thôi. Của cải mà tôi kiếm được (vợ tôi đang giữ), tôi dặn, nên trích ra một phần, khi nào có thiên tai bão lụt thì đem cứu giúp người hoạn nạn, giúp bà con, bạn bè khi họ cần, giúp các người già lão, bịnh tật, không nơi nương tựa, giúp các trại mồ côi, các trại cùi hủi …

Tôi viết để bà rõ, nay tôi đã chọn con đường khác. Tôi chỉ muốn biến mất trên thế gian, nhưng còn các con tôi? Chúng là nguồn sống của tôi. Tôi lo sợ cho chúng …

Nếu bà là một Phật tử, xin bà đến chùa, cùng góp lời cầu xin Phật Tổ cho tôi sớm tìm được con đường giải thoát.

Chúc bà sức khỏe.”.

Chị đàn bà giơ lá thư lên và nói:

– “Thư chỉ viết thế thôi”.

Chúng tôi hỏi:

– “Chị có nhớ mình mang theo quyển kinh Phật tên gì không?”.

– “Đúng ra, lúc nào tôi cũng để sẵn quyển kinh “Quán Thế Âm Bồ Tát” trên bàn thờ, hễ hô “đi!” là tôi chỉ việc bỏ vô xách tay và lên đường. Hôm đó, cô em dâu tôi đây, lại lấy quyển kinh đó trước, tôi vội quá, mở tủ kinh Phật của ba tôi để gần đó, vơ đại một quyển, nghĩ rằng “Phật nào cũng là Phật, vị nào cũng phù hộ, độ trì cho chúng sinh tai qua nạn khỏi”. Ba tôi, khi còn sinh thời, tu tại gia, nghiên cứu kinh Phật. Ngoài chữ Việt, ông cụ còn biết chữ Hán, chữ Nôm nên thỉnh rất nhiều kinh về nghiên cứu. Thế nên, đến bây giờ tôi cũng không biết mình đã mang theo quyển kinh nào khi vượt biên. Điều tôi tin chắc rằng. Chính quyển kinh đó đã cứu mạng tôi và câu kinh trong đó, như một lời phán của Đức Phật hoặc đấng Hộ Pháp, bảo thẳng với kẻ ác hãy ngừng tay lại. Lời phán đó phải có uy lực mạnh mẽ đến nỗi một kẻ giết người phải khiếp đảm”.

Trong bọn chúng tôi, chẳng ai là đệ tử nhà Phật mặc dầu, thỉnh thoảng có đi chùa lạy Phật, tụng kinh trong những ngày lễ, tết. Chúng tôi hỏi nhau rồi phán đoán đủ thứ. Câu “buông đao thành Phật” quá tầm thường, chẳng làm ai động tâm. Muốn biết bí mật của câu kinh đó, chỉ còn cách đi hỏi các nhà sư thì họa may.

Vì bị câu chuyện trên ám ảnh, nên trên đường từ Canada về lại miền Đông Bắc nước Mỹ, chúng tôi quyết định, ghé vào một ngôi chùa của sư PT để thăm và hỏi cho ra lẽ. Sư trạc tuổi chúng tôi, là chỗ quen biết nên rất thân tình. Sư PT xuất gia từ lúc mười một tuổi tại chùa Diệu Đế ở Huế. Vượt biên qua Mỹ, sư học và tốt nghiệp tiến sĩ Phật học. Tuy còn trẻ, nhưng sư PT thông hiểu Phật pháp và có một cuộc sống rất đạo hạnh.

Trưa hôm đó, chúng tôi được sư khoản đãi cơm chay. Trong lúc thọ trai, chúng tôi kể lại câu chuyện trên cho sư nghe và hỏi sư có biết câu kinh nào đã khiến một người vô thần phải buông đao giết người và đi tu không? Nhà sư suy nghĩ một lúc và nói:

– “Nếu lý luận theo Phật pháp thuần túy ở đây thì không thích hợp với một người cộng sản. Họ đã được dạy căm thù và được huấn luyện cách giết người, nên dù có cả một bầy quỉ dữ từ địa ngục chui lên, hay hàng nghìn Đức Phật hiện ra thuyết pháp, chưa chắc ông công an nầy phải sợ mà ngưng tay. Ông ta chẳng thù hận gì những người vượt biên, nhưng giết họ để cướp của, ông ta làm thản nhiên như người đồ tể giết heo, giết bò. Mục đích là để có nhiều tiền của cho con cái được sung sướng. Cán bộ cộng sản thường bảo nhau:

– “Hi sinh đời bố, cũng cố đời con” là thế. Kinh Phật chỉ nói về cái nghiệp và cái quả. Ai làm nấy chịu. Nhưng người Việt mình lại có câu “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”. Cha mẹ thương con cháu thì ăn ở nhân đức, để phước cho chúng. Con cháu, nhớ ơn đó mà thờ phụng các vị một cách thành tâm. Đó là “Đạo Thờ Ông Bà”. Ông công an cộng sản nầy thì làm ngược lại, nên ông ta bị ám ảnh bởi việc ác của mình, “quả báo nhãn tiền”, con cháu sẽ lãnh đủ. Có thể, con cái ông ta bị đâm chém hay bị giết chóc sao đó, khiến ông ta nghĩ rằng “Mình giết người ta thì con mình bị người ta giết” nên ông ta sợ. “Nhưng Phật đâu có dạy về chuyện quả báo cho đời con cháu mà ông ta, khi đọc một câu nào đó trong kinh Phật lại sợ hãi đến nỗi phải bỏ nghề, đi tu?”.

“Đa số những người vượt biên đều đem theo người là kinh A Di Đà hoặc Bạch Y Thần Chú, coi như có Thần Phật hộ trì bên cạnh. Khi gặp chuyện hiểm nguy thì niệm “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quảng Đại Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát” chỉ đọc tới đọc lui câu đó thôi, coi như tiếng kêu cứu, các vị Bồ Tát sẽ ra tay tế độ, giúp cho tai qua nạn khỏi. Những quyển kinh mà ông ta tịch thu, không nhất thiết đều giống nhau. Có thể người đàn bà kia đã mang một quyển kinh khác. Hơn nữa ở một nơi hoàn toàn vắng vẻ, không có gì giải trí ngoài việc đọc các quyển kinh Phật, quả thật, ông ta đang bước về hướng của giải thoát. Chính cái ý niệm muốn giải thoát khiến ông ta bỏ nghề, và câu kinh Phật kia chỉ như vật xúc tác, như cái nút điện mà ông ta đang mò mẫm trong bóng tối, đã bật sáng, cho ông ta thấy được con đường phải đi. Mỗi người là Phật chưa thành là vậy. Con người dù độc ác, mê muội đến đâu, cũng còn le lói một chút ánh sáng của lương tri. Đúng ra, phải gọi ông ta là “ông đạo” chứ không phải là “ông sư”. Vì ngoài việc nghiên cứu, tụng niệm kinh Phật, sư, sãi phải có thầy giảng giải, hướng dẫn trên đường tu tập. “Giả dụ như ông công an đó đến xin thọ giáo với thầy. Thầy sẽ giảng những gì cho một người vô thần như ông ta hiểu về Phật pháp?”.

Nhà sư cười:

– “Thoát được “tham, sân, si” là tự giải thoát rồi.

Chính tôi phải học ông ta, làm cách nào đã bỏ được chữ “tham”? Chữ “tham” đơn giản, thường tình thôi, không cần phải triết lý xa vời. Tiền của vô tay dồi dào, dễ dàng như vậy mà lại bỏ hết, mấy ai làm được?

Còn hai chữ “sân, si”, bản thân tôi như đang nằm trong cái rọ, không biết bao giờ mới thoát ra! Ông ta là thầy tôi mới đúng”.

– “Thầy có thể đoán được câu kinh nào nằm trong quyển kinh nào, đã khiến ông ta phải sợ mà đi tu không?”.

Nhà sư lắc đầu:

– “Chỉ riêng ông ta biết được mà thôi. Có thể chỉ một câu tình cờ, bình thường nào đó ông ta đọc được nhưng giải thích đúng những băn khoăn, thắc mắc, sợ hãi bấy lâu của ông ta, nó đánh động lương tâm ông ta, hướng dẫn ông ta tìm con đường giải thoát. Xưa kia, lục tổ Huệ năng chỉ nghe một câu trong kinh Kim Cang liền ngộ được đạo”.

– “Nhưng nhất định phải có một câu kinh nào đó. Thầy thử nhớ xem sao?”.

Nhà sư lắc đầu:

– “Bị hỏi thình lình, tôi không nhớ ra ngay. Hay là thế nầy. Bây giờ mời quí vị ra vườn sau chùa uống trà, ngắm hoa. Tôi xin được ít phút tập trung tư tưởng, họa may sẽ nhớ được điều gì chăng? Mục đích không phải tìm hiểu mà chỉ như trò chuyện cho vui vậy thôi. Tôi không đủ trình độ để giải thích câu chuyện kỳ lạ nầy”.

Nhà sư lên chánh điện. Chúng tôi ra sau chùa, vừa chuyện trò vừa lang thang ngắm hoa cảnh.

Có tiếng chuông ngân vang từ chánh điện, rồi tất cả yên lặng. Có lẽ nhà sư đang lễ Phật và trầm tư …

Độ một giờ sau, nhà sư xuất hiện ở ngưỡng cửa với nụ cười. Sư tiến đến, ngồi xuống với chúng tôi ở một bàn nhỏ dưới gốc cây. Chúng tôi vội hỏi:

– “Tìm được câu kinh nào chưa thầy?”.

Sư lắc đầu và cười:

– “Kinh Phật chẳng có câu nào hăm dọa người ta, bắt người ta phải đi tu cả! Để nói về cái nghiệp báo thì kinh Thủy Sám Pháp có nói nhiều, nhưng tôi chỉ nhớ chính xác được vài câu ở các quyển kinh khác, chẳng hạn, trong kinh Đề Bà Đạt Ma (Devadata-suta) có câu:

– “Những việc ác mà ngươi đã phạm, không phải là tại cha ngươi, không phải tại mẹ ngươi, không phải tại thầy, chủ ngươi. Chính một mình ngươi đã phạm, và một mình ngươi phải chịu quả báo”.

Trong kinh Pháp Cú (Damma-pada) cũng có câu:

– “Dẫu rằng ngươi chạy lên trời cao, ẩn dưới biển sâu, trốn trong núi thẳm, không có nơi nào mà ngươi tránh khỏi cái quả ghê gớm về tội ác của ngươi”…

Nói xong nhà sư lộ vẻ bối rối.)

– “Rất tiếc, vì sự vô minh của tôi mà câu kinh đó vẫn còn là một bí ẩn. Xin lỗi đã làm quí vị thất vọng. Theo tôi nghĩ, sự thống hối của ông ta quá thành khẩn, đã cảm động đến đức Phật, và Ngài đã ra tay tế độ, đã khai ngộ cho ông ta.

Nhưng phải là người thật thành khẩn thì đức Phật mới làm được việc đó”.

Phạm Thành Châu

http://www.conongviet.com/

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Công hàm bán nước của Hồ tặc và tay sai Phạm Văn Đồng

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 11, 2008

Công hàm bán nước của Hồ tặc và tay sai Phạm Văn Đồng

 
conghambannuoc_phamvandong1

Posted in Công hàm bán nước của Hồ tặc và tay sai Ph | Tagged: | 2 Comments »

MẶT THẬT CỦA MẶT TRẬN HOÀNG CƠ MINH: HÈN HẠ, VÔ LIÊM SỈ VÀ TAY SAI VIỆT CỘNG

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 11, 2008

MẶT THẬT CỦA MẶT TRẬN HOÀNG CƠ MINH: HÈN HẠ, VÔ LIÊM SỈ VÀ TAY SAI VIỆT CỘNG

VIỆT – NAM CANH TÂN CÁCH – MẠNG ĐẢNG

– L.s Nguyẽn văn Chức –

Tôi nhận đuợc tài liệu (bài thuyết trình và hình ảnh) về buổi ra mắt ngày 19/9/2004 của đảng Việt Tân tại Đức Quốc. Đoàn viên của mặt trận Hoàng Cơ Minh gửi cho tôi. Họ yêu cầu tôi lên tiếng.Tôi thấy có bổn phận.

Ý NIỆM ĐẢNG VÀ Ý NIỆM MẶT TRẬN

Quyển Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam, tủ sách giáo khoa Mác Lênin do Hà Nội xuất bản năm 1979, đã viết rõ : đảng là chiến lược (stratégie), mặt trận là chiến thuật (tactique). Đảng là trường kỳ, mặt trận là giai đoạn.

Từ 1930 cho đến 1975, đảng CS Đông Dương đã đẻ ra ít nhất 6 mặt trận hoặc phong trào: Mặt Trận Phản Đế Đông Dương, Mặt Trận Dân Chủ Đông Dương, Mặt Trận Việt Minh, Phong Trào Hoà Bình, Mặt Trận Tổ Quốc VN và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Mổi mặt trận có nhiệm vụ phục vụ cho chiến lược của đảng trong một giai đoạn . Xong nhiệm vụ, nó bị đảng khai tử. Hiện nay, trong số những mặt trận do đảng CS Đông Dương đẻ ra, chỉ còn một mặt trận.. Đó là Mặt Trận Tổ Quốc VN. Điều 9 của hiến pháp Việt Cộng đã nâng nó lên hàng định chế của nhà nước, với nhiệm vụ giúp đảng thực thi chiến lươc của đảng và kiểm soát sự trung thành của nhân dân đối với đảng. Luật Bầu Cử Quốc Hôị của Việt Cộng còn dành cho nó (tức Mặt Trận Tổ Quốc) một vai trò rất lớn-gần như quyết định– nơi điều 4, điều 12 và 25.

LỊCH SỬ GỌI VỀ

Đảng ta là một bộ phận khăng khít của đảng CS Quốc Tế, có nhiệm vụ lãnh đạo các phong trào đấu tranh chống đế quốc Pháp tại ba xứ Đông Duơng.

 

Lời tuyên xưng nói trên của bọn Hồ Chí Minh và đảng CS của y đã đuợc khẳng định nhiều lần dưới nhiều hình thức khác nhau, trong cơ man sách vở, tài liệu và văn kiện đảng.

Hôm nay, đảng Việt Tân của bọn Hoàng Cơ Minh cũng cùng một tuyên xưng đó đối với bạo quyền trong nước: làm tay sai cho bạo quyền, xâm nhập các phong trào đấu tranh tại hải ngoại, biến Người Việt Tỵ Nạn thành Việt Kiều, tiến tới hoà hợp dân tộc theo đường lối của bạo quyền.
Gọi đó là canh tân ! 

Canh tân, hoặc caỉ cách, cùng nghĩa với cải lương

Thập niên 1930, trong những Án Nghị Quyết hoặc Chương Trình Hành Động hoặc Lời Kêu Gọi Quần Chúng nổi dậy chống Pháp, Hồ Chí Minh và đảng CS của y đã dùng hai chữ cải lương để lên án chính sáchõ Pháp Việt Đề Huề của bọn Việt gian, một bọn không chủ trương lật đổ bộ máy thống trị của thực dân Pháp mà chỉ đòi canh tân để duy trì bộ máy thống trị của thực dân Pháp»

Chúng ta hãy nghe (nguyên văn):

Mục đích nó là lưà dối dân cầy các nơi và tán loạn tranh đấu khắp nơi. Đó là cái kế mượn danh quần chúng mà phá tranh đấu quần chúng. Đồng thời đế quốc chủ nghĩa lại thả bọn điạ chủ phú nông, quốc gia cảỉ lương ra hoạt động hết sức để phá hoại cách mạng. Bọn Lập Hiến» ở Nam Kỳ, tức là bọn Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phàn Long, không ngày nào là không khoe khoang ca tụng những hội đồng cải cách», hội đồng quản hạt» đối với thợ thuyền dân cầy. Bọn Huỳnh Thúc Kháng (Trung Việt), bọn Phạm Quỳnh (Bắc Kỳ) cũng bưng lập hiến» với cải lương» nói hàng ngày rất náo nhiệt» (Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam, Trích Văn Kiện Đảng, Nhà Xuất Bản Giáo Khoa Mác Lê Nin, Hànội 1979, Tập Một, trang 71)

 

Và chúng ta hãy nghe (nguyên văn):

 Bọn quốc gia cải lương như Bùi Quang Chiêu, Huỳng Thúc Kháng, Nguyẽn Văn Vĩnh, nhất là bọn tả» như Dương Văn Giáo,v,v…cũng giả ra bộ xăng xe phản đối đế quốc là người chủ của chúng nó để cướp ảnh hưởng trong quần chúng, để củng cố nền thống trị của đế quốc, phong kiến» (sách đã dẫn, trang 120)

SỰ THẬT TRUỚC MẮT

Đến đây, sự thật đã hiện lên. Đến đây, chúng ta nhìn thấy rõ thân xác cùi hủi Việt Tân của bọn Hoàng Cơ Minh: Một lũ tay sai của Việt Cộng giả bộ xăng xe phản đối Việt Cộng là chủ của chúng nó, để cướp ảnh hưởng trong quần chúng, nhằm củng cố nền thống trị của bạo quyền Việt Cộng.

Khi lên án một đoàn thể tại hải ngoại là tay sai Việt Cộng, chúng ta thường thận trọng. Nhưng đối với bọn Hoàng Cơ Minh, chúng ta không cần phải thận trọng . Quá khứ của họï là bằng chứng vô giá.

Kháng chiến ma, hù doạ đồng bào hải ngoại, làm tiền đồng bào hải ngoại , lường gạt tiền đóng góp cuả đồng bào hải ngoại chia nhau bỏ túi, đánh phá Người Việt Tỵ Nạn, rước đèn trung thu nón cối, ca tụng Hồ Chí Minh có công với dân tộc Việt Nam. Vân vân và vân vân, v,v,v … Rồi vụ Trần Trường treo ảnh Hồ Chí Minh và treo cờ Việt Cộng tại Bolsa năm 1999 không. Rồi vụ đại hội toàn quân tháng 9/2003 . Vân vân và vân vân.

Những trò lưu manh và phản bội nói trên đã đi vào tiềm thức Nguời Việt Tỵ Nạn.

Bây giờ bọn lưu manh đổi tên là Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng, để-tôi xin mượn cách hành văn cuả tên chó đẻ Hồ chí Minh ngày xưa “giả bộ xăng xe phản đối bạo quyền Việt Cộng là chủ của chúng nó, để cướp ảnh hưởng trong quần chúng, để củng cố nền thống trị bạo quyền”

Nhưng bọn lưu manh đã làm trò hề.

Đã canh tân lại còn cách mạng.

Canh tân và cách mạng là hai từ xung khắc nhau, trong ý niệm, trong thực tế, trong cứu cánh, cũng như trong hành động.

Canh tân (rénovation) hoặc cải cách (réforme) là thay đổi từ từ và ôn hoa một thực tế để thực tế ấy trở nên tốt hơn (changement en mieux). Còn cách mạng (révolution) là thay đổi đột biến, triệt để và bằng bạo lực (brusque et violent) để xoá bỏ một thực tế. (*)

Bọn Hoàng Cơ Minh không hiểu được sự khác biệt giữa canh tân và cách mạng. Hay lại rở trò bịp?. Như trò bịp kháng chiến quốc nội với 10 ngàn quân kháng chiến ma ngày xưa? Hiển nhiên, bọn lưu manh chẳng bịp được ai. Trái lại, chỉ làm trò cười.

 

 

LỄ RA MẮT TẠI ĐỨC NGÀY 19/9/2004

Tôi có đọc các bài thuyết trình của buổi lễ ra mắt của đảng Viêt Tân tại Tây Đức. Theo tôi, bài thuyết trình của ông Vũ Thư Hiên có trình độ và đĩnh đạc nhất. Ông đúng là một nhà văn, và một con người chính trị

LS Trần Thanh Hiệp cũng có mặt trong buổi lễ, nhưng trái với sự chờ đợi cuả tôi, ông Hiệp không thuyết trình.. Đó là điều đáng tiếc.

Còn những bài thuyết trình khác trong buổi lễ hôm đó ? Toàn là hiếu hỉ và rẻ tiền.

Riêng bài thuyết trình của hai ông Nguyễn Kim và Lý Thái Hùng, tôi xin nói ngay: hạ cấp.

Chúng ta thường nghe hai chữ Noblesse oblige», để nói về phép ứng xử của giới thượng lưu, giới có học hoặc con nhà dòng dõi. .

Bây giờ, câu đó đã bị thay thế bằng câu « Décence oblige».

Décence oblige» , nghĩa nôm na là: đừng làm trò cười.

Đảng Việt Tân, đã làm trò cười khi đưa hai ông Nguyễn Kim và Lý thái Hùng ra thuyết trình trước quan khách tại hội trường Urania Bá Linh. Một ông là chủ tịch đảng, một ông là tổng bí thư đảng.

Người ta có dịp nhìn thấy trình độ của họ. Một anh bạn ở Pháp gọi cho tôi, nói oang oang trong điện thoại:

 

Tờ Rốt Kít thứ thiệt đấy, chứ không phải I Tờ Rít « thứ thiệt đâu, toa đừng lầm.» 

Riêng tổng bí thư Lý Thái Hùng, chẳng những ông là nhà vô học chuyên chính thứ thiệt, mà còn là nhà vô sỉ» chuyên chính cũng thứ thiệt. Cách đây khoảng 6 năm, lúc đó, ông Hoàng Cơ Minh đã chết đượtc gần 10 năm, nhưng họ Lý vẫn quả quyết rằng chủ tịch “Hoàng Cơ Minh” còn sống và đang đi đó đây lãnh đạo kháng chiến quóc nội tiến tới thành công. Sao lại có thể có hạng nguời vô liêm sỉ và trắng trợn đến thế!

Tôi nhớ lại ngày xưa

Ngày xưa, những tháng đầu của năm 1946, tôi ở Thanh Hoá. Chả tối nào tôi không theo người lớn đi tập hát cách mạng hoặc đi nghe học tập chính trị.

Tôí hôm đó học tập về bác Hồ. Chủ toạ là một anh lái lợn, tức vô học chuyên chính thứ thiệt. Anh ta quả quyết đã trông thấy mắt bác Hồ có bốn đồng tử. Cả phòng họp nhao lên. Người thì nói mắt bác Hồ chỉ có hai đồng tử như mọi người khác, người thì nói mắt bác Hồ có 6 đồng tử, một ông duợc sĩ già thì quả quyết mắt bác Hồ có tất cả 9 đồng tử, nói xong tỉnh bơ. Phòng họp cười nói như cái chợ, nhất là mấy bọn thanh niên đứng cuối phòng. Cuối cùng, anh lái lợn vỗ vỗ hai bàn tay vào nhau, tuyên bố chấm dứt thảo luận để bỏ phiếu. Anh ta hô lớn: « Ai đồng ý nà mắt bác Hồ có bốn đồng tử thì dơ tay nên?» Cả phòng họp đều giơ tay lên. Anh lái lợn bèn tuyên bố: « Tất cả đồng bào đã đồng ý nà mắt bác Hồ có bốn đồng tử, vậy tôi tuyên bố nà từ nay mắt bác Hồ có bốn đồng tử, ai chống nại thì nà Việt gian phản động».

 

Tôi kể truyện này cho anh bạn Paris nghe. Anh ta nói oang oang trong điện thoại: « Toa trông ảnh có giống không? Không nẽ đồng chí Ný tổng bí thư của chúng ta nại nà con anh nái nợn à? Vô ný».

Về lễ ra mắt của đảng Việt Tân, bạn bè hỏi tôi . Tại sao đảng Việt Tân không ra mắt taị Paris, mà ra mắt ở Đức.?»

Tôi nghĩ : nên hỏi : « Tại sao Đảng Viêt Tân đã không dám ra mắt tại Paris? » Hỏi, tức là trả lời.

Ở Mỹ, đảng Việt Tânï đã phải chui rúc ra mắt mãi tận miền Bắc Seattle khỉ ho cò gáy. Họ không dám ra mắt tại Cali, nơi được coi là thủ đô Người Việt Tỵ Nạn. Tại Cali, năm 1999, Trần Trường và bọn đồng loã đã bị đồng bào ta đuổi đánh và nhổ đờm vào mặt khi trưng ảnh giặc Hồ và treo cờ nước vỏ lưụ máu mào gà tại khu Bolsa.

Bọn đồng loã trong vụ Trần Trường năm 1999 là ai ? Xin thưa: mặt trận Hoàng Cơ Minh, nay đổi căn cước là đảng Việt Tân.

 

 

30 THÁNG TƯ, NGÀY QUỐC HẬN

Ngày 30/4/1975, khi vào chiếm miền Nam Việt Cộng đã xử sự như một đoàn Hung Nô trên đất địch. Cực kỳ tàn bạo, cực kỳ đểu cáng. Hàng triệu người dân miền Nam đã phải liều chết ra đi , trên những con thuyền mong manh, làm mồi cho bão táp, làm mồi cho cướp biển, làm môì cho cá biển. Theo lời cựu tổng thống Nixon tháng 4 năm 1985 (ngày kỷ niệm biến cố 1975) thì cứ 3 người Việt Nam ra đi, có một ngừơi chết. Ngưòi đó có thể là người già cả, hoặc trẻ thơ.

Ngày 30/4/1975, khi vào chiém miền Nam, Việt Cộng đã xử sự như môt đoàn Hung Nô trên đất địch. Cực kỳ sắt máu, cực kỳ vô nhân đạo. Hàng trằm ngàn công cán chính, anh em quốc gia, và anh em chiến sĩ QLVNCH bị bắt, bị tra tấn, bị đánh đập, bị giam trong những trại cải tạo khủng khiếp nhất và phải lao động nơi rừng thiêng nước độc. Cựu nghị sĩ Trần Trung Dung, và cựu nghị sĩ Thái Lăng Nghiêm có kể cho tôi nghe những đối xử vô cùng ác độc của Việt Cộng đối với anh em Quốc Gia cải tạo», nhất là anh em cựu chiến sĩ QLVNCH. Bao nhiêu người đã chết mất xác, chết tức tưởi, không đuợc nhìn mặt vợ con lần cuối.!

 

 

Ngày 30/41975 là ngày tang tóc cho nhân dân miền Nam. Cha mất con, vợ mất chồng, con mất cha mẹ.

Đó là ngày của hận thù. Hận thù mà bọn Việt Cộng đã gây ra cho nhân dân Miền Nam. Và gây ra cho cả nhân dân miền Bắc. Bởi vì: miền Nam không còn nữa, quân đội miền Nam không còn nữa, Việt Cộng đuợc rảnh tay xiết chặt thêm gông cùm sắt máu trên thân xác yếu gầy nhân dân miền Bắc. Nhân dân miền Bắc đã tuyệt vọng lại càng tuyệt vọng hơn. Và đã đói rách, lại càng đói rách hơn. Cựu thủ tướng Nguyễn Văn Lộc có kể cho tôi nghe: ngừơi dân miền Bắc đói khổ ngoài sự tưởng tượng của chúng ta. Hôm ấy một ngày đông lạnh buốt ruột, hàn thử biểu chỉ 18 độ, ông đi lao động trên rừng già. Trên đường ông trông thấy những phụ nữ áo rách, phong phanh, quần rách xắn ngang gối, và đi chân đất. Đứa con nhỏ da bọc xương lũn chũn đi sau mẹ, ở truồng, mặc áo rách, cũng đi chân đất.

Ngày 30/4/1975 sẽ sống mãi trong tiềm thức dân tộc cũng như với lịch sử Việt Nam.Đó là NGÀY QUÓC HẬN.

Nay đảng Việt Tân của bọn Hoàng Cơ Minh gọi ngày đó là Ngày Tự Do. Bị Người Việt Tỵ Nạn vạch mặt, họ đổi giọng, gọi là Ngày Tranh Đấu Cho Tự Do.

Chúng ta đã nhìn thấy họ mưu tính gì rồi. Ngày hôm đó, họ sẽ manh động, xâm nhập vào hàng ngũ của chúng ta, để –tôi xin mựợn lời của tên chó đẻ Hồ Chí Minh ngày xưa- lưà dối dư luận và tán loạn tranh đấu khắp nơi. Đó là cái kế mượn danh quần chúng mà phá tranh đấu quần chúng»


Đúng là một lũ cải lương-tôi lại xin mượn lối hành văn của tên giặc già Hồ Chí Minh ngày xưa—một lũ tay sai Việt Cộng giả bộ xăng xe phản đối Việt Cộng là chủ cuả chúng nó, để cướp ảnh hưởng cuả quần chúng, nhằm củng cố nền thống trị của bạo quyền trong nước»

TỘI ÁC CÓ TỔ CHỨC (organized crime)

Thập niên 1990, một hồ sơ xuât hiện, nói là của cơ quan FBI về tội ác của một Tội Ác Có Tổ Chức (Organized Crime). Buôn lậu xi kè ma tuý, buôn lậu gái vị thành niên, tổ chức những ổ gái mãi dâm, mang khí giới bất hợp pháp, phá rối an ninh Nguời Việt Tỵ Nạn tại Mỹ , theo sách lược của bạo quyền Việt Cộng. Nhiều bạn của tôi đã đuợc đọc hồ sơ đó.

Việt Cộng hiện có nhu cầu bức thiết phải tóm thâu Người Việt Tỵ Nạn vào một mối, để rảnh tay đàn áp đồng bào trong nước. Nghị Quyết 36-NQ/TU ngày 26/3/2004 của Việt Cộng nằm trong nhu cầu và sách lược đó.

 

Phải chăng sự công khai hoá đảng Viêt Tân của bọn Hoàng Cơ Minh, cũng như những manh động mà bọn này dành cho ngày Quốc Hận sắp tới nằm trong nhu cầu và sách lược nói trên?
Chúng ta, Người Việt Tỵ Nạn , với tư cách công dân Mỹ, có quyền viết thư cho chính quyền Tổng Thống Bush, để đặt vấn đề và ngăn chặn tội ác có thể xẩy ra. Chẳng những chúng ta có quyền, mà có bổn phận. 

 THAY CHO LỜI KẾT

Tuổi đời bạc phơ rũ trên trang giấy trắng phao.

Đêm nay tôi viết, vì mặc cảm tôị lỗi. Tôi viết để những thế hệ sau này khỏi trách tôi hèn, cái hèn của một kẻ nhờ sống trong chế độ của Người Quốc Gia mà có được chút học vấn.

Tôi viết, để có thể ngẩng mặt lên nhìn các anh em cựu chiến sĩ QLVNCH đó đây trên đất Mỹ, có người đã để lại một phần thân thể trên chiến trường Miền Nam.

Tôi viết để không hổ thẹn với anh linh các chiến sĩ đã hy sinh vì đại nghĩa dân tộc, trong đó có những ngưới lính của tôi tại Mạo Khê Đông Triều.

Trước mặt tôi là tấm ảnh cũ kỹ của những Nguyển Khoa Nam, Lê văn Hưng, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn. Những vị anh hùng của QLVNCH, và của dân tộc Việt Nam.

Hởi Ngưới Quốc Gia, hỡi Nguời Việt Tỵ Nạn Cộng Sản, hỡi các anh em cựu Chién Sỉ QLVNCH. Hãy nhìn thẳng vào mặt bọn Việt Cộng và tay sai.

Hãy quyét liệt, hãy hành động. Hãy đánh giập đầu sự phản bội.

Chúng ta nhất định thắng. 

 

 

Houston 28/3/2005

http://www.tinparis.net/thamluan/nvchuc_viettan.html

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Việt Tân đã công khai từ bỏ mục tiêu chấm dứt chế độ CS

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 11, 2008

Việt Tân đã công khai từ bỏ mục tiêu chấm dứt chế độ CS

Trong buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ tịch đảng VT, tại Sydney, đại diện báo Sàigòn Times có hỏi ông, “Trong phần hỏi đáp trên website của đảng VT có đoạn nguyên văn như sau: Đảng Việt Tân là một tổ chức đấu tranh mang đặc tính cách mạng với mục tiêu lâu dài là canh tân Việt Nam. Nhưng muốn canh tân thì phải chấm dứt chế độ Việt cộng trước. Vì thế mà Đảng Việt Tân đã hoạt động bên trong Mặt Trận để thực hiện mục tiêu chấm dứt chế độ Việt cộng trong suốt hai thập niên vừa qua. Thưa ông ĐHĐ, nội dung của đoạn văn trên cho thấy, chính đảng VT đã xác nhận rõ ràng, mục tiêu của đảng VT là để canh tân VN. Còn mục tiêu của Mặt Trận là để chấm dứt chế độ VC. Như vậy, tại sao hiện nay, trong khi VC vẫn tồn tại, thì quý vị lại quyết định giải tán Mặt Trận? Phải chăng giải tán MT như vậy là quý vị đã từ bỏ mục tiêu chấm dứt chế độ VC? Và trong khi một mặt giải tán MT, mặt khác, công khai hóa VT là qúy vị đã sẵn sàng chấp nhận sự hiện hữu của VC, và chỉ còn theo đuổi mục tiêu canh tân VN?”

Nguyên văn câu trả lời của ông ĐHĐ đã được Sàigòn Times đăng trong số báo tuần trước (SGT 537), trang 55. Đọc câu trả lời của ông, người đọc đều nhận thấy ông đã quanh co, né tránh và dài dòng trình bầy nhiều điểm không liên quan đến câu hỏi. Đặc biệt, câu trả lời của ông còn chứng tỏ, ông đã không nắm vững sự thật, hoặc bao che một sự thật nghiêm trọng: Việt Tân đã công khai từ bỏ mục tiêu chấm dứt chế độ CS!

Tại sao ta có thể nói như vậy? Bằng chứng là chính website của đảng Việt Tân, trong phần hỏi đáp về sự khác biệt giữa Việt Tân và Mặt Trận, đã ghi rõ mấy điểm chính yếu cho thấy đảng Việt Tân đã công khai hoá sự thật quan trọng này. Cụ thể, thứ nhất, về tổ chức, website của Việt Tân xác nhận, trong khi Việt Tân là chính đảng, thì Mặt Trận “là một trận tuyến đấu tranh, quy tụ những đoàn thể, đảng phái, tổ chức cùng chia sẻ một mục tiêu đấu tranh chung”. Thứ hai, về mục tiêu, website của Việt Tân xác nhận, “Mặt Trận đã được thành lập trong giai đoạn chiến tranh lạnh với mục tiêu đấu tranh rõ rệt là vận động toàn dân tổng nổi dậy lật đổ chế độ Việt cộng”. Còn đảng Việt Tân “là một tổ chức đấu tranh mang đặc tính cách mạng với mục tiêu lâu dài là canh tân Việt Nam”. Thứ ba, website của Việt Tân xác nhận, “muốn canh tân thì phải chấm dứt chế độ Việt cộng trước, vì thế mà Đảng Việt Tân đã hoạt động bên trong Mặt Trận để thực hiện mục tiêu chấm dứt chế độ Việt cộng trong suốt hai thập niên vừa qua”.

Từ ba điểm quan trọng trên, có mấy câu hỏi cần được đặt ra. Một, tại sao Việt Tân đã phân nhiệm mục tiêu đấu tranh rõ rệt cho Mặt Trận là “vận động toàn dân tổng nội dậy lật đổ chế độ VC”, nay mục tiêu đó chưa hoàn thành, chế độ VC vẫn còn tồn tại, Việt Tân lại quyết định giải tán Mặt Trận? Rõ ràng, qua những gì được trình bầy trên website, người đọc có thể đi đến kết luận, Việt Tân khi quyết định giải tán MT, là Việt Tân đã công khai từ bỏ mục lật đổ chế độ VC!!! Hiển nhiên, một khi đã “công khai” có nghĩa, trên thực tế, Việt Tân đã ngấm ngầm huỷ bỏ mục tiêu lật đổ chế độ VC từ lâu. Có điều “từ lâu” là từ bao giờ thì chỉ có TƯĐVT mới có thể trả lời.

Hai, Việt Tân xác nhận “muốn canh tân thì phải chấm dứt chế độ Việt cộng trước, vì thế mà Đảng Việt Tân đã hoạt động bên trong Mặt Trận để thực hiện mục tiêu chấm dứt chế độ Việt cộng”. Vậy thì tại sao hiện nay, khi chế độ VC chưa chấm dứt, đảng Việt Tân lại không tiếp tục hoạt động bên trong Mặt Trận, mà lại giải tán Mặt Trận? Và tại sao khi đã thừa nhận “muốn canh tân thì phải chấm dứt chế độ Việt cộng trước”, Việt Tân hiện nay lại chủ trương chấp nhận canh tân trong khi chế độ CSVN vẫn còn tồn tại?

Ba, tại sao Mặt Trận “quy tụ những đoàn thể, đảng phái, tổ chức cùng chia sẻ một mục tiêu đấu tranh chung”, và Việt Tân, có những dị biệt về thành phần tổ chức, “nhưng lãnh đạo Việt Tân và lãnh đạo Mặt Trận là một”??? Nếu quả thật MT “quy tụ những đoàn thể, đảng phái, tổ chức cùng chia sẻ một mục tiêu đấu tranh chung”, thì quyết định giải tán MT, hay ngưng các hoạt động của MT đã được đưa ra bàn thảo, quyết định và thông qua chưa? Nếu có thì khi nào, ở đâu? Đồng bào hải ngoại, những người đã đóng góp tiền của, công sức cho MT suốt mấy chục năm qua, có được MT phổ biến về những quyết định quan trọng này không?

http://tinucchau.bravejournal.com/entry/21836

Việt Tân đưa tin sai lạc lời của BS Nguyễn Mạnh Tiến

SYDNEY: Trong buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ tịch đảng Việt Tân, tại Sydney, ngày 4 tháng 11 vừa qua, BS Nguyễn Mạnh Tiến, Chủ tịch CĐNVTD Liên Bang Úc Châu, đã phát biểu một cách thẳng thắn, rõ ràng về quan điểm, lập trường của CĐNVTD/UC; đồng thời BS cũng đã chân thành và thân mật tâm tình về những suy tư về Việt Tân, cùng niềm hy vọng của BS đối với chuyến công tác Úc Châu của ông Đỗ Hoàng Điềm (nguyên văn bên phải phần trên). Tuy nhiên, khi đảng Việt Tân loan tin về buổi nói chuyện, đã tường thuật hoàn toàn sai lạc lời của BS Nguyễn Mạnh Tiến (nguyên văn bên phải phần dưới). Hậu quả đã dẫn đến những phản ứng sâu rộng trong các hội đoàn, đoàn thể, cũng như đông đảo người Việt tại Úc.

Sau đây là nguyên văn thắc mắc của một thính giả đài 2VNR ngày 09-11-2007 lúc 20 giờ.

Nữ thính giả đặt câu hỏi: Theo như tôi theo dõi trên báo chí thì thấy Bs đã có những cái nhận định và những cái suy nghĩ trong cái buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm vừa qua, thì theo như tôi đọc được cái bản tường trình trên Webside VT đó thì Bs có những cái chia sẻ những ngộ nhận của đồng bào đối với VT về những cái chuyện làm của VT đã qua vậy đó. Điển hình là VT kêu gọi người tỵ nạn CS về VN làm ăn buôn bán hay là đào kinh vét mương, xây trường học vậy đó. Thì xin hỏi Bs là có phải Bs cũng chia sẻ những ngộ nhận của đồng bào đối với việc làm của VT không? như là cái bản tường trình của VT có nghĩa là dồng nghĩa là Bs tán đồng và ủng hộ những cái chủ trương cộng tác hay là hòa hợp hòa giải của đảng VT hay không ạ. Xin Bs cho ý kiến, cám ơn Bs.

BS Tiến trả lời: Vâng thì nếu mà những người có đi tham dự cái buổi nói chuyện của ông ĐHĐ và có nghe những lời phát biểu của tôi đó thì có lẽ rằng sẽ rõ cái lập trường của cá nhân tôi cũng như là của chung CĐ NVTD Liên bang Úc châu. Thì trong cái lời phát biểu của tôi đó thì tôi có nói rất rõ. Thứ nhất: là cái lập trường của CĐ Úc Châu của chúng ta là trước sau như một, luôn luôn chúng ta chống tuyệt đối, chống triệt để cái chế độ độc tài CSVN, do biết là cái chế độ này, nó xảo trá và nó gian manh, cho nên không bao giờ chúng tôi chấp nhận bất cứ một hình thức hòa hợp, hòa giải, công tác hay đối thoại nào, khi nào chế độ CSVN còn hiện hữu, và chúng tôi cũng nêu lên một cách thẳng thắn về những cái nghi ngờ, những nghi vấn, những lời dị nghị, những cáo buộc mà nhiều đoàn thể chũng như đồng hương ở trong cộng đồng có với đảng VT, và chúng tôi nói nhân có cái ông đảng trưởng ở đây thì chúng tôi yêu cầu rất rõ là ông phải làm thế nào để mà giải tỏa những cái thắc mắc đó, đánh tan tất cả những cái cáo buộc đó, để mà có thể tiếp tục đồng hành với tổ chức CĐ/NVTD Úc Châu như những đoàn thể, hội đoàn thực sự yếu nước ở trong CĐ mà làm cái công việc tiếp tục tranh bđấu cho tự do, dân chủ cho VN, thì cái lập trường của chúng tôi, cái lời tuyên bố của chúng tôi rất rõ. Chúng tôi không hề chia sẻ như là cái bản tin của VT, bản tin VT tôi cũng không được đọc mà tôi cũng nghe người ta nói như vậy. Nếu gọi là chia sẻ những ngộ nhận, có nghĩa là chúng tôi công nhận những điều ấy là ngộ nhận, thì chúng tôi không có công nhận như vậy là bởi vì cho đến giờ phút này, những điều cáo buộc, những điều nghi ngờ đó, theo chúng tôi thì bước qua buổi nói chuyện của ông ĐHĐ vẫn chưa hề được giải tỏa. Tại vì ông ấy chỉ nói là không, không có những chuyện đó, không có chuyện hòa hợp, hòa giải, không có chuyện kêu gọi người ta về nước tham gia cái này cái kia. Thì nếu mà gọi chối bỏ là giải tỏa thì cái điều này để cho đồng hương, hay là mọi người tự nhận xét. Theo chúng tôi thì nó không phải là giải tỏa.

Hoàng Nam: Điều đó có nghĩa là Bs không có ngộ nhận gì cả?

Bs Tiến: Dạ không, chúng tôi ở trong cái cương vị của chúng tôi là chúng tôi nêu ra những nghi ngờ, những thắc mắc, những cáo buộc, những dị nghị, phản ảnh những chuyện đó từ đồng hương, từ đoàn thể, đó là công việc của chúng tôi.

Hoàng Nam: Thưa Bs, những cái lời nêu ra của Bs trong cái buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm thì ông ĐHĐ trả lời với Bs như thế nào?

Bs Tiến: Thì như tôi nói đó, ông ĐHĐ chỉ nói là không, không phải như thế đâu, người ta hiểu nhầm chúng tôi, chúng tôi không có những chuyện đó. Nhưng mà theo tôi hiểu, như vậy thì cũng chẳng giải tỏa được cái gì, nó chỉ là chối bỏ mà thôi, không đi đến đâu cả.

Hoàng Nam: Vâng, Hoàng Nam hiểu được ý của vị nữ thính giả vừa đặt câu hỏi, thì trong cái bản tin mà VT đăng đi tổng kết cái buổi nói chuyện của ông ĐHĐ, Chủ Tịch đảng VT nhân dịp chuyến viếng thăm Úc Châu thì Hoàng Nam cũng có nhận được bản tin đó. Thì trong đó đại khái nói là “Riêng Bác sĩ Chủ Tịch Liên Bang đã bày tỏ sự chia sẻ với Việt Tân về những ngộ nhận về Việt Tân trong thời gian qua và hy vọng rằng buổi nói chuyện hôm nay của Ông Chủ Tịch Đỗ Hoàng Điềm sẽ giải tỏa được tất cả”. Đó là lý do vì sao mà thính giả, đồng hương ở đây người ta thắc mắc.

Bs Tiến: Thì tôi có nói thế này, tôi mong rằng, tôi mong rằng tất cả những nghi vấn, những dị nghị, những cáo buộc đó chỉ là ngộ nhận. Tại sao tôi lại mong như thế, bởi vì trong cái cuộc tranh đấu chung này mình không muốn mất ai cả. Nếu những cáo buộc đó là thật thì mình mất một người đồng hành. Đó là lý do tại sao tôi mong, tôi mong nhưng không phải là tôi tin nhé, tôi mong thôi, tôi nói rất rõ, tôi nghĩ là ngôn ngữ của tôi rất clear.
*

Được biết, ngày Thứ Ba, 6 tháng 11, bản tin của Việt Tân tường thuật buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm, đã được ông Lê Ánh, Trưởng cơ sở đảng Việt Tân tại Sydney, gửi tới hàng trăm địa chỉ email trong đó có các vị lãnh đạo cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể, truyền thông tại Úc. Ngoài ra, bản tin đó cũng đã được đưa lên website của Việt Tân ngày 7 tháng 11.

Hiểu rõ, trong số những dị nghị chỉ trích đảng Việt Tân của CĐ người Việt hải ngoại trên khắp thế giới, có những dị nghị chỉ trích “xuất phát từ những sự kiện cụ thể đã xảy ra trên thực tế”, đồng thời là một lãnh đạo cộng đồng liên bang vững vàng lập trường, nên trong buổi nói chuyện có mặt ông Đỗ Hoàng Điềm, Chủ tịch đảng Việt Tân, thay vì phát biểu một bài diễn văn thuần tuý nghi lễ, BS Nguyễn Mạnh Tiến đã có một bài diễn văn rất chặt chẽ, mạch lạc, thẳng thắn và đầy đủ ý nghĩa. Chỉ trong thời gian ngắn gọn có vài phút đồng hồ, BS đã nêu lên được 5 điểm quan trọng. Thứ nhất, BS nhấn mạnh, sức mạnh đấu tranh của cộng đồng người Việt tự do tại Úc có được là nhờ cơ chế thống nhất, làm việc dân chủ, đoàn kết, và đặc biệt nhờ sự vô tư và độc lập của CĐ đối với các tổ chức tôn giáo và chính trị. Thứ hai, BS ghi nhận những đóng góp của anh em đảng VT tại Úc. Thứ ba, BS tái khẳng định lập trường chính trị minh bạch, trước sau như một của CĐNVTD Úc Châu Liên bang và các Tiểu bang, Lãnh thổ là không chấp nhận chế độ CSVN, và “nỗ lực vận động bằng mọi cách để giải thể chế độ CSVN, phục hồi tự do, dân chủ và nhân quyền cho tổ quốc và nhân dân VN”. BS cũng một lần nữa minh định, “CĐNVTD Úc Châu không chấp nhận việc hòa hợp hòa giải, cộng tác với cái chế độ gian xảo và lưu manh đó dưới bất cứ hình thức nào”. Thứ tư, BS thẳng thắn thừa nhận, trong thời gian qua, trong cộng đồng người Việt hải ngoại đã có nhiều lời dị nghị, chỉ trích đảng VT, trong đó có những dị nghị, chỉ trích phát xuất từ những sự kiện cụ thể đã xảy ra trên thực tế. Và thứ năm, BS đề nghị, ông ĐHĐ trong chuyến viếng thăm Úc Châu lần này, cần “làm sáng tỏ những nghi vấn, giải đáp thoả đáng những thắc mắc, và khẳng định rằng đảng VT vẫn giữ lập trường trước đây là tranh đấu triệt để chống độc tài CSVN, không tìm cách hợp tác, chia chác quyền lực với CS như những lời cáo buộc”.

Hiển nhiên, nội dung bài diễn văn của BS Chủ tịch Nguyễn Mạnh Tiến rất trong sáng, rõ ràng và chân thành. Bài diễn văn đó đã thể hiện đầy đủ những suy tư, nguyện vọng cùng lập trường trước sau như một của đông đảo người Việt yêu tự do tại Úc, và có thể nói trên toàn thế giới. Tuy nhiên, qua cách hành xử của ông Đỗ Hoàng Điềm trong buổi nói chuyện tại Sydney, cũng như tại Brisbane, nhiều người đã thất vọng khi thấy rõ thái độ né tránh, tảng lời, nguỵ biện của ông. Qua các sự kiện cụ thể đã xảy ra trên thực tế, đông đảo người Việt tại Úc có quyền nghi ngờ lập trường của đảng VT, có quyền cho rằng VT đang chệch hướng, có quyền tin VT đang hoà hợp hoà giải với CS, có quyền cho rằng VT đang tìm cách hợp tác chia chác quyền lực với CS,… Vậy mà ông Đỗ Hoàng Điềm đã quên mất vai trò quan trọng của một chủ tịch đảng trong việc giành lại niềm tin của đồng bào, cố tình tảng lờ những đòi hỏi (hay nói đúng hơn, những lời cố vấn, khuyên nhủ, gợi ý tế nhị) hợp tình và hợp lý của BS Chủ tịch Nguyễn Mạnh Tiến, “Trong chuyến đi Úc Châu lần này của ông ĐH Điềm, người Việt tại đây đang chờ đợi ông làm sáng tỏ những nghi vấn, giải đáp thỏa đáng những thắc mắc, và khẳng định rằng đảng VT vẫn giữ lập trường trước đây là tranh đấu triệt để chống độc tài CSVN, không tìm cách hợp tác, chia chác quyền lực với CS như những lời cáo buộc.” Thay vì vậy, ông ĐHĐ lại dùng kiến thức phù phiếm và sự ba hoa của mình để nói chuyện ai cũng biết và biết từ khuya, như tại sao CSVN cai trị đất nước suốt 32 năm qua; ông khoác lác bàn về một giải pháp đấu tranh bất bạo động đã có cả thế kỷ, và mọi người đã chấp thuận cả mấy thập niên; ông còn huênh hoang kể về những chuyện chính ông cũng không hiểu tại sao, như chuyện ông được TT Bush tiếp kiến; rồi ông kêu gọi người Việt hải ngoại làm những chuyện lạ lùng, như gửi tiền về VN, cứ mỗi 100 Mỹ kim sẽ có được một người dân đi khiếu kiện;…

Trong lúc Chủ tịch Đỗ Hoàng Điềm tiếp tục sai lầm và tiếp tục sa lầy trong trong chuyến công tác Úc Châu, thì đảng Việt Tân cho phổ biến bản tin về buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm, trong đó có câu tường thuật sai nghiêm trọng lời phát biểu của BS Nguyễn Mạnh Tiến. Hiển nhiên, sự sai sót này không phải vô tình, mà do cố ý, với mục đích đánh lạc hướng dư luận, khiến người đọc hiểu trái ngược ý quan trọng BS Tiến muốn nói.

Nhận thấy nhu cầu cần làm sáng tỏ vấn đề, ngày 7 tháng 11, BS Nguyễn Mạnh Tiến đã gửi emal cho đông đảo quý vị lãnh đạo, đại diện cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể và truyền thông tại Úc, trong đó có đính kèm bài diễn văn của BS. Tuy nhiên cho đến tối Thứ Ba, 13 tháng 11, Sàigòn Times vẫn không hề nhận được bất cứ bản tin đính chính nào từ ông Lê Ánh, Trưởng cơ sở Việt Tân Sydney và là người đã gửi bài tường thuật của Việt Tân. Không những thế, cho đến tối Thứ Ba, 13 tháng 11, Sàigòn Times cũng không thấy bất cứ phần đính chính nào trên website của đảng Việt Tân, trong khi bài tường thuật với những câu xuyên tạc lời của BS Tiến, vẫn được giữ nguyên.

Trước việc làm xuyên tạc, và thái độ trắng trợn cưỡng từ đoạt lý của Việt Tân, người Việt bỗng nhớ đến câu tục ngữ “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”. Phải chăng, sau thời gian “tiếp cận” với CSVN để đào mương đào giếng, Trung Ương đảng VT đã lây nhiễm được lối làm việc xuyên tạc và thái độ trắng trợn cưỡng từ đoạt lý của chế độ CS???

http://tinucchau.bravejournal.com/entry/21835

Diễn Đàn Bạn Đọc

Hoàng Tuấn Phụ Trách

SGT số 538

Xin Hỏi “Ngày Tự Do” hay “Ngày Tranh Đấu Cho Tự Do”???

Phạm Đình Hạ – Darra QLD

Trong những bài viết trên báo SGT tôi thấy có nhiều bài nói Việt Tân lấy tên “Ngày Tự Do Cho VN” cho ngày Quốc Hận 30-4. Nhưng theo những bài viết trên website của Việt Tân cũng như qua lời giải thích của đảng viên Việt Tân mà tôi biết thì họ nói họ không hề gọi ngày Quốc Hận 30-4 như vậy, mà họ gọi là “Ngày Tranh Đấu Cho Tự Do VN”. Cá nhân tôi thì tôi không đồng ý gọi ngày Quốc Hận 30-4 là “Ngày Tranh Đấu Cho Tự Do VN”, nhưng thiết tưởng gọi như vậy cũng không có gì sai trái. Lấy ngày Quốc Hận thành ngày tranh đấu cho tự do VN là điều hợp lý, ý nghĩa, cũng như trước đây có người đề nghị gọi đó là ngày Quốc Kháng. Tôi thì tôi dứt khoát không đồng ý với Việt Tân cái chuyện về VN tiếp cận canh tân, xây dựng đất nước, hay đào mương đào giếng, vì làm như vậy khi chế độ CS còn tồn tại thì rõ ràng là tiếp tay cho CS rành rành ra còn cãi cái gì nữa mà sao họ nỏ miệng như vậy. Nhưng xin hỏi việc Việt Tân gọi ngày Quốc Hận là “Ngày Tự Do Cho VN” có đúng hay không? Nếu có xin nêu bằng chứng rõ ràng để cho chúng tôi được rõ. Trọng kính – Phạm Đình Hạ.

Kính thưa ông! Việc gọi “Tháng Tư Đen” thành “Tháng Tư Xanh”, hay gọi ngày Quốc Hận 30-4 thành “Ngày Tự Do Cho Việt Nam”, cũng như việc tổ chức cái gọi là “trưng cầu dân ý” nhằm chọn “Ngày Tỵ Nạn Việt Nam” thay thế ngày Quốc Hận 30-4… đều là những âm mưu của Việt Tân nhằm xoá bỏ ngày Quốc Hận 30-4, ngày được coi là vết nhơ trong lịch sử VN. Đối với CSVN, mấy chục năm trước, họ coi đó là ngày chiêán thắng, nhưng sau này, chính CSVN cũng nhận thấy đó là ngày chứng tỏ với dân tộc VN, với thế giới, dã tâm xâm lăng Miền Nam và tội ác của họ đối với thế giới. Quan trọng hơn nữa, CSVN nhận ra, nếu tiếp tục duy trì hai chữ “Quốc Hận” mỗi dịp kỷ niệm 30-4, sẽ đánh thức trong tâm trí người Việt yêu nước tại VN cũng như hải ngoại, tội ác CSVN đến muôn đời. Chính vì lý do đó, nên trong những năm gần đây, CSVN đã cố giảm thiểu tầm quan trọng khi tổ chức ăn mừng “ngày chiến thắng 30-4”

Riêng việc gọi ngày Quốc Hận 30-4 là “Ngày Tự Do Cho Việt Nam”, chúng tôi có bằng chứng cụ thể qua nhiều văn thư lưu hành nội bộ của chính đảng viên Việt Tân. Cụ thể, trong văn thư Số 4 đề Ngày 22 tháng 9 năm 2005, gởi “quý chiến hữu toàn đảng và quý chiến hữu trong Vụ Giám Sát Việt Tân” của bà Việt Khanh, đảng viên Việt Tân thuộc Cơ Sở San Jose., Bắc Cali. có đoạn nguyên văn như sau trong phần “2. Ảnh Hưởng Lên Những Hoạt Động Của Đảng Sau Ngày Công khai hoá”:

“Các công tác chính thức do Trung Ương VT điều động và hổ trợ trên mặt nổi có hai công tác quan trọng: Công tác M20 (ngày 30 tháng 4/05) và Công tác U05 (tháng 12/05). Chủ đề và hướng khai triển của cả hai công tác nói trên, khởi đầu đều đã tạo nên những tranh cãi nơi cộng đồng người Việt và trong nội bộ chiến hữu. Công tác M20 do có sự điều chỉnh kịp thời của BTC, qua việc thay đổi danh xưng của ngày M20 từ Ngày Tự Do Cho VN thành Ngày Tranh Đấu Tự Do Cho VN”.

Qua đoạn trích dẫn trên, chắc ông đã thấy, nguyên thuỷ, VT định lấy tên “Ngày Tự Do Cho VN” đặt cho ngày Quốc Hận 30-4. Sau vì sự phản đối của cộng đồng, và thấy âm mưu bị bại lộ, nên VT đã cho thêm hai chữ “Tranh Đấu”, thành “Ngày Tranh Đấu Tự Do Cho VN”. Điều này cho thấy, mọi công tác của VT đều có dụng ý rất nguy hiểm. Bằng chứng là khi soạn thảo cho chủ đề “Xoá ngăn cách, vượt thử thách” cho Đại Hội Thanh Niên Sinh Viên Thế Giới năm 2005 mà VT gọi tắt là U05, VT cũng đã có những dụng ý rất sâu xa. Cụ thể, cũng trong trong văn thư Số 4 đề Ngày 22 tháng 9 năm 2005, gởi “quý chiến hữu toàn đảng và quý chiến hữu trong Vụ Giám Sát Việt Tân” của bà Việt Khanh, có đoạn nguyên văn như sau:

“Công tác U05 với chủ đề ‘Tuổi trẻ Việt Nam: Xoá Ngăn Cách, Vượt Thử Thách’ mà theo sự giải thích của c/h NQB đại diện cho Tuổi Trẻ Lên Đường và hai c/h đại diện VT là ĐQV và ĐĐG trên đài TNT Houston vào tuần lễ thứ hai của tháng 9/2005, thì nội dung của chủ đề ‘Xóa Ngăn Cách, Vượt Thử Thách’ không chỉ nhắm vào sự xóa bỏ khác biệt giữa thanh niên VN trên toàn thế giới nhưng còn đi xa hơn trong sự kêu gọi người hải ngoại vượt qua những thử thách, để tiến tới việc xóa bỏ những ngăn cách ý thức hệ giữa người dân trong và ngoài nước, để mà ngồi lại với nhau trên nhu cầu từ thiện, nhân đạo, mà lo cho đời sống cơm no áo ấm của người dân trong nước trước khi hướng họ đến mục tiêu tranh đấu cho tự do dân chủ Việt Nam. Giải thích này chỉ cho thấy một điều là nội dung tương tự như kêu gọi của nghị quyết 36, nhưng VT nói là thực hiện với cái ý hướng kêu gọi đấu tranh!”

Để mục tiêu ‘xóa bỏ những ngăn cách ý thức hệ giữa người dân trong và ngoài nước, để mà ngồi lại với nhau trên nhu cầu từ thiện, nhân đạo, mà lo cho đời sống cơm no áo ấm của người dân trong nước”, trong thời gian Đại Hội Thanh Niên Sinh Viên Thế Giới được Mạng Lưới Lên Đường tổ chức tại Sydney, Phương Nam Đỗ Nam Hải đã gửi một thông điệp đến Đại Hội, công khai kêu gọi mọi người xoá bỏ lằn ranh Quốc Cộng. Tưởng cũng nên nói rõ, Phương Nam Đỗ Nam Hải đã đến Úc suốt suốt 8 năm không phải du học, không phải di dân tay nghề. Và theo lời của một vị lãnh đạo cao cấp của VT tại Úc trong dịp trò chuyện với báo Sàigòn Times, thì chính một nữ đảng viên then chốt của VT tại Melbourne đã “móc nối” Phương Nam Đỗ Nam Hải. Có điều chính vị lãnh đạo cao cấp này xác nhận PNĐNH là du sinh, trong khi chính PNĐNH thì lại khẳng định sang Úc không phải với tư cách du sinh.

Nói đến du sinh VN, chúng tôi cũng xin thưa thêm với ông Hạ, chắc ông còn nhớ trước đây, trong một số thông báo của cộng đồng, ông Đoàn Việt Trung đã kêu gọi người Việt tại Úc nên tiếp cận du sinh, gây qũy cho du sinh, kiếm nhà cho du sinh, để biến các du sinh thành những đấu tranh dân chủ một khi họ trở về VN. Sự thực đây chỉ là những trò núp danh “tuyên truyền du sinh” để tiếp tay cho CSVN, giúp đỡ du sinh VN mà thôi. Để hiểu rõ hơn chủ trương này, mời ông theo dõi tiếp văn thư Số 4 đề Ngày 22 tháng 9 năm 2005, gởi “quý chiến hữu toàn đảng và quý chiến hữu trong Vụ Giám Sát Việt Tân” của bà Việt Khanh, có đoạn nguyên văn như sau:

“Trên mặt tuyên vận và chính vận, ngoài những hướng cụ thể hướng về Quốc Nội như đến gần với du sinh, gây quỹ cho du sinh, kiếm nhà ở cho du sinh, hoạch định sự vận động Quốc Hội Hoa Kỳ gia tăng số lượng visa nhập cảnh cho du sinh VN, vận động đồng hương hải ngoại nhất là thanh niên nên trở về thăm nước vì đó là quyền và trách nhiệm của mỗi cá nhân, kêu gọi người Việt hải ngoại không nên ngăn chặn các chủ trương đầu tư buôn bán với VN, nên mua sách báo VN từ trong nước để làm quà cho nhau, vân vân. Một mặt khác thì các c/h TUĐ khi đi đến các cơ sở hướng dẫn về đường lối mới lại đưa ra lời tuyên bố là trong tương lai VT có thể vì quyền lợi của 80 triệu người dân trong nước sẽ phải quay lưng với 3 triệu người hải ngoại.”

Để có thể hiểu rõ lý do nào khiến ông Đoàn Việt Trung kêu gọi người Việt hải ngoại giúp đỡ du sinh VN, tưởng cũng nên nhắc lại để ông Hạ hiểu, ông ĐVT là người đã tự vỗ ngực nhận mình có sáng kiến “Chọn Ngày Tỵ Nạn VN”, rồi tự động đem CĐNVTD Liên Bang Úc Châu đứng chung với VT và các tổ chức ngoại vi của VT để cùng vận động cho việc “Chọn Ngày Tỵ Nạn VN”. Sau này, mọi chuyện đổ bể, mọi người mới biết, kế hoạch “Chọn Ngày Tỵ Nạn VN” chẳng phải là sáng kiến của ông ĐVT mà là của Trung Ương Đảng VT, nhằm thực hiện âm mưu xoá bỏ “Ngày Quốc Hận 30-4”. Có điều cho đến nay, mọi người vẫn chưa biết rõ, ông ĐVT thực hiện “sáng kiến chọn ngày tỵ nạn VN” cùng hàng loạt “sáng kiến” khác là do ông vô tình bị gài bẫy, hay do ông là thành viên của đảng VT.

Cuối cùng cũng xin thưa với ông Hạ, ở trên chúng tôi có nhắc đến vai trò của Mạng Lưới Lên Đường trong việc tổ chức Đại Hội Thanh Niên Sinh Viên Việt Nam Thế Giới Kỳ 4 tại Sydney với chủ đề “xoá ngăn cách vượt thử thách” là do Việt Tân lèo lài giật dây. Điều này, trong buổi nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm tại Sydney vào ngày 4 tháng 11 vừa qua, cả ông Đỗ Hoàng Điềm lẫn ông Nguyễn Hoàng Thanh Tâm đều cực lực bác bỏ. Tuy nhiên, trong cuốn Những Ưu Tư Về Việt Tân Chệch Hướng do BS Trần Xuân Ninh và qúy đảng viên Việt Tân Cách Mạng xuất bản, có đăng nguyên văn lá thư đề ngày 3 tháng 1 năm 2006 (ngay sau Đại Hội TNSV VNTG Kỳ 4), của ông Nguyễn Kim, Chủ tịch đảng VT chệch hướng, gửi “Ch/h Đặng Quốc Sủng và toàn Đảng Bộ Úc Châu, Ch/h Trần Đình Tâm và toàn Ban Thanh Niên, và Tất cả các ch/h đã tham gia và đóng góp cho công tác U05”. Trong thư có một số đoạn quan trọng như sau:

“Sau hai năm dài chuẩn bị với nhiều âu lo và cố gắng, cộng với đủ loại khó khăn phải vượt qua, tôi hân hoan loan báo và chúc mừng, công tác U05 không những đã thành công mỹ mãn so với các chỉ tiêu đã đề ra, mà còn đặt tiền lệ cho một số hình thức sinh hoạt chưa từng có trước đây; đặc biệt là sự tham gia của anh chị em du sinh và các nhà phản kháng trong nước.

Thành quả U05 quả thật mang nhiều ý nghĩa quan trọng:

– Chúng ta đang đi đầu trong việc bình thường hóa sự liên hệ với khối du sinh để mở cánh cửa với thanh niên trong nước nhằm mưu tìm những tâm hồn cùng lý tưởng, muốn đấu tranh đưa dân tộc ra khỏi thảm trạng hiện nay.

– Qua tiếng nói của các nhà dân chủ trong nước, chúng ta thấy được sự vui mừng và hy vọng của quốc nội khi thấy lực lượng đấu tranh hải ngoại bắt đầu hiện thực y’ định cùng với đại khối dân tộc chống lại thiểu số cầm quyền độc tài hìện tại.

– Chúng ta càng thấy chủ trương tiếp cận để từng bước cùng đồng bào quốc nội đứng lên là con đường hợp lý và hợp thời. Con đường mà chúng ta đã phải tạm thời dừng lại trong một số năm để củng cố lực lượng và nay lại tiếp tục dấn bước.

Hiển nhiên và trước hết, U05 là thành quả của toàn Đảng chúng ta, với vô số các đóng góp âm thầm của nhiều đảng viên trên khắp thế giới, cách riêng là tại từng buổi gây quỹ, vận động tại các địa phương, các anh em trong PalTalk trong việc quảng bá U05… . Do đó, đây là niềm vui và hãnh diện chung của tất cả chúng ta.

Nhưng trong niềm vui chung đó, tôi muốn đặc biệt khen ngợi Ban Thanh Niên thuộc Khối Dân Vận Hải Ngoại, đã khéo léo phối hợp công trình tim óc của nhiều VTTrẻ từ khắp nơi. Và cũng đặc biệt khen ngợi sự dóng góp hết lòng hết sức của toàn Đảng bộ Úc Châu vào công tác này. Các ch/h đã vượt qua rất nhiều trở ngại và khó khan trong thời gian qua; và các hỗ trợ từ Trung Ương cũng không được phong phú so với các đại hội trước. Chính vì thế mà ngoài lời khen ngợi, tôi muốn gởi đến quí ch/h sự tri ân chân thành của cá nhân tôi.

Dĩ nhiên, trong những ngày tháng trước mặt, chúng ta sẽ không nghỉ ngơi trong hào quang U05, nhưng sẽ khai dụng ngay kết quả này để tìm kiếm các đầu mối, các cơ hội nhằm khai triển những kế hoạch và chủ đích trong bức tranh đấu tranh tổng thể của Tổ Chức.

Tôi mến chúc quí ch/h một ít ngày nghỉ ngơi trong hân hoan và sẽ lại cùng bước tới với toàn Đảng, tràn đầy sinh khí mới từ THÀNH CÔNG U05.

Đọc kỹ lá thư trên, ông Hạ cùng qúy độc giả chắc chắn nhận rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa đảng VT và BTC Đại Hội TNSV VNTG Kỳ 4. Đọc phần kính gửi, người đọc đều biết Đặng Quốc Sủng là ai. Riêng Trần Đình Tâm thì dư luận trong nội bộ đảng VT cho biết đó là Nguyễn Hoàng Thanh Tâm. Điều này không biết đúng hay sai, nhưng rõ ràng Nguyễn Hoàng Thanh Tâm đóng vai trò then chốt trong Mạng Lưới Lên Đường, cũng như trong Đại Hội Kỳ 4, và hiện nay cũng là nhân vật quan trọng trong đảng VT. Thêm vào đó, trong giai đoạn một năm trở lại đây, đảng Việt Tân có gửi một số thông báo, ký tên Trần Đình Tâm. Điều này cho thấy giả thuyết Trần Đình Tâm và Nguyễn Hoàng Thanh Tâm là một, là điều hợp lý.

Hy vọng những giải thích trên đây giúp ông Phạm Đình Hạ cùng quý độc giả hiểu rõ hơn những việc làm của đảng VT. Trước khi dừng bút, cũng mong ông Hạ hãy hiểu, lịch sử phát triển các phong trào đấu tranh của người Việt Quốc gia trong suốt thế kỷ qua tại VN, cũng như hơn 30 năm nay tại hải ngoại, không bao giờ có những trò thủ đoạn như Việt Tân đã làm. Chỉ có những người CS mới có những trò thủ đoạn đó. Đó là sự thực ai ai cũng biết và cũng thừa nhận. Vì vậy, chúng tôi có thể nói, trong nội bộ Trung Ương Đảng VT chệch hướng hiện nay, có thể có những tên VC nằm vùng trà trộn, giật dây, để một mặt dùng VT gây phân hóa cộng đồng người Việt hải ngoại, biến cộng đồng người Việt hải ngoại thành những con bò sữa chạy theo nắm cỏ “tự do dân chủ” mà thực chất là nuôi béo CS; một mặt dùng VT hóa giải phong trào đấu tranh giành tự do dân chủ trong nước, dùng VT để đưa các nhà đấu tranh tự do dân chủ chân chính tại VN ra tòa và vô tù CS; và mặt khác, dùng chính VT làm mất uy tín của đảng VT, khiến người dân Việt hết tin tưởng vào công cuộc đấu tranh lật đổ CS.

Bộ Mặt Thật Đã Lộ Diện

Trần Hoàng Long -Cabramatta- NSW

Đọc báo SGT tuần qua trong mục “Những Điều Trông Thấy” tôi thấy cái tựa đề “Hy Vọng rồi Thất Vọng” quả thật là rất chính xác về cuộc nói chuyện của ông Đỗ Hoàng Điềm tại Sydney vừa qua. Đọc bài viết, tôi đã tìm thấy được một sự đồng cảm với tác giả, vì bao nhiêu hy vọng sẽ được giải tỏa những thắc mắc về đảng Việt Tân, nay đã tan thành mây khói. Thực sự tôi và một số bạn bè cũng mong Việt Tân có được những đường lối trong sáng và lương thiện, để ít nhất chúng ta có một hy vọng khá hơn, và có thể có những người đồng hành thuỷ chung trong công cuộc đấu tranh chung này. Tuy vậy, qua buổi sinh hoạt của Đỗ Hoàng Điềm, chúng tôi không thể tìm thấy một ánh sáng nào mà hình như còn tạo thêm tối tăm trong mọi vấn đề. Phải chăng VT đã có quá nhiều khuất lấp để không thể giải bày một cách minh bạch cùng mọi người. Suốt buổi sinh hoạt mấy tiếng đồng hồ, với một số câu hỏi của cử tọa, nhưng cũng chẳng câu nào được ông Đỗ Hoàng Điềm trả lời chính xác và làm sáng tỏ vào đúng trọng tâm, nó quanh quẩn như lạc vào đám rừng hoang mông lung nơi một phương trời xa lạ..

Ngay lúc đầu tiên khi Bs Tiến phát biểu, có lẽ ai cũng hiểu khi “những sự kiện cụ thể đã xẩy ra trong thực tế” của VT là những sự kiện gì, và chúng tôi nghĩ rằng câu nói này tựa như một lời khuyên nhủ Đỗ Hoàng Điềm nên giải thích với thiện chí trong minh bạch, trong ánh sáng lương tri của VT. Rất tiếc chúng tôi đợi chờ mã cũng chả thấy một ánh sáng nào khả dĩ có thể tạo được một chút niềm tin nơi họ. Ngược lại chúng tôi chỉ thấy Đỗ Hoàng Điềm mồm năm, miệng mười, liến thoắng, đưa cử tọa đi vòng quanh cho qua chuyện. Đã thế, hai ngày sau, chúng tôi lại được đọc một bản tường trình trên Web của VT với những lời lẽ rất mập mờ, bóp méo và xuyên tạc lời nói của Bs tiến một cách thô thiển và trắng trợn. Rồi đến đêm thứ sáu vừa qua, nghe Bs tiến trả lời một thính giả trên đài 2VNR chúng tôi mới vỡ lẽ là VT đang chơi trò đồng hóa vai trò Chủ Tịch Cộng Đồng Liên Bang Úc Châu là người của họ, và tự vỗ tay khen là chuyến đi này của Đỗ Hoàng Điềm đã thành công mỹ mãn. Tuy nhiên, trong đêm Thứ Sáu, trong khi trả lời vị nữ thính giả, một lần nữa Bs Tiến đã sáng suốt tái xác định lập trường của CĐ NVTD Úc Châu nói chung là “lập trường trước sau như một, luôn luôn chúng ta chống tuyệt đối, chống triệt để cái chế độ độc tài CSVN, do biết là cái chế độ này, nó xảo trá và nó gian manh, cho nên không bao giờ chúng tôi chấp nhận bất cứ một hình thức hòa hợp, hòa giải, cộng tác hay đối thoại nào với chế độ CSVN”. Tiện đây cũng xin thưa, trong cuộc đấu tranh này, nếu chỉ chống CS không thôi là một sự thiếu sót rất lớn. Mà chúng ta còn có bổn phận chống lại bất cứ cá nhân hay thế lực nào mang đặc tính của CS như lừa đảo niềm tin, tâm huyết của người dân, mưu đồ lợi ích cho cá nhân hay phe nhóm, dù người ấy hay tổ chức ấy đang mặc chiếc áo Quốc gia hay CS. Trước khi dứt lời cũng xin thành thật cám ơn Bs Tiến và vị thính giả của đài phát thánh 2VNR đã làm sáng tỏ thêm bản chất của VT.

http://www.tinparis.net/thoisu/1107_15BandangVietTasangUc.html

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

“Ðốt Phong Long”

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 11, 2008

“Ðốt Phong Long”

– Kim Âu –

Năm 2006 vào ngày 22 – 10, ông Ðỗ Thông Minh thay mặt tác gỉa Phạm Hoàng Tùng đến ra mắt cuốn sách “Hành Trình Người Ði Cứu Nước” tại Atlanta. Ngày hôm đó tôi đến muộn vì bận tiếp xúc với một vài người anh em thầm lặng muốn gặp tôi để góp một vài ý kiến vì họ cũng là người ở trong trại tỵ nạn tại Thái vào thời kỳ đám Phở Bò Việt Tân gọi là “Giai đoạn Ðông Tiến”. Ðến nơi nhóm tổ chức chọn để ra mắt sách, không hào hứng gì với việc phải đặt câu hỏi, nghe tác gỉa trả lời qua điện thoại viễn liên. Tôi chỉ quay một đoạn phim ngắn, chụp vài tấm hình làm bằng rồi bỏ ra về sớm.

Sau đó được một số anh em tham dự kể lại buổi ra mắt sách này được đám Phở Bò Vịêt Tân ở đây chuẩn bị dàn trận cho một vài tên gây rối bằng cách lập đi lập lại những câu hỏi tiểu tiết, lạc đề nhằm giảm bớt tác dụng của một số đoạn văn lột tả những hành vi man rợ giữa những người gọi nhau là chiến hữu trong thời kỳ đang chuẩn bị, chưa đối diện kẻ thù và đến khi bị săn đuổi thì tận tình thanh toán lẫn nhau đầy dẫy trong hai cuốn “Hành Trình Người Ði Cứu Nước”.

Ngày hôm sau, trong thời gian lưu lại đợi chuyến bay qua Dallas, ông Ðỗ Thông Minh được ông Nguyễn Tấn Ðức đưa ra quán cà phê Xinh Xinh. Ông Ðức nhờ tôi tiếp ông Ðỗ Thông Minh. Qua đó tôi và ông Ðỗ Thông Minh cùng ngoạn cảnh Atlanta và đàm đạo với nhau ba buổi.
Trong thời gian đi với nhau, Ðỗ Thông Minh hỏi tôi :

– Anh Sơn nghĩ thế nào về cuốn sách?
– Một sự thật nguyên khai với những nhận định hạn chế tât yếu ở hạ tầng của một nạn nhân trong vụ bịp bợm bằng chiêu bài aí quốc do Hoàng Cơ Minh chủ mưu mà sự rời bỏ tổ chức từ sớm của anh đã nói lên tất cả. Nhưng với thái độ của một trí thức tri kỷ, tri bỉ, thức thời; anh vẫn chưa nói hết những sự thật. Phạm Hoàng Tùng dĩ nhiên không thể nào thấy xa hơn những điều anh ta được chứng kiến. Sai lầm lớn nhât của anh ta là cho đến nay vẫn không nhận ra mình chỉ là nạn nhân của một vụ lừa bịp kinh tởm nhất. Sau vụ bịp này, niềm tin của những người Viẹt lưu vong vào những tổ chức yêu nước đã khánh kiệt. Thật sự phẫn nộ vì chuyện này nên tôi đã viết một bài chỉ rõ Hoàng Cơ Minh là “thiên cổ tội nhân”
– Hình như tôi đã đọc qua bài anh viết rồi.
– Có thể ! Trong bài viết đó, tôi có trích dẫn hầu hết những gì anh và những người gần gũi HCM viết ra, đồng thời đúc kết những thông tin từ Mặt Thật, Hồi Ký Một Ðời Người, những cuốn sách của Vũ Ngự Chiêu, bài viết của Hoàng Xuyên, Ðào Vũ Anh Hùng v.v.
– Chắc tôi sẽ tìm đọc lại.
– Bài đó tôi vẫn để trên web www.chinhnghia.com , bài viêt từ năm 2000.

Sau đó cả hai, Ông Ðỗ Thông Minh và tôi chuyển sang đề tài khác. Tôi đưa Ðỗ Thông Minh đi CNN, Coca Cola và một vài địa điểm nữa, sau khi Ðỗ Thông Minh bay đi Dallas rồi, tôi có gọi cho một người anh em từ thời còn ở Ðà Lạt là Trần Tự Giác. Thật bât ngờ, chính Giác đón Ðỗ Thông Minh ngay ở phi trường và Loan vợ của Giác lại là bà con của vợ Ðỗ Thông Minh.

Mấy tuần sau Ðỗ Thông Minh cứ nhắc tôi viết bài về cuốn sách của Phạm Hoàng Tùng nhưng tôi cứ lần lữa mãi rồi quyết định không viết. Chuyện bịp bợm, giêt người, vô nhân đạo của Hoàng Cơ Minh đã phơi bày trong toàn bộ cuốn sách. Hết sức dơ bẩn, cực kỳ xảo quyệt, trắng trợn. Bản chất dã man, mọi rợ trùm lên những trang sách đâu cần phải lập lại.

Chuyện về MTHCM chẳng qua chỉ là chuyện của một đám bịp bợm, một băng đảng lưu manh sát nhân dựng chiêu bài ái quốc để kiếm ăn, chúng ta cứ thử nhìn lại bọn đoàn viên của chúng giờ này đã nuốt trọn số tiền xiết máu đồng bào nhưng hễ có dịp (không có cơ hội thì chúng bày vẽ ra) là chúng lại giở trò đi khất thực.

“Hành Trình Người Ði Cứu Nước” của Phạm Hoàng Tùng đã cho chúng ta thấy rõ cả một nhóm người gia nhập MT với những lý do, cảnh ngộ, điều kiện cá nhân khác nhau đã trở thành nạn nhân của vở kịch đi cứu nước do Hoàng Cơ Minh và băng đảng dựng lên. Chỉ tội nghiệp cho những người đã bị sát hại một cách vô ích. Những nạn nhân bị bịp bợm đã chết trong cái thế cùng đường vì bị tình báo Thái bán đứng cho Cộng Sản. Họ đã bị tống xuất khỏi vùng đât ở Bultharik , Udon, Thái Lan nơi mà Phở Bò Việt Tân khóac cho những cái tên đầy âm vang réo gọi: Chiến Khu Quốc Nội, Biên Thuỳ Ðông Dương, Căn Cứ 81, Tiền Ðồn Hải Vân.. v.v. Tiếc thay những âm vang réo gọi đấy trong thực tế chỉ là những xảo ngôn, vọng ngữ, dối gạt, chỉ là những ngôn từ bịp bợm của kép độc Hoàng Cơ Minh trong vở tuồng cải lương gọi là “Ðông Tiến”. Tội nghiệp vì họ cũng là con người, chứ không phải xếp ngang hàng họ với những tử sĩ đã chiến đấu trong cuộc chiến chống Cộng ở Viêt Nam trước đây

Tiến hay là bị Tống. Hai chữ Ðông Tiến đảo lại là Ðiên Tống. Ðảo lại một lần nữa na ná Ðống Tiền.

Tất nhiên tác giả cuốn “Hành Trình….” và đám Phở Bò Việt Tân rât tức tối khi đọc những dòng tôi luận ra. Ðối với những người từng trong băng đảng HCM, dù họ có mâu thuẫn nhau nhưng cả hai ba phía đều phải cố giữ lấy hai chữ “Ðông Tiến” để tự lừa dối bản thân, tự bịt miệng, bịt mắt vì như thế mới có bộ mặt trơ tráo, tỉnh rụi khi lừa gạt đồng bào của họ. Ðộc giả cứ nhìn cái mặt Lê văn Thành Tởm, Phan Ngọc Thanh Lùn Mã Tử, Dịêp Con Lươn, Ðông Gián Mối là rõ.

Ðông Tiến chỉ là chuyện mộng du, là thực tế của người “đi trong khi đang mơ ngủ”. Bao nhiêu trang sách Hành Trình …. đã tự bộc lộ tât cả. Quý vị nào có sách xin cứ đọc lại, cuốn sách đấy vẫn có giá trị là một bằng chứng về sự lừa đảo, đồng thời cho thấy bàn tay tội ác của Hoàng Cơ Minh và đồng bọn đã sát hại hàng chục người trong thời gian quanh quẩn tại Bultharik. (Phạm Hoàng Tùng, tác giả hồi ký kháng chiến Hành Trình Người Ði Cứu Nước ghi nhận được 10 người bị Mặt Trận – Việt Tân xử tử hình.)

Dĩ nhiên trong cuốn sách đó, với tư thế chỉ là một đoàn viên, Phạm Hoàng Tùng không thể nhìn xa hơn bìa rừng Bultharit, không thể tiếp xúc được với tình báo Thái Lan, với những nhân vạt Hoa Kỳ đỡ đầu cho Hoàng Cơ Minh vào Thái để thu thập thông tin cho công tác POW – MIA. Ông Ðỗ Thông Minh là một trí thức trẻ yêu nước, ông ta đi tìm người làm minh chủ. Nhưng khi thấy người được suy cử vào vai trò lãnh đạo lộ ra tư cách bât xứng, Ðỗ Thông Minh đã rút lui. Một con người chỉ quen với chữ nghĩa lẽ dĩ nhiên không nhìn ra được sự can dự của thế lực tình báo quốc tế (chủ yếu là Hoa Kỳ).

Nhưng chỉ cần nhìn qua việc nhóm Hoàng Cơ Minh bị đuổi ra không cho vào trong chuyến đi đầu tiên đến Thái, chúng tôi đã thấy ngay vấn đề. Quý độc giả phải hiểu không một quốc gia nào chấp nhận để cho ngoại nhân nhập cảnh hay qúa cảnh một cách bất hợp pháp. Quốc gia có chủ quyền nào cũng phải giám sát, kiểm soát người ngoại quốc ra vào. Xuất nhập cảnh là vấn đề thuộc chủ quyền, an ninh quốc gia. Như vậy trường hợp nhóm Hoàng Cơ Minh sau này trở lại, được bí mật nhận vào, được cho mướn đất, được cho tuyển người trong trại tỵ nạn chắc hẳn phải có một phù thuỷ cao tay ở trong bóng tối đã dàn xếp với tình báo Thái. Nhân vật đó chính là Richard Armitage (Trần văn Phú).

Trích Ðỗ Thông Minh:

– 20/8, nhóm 7 người các ông Hoàng Cơ Minh (2), Lê Hồng, Nguyễn Trọng Hùng, Trần Thiện Khải, Trương Tấn Lạc, Nguyễn Thành Tiểng (3) tới Thái nhưng không vào được, vì không thông báo cho chính phủ Thái biết sớm để có quyết định (ai thông báo?), phải theo máy bay đi Singapore rồi hôm sau trở lại Nhật, chỉ có cựu Ðại Tá Nguyễn Hữu Duệ có thông hành Mỹ vào được, nhưng ngày 24/9 ông về lại Mỹ và không tham gia nữa. Ngày 3/10, nhóm người trên mới trở lại Thái chuẩn bị lập “khu chiến”. (chữ “khu chiến” Ðỗ Thông Minh dùng nhiều đâm ra quen nên không thấy hai chữ này thật là bôi bác, quý độc giả có hiểu HCM chiến đấu với ai ở trên đất Thái?)…….
Cũng theo ÐỗThông Minh :

– 8/3/1982, Mặt Trận tổ chức Lễ Công Bố Cương Lĩnh Chính Trị tại căn cứ 9 thuộc khu chiến ở biên giới Thái – Lào (chỉ dùng 1 lần), chính thức ra mắt đồng bào (5). Trong buổi lễ, thấy có hơn 150 kháng chiến quân, nhưng thực ra khi đó số kháng chiến quân Việt chỉ có 37 người, nên đã mượn hơn 100 kháng chiến quân Lào.

– 31/3/1982, đài TV CBS toàn quốc Mỹ do Dan Rather phụ trách, chiếu 4 phút về “Kháng Chiến Hoàng Cơ Minh”, song song đó, băng hình Kháng Chiến Bịp được phổ biến và bán nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong& loan tin bịp bợm khiến người Việt khắp nơi trên thế giới đều nao nức, đồng lòng yểm trợ!

– 1/4/1982, cơ sở nguyệt san Người Việt Tự Do tại San Jose, Cali, Mỹ biến thành cơ sở Mặt Trận, bắt đầu phát hành nguyệt san Kháng Chiến, mỗi kỳ hơn 10.000 tờ, do Ðỗ Thông Minh làm Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút, đồng thời phụ trách cả tờ Ðông Tiến số 1, phát hành ngày 1/11/1982, là nội san của Vụ Nghiên Huấn.

Nhưng ngay từ đầu năm 1983, Ðỗ Thông Minh đã chán ngán về những tranh chấp nội bộ giữa ông Hoàng Cơ Minh và Phạm Văn Liễu ngày càng gia tăng, hệ thống điều hành bị đảo lộn, nên đã trở về Nhật. Ký giả Lê Thiệp không phải là đoàn viên MT được Ngô Chí Dũng kêu từ miền Ðông về thế làm báo độ 1 năm, sau trao lại ông Huỳnh Lương Thiện cũng từ Nhật qua làm cho tới khi khủng hoảng Mặt Trận xảy ra cuối năm 1984.

Trước áp lực của dư luận muốn biết những thành quả cụ thể của công cuộc đấu tranh và để kích động lòng người, tờ báo đã cho đăng nhiều tin chiến đấu, giải phóng ngụy tạo từ khu chiến đưa ra. Khoảng cuối thập niên 80, Mặt Trận ngưng phát hành báo Kháng Chiến, đổi qua nguyệt san Canh Tân nhưng chỉ được vài năm.

– 3/4/1982, đồng bào đứng ra lập Phong Trào Quốc Gia Yểm Trợ Kháng Chiến, cụ Phạm Ngọc Lũy được cử làm Chủ Tịch. Khắp nơi, nhiều cụ già đã cởi cả vòng vàng ra đóng góp mong cho ngày kháng chiến sớm thành công! Lon Yểm Trợ Kháng Chiến thời đó được đặt khắp mọi nơi. Nhiều phương thức yểm trợ như mua gạo ăn của Ủy Ban Quốc Gia Yểm Trợ Kháng Chiến để gây quỹ thay vì mua bên ngoài, mua dụng cụ y khoa, thuốc men gởi về khu chiến… Tổng số tiền Mặt Trận quyên góp từ đoàn viên và đồng hương cũng như các thu nhập kinh tài do ông Hoàng Cơ Ðịnh làm Tổng Thư Ký kiêm Vụ Trưởng Vụ Tài Chính quản lý, được giữ bí mật, ước độ 10 triệu Mỹ kim?

– 20/9/1982, ông Hoàng Cơ Minh đã tự ý và bí mật (7) lập Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Ðảng, gọi tắt là Việt Tân tại khu chiến, với cờ đảng nền xanh nước biển và hoa “Việt Tân” màu trắng 6 cánh, ông Hoàng Cơ Minh làm Chủ Tịch với 38 Ủy Viên Trung Ương. Ông Ngô Chí Dũng (Hoàng Nhật, nguyên Ðại Diện Tổ Chức Người Việt Tự Do) đặc trách phát triển đảng trong khu chiến, đặc biệt là từ năm 1985.

– 3/10/1982, ông Hoàng Cơ Minh, Dương Văn Tư và Thạch Kim Dên (người Khmer Nam Bộ) từ Thái Lan đi dự Hội Nghị Truyền Thông ở Hàn Quốc nhưng không được cho vào, bị giữ lại một đêm rồi trục xuất về Thái (hai người sau đi bằng thông hành do Mặt Trận tự in và cấp). Vì chuyện này, mâu thuẫn giữa ông Minh và Liễu càng gia tăng.

– 16/4/1983, ông Hoàng Cơ Minh và các kháng chiến quân lần đầu tiên trở về Mỹ, được khoảng 2.000 đồng bào ra tận phi trường Los Angeles đón tiếp nồng nhiệt. Trong một buổi họp báo có sự tham dự của giới truyền thông Việt, Mỹ, ông tuyên bố: “Ðã kết hợp được 36 tổ chức kháng chiến quốc nội, quy tụ 10.000 kháng chiến quân.” (làm nhiều người ngỡ ngàng). Trong khi đó, ông Bùi Ðức Trọng từ Thụy Sĩ về đã nhân chuyến đi này ở lại luôn, không về khu chiến nữa. Dịp này, ông Hoàng Cơ Minh đã đưa cho ông Trần Minh Công xem hình 2 kháng chiến quân bị xử tử hình và nói đã tử hình 6 người vì tội phản bội (8).

– 26/12/1983, Lễ Bế Mạc Ðông Tiến (9) được coi là khởi sự từ ngày 1/6/1981 với mục tiêu bắt tay với trong nước qua các toán mở đường, được tổ chức tại căn cứ 88 (10). Dịp này, Ðại Tá Dương Văn Tư đã được thăng cấp Thiếu Tướng đảm trách Tư Lệnh Phó Lực Lượng Võ Trang Kháng Chiến, ông Nguyễn Huy (Nguyễn Trọng Hùng).Con số 216 mà MT đưa ra đây cũng chính là tổng số kháng chiến quân vào thời điểm đó. Ông Phùng Tấn Hiệp nguyên Ðoàn Trưởng Ðoàn Võ Trang Kháng Chiến Hồng Hà tử nạn trên đường Ðông Tiến được tuyên dương “Anh Hùng”.

– 12/1984, theo kháng chiến quân Phạm Hoàng Tùng, vào khoảng cuối tháng, đặc công Việt Cộng tấn công tiền đồn Hải Vân? 1 kháng chiến quân bị tử thương. Mặt Trận bỏ tiền đồn Hải Vân, bỏ căn cứ 83, dời đài Phát Thanh Việt Nam Kháng Chiến về căn cứ 27 tân lập. Trong khi Việt Cộng tấn công thì ông Hoàng Cơ Minh đang ra hải ngoại để giải quyết tranh chấp đã xảy ra từ 2, 3 năm qua với ông Phạm Văn Liễu, Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hải Ngoại.

– 29/12/1984, ông Hoàng Cơ Minh nhân danh Hội Ðồng Kháng Chiến Toàn Quốc cùng ông Nguyễn Trọng Hùng từ khu chiến ra, hội họp khoảng 70 đoàn viên thuộc một số cơ sở vào buổi chiều tại San Jose, Bắc Cali, công bố văn thư cách chức ông Phạm Văn Liễu (sau đó cũng bỏ Phong Trào Quốc Gia Yểm Trợ Kháng Chiến, lập Quỹ Tiếp Vận Kháng Chiến, đầu thập niên 90 hầu như không còn quyên tiền đồng bào nữa).

Trong khi ông Trần Minh Công nhân danh Khu Bộ Trưởng Bắc Mỹ kiêm Phát Ngôn Nhân mở cuộc họp quy tụ khoảng 200 đại diện các cơ sở Mặt Trận ở Bắc Mỹ với sự tham dự của ông Phạm Văn Liễu, cụ Phạm Ngọc Lũy tại Nam Cali, bác bỏ quyết định trên và bất tín nhiệm ông Hoàng Cơ Minh. Nhiều đoàn viên thấy chuyện tranh chấp vô phương cứu chữa đã phải bật khóc. Tranh chấp về việc đăng bài trên tờ báo Kháng Chiến, khiến ông Huỳnh Lương Thiện khi đó là Chủ Nhiệm đã bất chấp lịnh của Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh không cho in, rồi từ tòa soạn ở San Jose bỏ qua Wa DC lánh nạn. Sau đó, Ðỗ Thông Minh, Huỳnh Lương Thiện (11)& và hàng ngàn đoàn viên dần dần từ bỏ Mặt Trận. Có lẽ chưa bao giờ người Việt phải chứng kiến cảnh chia rẽ, tan nát đáng đau buồn đến như vậy!? Rất nhiều đoàn viên nam cũng như nữ không kềm được tiếng khóc uất nghẹn.Một số đoàn viên tại Mỹ đã tách ra lập tổ chức mới là Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam (không có chữ Thống Nhất), khoảng 1 năm sau đổi thành Lực Lượng Việt Nam Tự Do. Năm 2006, còn khoảng hơn 100 đoàn viên hoạt động.
Các sự kiện này đã làm tan nát niềm tin của đồng bào và dư luận thất vọng não nề! Những ngày hào khí ngất trời không còn nữa và hầu như không thể tái lập nữa!

Hết Trích

Xem qua những gì chính Ðỗ Thông Minh viết ra phối hợp với nhiều người khác, quý độc giả chắc chắn đã tự có kết luận.
Chuyện nhớp nhúa bẩn thỉu như vậy nhưng lâu lâu là chúng lại bày trò, khua môi múa mỏ. Thật ra chúng tôi thấy không cần thiêt phải viết thêm về chúng nhưng mấy tuần trước chợt nhìn thấy hình của một tên nào đăng trên báo VT giống hệt tên cáo già Hồ Chí Minh, sau mới biêt là Phở Bò Việt Tân quảng cáo việc cúng tổ đảng Bịp.

Theo tập tục Viêt Nam nghề nào cũng có ông tổ. Bọn ăn mày, ăn cướp, cờ gian bạc lận, nghề hát tuồng, diễn kịch, “treo đầu dê bán thịt chó” cũng có ông tổ nghề.

Vì vậy, việc bọn bịp con, bịp cháu cúng tổ của chúng là chuyện thường tình.
Lẽ ra chúng tôi cũng chẳng cần bàn tới nhưng chợt nghĩ những chuyện nặc mùi xú uế như thế này mà để im thì ô nhiễm cộng đồng tỵ nạn vì thế phải ra tay “đốt phong long” cho tan mùi bịp bợm.

Kim Âu

http://www.tinparis.net/thoisu/0907_13_VTDotPhongLong_KimAu.html

Posted in “Ðốt Phong Long” | Tagged: , , , | 2 Comments »

TRÒ KHỦNG BỐ ĐEN: ” TRƯƠNG MINH HÒA” BỊ CHỤP MŨ LÀ VIỆT CỘNG NẰM VÙNG

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 11, 2008

TinParis. Trong cộng đồng hải ngoại, kẻ phá hoại ” nguy hiểm và có lợi nhất” cho CSVN , là băng đảng Việt Tân như mọi người đều biết. Không biết bao người đã tố cáo chúng, nhưng với thời gian và sự thờ ơ cũng như tính ” mau quên ” căn bản của con người, nên ” tội ác ” của chúng được che lấp kỹ lưỡng hơn, huống chi chúng có ” tiền nhờ lường gạt đồng bào qua vụ kháng chiến ma ” và do bọn Cộng sản lãnh đạo giựt dây bên trong. Bọn Việt Tân muốn ” khống chế và độc quyền lãnh đạo ” cộng đồng người Việt Hải Ngoại , hễ chổ nào có chúng là có chia rẽ, nếu chúng yếu chúng nắm quyền không được thì chúng phá cho hôi, nơi nào mà chúng mạnh , thì không ai có quyền ” phát biểu ngược lại ” vì như thế là “chia rẽ “.

Người quốc gia ai nấy thì bận bịu vì gia đình và sinh kế, nên thời giờ không có mà phải hy sinh tài chánh đôi chút, thì ít có người dám làm. Đôi khi có người dám hy sinh thì bị bọn côn đồ Việt Tân chụp mũ, hành hung nên họ đâm chán nản. Bọn Việt tân, cũng như cán bộ Cộng sản thì được trả tiền lương và có nhiều phương tiện nên dần dần chúng nắm lấy các tổ chức. Kế tiếp, khi đã vào tổ chức rồi, mà muốn ra khỏi, thì bị chúng ” làm khó, làm dễ, bực mình không chịu được phải dọn đi chổ khác ở ( giống y như bọn Mafia, Cộng Sản ). Muốn ở yên, thì lâu lâu phải bỏ tiền ủng hộ, ” cúng cơm ” chúng. Còn hợp tác với chúng thì chúng tìm cách giúp đở công ăn làm việc ( đôi khi không lương thiện một chút nào ) huống chi ” thị trưòng Việt nam ” bên Mỹ rất rộng lớn trong giới người việt . Có thể không cần biết tiếng Mỹ giỏi, không cần có ” bằng cấp cao ” mà vẫn làm giàu được như thuờng, miễn là có ” móc nối ” rộng rãi trong giới người việt nghĩa trắng cũng như nghĩa đen.

Đó là quy luật đấu tranh ” một số ít cán bộ tích cực ” ( minorité active/ active minority ) là đủ ” cướp quyền ” , điều đó cắt nghĩa tại sao Lénine ( bolchévik ) lại ” cướp chánh quyền được ” khi chỉ có 105 dân cử trên tổng số là 1000 dân cử , cũng như Hồ chí Minh và tay sai ” cướp lấy quyền lãnh đạo ” trong cuộc dành độc lập năm 1945 của Việt Nam trong khi các chính đảng quốc gia nhiều đoàn viên hơn lại thua bọn chúng. Đúng như Tổng Thống Ngô đình Diệm đã nói : ” Kháng chiến có công, Cộng sản có tội, Cộng sản cướp công kháng chiến “.

Tác giả Trương Minh Hòa , trong bài viết dưới đây , cho chúng ta thấy thủ đọan ” hèn hạ và chụp mũ ” của băng đảng Việt Tân như thế nào. Riêng cá nhân chúng tôi củng là nạn nhân của bọn chúng “phao tin đồn ” là tôi đã về Việt Nam làm ăn trong khoảng thời gian 4 năm (1996-2000) trong khi đó tôi làm việc cho Bộ Ngoại Giao Pháp tại nước Togo ( Phi Châu). Từ ngày chúng tôi sang tỵ nạn CSVN đến nay ( 1979), vợ chồng chúng tôi chưa hề về Việt Nam lần nào.

TRÒ KHỦNG BỐ ĐEN: ” TRƯƠNG MINH HÒA” BỊ CHỤP MŨ LÀ VIỆT CỘNG NẰM VÙNG

TRƯƠNG MINH HÒA.

Nói về mình là điều không nên, và cũng đại kỵ đối với người viết bài nầy; tuy nhiên đây là trường hợp khá đặc biệt, xin được vài lời tâm sự, nhằm đưa lên một vấn đề có thể đã và có thể đang xảy ra trong các cộng đồng tỵ nạn hải ngoại, trong tinh thần đề cao cảnh giác trước những trò” khủng bố đen” của Việt Cộng nằm vùng hải ngoại, kẻ xấu, thành phần đón gió… có tác dụng gây phân hóa, nghi kỵ, nếu không suy xét kỷ, khi thấy rõ ràng các chứng từ do Việt Cộng cấp, có mộc đỏ, chữ ký của giới chức….gây ra những hiểu lầm đáng tiếc và không cần thiết

Cái tên Trương Minh Hòa không còn xa lạ gì với 6 khóa của Hội Cựu Ái Hữu Sinh Viên Sĩ Quan Đại Học Chiến Tranh Chánh Trị Đà Lạt qua những bài viết trong đặc San Ức Trai. Là một quân nhân trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, từng phục vụ ở đơn vị tác chiến Địa Phương Quân ở Cà Mau và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, bị tù đày 6 năm, trải qua 10 trại tù và sau cùng được thả ở trại Xuyên Mộc ( khu C). Năm 1982 vượt biển tìm tự do, định cư ở tiểu bang Tây Úc từ năm 1983 đến nay, vẫn giữ câu thề:

” Sống nguyện lòng trung cùng tổ quốc.
Chết tròn đạo nghĩa với non sông”.

Hơn 25 năm, không bao giờ trở về Việt Nam, chỉ trở về quê hương với điều kiện” chế độ bạo tàn Việt Cộng bị tiêu diệt” hoàn toàn. Trong thời gian khá dài nơi xứ lạ quê người, cố làm việc bằng chân tay để hội nhập vào xã hội, điều chỉnh cuộc sống gia đình. Nhưng cũng không quên làm nhiệm vụ của một người dân mất quê hương, tham gia 2 nhiệm kỳ hội cựu quân nhân Tây Úc, giữ chức vụ Trưởng Ban Báo Chí. Đến năm 1996, vì tình hình đặc biệt, do đoàn văn công Việt Cộng sang trình diễn, được tờ báo duy nhất ở Tây Úc là tờ nguyệt san Phổ Thông, do ông Nguyễn Hoài Nam, tức là Bùi Tấn Chức, khóa 27 Võ Bị, ủng hộ mạnh, và trong phiên hợp cộng đồng thách thức với câu:” giúp cho văn nghệ sĩ nghèo trong nước”. Trước sự kiện nầy, bà Thể Vân, nữ chủ tịch đầu tiên của Cộng Đồng Người Việt Tự Do Tây Úc yêu cầu, thế là tôi ra gánh vác, tình nguyện là Trưởng Ban Báo Chí, thực hiện ngay tờ Nguyệt San Ngôn Luận, tờ báo cũng đầu tiên của cộng đồng, mãi đến nay vẫn chưa ai làm. Tôi có chương trình lâu dài, làm tờ báo cộng đồng, từ từ lấy quảng cáo, xin quỷ Lotto để có tiền xây dựng cơ sở và phát triển cộng đồng, nhưng công việc của tôi bị một số người phá hỏng; chắc là họ cũng quan ngại khi tại địa phương có một cơ quan truyền thông của cộng đồng, chống Cộng mạnh. ( xin đọc tiếp bên dưới để biết rỏ hơn)

Nhờ thế nên cộng đồng có tiếng nói, dẹp tan đoàn văn công Dạ Lý Hương, sau đó tờ Phổ Thông dẹp, chủ của nó chạy mất… tuy nhiên năm 1998 thì hết nhiệm kỳ, bà Thể Vân được yêu cầu tái ứng cử nhiệm kỳ 1998-2000, bà đồng ý, nhưng sau đó, vào một chiều tối, ông Lê Tấn Kiết, tức là ông Mười Một, pháp danh Đại Hỷ, chủ chùa Chánh Giác, là người có số Phật Tử đi theo làm hậu thuẫn và có nhiều tiền do Phật Tử cúng dường, có thế lực lớn, nên gây ảnh hưởng cộng đồng, ông ta là Trưỏng Ban Vận Động Bầu Cử ( trường kỳ), mời bà Thể Vân đến chùa và nói một câu khuyến cáo như sau:” Cô làm chủ tịch, đừng cho thằng Hòa làm trưởng ban báo chí..” ( nay chị Thể Vân đã qua đời vào ngày 13 tháng 11 năm 2005, tôi vẫn còn nhớ lời chị nói với tôi). Thế là bà Thể Vân bất mãn, nên từ chối không làm chủ tịch cộng đồng, ông Lê Tấn Kiết bèn đưa một luật sư trẻ tên là Nguyễn Quốc Duy lên, là người của ông lên làm chủ tịch, vị luật sư nầy từng tâng bốc một câu, có phổ biến trên đài phát thanh SBS toàn nước Úc:” Bác Lê Tấn Kiết là vị Niên Trưởng Tối Cao của Cộng Đồng”. Mặt khác, trong thời gian làm việc thiện nguyện, Liên Minh Việt Nam Tự Do, Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, Hội Chuyên Gia, là những tổ chức có chân trong cộng đồng, liên kết với ông chủ chùa ít học là Lê Tấn Kiết; mà ai cũng biết ông Vũ Ngọc Thọ là đại diện cho tổ chức Mặt Trận. Trong thời gian làm báo gần 2 năm, tôi thẳng thừng không đăng một số bài của Mặt Trận đưa vào, vì lý do là:” tổ chức cộng đồng không phải là công cụ của bất cứ tổ chức, đảng phái nào”.

Thế nên ông Lê Tấn Kiết và cả Mặt Trận Hoàng Cơ Minh không muốn tôi ở lại làm báo, cũng có lý do, nên sau nhiệm kỳ từ 1998, tôi mang tờ báo ra ngoài, đổi tên thành nguyệt san Chính Luận, đến 2003 thì đình bản vì lý do tài chánh. Tờ báo của tôi đánh mạnh, như những bài viết trên các diễn đàn tinparis, trong đó có bài” Ba Mặt Trận”, vạch mặt Mặt Trận kháng chiến cuội Hoàng Cơ Minh từ 1998.

Được biết năm 2000, đoàn văn công Việt Cộng” múa rối nước Thăng Long” sang trình diễn 2 tuần, tôi cùng một số người biểu tình, có xung đột với cảnh sát, ra tòa 7 lần và được trắng án, vì tôi vận động được truyền thông Úc, đăng vụ nầy trên tờ báo The West Australian, gây chấn động du luận trong số báo ngày 3 tháng 6 năm 2000. Trong suốt nhiều lần ra tòa, ngoài vợ tôi và bà Cherry Johnson, một nữ quân nhân Úc từng sang Việt Nam chiến đấu ra tòa ủng hộ tinh thần; không thấy bất cứ vị đại diện cộng đồng nào, ngay cả những” chiến hữu thân thương của tôi” trong hội Cựu Quân Nhân Tây Úc cũng” bận công tác, công vụ…” mà không tới. Nhưng họ đi tham dự diễn hành với quân phục oai phong trong ngày Anzac hàng năm, giữa tiếng vổ tay dang dội của người Úc, sau đó kéo tới nhà hàng và hàng năm thì” tìm chút mặt trời trong ly nước lạnh” vào ngày quân lực 19 tháng 6.

Đoàn Múa Rối nước Thăng Long do sự móc nối của Việt Cộng, với ông Henry Boston, núp dưới tàng lộng của đại nhạc hội” International Art Festival”, sau đó họ bị lổ khoản 2, 6 triệu và từ đó không còn tung ra hoạt động bên ngoài nữa. Và cũng năm 2000, sau khi ra tòa xong, tôi cùng với một số đồng hương, tổ chức cuộc biểu tình” bỏ túi” tại sòng bạc Casino, khiến cho đoàn văn công hổn hợp” Tình ca Olympic 2000″ do ông Nguyễn Tiến Phú tổ chức, với các ca sĩ trong nước, cùng với 2 ca sĩ Elvis Phương và Hoài Linh. Nhờ cuộc biểu tình nầy mà nhiều người trả vé, thế nên từ năm 2000 đến nay, ở tiểu bang Tây Úc không có đoàn văn công nào đến.

Thời gian sau đó, vào tháng 7 năm 2002, đột nhiên trong cộng đồng nhỏ bé của người việt ở miền Tây nước Úc xôn xao khi các hội đoàn đồng loạt nhận được một tờ” GIẤY KHEN THƯỞNG” của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, do Bộ Trưởng ngoại Giao cấp, với cái mộc đỏ và chữ ký của bí thư thứ hai, Nguyễn Quốc Huy, thay mặt đại sứ quán Việt Nam ở Úc. Giấy nầy được gởi nhiều nơi:-văn phòng Cộng Đồng Người Việt Tự Do Tây Úc-Hội Cựu Quân Nhân-Hội cao Niên-Chùa Chánh Giác…..và cá nhân tôi cũng nhận một bản. (Xin xem tờ giấy khen có kèm theo trong bài nầy)

Mỗi hội đoàn đều đem tờ giấy nầy ra đọc trước nhiều người và có nhiều nguồn dư luận: một số thì tin Trương Minh Hòa là Việt Cộng nằm vùng, chánh cống nên mới có giấy khen của Việt Cộng-Nhiều người cho là giấy giả do tổ chức, cá nhân nào đó muốn triệt hạ cá nhân, sau khi nhìn thấy những việc làm của đương sự tại địa phương và nhất là chưa bao giờ xin sỏ về Việt Nam…nhờ vụ nầy mà tôi biết được một số người chụp mũ tôi là Việt Cộng nằm vùng, nguồn tin có người kể lại là chị L….( là góa phụ của một cựu quân nhân, quen biết với tôi rất lâu) cho tôi biết có vài người trong hội cựu quân nhân, có cả ông chủ tịch mà tôi từng đăng báo vạch mặt câu nói:” hội quân nhân không làm chính trị” để binh vực cho ông Bùi Tấn Chức ( báo Phổ Thông).

Tôi dịch Tờ Giấy Khen đó bằng Anh ngữ của bộ ngoại giao Việt Cộng, gởi cho ông Alexander Downer, bộ Trưởng Ngoại Giao Úc, yêu cầu xét lại việc làm” khủng bố tinh thần, gây hoang mang cho công dân Úc” do đại sứ quán Việt Cộng. Sau đó tôi nhận được thư trả lời của ông Jurek Juszczyk, giám đốc vùng Thái, Việt, Lào. Theo chỉ dẫn, tôi gởi thư đến sứ quán Việt Cộng để phản đối và yêu cầu họ xác nhận cái tờ giấy khen nầy và sau khi họ xác nhận, tôi sẽ có những hành động kế tiếp.

Tuy nhiên, họ im lặng, nên tôi không thễ làm gì khác hơn. Sự kiện chụp mũ nầy gây xôn xao một thời gian, và để lại dấu ấn không tốt cho người bị chụp mũ trong cộng đồng. Vụ nầy lại” vượt tiểu bang” bay sang tận Adelaide, cách hàng ngàn cây số, tờ ADELAIDE TUẦN BÁO do nhà giáo VŨ NGỌC KHA, dùng nguyên trang A 4 đăng một bài chụp mũ, số 122, người viết là Lê Thị Hai ( một bút hiệu giả), chụp mũ tôi là; cán bộ Việt Cộng vượt Trường Sơn, nằm vùng, phá rối….liên tiếp đánh thêm mấy bài nữa và được một tay mệnh danh là” Thi Sĩ NGUYỄN-NHI” gốc là trung sĩ tiếp liệu, làm thơ chụp mũ tiếp. Được biết ông Vũ Ngọc Kha là người đi tỵ nạn rất sớm, định cư ở Nam Úc, trước 1975 xưng là” giáo sư Sử-Địa” của một trường Trung Học, là nhà thần thông có khả năng dời” Hòn Phụ Tử ra miền Trung” qua kiến thức sử địa” đỉnh cao trí tệ”. Năm 2005, tôi sang Nam Úc dự kỳ đại hội cộng đồng liên bang, nhờ vậy mà đồng bào ở Nam Úc biết tôi là ai, thế nên cái tờ báo chụp mũ mất uy tín. Sau đó ông chủ bút Vũ Ngọc Kha sang tờ báo cho người khác.

Sự kiện nầy vẫn chưa giải tỏa ở Tây Úc, do chính một số người mang đầu óc thù hằn hay gián điệp nằm vùng muốn triệt hạ uy tín cá nhân, nhất là trong hơn 1 năm nay, tôi có những bài viết đăng trên các tơ báo Điện Tử, đa số là Tinparis, Take 2 tango, Vietnamexodus…..nên bỗng nhiên nguồn tin” Trương Minh Hòa là cán bộ Việt Cộng nằm vùng” khơi động, họ đồn ầm lên, tôi nghe được nhưng không hề nao núng” vàng thiệt không sợ lửa”. Nhìn lại những người tung tin, hỏi họ có làm gì như tôi làm? Họ có về Việt Nam du lịch, du hý..?

Tại Tây Úc và các tiểu bang khác, có lẽ nhiều người cũng nghe tin nầy, nhưng chưa được dịp nhìn thấy cái” Giấy Khen Thưởng” của Việt Cộng dành cho Trương Minh Hòa. Do đó, tôi xin mạn phép viết vài lời tâm sự, có kèm theo” bằng chứng” là Việt Cộng nằm vùng…. để rộng đường dư luận. Thành thật cám ơn sự theo dõi, đọc bài viết có vẻ” bất thường” nầy trên diễn đàn. Nhân đây xin nhắn với những kẻ nào dùng cái TRÒ CON NÍT NẦY, những kẻ đó có thể là:
-Bọn gián điệp nằm vùng bị thất bại ở Tây Úc (Úc Châu)
-Những kẻ ăn cơm quốc gia, la cà với Việt Cộng làm ăn, du hý
-Những kẻ, tổ chức đã bị tôi vạch mặt… đây là trò tồi, nhưng cũng nhân đây, xin cảnh báo với những người Việt quốc gia, coi chừng bọn Việt Cộng tung trò bôi bẩn nầy./.

TRƯƠNG MINH HÒA

Và Sau đây là Bài cảm tạ của Trương Minh Hòa

CẢM TẠ.

Chân thành cảm tạ quí vị lãnh đạo” vô thần” của các tôn giáo quốc doanh hải ngoại:

-Các vị chư tôn công đức vĩ đại giáo hội Phật Giáo Việt Nam: huề thượng Thích Mỹ Kim, huề thượng Thích Ái Nữ, thượng tạ Thích Kim Tiền, Thích Chí Minh, Thích Cẩu Nhục, đại đức Thích Lếu Láo, thiền sư Thích Âm Đạo (đại diện Làng Môn).
-Các linh mọp thuộc tông phái Juda Bảo Vệ Đức Tin ( Juda defends faithful): giám mọp Dzú -xề Phạm Giới, Quăng- Giê- Xu Phan Giáo Hội, Ma- Tiểu Lý Lạc Quyên. Giô-Dép Râu Trần Đại Gian, Sa tăng Mã Nhân Ngưu. Linh mọp: Cặt-Mập Hồ Văn Miểng, Lê-Ninh Nâng Bi Chu Lưu Manh..

Các vị thân hèo nhân khỉ, quí mạnh- yếu thường quân, quí du đảng, du côn, du thủ, du thực, du dâm, du hí, quí cô hồn các đản, quí thân hữu” trôi sông lạc chợ”, trí ngủ, trí mộng du, trí tệ, trí dỏm, trí giả, trí ngu, quí liệt bại xụi sĩ, các hội đoàn đấu tranh kiếm cơm, tổ chức chống Cộng cò mồi.
Đặc Biệt:

-Với sự tận tình giúp đỡ về mặt nghi thức lễ bái theo đúng thủ tục hành chánh của Ủy Ban Bảo Vệ Lăng Hồ Chủ Tịch.
-Ủy Ban Phát Huy và Bảo Tồn hang Pác Pó cùng điều phối với Hội Nghiên Cứu Háng Học Thế Giới đã phối hợp giúp vui, cung cấp 10 vũ nữ múa những thể điệu truyền thống thoát y 100% nhằm tạo thêm bầu không khí hào hứng nhưng rất” nghiêm túc”.

Cảm tạ tất cả đã hết lòng thành kính truy điệu, quì mọp, liếm láp, bợ dzái trước vong linh của ÔNG CỐ NỘI, NGOẠI TỔ, người THẦY VĨ ĐẠI cực kỳ thân thương của chúng tôi là: Cu HUỲNH MINH CHÁN, nhà Kách mệnh lão thành Du Kích, nhà khủng bố lão thành, tốt nghiệp viện Hàn Rừng ở Móp Cu Ra ( Liên Sô), nguyên viện chủ viện điều nghiên Mả tấu AK, là nhà dân chủ dỏm, là Nhà Dân Chủ Phản Phé, được các lực lượng đón gió trở cờ tấn phong là TÙ NHÂN LƯƠNG LẸO hết lòng vạch ra những khuyết điểm để đảng sửa chửa tốt hơn, được một số người tôn sùng là vị” Thánh Dưa Hấu” nổi tiếng ở hải ngoại, được nhiều bác sĩ, tiến sĩ kính mến, hết lòng” nâng bi”; là người có công nhớn tổ chức” Tiểu Diên Hồng” hải ngoại, nơi qui tụ” đỉnh cao trí tệ nòi người” thuộc ba thành phần:- đảng-trí ngủ hải ngoại và khoa bảng trí thức Cầu Muối… Sau thời kỳ” neo đơn” vì chứng bịnh ung thối Dzái trường kỳ bám trụ khi đến” cao trào cách mạng” dâng cao, nên đã sớm tiêu diêu nơi thiên đàng Cộng Sản. ” Nghĩa TIỂU là nghĩa TIỆN”, cũng như” nghĩa TÈ là nghĩa ỈA”, người chết không thể phản tỉnh giả hay lừa đảo được ai, đó là chân lý trước sau như một, dù sông có thể cạn, núi có thể mòn mà lời nói của Hồ Chủ Địt từng” giáo dục”.

Trong lúc làm lễ truy điệu có phần bối rối, nếu có gì sơ xuất xin quí liệt bại xụi vị niệm tình tha thứ. Đồng kính cảm tạ:

-Ông bà HUỲNH CƠ ĐẠN, tổng quản lý kiêm chủ nhân đại công ty” ăn uống” Phở Bò CO-LTD và các con cháu.
-Ông bà Điểm Hoàng Đồ, tổng quản lý cửa hàng Vịt Tìềm.
-Ban quản lý trung ương hệ thống nhà hàng Vịt Tiềm toàn” thế giái”.
-Cơ sở các Branchise Vịt Tiềm, Phở Bò: Hoa Kỳ, Âu Châu, Úc Châu….
-Hội Chả Giò Việt Nam.
-Các đài phát thanh Chân Trời Vẹm.
-Hệ thống đài Tiếng Nước Mắm” tôm”.
-Các cơ sở” Mặt Giận” Hoa Kỳ, Úc, Âu Châu, Nhật Bổn.
-Ban chấp tỏi cộng đồng người Vẹm Bốn Lời và Bốn Lù ở San Diego.
-Ủy Ban Vận động xây dựng đền thờ Hồ Chí Minh ở đảo Hải Tặc ( vùng vịnh Caribeen).
-Hiệp hội thân hữu nghị hội cựu cán ngố toàn quốc Hoa Kỳ.
-Phong trào dân chủ nhân dân cuội ở Hoa Kỳ.
-Hội phát huy truyền thống Ao Cá Bác Hồ hải ngoại.
-Ủy Ban bảo vệ người phản tỉnh cuội hải ngoại.

http://tinparis.net/thoisu/2008_09_11_TroKhungBodenTMHVCNamVung_TMHoa.html

Posted in Uncategorized | Tagged: | 3 Comments »

Video: Giám mục, linh mục và giáo dân thuộc Giáo khu Hà Nội đoàn kết và cương quyết đòi công lý và sự thật

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 11, 2008

VietCatholic News (Thứ Tư 10/09/2008 12:16)

Video:

http://catholicvideo.org/VcatMedia/video/showvideo.aspx?video=80910DCThuyenLinh.wmv

Xem hình ảnh Lễ đồng tế của 2 Đức Cha và cuộc tôn vinh Đức Mẹ

Xem bản tường trình thêm về sinh hoạt của Phái đoàn giáo phận Lạng Sơn

http://www.vietcatholic.net/News/Html/58317.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: | 1 Comment »

6 nhà đấu tranh dân chủ bị CSVN bắt ngày 10-11/9/2008

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 11, 2008

6 nhà đấu tranh dân chủ bị CSVN bắt ngày 10-11/9/2008

Chúng tôi vừa nhận được tin: ngoài hai nhà đấu tranh dân chủ bị bắt như bản tin đã gửi dưới đây, tối hôm 10/9 rạng 11/9, còn có 4 người khác bị bắt. Tính đến lúc bản tin này được viết (1230 trưa 11/9 giờ VN) có tất cả 6 nhà đấu tranh dân chủ ở miền Bắc bị công an CSVN bắt là:

1. Nguyễn Xuân Nghĩa (Hải Phòng): bị bắt lúc 12g00 đêm 10/9/2008

2. Phạm Văn Trội (Hà Tây): bị bắt lúc 11g30 đêm 10/9/2008

3. Phạm Thanh Nghiên (Hải Phòng): bị bắt lúc sáng 11/9/2008

4. Nguyễn Văn Túc (Thái Bình): bị bắt ngày 10/9/2008

5. Ngô Quỳnh (Bắc Giang): bị bắt ngày 10/9/2008

6. Trần Đức Thạch (Hà Tĩnh): bị bắt ngày 10/9/2008

CSVN một đằng “đội trên”: sẵn sàng nịnh bợ và làm tay sai cho Trung Quốc, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc; một đằng “đạp dưới”: sẵn sàng hiếp đáp dân mình, kể cả những kẻ phản đối Trung Quốc xâm lăng đất nước mình.

Bộ mặt “tay sai Trung Quốc” của CSVN đã quá rõ ràng rồi.

Việc bắt bớ này cho thấy CSVN đang lâm vào thế yếu của một chế độ độc tài phi nghĩa đến thời suy tàn. CSVN đang bị hốt hoảng trước sự mất tin tưởng và chống đối của người dân trong nước.

Mục tiêu của họ khi bắt bớ các nhà đấu tranh dân chủ bất bạo động này:

— một đằng là để đối phó một cách bị động đối với phong trào đòi tự do dân chủ, dân sinh dân quyền đang ngày càng dâng cao trong lòng dân tộc,

— đằng khác là để lấy lòng quan thầy Bắc Kinh.

Nhưng những hành động đàn áp và khủng bố nhân dân này sẽ không thể làm cho dân tộc chùn bước, mà còn làm cho những mâu thuẫn vốn có trong nội bộ đảng CSVN ngày càng trầm trọng và sâu sắc. Những sự kiện này báo hiệu mùa xuân của dân tộc đang đến gần.

Chúng tôi xin mượn lời của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực năm để xác định rằng: “chừng nào nước Nam hết cỏ thì mới hết người Nam chống độc tài độc đảng”. Câu này của người xưa vẫn còn nguyên giá trị cho công cuộc đấu tranh chống giặc nội xâm CSVN hôm nay.

Xin mọi người có khả năng hãy kêu gọi chính giới các nước tự do phản đối CSVN và áp lực CSVN phải phóng thích 6 nhà đấu tranh dân chủ này.

Phóng viên dân chủ Khối 8406. 

 

http://www.vietvungvinh.com/Portal.asp?goto=VietNam/2008/20080911_02.htm   

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Bình Luận Về Hoàng Sa – Trường Sa SBTN

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 11, 2008

Chương trình Bình Luận Tin Tức của đài truyền hình SBTN với luật sư Đỗ Phủ và Tường Thắng. Bình luận về sự kiện Hoàng Sa & Trường Sa 


Phần 1


Phần 2


Phần 3


Phần 4


Phần 5


http://www.vietnamexodus.org

Posted in Bình Luận Về Hoàng Sa - Trường Sa SBTN | Tagged: | 2 Comments »

Tổng Hợp Tin Tức Ngày 9 Tháng 09, 2008, Trích đăng lại từ đài truyền hình SBTN

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 11, 2008

Tổng Hợp Tin Tức Ngày 9 Tháng 09, 2008, Trích đăng lại từ đài truyền hình SBTN

Trong phần tổng hợp tin tức ngày 9 tháng 09, 2008 – mà chúng tôi xin trích đăng lại từ đài truyền hình SBTN – đặt ra câu hỏi tại sao cộng sản Việt Nam không đàn áp giáo xứ Thái Hà (ít nhất là đến ngày hôm nay). Nước Nga đã thua tại Georgia trên phương diện nào? Thế kỷ 21 có chấp nhận chủ nghĩa phiêu lưu chính trị của nước Nga hay không? Hoa hậu Việt Nam không có bằng trung học phổ thông – vì sao?

Xin quý bạn đọc bấm vào các link dưới để xem:

Đọan 1


 

Đọan 2


Đọan 3


Đọan 4


http://www.vietnamexodus.org/vne0508/modules.php?name=News&file=article&sid=738

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Dân Oan Biểu Tình Ngày 12 tháng 08 2008

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 11, 2008

Dân oan biểu tình tuần hành đường phố Hà Nội và 110 Cầu Giấy Hà Nội Ngày 12 tháng 08, 2008 – phần 1/2


Dân oan biểu tình tuần hành đường phố Hà Nội và 110 Cầu Giấy Hà Nội Ngày 12 tháng 08, 2008 – phần 2/2

http://www.vietnamexodus.org

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »