Tudodanchu's Weblog

Freedom, Democracy, Human Rights, No Communism For Vietnam

Archive for Tháng Chín 14th, 2008

Video: Công An Cộng Sản Và Dùi Cui Điện Tại Thái Hà

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 14, 2008

Vị Giám mục người Pháp tới thăm linh địa Thái Hà- thiếu tướng Công An Cộng Sản – Nhanh cũng có mặt

Video: Công An Cộng Sản Và Dùi Cui Điện Tại Thái Hà

VietCatholic News (Chúa Nhật 14/09/2008 17:05)

THÁI HÀ – Hôm nay Chúa Nhật 14/9/2008, trời nắng chang chang, nhưng dân chúng khắp nơi vẫn đổ về Thái Hà đông đúc, nhiều người dùng những chiếc quạt hoặc những tờ báo che đầu và rất nhiều người vẫn đứng giữa trời nắng mà cầu nguyện.

Xin quý bạn đọc bấm vào các link dưới để xem video:

Đức TGM Ngô Quang Kiệt và Đức GM phụ tá Bùi Chu đi thăm gia đình giáo dân bị bắt giam

http://www.youtube.com/watch?v=eWGikrj9bNk

Hội kèn nữ giáo xứ Cẩm Châu – GP Thái Bình đến Thái Hà

http://www.youtube.com/watch?v=TGXd2XRAcPc

Sinh viên giữa trật tự, công an không cho! sáng 14-09-2008

http://www.youtube.com/watch?v=TBi5UA9qPsU

Duc GM Jean Legrez, Gp. Saint Clos vieng linh dia Duc Ba

Đức GM Jean Legrez, giáo phận Saint Clos viếng linh địa Đức Bà

http://www.youtube.com/watch?v=F94aF7mQLAE

Đặc biệt hôm nay có sự tham gia của 40 bạn trẻ có lẽ là thuộc các giáo xứ trong thành phố Hà Nội, đeo băng đỏ trên cánh tay, đang làm công tác hướng dẫn khách hành hương. Họ nhiệt thành chỉ dẫn mọi người trật tự ra vào linh địa. Nhưng vàp lúc 9h30 có khoảng 150 nhân viên an ninh và cảnh sát cơ động được huy động đến linh địa Đức Bà lúc này. Trên tay công an ai cũng có cái dui cui điện. Công an kéo đến, và họ không cho sinh viên giữ trật tự, bắt sinh viên cởi bỏ băng đỏ ghi chữ “trật tự giáo xứ Thái Hà”.

Một lát sau, chúng tôi cũng thấy thiếu tướng Nhanh, Giám đốc công an thành phố Hà Nội, xuất hiện. Ông đảo quanh linh địa một vòng, tiếp xức với hai vị linh mục DCCT ít lâu, rồi ông lên xe đi ngay.

Tưởng rằng có chuyện lớn sắp xảy đến với Thái Hà mất rồi!? Chúng tôi vội vàng tiếp cận các tu sĩ mặc áo dòng đang cầu nguyện với giáo dân trước linh đài Đức Bà và chúng tôi cũng tìm cách dò hỏi một số nhân viên an ninh để biết rõ chuyện gì sắp xảy ra. Hóa ra là vấn đề không quá trầm trọng như dự đoán của chúng tôi. Một tu sĩ cho chúng tôi biết: “Hôm nay một số sinh viên tập trung tại Đại sứ quán Trung Quốc trên đường Hoàng Diệu để biểu tình, phản đối việc Trung Quốc công bố công hàm mà ông Phạm Văn Đồng đã ký cách đây 50 năm xác nhận Hoàng Sa và Trường Xa là của Trung Quốc. Có lẽ sợ đám sinh viên sau khi biểu tình sẽ kéo đến linh địa ủng hộ Thái Hà, nên công an được huy động đến đây đông để tìm cách ngăn chặn”. Mọi ngả đường dẫn đến linh địa Đức Bà lúc này đều có công an canh gác nghiêm ngặt.

Hôm nay đặc biệt có Hội Kèn giáo xứ Cam Châu, giáo phận Thái Bình đến Thái Hà hiệp thông cầu nguyện. Có rất đông các nữ tu Mến Thánh Giá Hà Nội tới cầu nguyện hiệp thông.

Thêm vào đó còn có vị khách qúi đến thăm Thái Hà. Đó là Đức giám mục Jean Legrez thuộc giáo phận Saint Clos bên Pháp đến viếng linh địa Đức Bà thăm hỏi tình hình và cầu nguyện tại đây.

Cho tới ban chiều Chúa Nhật hôm nay đã có tới 7 thánh lễ được tổ chức tại nhà thờ để đáp ứng như cầu của khách hành hương và những người tới kính viếng Đức Mẹ.

Hầu như mọi người đều vào nhà thờ dự lễ rồi lại ra linh địa thăm viếng và cầu nguyện. Có lẽ lượng người hành hương đông quá, nên sau mỗi lễ, mọi người tuy nghi đi ra linh địa, chứ không có những cuộc rước và cầu nguyện chung như mọi khi. Chỉ riêng sau thánh lễ dành cho thiếu nhi, các em xếp hàng ngay ngắn, trật tự tiến ra linh đài dâng hoa và cầu nguyện với Đức Mẹ.

PV VietCatholic

http://www.vietnamexodus.org/vne0508/modules.php?name=News&file=article&sid=777

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Những người giết GS Nguyễn Văn Bông bây giờ ở đâu?

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 14, 2008

Những người giết GS Nguyễn Văn Bông bây giờ ở đâu?

» Tác giả: Khánh Dung

(Gs. Nguyễn Văn Bông, Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh 1963-1971 (1929-1971) Nguồn: thongtin.brinkster.net)

Gần 12 giờ trưa Thứ Tư 10/11/1971, chiếc xe chở Giáo Sư Nguyễn Văn Bông vừa từ đường Trần Quốc Toản quẹo phải vào đường Cao Thắng, chạy chậm lại để ngừng đèn đỏ ngay ngã tư trước khi quẹo trái vô đường Phan Thanh Giản.

Xe vừa ngừng, một thanh niên chạy đến gần và ném xuống gầm xe của Giáo sư Bông một chiếc cặp trong đựng mìn chống tăng MK6 (1). Sau đó anh ta băng qua đường và nhảy lên một xe Honda 90 có người đã nổ máy chờ sẵn, xe vọt luôn vào một con hẻm. Lựu đạn nổ, Giáo Sư Bông và người cận vệ của ông thiệt mạng.(2)

Những sát thủ

Chiếc xe gắn máy biến nhanh vào một con hẻm trên đường Cao Thắng. Do đã tập luyện thuần thục trước khi ra tay, chỉ trong vòng ba phút xe đã ra đến đầu hẻm phía bên kia và biến mất trên đường Trần Quốc Toản.

Người lái xe, và cũng là người điều khiển vụ ám sát là Vũ Quang Hùng, sinh viên năm thứ ba Đại học Khoa Học Saigon và là thành viên của tổ trinh sát vũ trang của Ban An Ninh T4. Người ngồi sau xe honda là Lê Văn Châu, trung úy quân đội VNCH nhưng đồng thời cũng là cơ sở của An Ninh T4. Người cung cấp sáu trái lựu đạn MK6 cho hung thủ là Nguyễn Hữu Thái, kiến trúc sư, cựu chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn, lúc đó đang là trung úy chiến tranh tâm lý tại Sài Gòn.

Ngay sau khi vụ ám sát xảy ra, Hùng và Châu được đưa ra bưng để tránh mũi dùi điều tra của chính quyền, và họ chỉ trở về Sài Gòn sau ngày 30 tháng 4, 1975.

(Vũ Quang Hùng Nguồn: VietnamNet,17/07/2004)

Lê Văn Châu về làm việc ở Báo Tuổi Trẻ. Còn Vũ Quang Hùng được đưa về làm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân quận 3, nhưng sau đó không lâu Hùng nhảy sang lãnh vực báo chí.

Hùng sanh năm 1945 tại Nam Định, bắt đầu viết báo từ 1964, và cho đến nay đã kinh qua các chức vụ phó tổng biên tập báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh, tổng biên tập tạp chí Người Du Lịch, và biên tập viên Báo Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Tháng 7/2004, Vũ Quang Hùng dưới tên nhà báo lão thành Quang Hùng xuất bản tập sách “Phóng Sự Điều Tra” trong đó ghi lại những kinh nghiệm mà Hùng đã “đúc kết, học hỏi, thậm chí va chạm trong suốt 40 năm làm báo”.

“Chiến công” của Vũ Quang Hùng đã được chính ông ta kể lại trong một bài đăng trên tạp chí Đứng Dậy của Linh Mục Chân Tín năm 1976. Đến tháng 4/2000, trong dịp kỷ niệm 25 năm ngày chiến thắng 30 tháng 4 nhà báo chuyên về các đề tài tình báo Nam Thi của báo Thanh Niên cũng kể lại chuyện này, trong đó có ghi rõ vai trò trợ giúp đắc lực của Nguyễn Hữu Thái.

Biệt động thành hay sinh viên tranh đấu?

Vào thời điểm tham gia vụ ám sát Giáo sư Bông, Nguyễn Hữu Thái chỉ mới là cơ sở của An ninh T4 chứ chưa phải là thành viên chính thức. Sau này Thái được bổ về tổ điệp báo A10 vào những năm gần 1975 khi An ninh T4 cần gây dựng thêm nhiều cơ sở để đáp ứng với tình hình sôi động.

An ninh T4 là tổ chức phụ trách hoạt động an ninh chính trị nội thành Sài Gòn trong chiến tranh. Tất cả những lệnh ám sát trong thời gian này đều phát ra từ người chỉ huy trực tiếp lúc ấy là Thái Doãn Mẫn, sau này là đại tá phó giám đốc công an Thành Phố Hồ Chí Minh.

Sáng ngày 30/04/1975, sau khi nghe tin bộ đội đang vào Sài Gòn, Thái cùng với ký giả Nguyễn Vạn Hồng và giáo sư Huỳng Văn Tòng băng xanh đỏ trên cánh tay chạy ra đường Hồng Thập Tự đón dẫn đường đoàn xe tăng đang tiến vào Dinh Độc Lập.

Tại đây, Thái là người chạy theo anh bộ đội xe tăng Bùi Quang Thận lên nóc dinh Dinh Độc Lập để cắm cờ (Thận không biết sử dụng thang máy và đã bị ngã khi tông vào cửa kính vì chưa bao giờ nhìn thấy cửa kính). Thái cũng có công giúp thâu băng lời đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh tại đài Phát thanh Sài Gòn. Lần này, Thái và Tòng có dịp chứng tỏ sự quan trọng của mình khi được xưng danh tánh trước khi giới thiệu Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng.

Sau này Nguyễn Hữu Thái luôn tìm cách che giấu những hoạt động cho An ninh T4 của mình, chỉ luôn tự nhận mình thuộc thành phần thứ ba hoặc là một thành phần của lực lượng sinh viên tranh đấu. Chính phóng viên đài BBC cũng đã bị lừa khi họ cho rằng Thái “không phải là người ở phía bên kia, mà đã từng tham gia phong trào đấu tranh sinh viên ở Sài Gòn”.

(Nguyễn Hữu Thái giới thiệu bài viết của mình về Perect Spy (Tuổi trẻ cuối tuần, tháng 9, 2007) Nguồn: larrybermanperfectspy.com)

Trong buổi phỏng vấn ngày 19/05/2005 với BBC về một cuốn sách nhỏ do Nguyễn Hữu Thái viết, trong đó kể lại những chuyện xảy ra tại dinh Độc lập và đài Phát thanh Sài Gòn vào ngày 30/04/1975, Thái cho phóng viên BBC biết cuốn sách của Thái đã không được phép xuất bản tại Việt Nam vì những chuyện Thái kể không phù hợp với những chi tiết của phiên bản chính thức về những chuyện xảy ra trong Dinh Độc Lập sáng ngày hôm ấy.

Cái vinh quang của người chiến thắng không thể nào lại có thể chia sẻ với một kẻ cứ ngỡ rằng sẽ có một chỗ cho thành phần thứ ba. Và quả thật là vì không có chỗ cho một thành phần như vậy, nên Thái đành phải trở về sống bằng nghề kiến trúc và dạy học của mình.

Ngoài ra Thái cũng trở thành nhà nghiên cứu Phật giáo. Trong kỳ hội thảo quốc tế “Phật giáo trong thời đại mới, cơ hội và thách thức” vào tháng 7/2006 tại Việt Nam, Nguyễn Hữu Thái, lúc này đang dạy học tại Hoa Kỳ, đã trình bày đề tài: “Đột phá mới trong truyền bá Phật giáo ở phương Tây.”

Vụ mưu sát Giáo sư Bông năm 1968

Nhà báo Nam Thi của Thanh Niên trong các số báo đã nêu trên cũng xác nhận hai người chịu trách nhiệm về vụ ám sát hụt Giáo sư Bông vào tháng 8/1968 chính là luật sư Đỗ Hữu Cảnh và công nhân Trần Văn Hoành. Vũ khí dùng trong vụ ám sát không thành này là một trái nổ C4 nặng 4kg đựng trong một chiếc cặp học sinh. Giáo Sư Bông may mắn thoát chết trong vụ này do vừa đi sang một phòng khác lúc mìn phát nổ.

Sau 1975 Hoành trở thành sĩ quan an ninh trong ngành công an, còn Cảnh thì cũng như trường hợp của Thái, ông ta nổi lên như một sinh viên tranh đấu ở Sài Gòn nhưng thật sự lại là thành viên tổ vũ trang tuyên truyền của công vận, và sau này là thành viên tổ điệp báo A10 của An ninh T4.

Năm 2005 khi người dân Sài Gòn xôn xao về việc thanh lý những hậu quả của vụ Epco – Minh Phụng, người dân được biết đến tên một người đứng tên làm giám đốc cho nhiều công ty của Liên Khui Thìn. Đó là Đỗ Hữu Cảnh.

Cảnh đã đứng tên làm giám đốc công ty sản xuất – thương mại – xây dựng – dịch vụ Hồng Long lập năm 1995, và công ty cổ phần xây dựng – kinh doanh nhà Hồng Hà năm 2003. Con trai Cảnh là Đỗ Trường Sơn thì làm giám đốc của ba công ty khác: công ty cổ phần Đông Dương thành lập năm 2001, công ty tin học Công nghệ mới năm 2000, và công ty tư vấn – thiết kế – kiến trúc – xây dựng Đông Dương năm 2002.

Tất cả 5 công ty trên toạ lạc tại toà nhà số 282 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Hầu hết vốn tạo dựng những công ty này là của Tăng Minh Phụng và Liên Khui Thìn.

Sau khi tòa án tuyên bố tịch biên tài sản của Liên Khui Thìn và cơ quan thi hành án đã kê biên hơn 100,000 thước đất dự án của công ty Hồng Long, Đỗ Hữu Cảnh vẫn tiếp tục rao bán những khoảnh đất này cho hơn 500 người mua. Việc lường gạt này đưa đến những vụ kiện tụng trong đó nhiều người mua đã kéo đến thể hiện sự tức giận tại nhà riêng của Đỗ Hữu Cảnh ở số 166C đường Thích Quảng Đức, phường 4, quận Phú Nhuận. Đến lúc đó nhiều người mới bật ngửa ra khi được biết kẻ làm ăn lươn lẹo và lường gạt này lại là một luật sư.

Tháng giêng năm nay (2007), có một văn phòng luật sư mới được phép hành nghề tại thành phố Hồ Chí Minh. Đó là văn phòng luật sư Hồng Lạc, địa chỉ 451/2 Hai Bà Trưng, Phường 08, Quận 3,Thành Phố Hồ Chí Minh, dưới tên Luật Sư Đỗ Hữu Cảnh.

((1) Mìn chống tăng MK.6 HEAA (high explosive anti-armor) Nguồn: world.guns.ru)


(2) Đồng phạm giết GS Nguyễn Văn Bông theo Jackie Bong-Wright, tác giả “Mây Mùa Thu”, (Autumn Cloud), Capital Books, Inc. (2001): “Cũng giống như ông Martin, tôi tin là Việt Cộng giết Bông. Điều này đã được xác định năm 1976 trong cuốn sách mang tựa đề Giải Phóng, được viết bởi nhà báo Ý tả khuynh Tiziano Terzani, người đã ở lại Sài Gòn trong thời gian Việt Cộng chiếm Sài Gòn. Ông đã phỏng vấn những người anh em cộng sản của mình, những người này đã hãnh diện cho biết là họ ra lệnh cho những đồng chí của mình, trong đó có Nguyễn Hữu Thái, giết Bông.”

Chú thích của tác giả (Tài liệu tham khảo):

– Bí mật điệp báo chưa từng công bố: đốt cháy con bài của Mỹ, Nam Thi, Thanh Niên số ra ngày thứ Ba 02/05/2000 số 78/1701
– Ai đã giết Giáo sư Bông, Trần Thanh, Website VietnamReview, 10/09/2007
– Cẩm nang người làm báo, tập sách “phóng sự điều tra”, Sương Lam, Website VietnamNet 17/07/2004
– Bán đất kê biên cho gần 500 người (theo báo Người Lao Động), Website VNExpress 22/11/2005
– Website Luật sư Việt Nam (www.luatsu.vn): Danh bạ: Văn phòng luật sư Hồng Lạc
– Thư độc giả Võ Mai Uyên Thi: Công ty Đông Dương có lừa đảo khách hàng?, Website báo Lao Động, 01/11/2006
– Trích đoạn: Những điều chưa nói hết về 30/04/1975, BBC Vietnamese 19/05/2005
– Website Vietnam Buddhist Research Institute (www.vinabri.org)

2007-12-18 03:16:21

http://www.vantuyen.net/index.php?view=story&subjectid=18739

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Ai đã giết giáo sư Nguyễn Văn Bông?

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 14, 2008

Ai đã giết giáo sư Nguyễn Văn Bông?

Trần Thanh

Mới đây, tôi được xem trên web-site của Radio VNCR.com một cuộc phỏng vấn bà Jackie Bông do phóng viên Vũ Chung thực hiện. Cuộc phỏng vấn này đề cập đến việc ám sát giáo sư Nguyễn Văn Bông hồi tháng 11 năm 1971. Bà Bông cho biết sau khi chồng bà bị giết, ông đại sứ Mỹ Bunker có đến nhà bà chia buồn và cho biết thủ phạm giết hại giáo sư Bông chính là bọn cộng sản. Sau cái chết của giáo sư Bông, nhiều nghi vấn đã được đặt ra, tập trung vào bốn đối tượng sau đây:

1/ Cộng sản đã giết giáo sư vì thấy giáo sư là người có tài và để tạo sự nghi kỵ -ly gián kế- trong hàng ngũ quốc gia.

2/ Tổng thống Thiệu muốn loại trừ giáo sư Bông vì giáo sư đã thành lập đảng đối lập Quốc Gia Cấp Tiến có uy tín, có thể tranh chức tổng thống với ông Thiệu trong tương lai.

3/ Thủ tướng Trần Thiện Khiêm muốn loại trừ giáo sư Bông vì tổng thống Thiệu đã mời giáo sư Bông làm thủ tướng và giáo sư Bông đã nhận lời.

4/ CIA Mỹ muốn loại trừ giáo sư Bông vì giáo sư Bông được đào tạo tại Pháp; mà Mỹ và Pháp không ưa nhau, nhất là Pháp đang đứng ngoài cuộc chiến và luôn tìm cách thọc gậy bánh xe, phá thối.

36 năm đã trôi qua (1971-2007) kể từ ngày giáo sư Bông bị ám sát nhưng những cuộc tranh luận và những nghi vấn về cái chết của ông vẫn còn tiếp diễn, vẫn chưa có một kết luận dứt khoát. Trong cuộc phỏng vấn dành cho phóng viên đài VNCR, tháng 8 năm 2007, bà Bông có vẻ có khuynh hướng tin rằng chính cộng sản đã giết hại chồng bà, cũng như bà cho biết ông Bunker, đại sứ Mỹ đã thông báo cho bà biết như thế, vì ông CÓ CHỨNG CỚ. Tuy nhiên, những chi tiết về những chứng cớ lại không được nêu ra, cho nên vấn đề có vẻ như vẫn được tiếp tục thả nổi.

Nhân xem đoạn video trên web-site của VNCR, tôi nhớ đến một bài báo có liên quan đến cái chết của giáo sư Bông, xin tường thuật lại để mọi người cùng tìm hiểu.

Vào năm 1976, tôi có đọc tạp chí Đứng Dậy của linh mục Chân Tín. Xin phép được dài dòng một chút xíu về tạp chí này: Trước năm 1975, linh mục Chân Tín là nhân vật thuộc thành phần thứ ba, đối lập với chính quyền VNCH và ông đã cho phát hành tạp chí mang tên là Đối Diện. Sau năm 1975, tạp chí Đối Diện được việt cộng tiếp tục cho phát hành nhưng phải đổi tên, mang tên mới là “Đứng Dậy”. Tuy nhiên, tạp chí Đứng Dậy cũng chỉ “đứng” được khoảng hơn một năm rồi sau đó bị xụm bà chè vì bị việt cộng bức tử, đem vứt vào thùng rác, cùng chung số phận với tờ Tin Sáng của tên việt cộng nằm vùng Ngô Công Đức.

Trong tạp chí Đứng Dậy, (số mấy tôi không nhớ), có đăng một bài viết, dưới dạng hồi ký, kể lại chiến công của những “chiến sĩ biệt động thành” trong việc ám sát tên “ác ôn” (chữ dùng của việt cộng) Nguyễn Văn Bông. Tác giả bài viết ký tên là Vũ Quang Hùng, tự xưng là sinh viên năm thứ ba, đại học Khoa học Sài Gòn.

Tính đến nay, năm 2007, đã 31 năm trôi qua kể từ khi tôi đọc tạp chí ấy, ký ức có phần suy giảm, tuy nhiên tôi cố gắng nhớ càng nhiều chi tiết càng tốt để viết nên bài viết này.

Theo lời kể của tên Vũ Quang Hùng, hắn là cộng sản nằm vùng thuộc ban An ninh T4 biệt động thành, trực thuộc sự chỉ huy của trung ương cục R. Những tên cộng sản gộc như Lê Duẩn, Võ Văn Kiệt, Phạm Hùng, Trần Bạch Đằng đều đã từng hoạt động trong cục R. Tên Hùng cho biết một hôm hắn nhận được chỉ thị là phải bằng mọi giá ám sát giáo sư Nguyễn Văn Bông vì đây là thành phần “ác ôn”, rất nguy hiểm. Tên Hùng và một tên nữa được ban An ninh T4 tuyển chọn và được cấp cho một chiếc xe Honda 90, súng k54 và chất nổ để thực hiện việc ám sát. Trước khi ám sát, hai tên này được cho biết địa điểm bọn chúng sẽ ra tay là ngã tư Cao Thắng – Phan Thanh Giản,Sài Gòn và phải chờ đúng vào lúc chiếc xe của giáo sư Bông bị kẹt đèn đỏ ngừng ngay tại đó. Bọn việt cộng đã theo dõi rất kỹ và biết vào khoảng 12 giờ trưa, xe giáo sư Bông thường đến ngã tư đó. Xe giáo sư Bông có một xe cảnh sát đi theo hộ tống vì trước đó giáo sư đã bị ám sát hụt nên an ninh được tăng cường.

Tên Hùng và tên đồng bọn phải tập dượt kế hoạch ám sát rất kỹ. Bọn chúng dự trù, sau khi ném trái bom xuống dưới gầm xe của giáo sư Bông thì hai tên sẽ vọt chiếc xe Honda 90 vào trong một con hẻm ngay gần đó để tẩu thoát. Bọn chúng tập phóng xe trong con hẻm này nhiều lần và canh đồng hồ làm sao trong vòng ba phút là phải thoát được sang đầu hẻm phía bên kia. Sau khi tập dợt nhuần nhuyễn, bọn chúng được lệnh chờ ám sát. Một tên việt cộng nằm vùng khác được bố trí giả làm thợ sửa xe đạp, xe Honda, đem bày biện đồ nghề nơi lề đường tại ngã tư Cao Thắng – Phan Thanh Giản. Tên Hùng và tên đồng bọn giả làm khách sửa xe, đậu xe tại đó. Nếu xe của giáo sư Bông khi đến ngã tư Cao Thắng – Phan Thanh Giản, gặp đèn xanh, chạy luôn thì ngày hôm đó kế hoạch ám sát được hoãn lại, chờ ngày tiếp theo. Ngược lại, nếu gặp đèn đỏ thì hai tên khủng bố sẽ ra tay. Tên Hùng ngồi đằng sau xe Honda 90 sẽ ném trái bom xuống dưới gầm xe của giáo sư Bông rồi bọn chúng phóng xe bỏ chạy. Kế hoạch đã diễn ra đúng như bọn chúng dự trù và giáo sư Bông đã thiệt mạng.

Sau vụ ám sát, hai tên khủng bố đã được ban an ninh T4 đưa ra ngoài chiến khu trốn thoát. Sau năm 1975, tên Hùng theo chân đoàn quân “giải phóng” vào Sài Gòn. Hắn được việt cộng cho làm chủ tịch ủy ban nhân dân quận ba, thành Hồ. Và hắn đã viết hồi ký, kể lại chiến công “vẻ vang” của mình! Điều đáng lưu ý, trong bài viết của hắn có ghi rõ những ý chính quan trọng như sau:

1. Nhận định của Trung ương cục R về giáo sư Bông:

– Đó là con người nguy hiểm vì có trình độ văn hóa (đậu bằng thạc sĩ luật tại Pháp), lãnh tụ đảng đối lập Quốc gia Cấp tiến, chủ trương lành mạnh hóa guồng máy quốc gia và chống tham nhũng. Nếu giáo sư Bông được ông Thiệu bổ nhiệm làm thủ tướng, ông Bông sẽ có nhiều cải tổ nội các, làm cho chính quyền VNCH thêm vững mạnh, cách mạng (việt cộng) sẽ gặp nhiều khó khăn trong tương lai.

– Giáo sư Bông làm viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh, trực thuộc Phủ Thủ tướng. Trường này chuyên đào tạo các cử nhân và cao học hành chánh thuộc ngạch Phó đốc sự, Đốc sự hành chánh. Khi ra trường, đa số các học viên được bổ nhiệm làm phó quận hoặc phó tỉnh trưởng, giúp củng cố hệ thống chính quyền của “ngụy” thêm vững mạnh. Tầm quan trọng của Học viện Quốc gia Hành chánh cũng không thua gì trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt. Một bên giúp xây dựng quân đội một bên giúp xây dựng chính quyền dân sự. Một người có tài và liêm khiết như giáo sư Bông sẽ đào tạo ra rất nhiều tên “ngụy quyền” ác ôn, sẽ rất nguy hiểm cho cách mạng!!!

2. Chính vì vậy cho nên phải bằng mọi giá ám sát giáo sư Bông, đồng thời để GÂY KẾ LY GIÁN, LÀM CHO NỘI BỘ KẺ THÙ NGHI KỴ, TỐ CÁO LẪN NHAU, MẤT ĐOÀN KẾT, CHÍNH QUYỀN VÀ QUÂN ĐỘI CỦA NGỤY (VNCH) SẼ NGÀY CÀNG SUY YẾU.

3. Sau vụ ám sát, bà Bông đã tố cáo đích danh thủ tướng Trần Thiện Khiêm là đã giết hại chồng bà nhưng bà ta có ngờ đâu việc ám sát là do chính cách mạng (tức bọn khủng bố việt cộng) ra tay trừng trị tên “ác ôn” nguy hiểm! Đồng thời cũng chính trong thời điểm này (năm 1971), các tờ báo thuộc thành phần thứ ba ở Sài Gòn đua nhau khai thác tin tức về vụ ám sát và bình luận có lợi cho cách mạng! (việt cộng)

Như vậy, sau năm 1975, qua bài viết hồi ký của tên Vũ Quang Hùng, sự việc đã rõ: chính bọn khủng bố việt cộng đã sát hại giáo sư Bông.

Có thể có bạn đọc còn thận trọng, hoài nghi mà cho rằng: biết đâu tên Hùng bịa chuyện, viết hồi ký để tự đánh bóng thành tích cá nhân của mình?

Theo nhận định của riêng tôi thì có cho kẹo tên Hùng cũng không dám bịa chuyện nói phét. Nhất là sau năm 1975, hắn đang được việt cộng thưởng công bằng cách cho làm chủ tịch ủy ban nhân dân quận ba Sài Gòn. Vào thời điểm đó, hệ thống chuyên chính vô sản của việt cộng rất mạnh. Chỉ cần một tên công an khu vực tép riu thôi cũng có thể làm cho người dân phải sợ hãi, lao đao, khốn đốn, huống chi, bịa đặt chuyện, nói đụng chạm đến ban An ninh T4 thuộc trung ương cục R, lơ mơ có thể bị mất đảng, mất chức, nặng hơn nữa là có thể bị cho đi mò tôm!

Trong cuộc phỏng vấn dành cho Radio VNCR, tháng 8 năm 2007, bà Bông đã kể rằng có hai thanh niên đi xe mobilette ném quả bom vào gầm xe của giáo sư Bông.

Tôi e rằng chi tiết này không đúng vì xe mobilette do Pháp sản xuất là loại xe không có hộp số, khi khởi động, không thể phóng nhanh được. Theo hồi ký của tên Hùng thì bọn chúng dùng xe Honda 90 phân khối để phóng nhanh, vượt ấu, dễ dàng thực hiện việc ám sát. Chi tiết này có lý hơn.

(Tên đại ma đầu việt cộng Thích trí Quang)

BÀI HỌC KINH NGHIỆM LỊCH SỬ:

Qua sự kiện lịch sử nêu trên, chúng ta rút ra được một kinh nghiệm: Phải đề phòng kế ly gián của việt cộng. Nói cho rõ hơn là việt cộng luôn luôn tìm cách gây chia rẽ trong nội bộ của người quốc gia. Những thủ đoạn bọn chúng thường dùng là:

– Phao tin đồn nhảm để gây hoang mang hoặc bôi nhọ một cá nhân hay đoàn thể nào đó.

– Ném đá dấu tay (như vụ ám sát giáo sư Bông) để gây sự nghi kỵ lẫn nhau trong hàng ngũ những người quốc gia.

– Đâm bị thóc chọc bị gạo. Xúi dục và kích động các phe nhóm choảng lẫn nhau te tua, bể đầu sứt trán, trong khi đó bọn chúng đứng ở ngoài cười khoái trá và viết thu hoạch thắng lợi!

– Hăm dọa ám sát hoặc tố cáo một điều gì đó để làm nạn nhân sợ hãi, phải nghe theo sự điều khiển của bọn chúng.

– Mua chuộc, dụ dỗ, gài độ. Hình thức phổ biến là dùng tiền và gái.

Xin nêu thêm một ví dụ khác để thấy rõ thêm kế ly gián của việt cộng:

Sau năm 1975, các dân quân cán chính của VNCH bị việt cộng bắt đi cải tạo tư tưởng. Trong các buổi học chính trị, các tên quản giáo thường nói chắc như đinh đóng cột, đại khái như: “…. thằng Thiệu lúc bỏ chạy ra nước ngoài đã ăn cắp 17 tấn vàng đem theo. Nó đã ăn cắp tài sản của nhân dân!” Truyền thông báo chí của việt cộng trong giai đoạn này cũng ra rả một luận điệu tương tự, tha hồ vu khống, bôi nhọ cá nhân ông Thiệu, cựu tổng thống nước VNCH.

Năm 1990, tôi có nghe đài BBC phỏng vấn ông Thiệu. Trong cuộc phỏng vấn này, phóng viên có nêu ra vụ 17 tấn vàng và ông Thiệu đã trả lời, khẳng định rõ đó chỉ là tin đồn nhảm, hoàn toàn là chuyện vu khống, bịa đặt.

Và mãi đến khoảng thời điểm năm 1995 trở về sau, sự việc trên từ từ được phơi bày ra ánh sáng. Các báo của việt cộng lần lượt đăng những bài hồi ký liên quan đến vụ 17 tấn vàng, chẳng hạn như:

– Bài viết của viên trung tá phi công việt cộng phụ trách việc chở 17 tấn vàng ra bắc.

– Bài viết của một cựu thủ kho VNCH, phụ trách giữ kho vàng thuộc ngân khố quốc gia. Ông này tường thuật lại tỉ mỉ việc ông chứng kiến ông tiến sĩ Nguyễn Văn Hảo, cựu phó thủ tướng VNCH kiêm tổng giám đốc ngân khố quốc gia đã bàn giao lại kho vàng ở bến Bạch Đằng cho việt cộng như thế nào.

– Bài viết của chính ông Nguyễn Văn Hảo, thuật lại “công trạng” của ông ta, bàn giao lại kho vàng cho việt cộng

Và mới đây nhất là quyển hồi ký của tiến sĩ Lê Tiến Hưng, người trước đây đã từng là phụ tá cho tổng thống Thiệu. Trong quyển hồi ký, ông Hưng có đoạn nói về 17 tấn vàng: Đầu năm 1975, khi bị Mỹ cắt giảm viện trợ quá nhiều, tổng thống Thiệu đã tiến hành kế hoạch dùng 17 tấn vàng để mua vũ khí tiếp tục chiến đấu nhưng kế hoạch này đã không thi hành được.

Cũng theo báo chí của việt cộng thì sau khi cướp được chiến lợi phẩm 17 tấn vàng, tên Lê Duẩn, tổng bí thư đảng đã vội đem cống nạp ngay cho mẫu quốc Liên Xô để trả nợ chiến tranh! Và chắc chắn là không ít trong số 17 tấn vàng đó đã chui vào túi của những tên trùm mafia việt cộng trong bộ chính trị và trung ương đảng việt gian cộng sản! Số vàng ăn cướp được, bọn việt gian cộng sản đã đem cống nạp cho quan thầy Liên Xô và tham nhũng nhưng đồng thời bọn chúng vẫn chỉ đạo cho truyền thanh, báo chí và hệ thống quản giáo trong các trại cải tạo lên án, bôi nhọ ông Thiệu, cựu tổng thống VNCH để hạ nhục kẻ thù! Đúng là vừa ăn cướp vừa la làng. Và cũng là thực hiện KẾ LY GIÁN!!!

Vẫn bổn cũ soạn lại và chúng ta vẫn cứ bị mắc lừa!

Qua hai dẫn chứng vừa nêu trên – vụ ám sát giáo sư Bông và vụ 17 tấn vàng – chúng ta thấy rằng nghề ruột của bọn việt gian cộng sản là khủng bố, rỉ tai tuyên truyền, khích bác, xúi dục, vu khống và ly gián hàng ngũ của người quốc gia. Bọn chúng đã làm nghề này từ năm 1945, hơn 60 năm kinh nghiệm, tay nghề đã rất vững vàng, đáng bậc thầy thiên hạ, có thể xin thế giới cấp cho Licence, nhãn hiệu cầu chứng tại tòa là sản phẩm loại xịn “chính cống bà lang trọc”!!!

Chúng ta hãy nhìn vào cộng đồng người Việt ở hải ngoại: suốt 30 năm qua, các phe phái, hội đoàn liên tục bất hòa, choảng nhau bể đầu sứt trán. Có người cho rằng bản tính của người quốc gia là ưa sinh sự, ưa cãi vã. Nhưng tôi không tin như vậy. Người quốc gia rất đáng yêu, bản tính hiền hòa lắm chứ không phải ba trợn hay “Chí Phèo” như đã bị bọn cộng sản giật dây. Tôi cho rằng trong những sự bất hòa đó, chắc chắn là có bàn tay nhám nhúa của việt cộng nhúng vào. Những sự bất hòa này đã có trong xã hội miền nam liên tục từ năm 1960 đến 1975. Chỉ một vụ ám sát giáo sư Nguyễn Văn Bông thôi đã gây ra bao nhiêu tranh chấp, mất đoàn kết trong nội bộ hàng ngũ những người quốc gia? Tổng thống Thiệu, thủ tướng Khiêm và CIA Mỹ có thanh minh bao nhiêu đi chăng nữa cũng không thuyết phục nổi người dân, bởi vì, lúc ấy những tờ báo ở Sài Gòn thuộc thành phần thứ ba, bị cộng sản giật dây đã liên tục bôi nhọ, vu khống, lên án chính quyền VNCH. Một trong những tên to mồm nhất lúc bấy giờ là Thích Trí Quang, thuộc thành phần thứ ba. Tên này nổi đình nổi đám và quậy từ trái sang phải tới mức tờ báo Time của Mỹ đặt cho hắn biệt hiệu là “the Buddhist Bid for Power” (nhà sư tham vọng quyền hành). Tôi nhìn thấy hình chụp của tên này đăng trên hình bìa của tờ báo Time. Tướng mạo hắn trông rất bậm trợn, gian ác, y như những thằng khỉ đột trong bộ chính trị của việt cộng: đôi lông mày sâu róm, chổi xể, mũi sư tử, cặp môi dày và thâm xì như môi trâu! Sau năm 1975, hắn hoàn toàn câm họng, sống ẩn dật, lặn sâu 20 ngàn dặm dưới đáy biển. Cộng sản đã dùng hắn xong, múi chanh đã vắt hết nước và hắn đã bị liệng vào thùng rác như bao nhiêu tên thuộc thành phần thứ ba khác!

Và mới đây nhất, tại quận cam đã xảy ra những cuộc biểu tình liên tục, lên án một nhóm người trẻ tự xưng là “làm báo theo kiểu Mỹ”. Theo tôi, họ làm báo theo kiểu…. việt gian chớ không phải làm theo kiểu Mỹ! Người Mỹ chính cống cũng không ai làm báo ngu như vậy! Chúng ta thấy từ sau biến cố 911, có tờ báo của Mỹ nào ca ngợi bọn khủng bố đâu? Những người trẻ này đã bị cộng sản giật dây, xúi dục hoặc chính họ đã tự nguyện đi bưng bô cho cộng sản. Bọn việt gian cộng sản đã lắp ống đu đủ vào đít họ và thổi miên man 24 giờ trong một ngày, 7 ngày trong một tuần, để rồi, họ đang từ là những con nhái bỗng có ảo tưởng mình là những con bò!!!

Những tên lưu manh, điếm có nòi, có sạn cục trong đầu, có 60 năm kinh nghiệm gây ly gián, phá rối hàng ngũ những người quốc gia như tên Võ Văn Kiệt rất thích những người trẻ tuổi. Bởi vì những người này là những con nai tơ, dễ dụ dỗ. Đó là lý do vì sao Viet Weekly đã ĐƯỢC CHỌN (!) để phỏng vấn những tên cáo già như Võ Văn Kiệt, Nguyễn Minh Triết! Có cho kẹo, những tên khỉ đột (goon) như tên Kiệt hoặc tên Triết cũng không dám mời những người như giáo sư Nguyễn Văn Canh, nhà báo Việt Thường, luật sư Đinh Thạch Bích để tranh luận về chính trị hoặc nói chuyện hòa hợp, hòa giải, xóa bỏ hận thù, hợp tác xây dựng đất nước! Bởi vì những người này đã từng sống trong ruột cộng sản, rành sáu câu vọng cổ của bọn chúng quá rồi! Chính vì vậy nên bọn cộng sản thường bôi nhọ những người lớn tuổi là ” mang nặng quá khứ hận thù “! Và những người trẻ thì thường bị chúng phỉnh phờ, tâng bốc là “những người có đầu óc cởi mở, biết hướng về tương lai”! Những con nai biết cái đếch gì mà cởi mở với không cởi mở? 60 năm kinh nghiệm lừa bịp của việt cộng nhiều gấp hai, gấp ba lần tuổi đời của những con nai, con nhái!!!

Nghị quyết 36 tiêu tốn hàng tỷ đô la, trong khi hàng triệu dân trong nước đang chết đói, sống lây lất nơi đầu đường xó chợ!!!

Chưa có xã hội nào trên thế giới có sự tương phản về giàu nghèo đến mức kinh hoàng như ở Việt Nam, dưới sự cai trị của bọn việt gian cộng sản. Ở Mỹ cũng có sự phân cực về giàu nghèo nhưng người dân nghèo ở Mỹ còn có chiếc xe hơi để đi làm, cuối tuần, hạng bét cũng uống được chai bia và có được một bữa ăn ngon để tẩm bổ cho năm ngày đi cày vất vả trong tuần. Tỷ phú như Bill Gate cũng lái xe hơi 4 bánh chứ không đi trực thăng và một anh cu li hạng bét cũng chễm chệ ngồi trên xe hơi như ai, tất nhiên giá trị hai chiếc xe hoàn toàn khác nhau, nhưng xe hơi là xe hơi, giàu hay nghèo gì cũng chạy vi vu trên đường phố!

Còn ở Việt Nam hiện nay thì sao? Hàng triệu người đang chết đói! Tất nhiên không chết đói thê thảm như năm Ất Dậu 1945 nhưng cái cảnh “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi” thì nhiều lắm. Hàng triệu triệu người đang lâm vào hoàn cảnh chỉ cầu mong sao hàng ngày kiếm được một cái gì đó nhét vào bao tử để khỏi bị đói, thế là may mắn lắm rồi, còn mọi nhu cầu khác họ không bao giờ dám nghĩ tới! Như vậy đó cũng là một dạng đang bị chết đói! Tôi thực sự kinh hoàng khi đọc những phóng sự do chính những tờ báo trong nước đăng: ở một xã nọ, chính quyền cho xe ủi đất đào một cái hố khổng lồ để chôn hàng chục ngàn con gà bị chết vì bệnh cúm gà. Chôn xong, họ rắc vôi bột lên rồi lấp đất lại. Thế nhưng chỉ trong vài giờ đồng hồ sau, vài chục ngàn xác chết các con gà đã bị người dân đói ở trong xã ra đào lên và đem về nấu ăn ngon lành!!! Phóng viên báo chí hỏi những người dân rằng họ không sợ bị lây bệnh cúm gà hay sao? Câu trả lời gây kinh hoàng, đánh động lương tâm cả loài người: Phải ăn một bữa thịt gà no cho đã rồi sau đó có bị chết vì bệnh cũng mãn nguyện, chớ bị đói triền miên từ ngày này sang ngày khác, chịu không thấu!

Trong khi đó thì bọn việt gian cộng sản sẵn sàng vung ra hàng tỷ đô la, quyết tâm đánh phá và thôn tính cộng đồng người Việt ở hải ngoại, nhất là tại ba nước Mỹ, Canada và Úc. Chúng đã liên tục đưa ra hàng trăm đoàn văn công sang để “phục vụ” việt kiều, vé bán không được thì đem cho không, lỗ vốn đã có nhà nước bù lỗ!!! Mới đây có một cuộc biểu tình chống các ca sĩ trong nước sang Mỹ trình diễn. Khi được phóng viên phỏng vấn, ca sĩ Đù-Với-Heo đã chê bai những người biểu tình là kém văn hóa. Nhìn cái bản mặt tái mét của hắn vì sửa sắc đẹp quá nhiều, trông như mặt một tên thái giám bị thiếu sái thuốc phiện, tôi biết chắc hắn đang ra sức tuyên truyền cho nghị quyết 36, theo đúng chỉ thị của bọn đầu gấu trong bộ chính trị. Có ngoan ngoãn làm cái loa tuyên truyền cho đảng thì mới được đảng cho xuất ngoại dài dài chớ!

Ngoài ra còn nhiều dạng tấn công cộng đồng chúng ta, cũng là một phần của nghị quyết 36, chẳng hạn như các linh mục, giám mục trong nước đua nhau ra hải ngoại để quyên tiền. Người nào quyên được nhiều tiền thì lại được bọn cộng sản tiếp tục cho xuất ngoại để làm công tác…. “mục vụ”!!! Đi xin tiền về để nuôi bọn việt gian cộng sản mà họ gọi là “mục vụ” thì hết chỗ nói! Vì sao? Bởi vì số tiền quyên được, chắc chắn khi về nước họ phải đóng hụi chết cho bọn đầu gấu việt cộng. Cũng tựa như những em điếm phải đóng tiền “tứ lục” cho những thằng ma cô gác động đĩ!

Kết luận:

Chúng ta phải luôn luôn đề phòng kế ly gián của việt cộng. Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Bọn việt gian cộng sản luôn ở thế chủ động tấn công, trong khi đó chúng ta lại ở trong thế bị động, phòng thủ. Bọn chúng như những con vi trùng ho lao, luôn luôn phục sẵn trong cơ thể chúng ta. Khi cơ thể chúng ta yếu, chúng sẽ bùng lên phá nát hai lá phổi.

Chính vì vậy, mỗi khi tôi thấy có một biến cố gì lớn, xảy ra trong cộng đồng là tôi liên tưởng ngay đến những bài học cay đắng, kinh nghiệm trong quá khứ. Tôi tự đặt ra một câu hỏi cho chính tôi: Phải chăng đây là một vụ ám sát giáo sư Nguyễn Văn Bông hay là vụ 17 tấn vàng đang tái diễn?????

Phải luôn đề phòng, kể cả những món “quà” của việt gian cộng sản đang đem biếu cho chúng ta: miễn vi-sa cho việt kiều. Thực chất đó chính là những sợi giây thòng lọng mà những ai đã dại dột đút đầu vào thì vô phương cứu chữa.

Trần Thanh – September 2008

http://www.hon-viet.co.uk/TranThanh_AiDaGietGSNguyenVanBong.htm

Posted in Ai đã giết giáo sư Nguyễn Văn Bông | Tagged: , | 5 Comments »

“40 tuổi viết văn”

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 14, 2008

“40 tuổi viết văn”

Chào nhà văn “40 tuổi viết văn”CHU TẤT TIẾN,

40 năm là một “giá trị súc tích to lớn” tính theo “tuổi từng trải” để “giầu kinh nghiệm” cho bất kỳ một nghề nghiệp gì!

40 năm trong nghành “nhà giáo”, tự nhiên ai cũng đều tưởng tượng ra một người đứng tuổi đạo mạo, đáng kính trọng. Vì thiên chức của ngành sư phạm là “giáo dục và đào tạo” thế hệ mầm non về “đạo đức và văn hóa” cho tương lai trường tồn Quốc Gia, Dân Tộc.

40 năm buôn bán, “nghề dạy nghề” trải dài, tạo sự “tinh ranh, sành sỏi”, chắc khó mà ai qua mặt được họ trên thương trường.

40 năm “viết văn”, cho người đọc “như nhìn” thấy chân dung một vóc dáng trí thức, với mái tóc bồng bềnh điểm sương, mặt trầm tư đương dõi mắt theo dòng chữ qua cặp kính trắng, và tiếng ngòi bút cào giấy nhè nhẹ vang lên liên tu bất tận, luôn phá vỡ sự tĩnh mịch của căn phòng!

Đại văn hào VICTOR HUGO lúc 60 tuổi, viết tác phẩm LES MISÉRABLES (Những kẻ khốn cùng), đã vào các khu ổ chuột ở Paris sống lăn lộn cùng họ sáu tháng liền, để thực tế tìm biết về tâm tính, cách sống…của những con người ấy. Đó nói lên điều gì, không phải Văn hào Victo Hugo thiếu sự tinh tế, nhậy bén tạo dựng nhân vật, mà vì hiểu trách nhiệm người “viết văn” là phải đem đến cho đôc giả tính sinh động xác thực nhiều hơn, thì tác phẩm mới hấp dẫn, lôi cuốn….

THẾ NÀO LÀ “VIẾT VĂN”: Thực ra khi học lớp ba đã được thầy dạy cho “Tập làm văn” rồi. Có nghĩa thông thường từ lớp ba trở lên là đã bắt đầu “viết văn”.

NHÀ VĂN “40 TUỔI VIẾT VĂN” CHU TẤT TIẾN viết: “với tư cách một người viết văn đã hơn 40 năm (Ct Tiến viết)”, là mang tính cách anh Chu tất Tiến đã là NHÀ VĂN (người viết văn) từ hơn 40 qua, là anh Chu tất Tiến cũng khoảng tuổi 60! Chứ cũng không ai hoài hơi tò mò: Với lời tự hào “hãnh tiến” như thế, thì anh Chu tất Tiến đã “đẻ ra” được bao nhiêu tác phẩm? Tác phẩm nào là “đáng” được người đọc tán tụng, ca ngợi và bán chạy như “tôm tươi”?

Anh “40 tuổi viết văn” Chu tất Tiến à!

Tôi nhắc đến Đại Văn Hào Victo Hugo ở phần trên, không phải để so sánh “cào cào” Chu tất Tiến với “voi” Victo Hugo! Mà tôi chỉ muốn nêu lên phương cách viết văn của Đại văn hào Victo Hugo là để cho thấy cùng ở độ tuổi khoảng 60 ấy. Đại văn hào Victo Hugo đã nổi tiếng, nhưng vẫn cẩn thận đi sâu vào bối cảnh của cốt truyện để “viết” sao cho sát với thức tế. Đó chỉ để thể hiện lên sự cố gắng mà người viết văn mong đạt tính xác thực (trung thực). Bởi “VĂN DĨ TẢI ĐẠO”! “Đạo” là gì? KHỔNG PHU TỬ đã chỉ dạy: “ĐẠO LÀ ĐƯỜNG, ĐƯỜNG CHÍNH ĐƯỜNG NGAY, LÀM NGƯỜI PHẢI TÌM ĐƯỜNG MÀ HỌC ĐẠO”. Người viết văn là người điều hướng sức tiến, phơi bày tình trạng, thay đổi tập quán xã hội…nhưng phải viết theo tác phong chân thực (đường chính, đường ngay), không quanh co, mờ ám… và phải quy nạp chân thiện, đó là cái ĐẠO CỦA NGƯỜI CẦM BÚT.

Anh “40 tuổi viết văn” Chu tất Tiến à!

Tôi nhắc đến từ lớp ba đã bắt đầu “viết văn” ở phần trên, là muốn nói đến ngay từ thời tuổi thơ “hồn nhiên tắm truồng bên bờ sông đông người qua lại” cũng đã “viết văn”. Để xác định thực tế: Làm một tờ đơn, viết một lá thư…cũng là “viết văn” cả đấy.

Lẽ dĩ nhiên, không ai dại gì đi so sánh người viết văn “làm đơn, lá thư…”, với người viết văn chuyên nghiệp “nhà văn” (kiếm sống…), tỉ như NHÀ VĂN “40 TUỔI VIẾT VĂN” CHU TẤT TIẾN về “văn phong”. Mà chỉ để đi đến kết luận là những gì anh Chu tất Tiến viết gửi lên diễn đàn yahoogroups, dù ngắn dù dài thì chắc chắn cũng là “văn phong” của nhà văn “40 tuổi viết văn” Chu tất Tiến.

Anh viết: “3-….. Trong khi chính Bùi Đình Thi đã nhận tội trạng là đã tham gia việc giết bạn tù, (một hay hai người cùng giết, có gì khác nhau?)(Ct Tiến viết)”. Khỏi phải bàn cãi nhiều nữa phải không, tại sạo với vóc dáng bề dầy “ hơn 40 năm viết văn” của anh, không cho anh ý thức được giá trị làm người sao? Anh đánh mất tâm tính làm ngưòi ở khoảng nào trong “hơn 40 năm viết văn” đã qua? Chưa hề có một chứng từ nào từ phía BĐT “xác định” “đã nhận tội trạng là đã tham gia việc giết bạn tù”. Vậy mà anh dám viết như vậy, để “bịp” tôi và độc giả trên diễn đàn. Có cách gì anh chối bỏ đó không phải là lối viết “bịp bợp, lưu manh” không?

“Văn dĩ tải đạo”, chỉ với có một đoạn văn ngắn “đối thoại” trên diễn đàn với tôi, mà anh đã chơi trò “viết bịp bợm, lưu manh” thể ấy, thì thử hỏi: Với bề dầy “hơn 40 viết văn”, liệu “văn bất tải đạo” của anh đã gây nguy hại biết bao nhiêu sự việc, vấn đề rồi?

“Đạo của người cầm bút”, chỉ với một đoạn văn ngắn “đối thoại” trên diễn đàn với tôi, mà anh đã chơi trò “viết bịp bợm, lưu manh” thể ấy, thì thử hỏi: Với bề dầy “hơn 40 năm viết văn”, liệu “người cầm bút vô đạo (bất lương)” như anh, đã gây nguy hại biết bao nhiêu sự việc, vấn đề rồi?

Và mời anh nhà văn “40 năm viết văn” Chu tất Tiến hãy click vào link:

http://anhduong.info/joomla/index.php?option=com_content&task=view&id=1731&Itemid=1

Anh thấy gì không, anh đương là “kẻ bất lương” đã tiếp tay Lm Lễ vu khống tôi giết người cho Bùi đinh Thi, vì câu xác quyết “bịp bợm, lưu manh” của anh: : “3-….. Trong khi chính Bùi Đình Thi đã nhận tội trạng là đã tham gia việc giết bạn tù, (một hay hai người cùng giết, có gì khác nhau?)(Ct Tiến viết)”, nằm trong bài đó. Độc giả vào Net Ánh Dương đọc thấy lời anh viết vậy là tin thôi! Và anh nhà văn “40 năm viết văn” Chu tất Tiến luôn luôn là “kẻ bất lương” nếu bài đó của anh vẫn tồn tại trên điện báo Ánh Dương.

Đó càng thể hiện lên thói hết sức “lưu manh” của anh. Email thì anh ra vẻ kêu gọi hòa khí, bỏ qua… Nhưng mặt khác, anh vẫn duy trì bài của anh trên Ánh Dương. Trò tiểu sảo này chắc anh lừa nhiều người lắm rồi chắng?

Qua dẫn chứng trên, tự anh (Ct Tiến) xác định anh đã hành động “lưu manh” với cụ thể tình tiết không cách chi chối cãi. Vậy, anh đòi trả lại tôi, mà không nhận hai chữ “lưu manh” thì đâu có được, đành rằng: Có kẻ lưu manh nào mà không dị ứng với hai chữ “lưu manh” đâu, thật tội nghiệp!

Anh nhà văn “40 năm viết văn” Chu tất Tiến à, bữa trước tôi có viết: “Muốn văn hay cần chăm đọc sách, đọc sách nhiều lại làm văn nhiều thì tự nhiên văn hay.”. Đó là lời một văn hào, nhưng ông ta muốn nói đến cái hay của kẻ “cầm cày quen” mà thôi. Chứ chưa nói đến cái “hay” “nhậy bén” để hiểu tính nết về con trâu đương kéo cái cày ấy.

Một nhà văn “hơn 40 viết văn” như anh, mà không có chút nhậy bén trong lý luận thì thật là khó hiểu. Lý luận sắc bén cũng là yếu tố để văn chương trác tuyệt. Chưa ai “đần” như anh đi so sánh võ si Lê Cung đấu trên võ đài, đạp võ sĩ đối phương (đang cùng đấu, không phải nằm ngửa bất động) không chết….”Đần ơi là đần”, anh chỉ cho tôi xem có trận nào võ sĩ đối phương của Lê Cung nằm ngửa bất động, rồi võ sĩ Lê Cung cứ thế đạp thẳng lên bụng, lên ngực võ sĩ kia mà không chết không?

Đọc thì không chịu đọc, cứ liều viết ẩu, một người viết văn tự vỗ ngực có bề dày “hơn 40 năm viết văn” mà viết vô trách nhiệm kiểu như anh, có lẽ cả thế giới này chỉ có một.

Mời nhà văn “40 tuổi viết văn” Chu tất Tiến đoc trong “Sự Thật Thắng Gian Trá” bài của BN 587 viết:

“4- Thật sự cái chết của anh Ðặng văn Tiếp là do bị bọn cán bộ đánh đập quá nhiều, sức đã kiệt. Lại là người sau cùng đưa vào buồng kỷ luật, bị vất nằm ngửa đè lên trên Lm Lễ và Gs Thuyên. Tên Thiếu tá Sử trưởng trại vào hẳn buồng kỷ luật xem xét, đã tàn ác trút sự tức giận bằng cách tiện chân đi giầy thuận đạp lên ngực bụng làm anh Tiếp chết liền sau tiếng kêu “Mẹ ơi! Con chết mất”. (Lời Gs Thuyên trong băng ghi âm .)(BN 587viết)”

Đoạn trên, Gs Thuyên không hề nói Tên Thiếu tá Sử chỉ đạp một cái, mà cách nói như thế là đã đạp nhiều lần, và tư thế nằm của anh Tiếp là bất động, của một thân hình tàn hơi, các huyệt đạo đều mở.

Qua phân tích dẫn, cho thấy rõ anh là người cẩu thả trong cung cách viết, thì không thể nào có VĂN HAY được. Thêm vào, cho thấy anh là dạng người “kèn cựa”, thì VĂN PHONG KHÔNG SÁNG được. Anh viết: “…với tư cách một người viết văn đã hơn 40 năm, tôi thẳng thắn phê bình là: bạn có hơi tham lam, muốn làm người hùng cả về phương diện văn chương, một phương diện mà, nói bạn đừng giận, bạn rất kém….(Ct Tiến viết)”

Ðó đủ hiểu, anh “tự phong” anh là người viết văn giỏi, và là (những) người viết văn “chuyên nghiệp” thì mới có quyền viết tố cáo (vì thực thế các bài tôi viết là tính cách tố cáo lên sự gian dối của Lm Lễ đã vu khống tội giết người cho BĐT), còn tôi (BN 587) thì không được viết, dù là viết tố cáo ư! Đúng là nhà văn “hơn 40 viết văn” Chu tất Tiến “hãnh tiến” đến buồn nôn!

Thưa nhà văn “40 tuổi viết văn” Chu tất Tiến, tôi chưa hề nói tôi viết văn hay, hay dở. Tôi chỉ giới thiệu cho anh (Ct Tiến) vào trang http://www.chinhnghia.com , đọc các bài tôi viết để biết sự thật về vụ BĐT&NHL. Thì có mắc mớ gì đến viết văn hay dở đâu mà đùng đùng vác CÁ I TÔ I “hơn 40 năm viết văn” Chu tất Tiến ra lòe.

Nhưng để đáp ứng xem lời nhận định của anh Ct Tiến viết đúng hay sai. Tôi (BN 587) trân trong mời quý vị trên diễn đàn, đọc hai bài viết, đều ở Điện báo Ánh Dượng.

Một của nhà văn “hơn 40 năm viết văn” Chu tất Tiến, ở link:

http://anhduong.info/joomla/index.php?option=com_content&task=view&id=1731&Itemid=1

Và của tôi (BN 587) ở link:

http://anhduong.info/joomla/index.php?option=com_content&task=view&id=667&Itemid=59

Còn trên phương diện xã hội, giao tế. Để biết về mình không ai ngoài chính mình! Để đánh giá về mình không ai hơn bạn bè của mình, phải không, thưa nhà văn “40 tuổi viết văn” Chu tất Tiến.

Vậy mời nhà văn “ hơn 40 năm viết văn” Chu tất Tiến, đọc lại lời đánh giá của Nhà báo, Văn hữu Kim Âu Hà văn Sơn là bạn của anh (Ct Tiến) đã đánh giá về anh: “Anh Tiến viêt văn 40 năm nhưng theo tôi vì thiếu văn tâm nên viết lung tung (tâm bất định, thể hiện có sự chao đảo trong tư tưởng), viết không có lửa..(Kim Âu Hà văn Sơn)”

Thưa nhà văn “40 tuổi viết văn” Chu tất Tiến, “Trung ngôn, nghịch nhĩ” à, tội nghiệp quá phải không. Đấy mới là bạn Kim Âu của anh nhận xét thôi, chứ chưa đến độc giả trên diễn đàn đâu!

Điều cuối cùng nói với anh Chu tất Tiến, hãy sống thật với tâm trong sáng, thì mọi việc sẽ thành tốt đẹp. Còn ngôn từ chắc chắn chỉ là sáo ngữ, nến người viết văn không thật sự gắn “cái thành tâm” mình vào.

Trân trọng,

BN 587

http://www.hon-viet.co.uk/BN_587_40TuoiVietVan.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

“Vè Sĩ” Nguyễn Chí Thiện (Bài 1 – Triệu Lan)

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 14, 2008

LTS.- Kính thưa quý độc giả, Hồn Việt sẵn sàng dành chỗ cho Nguyễn chí Thiện viết bài lên tiếng phản biện để chứng tỏ mình là nhà thơ thứ thiệt. Mà những dẫn chứng cùng nhiều nghi vấn về mình trong cộng-đồng người Việt tỵ nạn việt-gian cộng-sản từ khi Nguyên chí Thiện đặt chân ra hải ngoại đến nay.

Trân trọng,

Hồn Việt UK Online

SAIGON Nhỏ Nhật Báo

13861 Seaboard Circle, Garden Grove , CA 92843

Email: nhatbaosaigonnho@ yahoo.com

Số 21 Thứ Bảy 13 Tháng 9, 2008

Trong Mục “Những Điều Nên Nói … ”

THI SĨ HAY “VÈ SĨ”

Đào Nương tôi không xa lạ gì với ông Nguyễn Chí Thiện (NCT) và cũng đã viết bài về ông nhiều lần. Có đôi khi cùng bạn bè đi ăn và có sự hiện diện của ông. Tóm lại, Đào Nương tôi không có ác cảm gì với ông NCT cả. Nhưng vấn đề Nguyễn Chí Thiện, tôi nghĩ là một “nghi án” lớn nhất của văn học Việt Nam từ khi miền Nam nhuộm đỏ nghĩa là từ khi đảng cộng sản Việt Nam “thống nhất” đất nước, thống nhất luôn cái nghèo, cái đói, cái dốt của cả dân tộc Việt Nam. Ngày nay, đến nổi một “nhân vật” như ông NCT còn đang “tại thế mà không chứng minh được sự “giả” hay thiệt của chính mình. Bởi vì có quá nhiều câu hỏi được đặt ra mà “nhân vật” NCT hiện nay đang sống trong cộng đồng người Việt hải ngoại không trả lời được.

Nhật Báo Saigon Nhỏ sẽ lần lượt đăng tải bài viết của một người tên là Triệu Lan mà chính chúng tôi cũng không biết rõ xuất xứ, nhưng những điều nhân vật này dẫn chứng thì rất xác đáng và hiện thực. Chúng tôi sẵn sàng dành đất cho ông Nguyễn Chí Thiện trả lời những dẫn chứng của tác giả những bài viết này chỉ vì một mục đích duy nhất: nhật báo Saigon Nhỏ muốn bạch hóa một “nghi án” văn học lớn nhất của người Việt sau 1975: Nguyễn Chí Thiện, ông là ai? Nhân vật NCT đang sinh hoạt trong cộng đồng người Việt chống cộng ở hải ngoại có thực sự là tác giả của tập thơ Hoa Địa Ngục.

Sau đây là bài số 1 của tác giả Triệu Lan. Chúng tôi mong sẽ nhận được bài trả lời của ông NCT. Sự im lặng của ông NCT sẽ là một bằng chứng cho thấy hai điều:

· Sự khinh thường nhận thức của người Việt không cộng sản của ông.

· Những bằng chứng tố giác dựa trên chính những lời tuyên bố hay hành động của ông NCT là sự thật.

“Vè Sĩ” Nguyễn Chí Thiện

Bài 1

Triệu Lan

Kính thưa các Bậc Thức Giả Việt-Mỹ

Kính thưa các Bậc Trưởng Thượng

Kính thưa các vị Trí thức truyền thông, Nhà văn, Nhà báo, Nhà thơ

Kính thưa quý Độc giả của báo Sài Gòn Nhỏ

Trong khoảng 15 năm qua hay là từ ngày 1 tháng 11 năm 1995 đến nay, hầu hết tất cả chúng ta trong mọi giới từ nhà văn, nhà báo, nhà thơ, các nhà làm truyền thông, các vị trí thức Bác sĩ, Giáo sư, cho đến người dân lành bình thường ai cũng có lần nghe qua nhân vật được mang tên là “nhà thơ” Nguyễn Chí Thiện. Nhưng phải nói rằng: Ít có người chịu tìm hiểu về nhân vật “nhà thơ” Nguyễn Chí Thiện đến nơi đến chốn. Những nhân vật đại diện các cộng đồng người Việt Nam tị nạn Cộng sản khắp nơi trên thế giới nói chung và các nhà văn ngoại quốc nói riêng.

Một cán bộ Tình Báo Cộng sản được sở tình báo Yết Kiêu Hà Nội đưa ra ngụy trang dưới vỏ bọc “thi sĩ” được sự dàn dựng của nhiều phe nhóm tình báo khác nhau cũng như với sự thỏa thuận của giới tài phiệt ngoại quốc trong âm mưu “lột xác” cho chế độ Việt Gian Cộng sản từ đỏ sang xanh, hầu che đậy tội ác cũng như trục lợi trên nỗi thống khổ của hơn 83 triệu người dân Việt hiền lành qua bàn tay tham ác của tập đoàn Việt Gian Cộng sản. Vì lý do đó họ đã rắp tâm mưu đồ toa rập bịt miệng, khóa mồm, dọa nạt những người Quốc Gia Chân Chính Yêu Nước Thương Nòi” (người Quốc Gia Chân Chính Yêu Nước Thương Nòi là người Không Thỏa Hiệp, Không Nhân Nhượng, Không Xem Tổ Quốc Của Mình Như Một Món Hàng Để Trao Đổi, cho nên các thế lực bất lương lúc nào cũng ghét bỏ Người Quốc Gia Chân Chính), để đến này hôm nay như chúng ta đã thấy. Họ đã bóc lột và sống trên nỗi thống khổ của người Việt Nam bằng những mỹ từ Kinh tế, Thương mại, Đầu tư Phát triển, xây trường học và cuối cùng là thiết lập hệ thông Ngân hàng xây nhà Băng (bank) để rửa tiền cho tập đoàn Việt Gian Cộng sản để họ chia lời và chia lợi.

Tóm lại là những mưu đồ bất chính đã được khoát dưới nhiều lớp áo nhưng điểm chính vẫn làrửa tiền và chuyển tiền cho tập đoàn Việt Gian Cộng sản đã cướp của dân Việt trong hơn 60 năm qua. Tập đoàn Việt Gian Cộng sản đã chuyển hàng trăm tỷ đô la đã được chuyển ra ngoại quốc dưới dạng kinh tế, buôn bán. Nhưng sự thật thì chúng đã chia nhau cho con cháu, bà con của chúng nắm giữ. Điều này ở miền Nam bang Calif ai cũng biết hệ thống tiệm vàng NQ và rõ nhất là con gái của tên Nguyễn Tấn Dũng đã nắm giữ khoảng 800 triệu đô la qua vỏ bọc buôn bán sắt thép cho 1 công ty Việt Nam trong nước, nhưng ai cũng biết chúng đã dùng tiền mồ hôi của người dân Việt để mua sắt thép chở về Thượng Hải cho Bắc Kinh (điều này Triệu Lan tôi nói mà không sợ nhầm vì tôi có Bằng Chứng rõ ràng, hơn nửa chưa ai thấy con gái của Nguyễn Tấn Dũng mua Sắt thép ở Mỹ chở về Việt Nam bao giờ vì những tàu hàng sắt thép này đã đi từ cảng Long Beach tới Thượng Hải. Triệu Lan tôi còn bằng chứng để chứng minh Nguyễn Chí Thiện và nhóm tình báo đặt trách về văn hóa của Hà Nội đã thật sự làm việc cho Bắc Kinh trong nhiều năm qua, điều này một trong những tên nằm trong nhóm của Thiện đã tiết lộ, nhưng đây là chuyện sẽ nói sau).

Như vậy 3 triệu người Việt Nam ở hải ngoại và hơn 80 triệu người dân Việt trong nước chúng ta đã bị cả một tập đoàn lừa bịp quốc tế lừa bịp chúng ta trong mấy chục năm qua. Đã đến lúc chúng ta không thể tự che tai bịt mắt được nửa, cho nên chúng ta phải nói, phải viết, phải muôn ngàn kẻ viết để bạch hóa những tội ác này được bưng bít tinh vi trong mấy mươi năm qua. Chúng ta là những nạn nhân của sự lừa bịp này, chúng ta có quyền tố cáo các tội ác này trước công luận thế giới. Chúng ta phải nói ra chúng ta phải viết lại để cho con cháu đời sau chúng ta hiểu rằng: trong một giai đoạn nào đó của đầu thế kỷ 21 anh cha của chúng đã chiến đấu gian khổ để chống lại tập đoàn Việt Gian bán nước cấu kết với tập đoàn tài phiệt buôn xương bán máu người dân Việt Nam và chúng ta cũng phải tri ân những người ngoại quốc đã hết sức để giúp cho dân tộc cũng như đất nước Việt Nam, nhưng cơ hội chưa đến.

Thưa quý vị:

Sau bài viết của tác giả Trần Thanh “đặt câu hỏi” về “thi sĩ” Nguyễn Chí Thiện được đăng trên báo Sài Gòn Nhỏ tuần qua. Thì ngày hôm sau trên hệ thống Internet (hệ thống chuyển tin toàn cầu – www) người ta thấy ông “nhà văn” Chu Tất Tiến lại ồn ào viết bài ca tụng “thi sĩ, nhà văn” Nguyễn Chí Thiện (vì ông Thiện tiết lộ rằng: ông đã bỏ làm thơ, chỉ còn viết “văn xuôi”) và ông Chu Tất Tiến cũng nhân danh “đại diện” cho “thi sĩ, nhà văn” Nguyễn Chí Thiện đứng ra thách đố những ai dám ra mặt “công khai” đối chất với hai ông “thi sĩ, nhà văn” Chu Tất Tiến và Nguyễn Chí Thiện. Vì theo ông Chu Tất Tiến cho rằng: tập thơ Vô Đề do “thi sĩ, nhà văn” Nguyễn Chí Thiện là tác giả. “Thi sĩ, nhà văn” Nguyễn Chí Thiện đang “làm đơn” để kiện những ai đã có ý cho rằng ông Thiện không phải là tác giả của tập thơ Vô Đề nói trên với số tiền là 100 ngàn đô la. Nhưng không hiểu ông Thiện hay ông Tiến lấy tư cách gì để kiện? Và hai (2) ông định kiện ai?

Bài viết này Triệu Lan tôi xin đưa ra nhiều chi tiết mà tôi đã âm thầm gom góp trong 13 năm qua về nhân vật Nguyễn Chí Thiện, những điều chính từ mồm ông Thiện nói ra cũng như các báo chí kể cả các báo ngoại vi của Hà Nội ở hải ngoại, những người đã có dịp gián tiếp hay trực tiếp đối diện với nhân vật Nguyễn Chí Thiện, cũng như những nhận xét của họ về con người “rất thật” của Nguyễn Chí Thiện. Tình báo Mỹ và những người Quốc Gia Chân Chính Có Trí Tuệ họ không mù và lại càng không bị lừa như ông Nguyễn Chí Thiện và nhóm người của ông nghĩ. Xét ra thì “thi sĩ, nhà văn” Nguyễn Chí Thiện cũng “có công”, đấy là “công lừa bịp” trong âm mưu lột xác cho “đảng” từ đỏ sang xanh. Nhân đây Triệu Lan cũng xin “thông báo” cho “nhà văn” Chu Tất Tiến và những người đứng sau lưng ông Tiến và ông Thiện biết rằng: chúng tôi có những bằng chứng Nguyễn Chí Thiện, Phan Nhật Nam, Đỗ Hoàng Điềm, Đỗ Thị Thuấn và còn nhiều tên nửa chưa tiện nêu tên ra. Chúng đã và đang làm việc cho Tầu Bắc Kinh qua trung gian của Đỗ Thị Thuấn và nhóm “nhân dân tình báo sở” của Hoa Lục được bọc dưới vỏ “Pháp Luân Công” hay còn gọi là nhóm “Pháp Luân Cộng” (nhóm này gốc Đài Loan nhưng là loại Đỏ, đám Đỏ này đang nằm sau lưng Đỗ Thị Thuấn).

Để tiện cho nhiều người hiểu thêm về “thi sĩ, nhà văn” Nguyễn Chí Thiện. Triệu Lan tôi xin quý vị nên bỏ ra một chút thời giờ để xem “thi sĩ, nhà văn” nguyễn Chí Thiện đã làm gì và đã nói gì trong 13 năm qua từ khi Nguyễn Chí Thiện sang Hoa Kỳ vào ngày 1 tháng 11 năm 1995 đến nay. Và cũng để xác nhận thêm về “thi sĩ, nhà văn” Nguyễn Chí Thiện nên trong gần 15 năm qua (1993-2008) chúng tôi đã cho người về Hà Nội và Hải Phòng “điều tra” cũng như biết thêm về nhân vật “thi sĩ, nhà văn” Nguyễn Chí Thiện. Sau một thời gian dài tìm hiểu, ngày nay Triệu Lan tôi có thể mạnh dạn nói rằng: Tôi dư dữ kiện để chứng minh Nguyễn Chí Thiện Không Phải Là Tác Giả Của Tập Thơ Vô Đề Nói Trên. Để dư luận cùng rõ và cùng chia xẻ trách nhiệm chung. Triệu Lan mời quý vị cùng đọc.

Vào năm 1980 đồng bào Việt Nam tị nạn Cộng sản tại hải ngoại biết đến tập thơ Vô Đề của tác giả Vô Danh. Sau đó có hai nhóm người đã cho in ra và họ tự đặt tên cho tập thơ Vô Đề với hai cái tên khác nhau, nhưng cả hai tập thơ đều có cùng một nội dung. Lý do nói “hai tập thơ” bởi vì: Một (1) tập được mang tên là: “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” do ông Nguyễn Hữu Hiệu (*) và Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị in và phát hành; Một (1) tập nửa mang tên là: “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam” do nhà sách Tú Quỳnh in và xuất bản với sự thỏa thuận của ông chủ nhiệm tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong (có trụ sở tại Virginia, Hoa Kỳ, hiện nay 2008 tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong vẫn còn đang hoạt động). Vào ngày 24 tháng 11 năm 1980 trên báo Người Việt số 32 một cán bộ Cộng sản đặt trách về văn hóa hải ngoại tên là “Minh Thi viết bài” tự nhận y là bạn đồng tù với tác giả tập thơ Vô Đề nói trên, Minh Thi cho biết: tác giả Vô Danh của tập thơ “tên thật” là Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1937 tại Hải Phòng, Bắc Việt, đậu Tú Tài Pháp (BAC), thông suốt Anh, Pháp, Hán ngữ. “Minh Thi, Nguyễn Chí Thiện, Phùng Cung cả ba (3) người là bạn và cùng hoạt động trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm ở miền Bắc”, bị bắt giam và Nguyễn Chí Thiện mang bệnh Ho Lao rất nặng từ năm 1966, đến 1978 Thiện được tạm phóng thích. Sau khi được thả, Minh Thi và bằng hữu có quyên góp một số tiền chuyển về giúp Thiện, được tiền bạc Nguyễn Chí Thiện mở nhà thổ (nhà chứa đĩ) chứa gái buôn thân kiếm sống, sáng rượu tối trà như người thất chí nên Thôi không còn làm thơ chống đối chế độ Việt Gian Cộng sản Hà Nội nữa. Cùng phụ họa với Minh Thi còn có “nhà văn” Trần Nhu cũng tự nhận là bạn thân thương và thường có liên lạc với Nguyễn Chí Thiện! Báo Người Việt số 32 viết nhiều và dài, nhưng Triệu Lan chỉ trích một đoạn. Điều này nếu muốn làm sáng tỏ vấn đề, đồng bào miền Nam California nên “yêu cầu” báo Người Việt cho đăng lại bài viết này của Minh Thi .

Sau khi sang Hoa Kỳ Nguyễn Chí Thiện thường đi khắp nơi để “diễn thuyết” chính Nguyễn Chí Thiện đã khai là Thiện: “Sinh năm 1939, bị bắt giam 27 năm tù vì tội tham gia trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống đối bạo quyền Cộng Sản Việt Nam”. Ai cũng biết với chiến dịch Trăm Hoa Đua Nở đã tạo ra vụ án Nhân Văn Giai Phẩm vào năm 1956. Thì bấy giờ tên Nguyễn Chí Thiện được 17 tuổi. Vậy Nguyễn Chí Thiện bị bắt bởi tác phẩm nào? và bị bắt năm nào (từ năm 1956 đến 1961). Trong số văn nghệ sĩ bị giết hại, bị bắt tù đày chưa ai nghe thấy có tên Nguyễn Chí Thiện bao giờ. Vì lý do “chưa thuộc bài” nên sau này Nguyễn Chí Thiện khai rằng Thiện bị bắt lần đầu vào năm 1960, bị bắt về tội “dạy sử” hộ cho một người bạn hôm đó “bị ốm”. Nhưng theo nhà báo Việt Thường thì ông khẳng định là không bao giờ có chuyện “dạy sử” hộ cho người bạn bị ốm cả. Ông Việt Thường khẳng định đây là một sự bịa đặt, vì nhà báo Việt Thường rất rõ về hệ thống “giáo dục” của Cộng sản thời đó. (xin tìm đọc bài của nhà báo Việt Thường nói về Nguyễn Chí Thiện – http://www.vietthuongonline.com ). Trong một dịp khác ở San Jose miền Bắc California thì Thiện khai, Thiện bị bắt về tội phát báo cho nhân văn giai phẩm năm 1961. Nếu Nguyễn Chí Thiện có bị bắt, thì tại sao bốn (4) năm sau Thiện mới bị bắt? (1958 đến 1961), trong khi những văn nghệ sĩ khác đều bị bắt gọn vào 1958-1959.

Cũng trên báo Người Việt số 2373 ngày 4/4/1992, Bác sĩ (Bs) Bùi Duy Tâm “viết bài”:“Nguyễn Chí Thiện với công cuộc xây dựng một nước Việt Nam Tự Do, Dân Chủ và hiện đại trong Tinh Thần Đạo Đức Dân Tộc”. Bùi Duy Tâm đã về Việt Nam móc nối với Bùi Tín qua nhómĐại Học Dân Lập Thăng Long cùng với cựu dân biểu thiên tả Hồ Văn Ân, Nhật Tiến, Nguyễn Mộng Nam, Huỳnh Tấn Hải, Hồ Trọng Mẫn, Hồng Quang, Đặng Đình Khiết, Nguyễn Mộng Giác, và bọn Cộng Sản đã được huấn luyện thuần lý thuyết Cộng sản trá hình hoạt động trong các đảng phái miền Nam trước năm 1975. Bs Bùi Duy Tâm viết lại tiểu sử của Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1935 tại phố Hàng Bột, Hà Nội, học bậc trung học tại trường Albert Sarraut, Nguyễn Chí Thiện một thời gian có học đại học tại Văn Khoa Hà Nội. Thiện bị bắt giam từ 1958 vì hoạt động phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, được thả ra năm 1964 lại bị bắt giam 1965 cho đến năm 1978, rồi lại bị bắt giam 1979, mang bệnh ho lao rất nặng, sau cùng được thả ra ngày 29/10/1991 tại Bắc Việt. Nếu đọc kỹ chúng ta sẽ thấy Minh Thi, Trần Nhu, Nguyễn Chí Thiện và Bùi Duy Tâm khai “lý lịch” của Thiện theo kiểu “đặt hàng” cho nên chẳng bao giờ hợp lý. Nhưng những người “biết chuyện” thì họ nói rằng: Nguyễn Chí Thiện “có thể sinh năm 1932 hoặc 1933”.

Đọc giả nào đã đọc qua tập thơ Vô Đề đều hiểu tập thơ chất chứa tư tưởng đầy chiến đấu tính, mặc dù thi sĩ Vô Danh đã xử dụng ngôn từ thật bình dân, dễ đọc, dễ cảm và rất dễ nhớ để người đọc có thể phổ biến những lời thơ gây ảnh hưởng đến đại chúng. Nhưng trớ trêu trong tập thơ Vô Đề có những ẩn nghĩa không phải dễ dàng cho mọi tầng lớp quần chúng hiểu thấu ý tưởng của tác giả. Muốn hiểu tập thơ Vô Đề ở một mức độ cao hơn, người đọc phải đọc nhiều sách vở Đông Tây của các học giả như:Brenda Staleup, George Holmes, Malcoms B Sterling để hiểu A Van Hô và các cuộc Thập Tự Chinhhay đọc cách tác phẩm của các văn hào như: Leo Nikolayevich Tolstoy (1828-1910) để hiểu “ấm Samovar”, hoặc tác phẩm của Fyodor Dostoevsky 1821-1881 để biết được sự đau khổ và gian trá trong “Tội Ác và Hình Phạt” để hiểu “chàng sinh viên giết người Raskolnikov”. Đọc tiếp 108 anh hùng “Lương Sơn Bạc” của thời nhà Tống để hiểu nhân vật “Võ Tòng đả hổ”, đọc thêm Tam Quốc Chí để xem “Quan Vân Trường mặt đỏ râu đen”. Tra cứu cũng như hiểu thấu các bài thơ của thi sĩ Vô Danh, vì công trình làm việc trong suốt 20 năm dài của ông không phải để chửi Cộng sản một cách cường điệu, ông cũng không chống Cộng sản kiểu giải trí hay tiêu sầu hay mong làm ‘lãnh tụ” của hơn 3 triệu người Việt lưu vong tại hải ngoại. Tập thơ Vô Đề của tác giả Vô Danh là một thiên bi hùng ca, một tác phẩm văn chương đã nói lên hết nỗi thống khổ của dân tộc Việt Nam bị đọa đày dưới ách tàn bạo của tập đoàn sài lang vô tính Cộng sản. Một tác phẩm văn chương kêu gọi người Việt Nam dù đang lầm đường lạc lối, ở bất cứ nơi đâu hãy trở về với đại nghĩa của Tổ Quốc, nhưng đến nay cũng chỉ một số người bỏ công sưu tầm nghiên cứu mới có thể hiểu được ý nghĩa của từng bài thơ. Ví dụ như bài thơ:“Tôi Muốn Sống với…” dưới đây:

Tôi muốn sống với…

* Tôi muốn sống với Võ Tòng đả hổ

* Với Quan Vân Trường mặt đỏ râu đen

* Vào lính ngự lân cùng Athos làm quen

* Bạn với D’Artagnan, Porthos và Aramis !

* Tôi muốn tới Palestine, mồ Jesus Christ

* Cùng Ai-Van-Hô làm cuộc Thập Tự Chinh

* Sống một ngàn một đêm lẻ trong dinh

* Dựng lên bởi thần đèn giúp A-La-Đanh cưới vợ

* Sang châu Mỹ đất tân kỳ man rợ

* Cùng Jack London đi xe chó tìm vàng

* Tôi muốn sang yến tiệc với Nga Hoàng

* Tiếp chuyện André một chiều trên bến nước

* Cùng Petchorine giữa Caucase dạo bước

* Đấu súng, đấu gươm, khiêu vũ chan hòa

* Gặp Dostoi trong đêm vắng pha trà

* Mặc tuyết rơi, ngồi bên ấm Samovar

* An ủi chàng sinh viên giết người Raskolnikov

* Khuyên Philippovna lấy chàng ngốc hiền hòa

…………………………………

(thơ Vô Đề – Tôi Muốn Sống Với … – 1962)

(1) xin xem bài thơ “Tôi Muốn Sống với…” ở cuối bài viết

Nhân vật Võ Tòng sống vào thời nhà Tống và Quan Vân Trường sống vào thời Tam Quốc bên Tầu. Thời nhà Tống và thời Tam Quốc (Ngụy, Thục, Ngô) là hai thời kỳ tiêu biểu nước Tầu (Trung Hoa) bị phân rã và loạn lạc, quan quân nổi lên chống lại triều đình nhà Tống, làm nổi danh 108 anh hùng “Lương Sơn Bạc” được ghi vào sử sách của Tầu. Tam Quốc (Ngụy, Thục, Ngô) cũng là một thời kỳ nước Tầu phân rã tranh hùng tạo ra thế chân vạc đánh nhau mà một mưu sĩ thời đó đã có công giúp Lưu Bị dù không toàn thắng, nhưng còn nổi danh đến ngày hôm nay đó là: Khổng Minh Gia Cát Lượng. Tóm lại hai câu đầu: “Tôi muốn sống với Võ Tòng đả hổ. Với Quan Vân Trường mặt đỏ râu đen”.Tác giả tập thơ Vô Đề muốn nhìn thấy nước Tầu bị loạn lạc và phân rã như hai thời kỳ trên. Nước Tầu trong nay mai phải bị phân ra làm nhiều tiểu quốc như lời của cựu Tổng Thống Lý Đăng Huy có nói tới trong một quyển sách của ông được viết bằng Hoa Ngữ trước đây, Nên “nước Tầu (Trung Hoa) phải bị phân rã thì Á Châu mới có thời gian sống lại”. Đây là một lời tiên đoán nhưng nếu những ai theo dõi tình hình cũng như những diễn biến chính trị, thì … lời “tiên đoán” trên có lẽ sẽ thành sự thật trong một ngày không xa lắm (chúng ta chờ xem sao?). Vì thời gian và những diễn biến chưa thuận tiện nên Triệu Lan xin phép không thể giải thích rõ ràng trọn bài được, xin hẹn vào dịp khác.

Thấy bài thơ Tôi Muốn Sống Với … nói về Quan Vân Trường. Vè sĩ Nguyễn Chí Thiện cũng nhái theo thành bài Quan Vũ như sau:

Quan Vũ

Tay cầm long đao, cưỡi ngựa xích thố

Mặt đỏ, râu dài, uy nghi đồ sộ

Đào viên kết nghĩa, anh hùng tương ngộ

Chung thủy trọn đời, tận tụy vắn số

Chém đầu Hoa Hùng, đọ sức Lã Bố

………… ……… ……… ……… ……… ……

thơ Nguyễn Chí Thiện – Hạt Máu Thơ 2 – trang 128

– Xin xem bài thơ “Quan Vũ” của Nguyễn Chí Thiện ở cuối bài để so sánh

So sánh bài thơ “Tôi Muốn Sống Với”… của thi sĩ Vô Danh trong tập thơ Vô Đề. Và bài thơ “Quan Vũ”của Vè sĩ Nguyễn Chí Thiện trong tập Hạt Máu Thơ. Ta thấy lời văn (văn phong) của hai (2) bài thơ hoàn toàn khác nhau. Bài thơ Tôi Muốn Sống Với … tác giả Vô Danh có một viễn kiến chính trị thâm sâu nên ông nhìn trước thời cuộc và đoán đúng như hai giọt nước. Nguyễn Chí Thiện cũng “khoái”chuyện Tầu nhưng làm đến ‘vè thơ’ thì có lẽ hết ý vì ‘thiếu chữ nghĩa’, trọn bài Quan Vũ ‘vè thơ’ của Thiện chỉ có vần Ố, Ộ, Ổ, Ồ, và cách sắp từ thì lộn xộn không đâu vào đâu. Xin quý độc giả đọc tiếp để thấy Viễn Kiến Chính Trị của Thi sĩ Vô Danh như sau:

Từ những thế kỷ 11-13 hay trở về trước, từ thế kỷ thứ nhất cho đến thế kỷ thứ 8 (711-716). Muốn hiểu (7) cuộc “Thánh Chiến” trong suốt hai thế kỷ 11 và 13 (1096-1291) được viết trong câu, “Cùng Ai Van Hô làm cuộc Thập Tự Chinh”, thì thứ nhất phải đọc được tiếng La Tinh hay tiếng Ả Rập, vì vào thời điểm bài thơ “Tôi Muốn Sống Với…”, được viết vào năm 1962 thì những quyển sách này chưa được dịch ra tiếng Anh ở Việt Nam. Những quyển sách này chỉ được dịch ra Anh Ngữ vào giữa thập niên 1980 do các học giả Brenda Staleup, George Holmes, Malcoms B Sterling của trường Đại Học Oxford, London ..v.v.. mà thôi. Vậy từ năm 1962 trở về trước, nếu bảo Nguyễn Chí Thiện đặt ra bài thơ “Tôi Muốn Sống Với…” thì Nguyễn Chí Thiện học tiếng Nga, tiếng La Tinh hay tiếng Ả Rập ở đâu và ai đã dạy cho Thiện !? để Nguyễn Chí Thiện có “cảm hứng” đặt những câu thơ trên?!, và cho mãi đến nay chúng ta cũng chưa bao giờ nghe Nguyễn Chí Thiện nói về trình độ ngoại ngữ như tiếng Nga, tiếng La Tinh, Anh, Pháp hay tiếng Ả Rập của Thiện bao giờ.

Cuộc tấn công lật đổ chế độ Saddam Hussein ở Iraq được gói trọng trong hai câu “Sống một ngàn đêm lẻ trong dinh”. “Dựng lên bởi thần đèn giúp A-La-Đanh cưới vợ”. Sau cuộc chiến tranh Mỹ-Iraq các cường quốc cũng như dân chúng đều muốn Mỹ phải rút quân ra khỏi Iraq ngay. Nhưng chính phủ Mỹ từ ông Bush, ông Rumfiel và ông Powell (đã về hưu) đều nói rằng: Quân đội Hoa Kỳ sẽ ở lại Iraq từ ba (3) đến năm (5) năm để ổn định trật tự cho nước Iraq, như vậy quân đội Hoa Kỳ sẽ “Sống một ngàn đêm lẻ trong dinh” (trong dinh – trong Baghdad). Một ngàn đêm lẻ là hơn 3 năm, trong dinh là ngay trong Baghdad. “Dựng lên bởi thần đèn giúp A-La-Đanh cưới vợ”, Thần Đèn là ông Vua dầu Hỏa Cheney hay các công ty Cheney này sẽ thầu và tái thiết Iraq, giúp A La Đanh (A La Đanh tượng trưng cho dân nghèo Iraq) giúp cho đám dân nghèo Iraq, cưới vợ là có đời sống hạnh phúc, tự do vì không còn cảnh cầm quyền trị dân Iraq man rợ kiểu Saddam Hussein. Đặc biệt chữ “Cưới Vợ” đúng vào trong cái “Code” của một nhóm người Iraqis sống lưu vong ở Hoa Kỳ và trên thế giới trước đây chống lại chế độ Saddam Hussein. Họ dùng chữ “The Wedding – Cưới Vợ” để làm “Code” (mật mã) trao đổi thông tin lẫn nhau từ bên ngoài về bên trong Iraq. Những sự việc trên đã xảy ra như chúng ta đã thấy. Chưa muốn nói tới chi tiết trong bài “Tôi Muốn Sống Với … ”, tại sao tên các nhân vật khác được viết đúng với ngôn ngữ gốc của nó theo mẫu tự la tinh như : Athos, D’Artagnan, Porthos, Aramisl, Jesus Christ, Jesus Christ, Jack London, André, Petchorine, Dostoi, Raskolnikov, Philippovna, Don ..v.v.., nhưng chỉ duy có từ “Ai-Van-Hô” và “A-La-Đanh” lại được viết theo ngôn ngữ Việt Nam. Vậy đây phải là dụng ý của tác giả chứ!.

Vì vậy “đánh cắp tư tưởng” không dễ, khó lắm và chưa một gián điệp ngoại hạng nào trên thế giới có thể làm được. Anh có thể hóa trang, giả giọng nói, chữ viết, nhưng không thể đánh cắp tư tưởng. Vì vậy với những người “Biết” chuyện hay những tay “nhà nghề” họ dễ dàng nhìn ra chân tướng “thi sĩ Nguyễn Chí Thiện” một cách rõ ràng. Nếu thức Thời và cảm được Thế Nguyễn Chí Thiện nên tự mình mạnh dạn bước ra tự thú là điều nên làm, với chân tình của một người yêu lẽ phải tôi “khuyên” ông Thiện như vậy. Triệu Lan tôi ghét ông vì ông sống không chân thật, nhưng tôi chưa khinh ông và hy vọng rằng ông Thiện không nên để những người chung quanh ông coi Khinh ông vậy. (con người đã bị khinh khi thì không còn gì để nói nửa cả).

Tập thơ Vô Đề (tuy có Hai tên gọi khác nhau nhưng cũng chỉ là Một) gồm có 188 bài Thơ(báo Văn Nghệ Tiền Phong ghi là 192 bài thơ bi hùng). Triệu Lan đã đếm từng bài và có mấy bài giống nhau, nhưng năm viết thì lại ghi khác nhau như bài: “Tôi Không Tiếc” (một bài được ghi năm viết là năm 1971 và một bài được ghi năm 1963). Vậy ắt hẳn tác giả Vô Danh phải có dụng ý gì khi ông viết hai bài thơ giống nhau nhưng lại ghi năm khác nhau. Vì không hiểu ý tác giả nên Nguyễn Chí Thiện đã đục bỏ bài “Tôi Không Tiếc” viết năm 1971 khi Nguyễn Chí Thiện và nhóm của Thiện đã cho in lại tập thơ Vô Đề vào năm 2006 do “Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ” phát hành. Nhưng cái đểu là Nguyễn Chí Thiện đã đục bỏ những vần những chữ hoặc những nào không có lợi cho Thiện hoặc giả những điều đọc giả nghi ngờ nhưng Thiện lại không trả lời được. Toàn bộ tập thơ Vô Đề đều được Nguyễn Chí Thiện sửa chữ và bỏ chữ, rồi lại trộn lẫn cả hai tập Vô Đề của tác giả Vô Danh và Hạt Máu Thơ của Nguyễn Chí Thiện lại với nhau để Thiện dễ lừa những người vô ý khi Thiện cho in tập Hoa Địa Ngục vào năm 2006. Nhưng Nguyễn Chí Thiện quên rằng: Với những người đã nhiều năm qua để mắt theo dõi việc làm của Nguyễn Chí Thiện thì Thiện khó lòng qua mặt hay lừa bịp được họ. Và còn hàng trăm lỗi khác nửa trong tập Hoa Địa Ngục in vào năm 2006 nhưng chưa tiện viết ra đây (có như vậy Thiện mới bảo rằng: tập thơ Vô Đề là tập Hoa Địa Ngục do Thiện viết ra) điều này cũng chứng minh cho thấy là Thiện rõ ràng không phải là tác giả của tập thơ Vô Đề (lá thư viết bằng tiếng Pháp ở đầu tập thơ Vô Đề, tác giả đã nói rằng: (tập thơ) “đây là công trình làm việc trong suốt 20 năm trời của tôi”, vậy công trình 20 năm làm việc để ngày nay “tác giả” lại phải ngồi đục bỏ những chữ không có lợi cho tác giả hay sao?. Càng đọc thì chúng ta càng thấy rõ ràng Nguyễn Chí Thiện đã cố gắng nhận vơ tập thơ Vô Đề, nhưng trời cao có mắt, chuyện đời lại không dễ như vậy.

Và 188 đoản khúc “Những Ghi Chép Vụn Vặt” được thi sĩ Vô Danh viết với những thể thơ khác nhau. Nội dung tập thơ quyết liệt chống đối lý thuyết Cộng sản đang bành trướng gieo rắc tai họa trên khắp thế giới nói chung, và phỉ nhổ bọn Việt Gian Cộng sản nói riêng, bọn Việt Gian Cộng sản tuy chúng cùng có “Da vàng Máu đỏ” như chúng ta. Nhưng chúng chỉ là một loại thú dữ hơn cả sài lang đang hà hiếp nhân dân Việt Nam với hơn 83 triệu người. Bọn Việt Gian Cộng sản bạo ngược như tục vật nhưng chúng được phùng thời đắc vận, chúng đem chiến tranh vào chiếm lãnh cả nước Việt, để hôm nay với quyền bính trong tay, chúng cướp bóc, tham ô, tranh giành hưởng lạc trong phe nhóm Bắc Nam, chúng lập bè kết đảng thanh trừng giết hại lẫn nhau. Chúng chỉ biết ăn cắp và ăn cướp nên chúng không thể thiết kế được chương trình nào khả dĩ từ chính trị, kinh tế, văn hóa cho xã hội để đem lại sự hạnh phúc, tự do no ấm cho người dân. Chúng đã hoàn toàn thất bại trong việc xây dựng xã hội, ngược lại chúng đã mở cửa cho ngoại bang đến “đầu tư” cướp bóc tài nguyên quốc gia, bóc lột sức lao nô của dân Việt Nam. Chính bọn Việt Gian Cộng sản là đầu mối làm băng hoại, sa đọa xã hội Việt Nam đến tận cùng như ngày nay.

Triệu Lan

* đón xem bài 2 tiếp theo

http://www.hon-viet.co.uk/TrieuLan_VeSiNguyenCThien.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Các chính đảng đối lập

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 14, 2008

Các chính đảng đối lập

-Trần Thanh-

– Tiếp theo bài viết “Tâm sự của một cựu đại tá việt cộng” –

Giới thiệu tóm tắt nhân vật:

– Ông Khải: Cựu đại tá việt cộng đã về hưu trên 20 năm, đảng viên cộng sản nhưng đã xin ra khỏi đảng từ khi về hưu. Ông đang là ủng hộ viên cho các phong trào đấu tranh dân chủ.

– Anh Tý cu li: Cháu đích tôn của ông Khải, công nhân hãng sản xuất xe gắn máy của Trung Quốc. Anh là thành viên của phong trào đấu tranh dân chủ tại Hà Nội.

*
* *

Ông Khải mở cái hộp nhựa trên bàn ra, bên trong là ba gói lá chuối gói thịt chó còn nóng hổi, thơm phức, mỡ chó rịn chảy ra ngoài. Đó là ba món chó nướng, chả chìa và rựa mận. Ông nói với anh Tý cu li:

– Đây là thịt của con chó cái màu vàng, thơm ngon lắm! Thịt chó vàng có thể giúp cho chúng ta thêm bổ về dương, tức bổ thận và bổ não!

Anh Tý hỏi:

– Sao ông biết đây là con chó vàng? Thịt chó vàng ăn bổ lắm hay sao?

Ông Khải đáp:

– Thằng trợ lý chủ quán nói cho ông biết như thế. Nhất mực, nhì vàng, tam khoang, tứ đốm. Chó mực dạo này hiếm lắm, đôi khi người ta phải đi lùng mua mãi tận bên Lào!

Anh Tý giúp ông nội bỏ các món ăn vào lò vi ba (micro-wave) hâm nóng lại. Ông Khải lấy chai rượu nếp than rót ra ly:

– Nào, ông cháu mình cùng uống với nhau ly rượu cho ấm bụng rồi lai rai nhậu thịt chó! Sống trên đời đớp miếng chó dồi ….

Anh Tý lăng xăng bày biện các món ăn trên bàn, nhất là dĩa rau húng, mắm tôm, ớt và củ giềng. Trong đầu anh còn rất nhiều những thắc mắc về chính trị, đây là cơ hội tốt để anh hỏi ông nội, vị “tổ sư bồ đề”, được xem như La Sơn Phu Tử* của các nhân vật đấu tranh dân chủ tại Hà Nội. Ông Khải cầm đũa gắp một miếng thịt chó nướng:

– Cháu ăn đi. Có thắc mắc gì cháu cứ hỏi, ông sẽ chỉ dạy cho ….

Anh Tý nêu câu hỏi:

– Vừa rồi ông đã giảng cho cháu hiểu thế nào là đa nguyên đa đảng. Như vậy nếu mình muốn có dân chủ, nhân quyền thì mình phải có nhiều đảng phái đối lập phải không ông?

Ông Khải hỏi lại:

– Theo như cháu hiểu, thế nào là đảng đối lập?

Anh Tý đáp:

– Đối lập tức là chống đối lại chính quyền …. Vậy đảng đối lập tức là đảng chống đối lại chính quyền ….

Ông Khải hỏi tiếp:

– Vậy hiện nay trong nước ta có đảng nào gọi là đảng đối lập không?

– Có chứ ạ. Đó là đảng Dân Chủ 21, đảng Thăng Tiến, đảng 8406 ….

Ông Khải lắc đầu:

– Cháu hiểu lầm rồi. Khi tìm hiểu một vấn đề gì, ta phải tìm hiểu tận gốc và ĐI TỪ GỐC ĐI LÊN. Đừng có hớt cái ngọn hoặc giải quyết vấn đề bằng cách hớt ngọn. Cái gốc nó sẽ tiếp tục đẻ ra cái ngọn thì mình sẽ không bao giờ giải quyết dứt điểm được vấn đề. Vậy trước hết, ông dặn cháu ba điều này, cần phải nhớ:

Một là, trước tiên là phải có một thể chế chính trị lành mạnh, thực sự dân chủ, lúc ấy mới nói chuyện đến các chính đảng đối lập. Cũng ví như, phải có xe Honda rồi thì mới bàn đến chuyện nên mua loại bình điện gì để chạy xe cho tốt. Nếu cháu đang đi xe đạp thì cháu có cần phải mua bình điện không, vậy thì bàn đến chuyện mua bình điện để làm gì? Người Mỹ có câu: – Chưa bắn được con gấu thì đừng có bàn đến chuyện đem bán da gấu! Mình đang sống trong một chế độ độc tài đảng trị khát máu (xe đạp) mà lại đòi đi mua cái bình điện xe Honda (đảng đối lập) thì làm sao gắn nó vào chiếc xe đạp được? Gắn ở chỗ nào? Hề quá!

Nếu cháu muốn biết thêm về đối lập chính trị thì cháu nên tìm đọc bài viết của giáo sư Nguyễn Văn Bông*

Hai là, các đảng “đối lập” đang hoạt động trong nước hiện nay không phải là đảng đối lập đúng nghĩa theo như khoa chính trị học đã định nghĩa. Họ giống như những cái bình điện của xe Honda treo trên tay lái của chiếc xe đạp, trang trí coi cho vui mắt. Chỉ trang trí cho vui thôi chớ không thể gọi đó là chiếc xe Honda được! Bản chất là xe đạp thì vẫn là xe đạp. Ông chưa cần nói đến yếu tố đối lập cuội hay không cuội.

Năm 1944 thằng Hồ nó thành lập ra cái đảng Dân Chủ để trang trí cho cái xe đạp của nó coi cho giống xe …. Honda. Đến năm 1988 thì đảng Dân Chủ bị giải tán. Rồi đến năm 2006, thằng Hoàng Minh Chính tuyên bố “phục hoạt” lại đảng Dân Chủ. Nó thêm con số 21 vào thành ra đảng Dân Chủ 21 cho có vẻ là đảng tân lập nhưng thực chất nó cũng chỉ là một vật trang trí cho cái “xe đạp” tức cái chế độ việt gian cộng sản bạo tàn, sắt máu!

Còn hai đảng Thăng Tiến và đảng 8406, ta cứ tạm cho họ là những người có thiện chí đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền và không phải là đảng cuội nhưng họ đang ở trong cái tình thế giúp phần tô vẽ thêm cho cái chế độ việt gian cộng sản, làm cho thế giới hiểu lầm rằng ở Việt Nam đang có các chính đảng đối lập (đa đảng)!

Ba là, đảng đối lập – hiểu theo đúng nghĩa chính trị của nó- không phải là đảng chống đối lại chính quyền. Nó có ba nhiệm vụ chính, đó là giám sát, chế tài và hợp tác với chính quyền để cùng nhau xây dựng một đất nước giàu mạnh. Cháu nên tìm đọc tài liệu trên internet để hiểu rõ thế nào là một đảng phái chính trị (political party)

Nếu căn cứ vào định nghĩa chính trị về chính-đảng thì cái đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay chỉ là một đảng cướp và đảng Dân Chủ 21 cũng chỉ là một đảng thảo khấu chính trị! Ở các nước dân chủ tại Âu Mỹ, các chính đảng nắm được chính quyền là nhờ thông qua các cuộc bầu cử, hay nói cụ thể hơn là nhờ lá phiếu của người dân. Còn đảng Cộng Sản Hồ Tặc nắm được chính quyền là nhờ …. LƯỜNG GẠT hồi năm 1945, và sau đó bọn chúng củng cố địa vị lâu dài bằng cách khủng bố, GIẾT HAI TRIỆU người hồi những năm 1951 – 1956 mà chúng gọi là “cải cách ruộng đất”!

Theo bài viết của giáo sư Bông thì đối lập là một sự bất đồng về chính kiến, có tính cách tập thể và phải hợp pháp, tức là phải được chính quyền công nhận.

Nếu chiếu theo tiêu chuẩn “hợp pháp” thì chỉ có cái đảng Dân Chủ 21 của thằng Hoàng Minh Chính là hội đủ điều kiện vì nó được phục hoạt từ đảng Dân Chủ do thằng Hồ thành lập ra từ năm 1944! Đó là lý do vì sao thằng Hoàng Minh Chính chỉ muốn “canh tân” chế độ chớ không dám xóa bỏ cái chế độ cộng sản! Nó là con đẻ của đảng cộng sản thì làm sao nó dám phủ nhận mẹ đẻ của nó! Nó chỉ đi vận động, xin chữ ký để XIN hủy bỏ điều BỐN hiến pháp (!), hủy bỏ nghị định 31/CP và thành lập “hội chống tham nhũng”! Cái phong trào đòi hủy bỏ điều bốn hiến pháp và “tiểu diên hồng” là hai vở hài kịch do bọn việt gian cộng sản làm đạo diễn mà thằng Hoàng Minh Chính đóng vai chánh, được một số nhân vật ngây thơ chính trị và cò mồi chính trị ở hải ngoại hưởng ứng! Cả “sự nghiệp chính trị” của nó chỉ có như vậy!

Cho đến bây giờ những điều XIN-CHO của nó chưa được điều nào hết và mãi mãi sẽ không bao giờ được!

Giả sử việt cộng nó có hủy bỏ nghị định 31/CP đi chăng nữa thì nó sẽ ký cái nghị định khác còn tàn bạo hơn gấp mấy lần cái nghị định 31/CP! Độc tài đảng trị mà, nó muốn làm cái gì mà không được! Nó cho tay phải rồi lấy lại bằng tay trái mấy hồi! Cho nên vấn đề quan trọng là ta phải ĐẤU TRANH ĐỂ TRIỆT ĐỂ XÓA BỎ CÁI CHẾ ĐỘ BẠO TÀN, KHÁT MÁU. Phải bứng nguyên cái gốc cây đi và chặt hết tất cả rễ của nó chớ không phải giải quyết vấn đề bằng cách chặt những cành cây ở trên ngọn! Chỉ có những thằng đối lập cuội mới chủ trương như vậy! Bởi vì bọn chúng là những con ký sinh trùng ăn bám nhờ “đấu tranh chống cộng”! Ngoài ra, những thằng lưu manh, điếm đàng sống nhờ dịch vụ “từ thiện” cũng không bao giờ muốn xóa bỏ cái chế độ cộng sản!

Anh Tý thấy ông nội nói có vẻ gay gắt nên anh gắp một miếng chả chìa bỏ vào bát của ông:

– Ông ăn miếng này còn đang nóng kẻo nguội. Đúng như ông nói, thịt chó cái mà lại là chó vàng thì ngon quá!

Ông Khải cầm miếng chả chìa chấm vào dĩa mắm tôm có chanh ớt rồi đưa lên miệng nhai rau ráu một cách ngon lành. Tuy đã 80 tuổi nhưng ông vẫn còn tinh anh, khỏe mạnh, thường xuyên tập thái cực quyền mỗi sáng và nghiên cứu chính trị trên internet. Ông uống cạn ly rượu rồi hỏi thằng cháu:

– Như thế cháu đã hiểu rõ thế nào là đảng đối lập chưa?

Anh Tý gật đầu:

– Vâng, thưa ông cháu đã hiểu! Sẵn đây cháu xin hỏi ông: – cháu thấy có một số nhà dân chủ như anh Đỗ Nam Hải đã tuyên bố rằng anh đấu tranh trong khuôn khổ tôn trọng luật pháp của nhà nước và đấu tranh bất bạo động, như vậy có phải anh ta là loại “đối lập hợp pháp” như cái đảng Dân Chủ 21 của ông Hoàng Minh Chính hay không? Ngoài ra, cháu thấy ở hải ngoại có cái đảng Việt Tân cũng thường tuyên bố là họ đấu tranh bất bạo động nhằm “canh tân” đất nước. Họ có phải là …. con đẻ của đảng Cộng Sản hay không?

Ông Khải hít một hơi thuốc lào kêu ro ro thật là vui tai. Ông khẽ ngửa cổ lên và thở ra một luồng khói trắng dày đặc. Trời đã tối hẳn, khí trời tháng mười hơi se lạnh nên khói thuốc lào vẫn còn quyện trong căn gác xép bé nhỏ, hòa lẫn với mùi thịt chó và rượu nếp than, những món ăn truyền thống của người miền bắc. Bỗng nhiên ông Khải cười khà khà một cách khoái chí. Ông thích thú nhìn thằng cháu của ông và khen ngợi:

– Cháu khá lắm! Biết đặt câu hỏi như vậy tức là cháu đã tìm ra câu trả lời tới 50 phần trăm rồi! Thằng Đỗ Nam Hải là thằng cò mồi chính trị do bọn việt gian cộng sản nặn ra, phối hợp với đám chó săn ở hải ngoại thổi ống đu đủ, đưa nó lên tuốt lên mây, tới cái mức mà “danh tiếng” của nó vang tới tận tai ông tổng thống Bush, khiến ông phải gọi điện thoại hỏi thăm! Qua sự kiện đó, thế giới đã đánh giá rằng Việt Nam đang có “dân chủ” vì có “nhà bất đồng chính kiến” trí thức, trẻ tuổi đang bị quản thúc trong nước! Còn cái gọi là đấu tranh “bất bạo động” của đảng Việt Tân chính là hình thức quỳ lạy XIN-CHO mà bọn việt gian cộng sản rất mong muốn các tổ chức đấu tranh làm như vậy! Cứ làm đơn hoặc thỉnh nguyện thư, gởi lên bọn chúng rồi ngồi chờ khoảng ….. 100 năm sau sẽ được giải quyết!

Đảng Việt Tân chính là đảng cướp và là cánh tay nối dài của bọn cộng sản. Bọn chúng nguy hiểm ở chỗ chúng khoác áo người “quốc gia” để …..”chống cộng”! Rất nhiều người đã bị lầm, trao duyên lầm tướng cướp, tan nát cuộc đời và vô hình chung họ đã tiếp tay với bọn cướp để phản dân hại nước!

Nghe ông nội giảng, anh Tý vô cùng thích thú vì được mở mang thêm kiến thức. Anh hứng chí làm một miếng rựa mận còn nóng hổi, thơm phức và đồng thời chiêu thêm một ngụm rượu nếp than để lấy …. can đảm hỏi tiếp một câu hơi khó trả lời:

– Thưa ông, theo như lời ông thì các đảng phái hoạt động công khai trong nước hiện nay thì hoặc họ là đảng phái cuội hoặc là các đảng vô tình giúp đánh bóng cho chế độ việt gian cộng sản. Vậy thì theo ý ông phải hoạt động cách mạng như thế nào cho hữu hiệu?

Ông Khải bẻ một miếng bánh tráng, gắp một miếng thịt chó đặt lên đó rồi chấm vào dĩa mắm tôm:

– Hoạt động cách mạng có ba hình thức: bí mật, bán công khai và công khai. Hình thức bí mật thì ta miễn bàn ở đây vì nó là …. bí mật! Bán công khai là hình thức đấu tranh một cách gián tiếp nhưng không trực tiếp ra mặt đối đầu với việt cộng. Ví dụ như những người dân tiếp tế, ủng hộ tinh thần và vật chất cho những người dân oan hoặc những người biểu tình, những giáo dân đang cầu nguyện đòi công lý ..v..v.. Và cuối cùng là hình thức công khai đấu tranh. Nếu đã công khai ra mặt đấu tranh thì những chiến sĩ đấu tranh nên sẵn sàng đón nhận cái chết như những chiến sĩ cảm tử thuộc phi đội Thần Phong của Nhật Bản khi ra trận. Những cá nhân hoặc tổ chức nếu đã chấp nhận đấu tranh công khai thì nên can đảm NÓI THẲNG RA VẤN ĐỀ LÀ TOÀN DÂN KHÔNG CHẤP NHẬN SỰ CAI TRỊ CỦA BỌN CỘNG SẢN DƯỚI BẤT CỨ HÌNH THỨC NÀO. Nghĩa là bọn việt gian cộng sản, nếu biết điều thì phải tự nguyện rút lui, còn nếu không rút lui thì toàn dân sẽ nổi dậy lật đổ bọn chúng! Tất cả những tên đầu sỏ, tội đồ của dân tộc sẽ bị đưa ra tòa, hình phạt nhẹ nhất là tử hình! Tất cả tài sản ăn cướp của bọn chúng phải được trao trả cho toàn dân. Tất cả những tên tay sai làm chó săn cho bọn việt gian cộng sản cũng phải bị trừng trị, ví dụ như đảng Việt Tân!

Một khi lòng dân đã không thuận rồi thì có mười thằng Mỹ muốn “giúp việt gian cộng sản được xuống cọp an toàn” thì cũng vô ích. Không có sức mạnh gì có thể cản được một khi nước đã muốn lật thuyền! Thằng Trung Cộng ở kế một bên cũng không thể nào can thiệp được! Ngay cả cái tập đoàn đại gian ác của Trung Cộng cũng không thể nào biết bọn chúng sẽ bị toàn dân nổi dậy lật đổ và hỏi tội bất cứ lúc nào!

Đối với những đảng phái chọn hình thức công khai đấu tranh, khi được truyền thông ở hải ngoại phỏng vấn thì nên nói thẳng vấn đề. Không nên nói một cách nửa vời, kiểu như đấu tranh là để đòi lại các thứ chổi cùn và rế rách, còn cái nhà thì không dám đòi lại! Nhà của chúng ta thì chúng ta phải đòi lại chớ tại sao chỉ dừng lại ở những cái cối đá, cái nồi đất, cái chổi cùn và rế rách? Và nếu việt cộng nó trả lại những thứ này thì thỏa mãn, thôi không đấu tranh nữa? Ông chỉ giả sử như vậy thôi chớ toàn dân ta đòi chổi cùn và rế rách đã hơn 60 năm nay rồi mà chúng nó chưa bao giờ trả lại bất cứ một thứ gì, dù là nhỏ nhất!

Sở dĩ chúng ta phải nói thẳng vấn đề là để tránh cho thế giới hiểu lầm chúng ta là những chính đảng đối lập (political party), nghĩa là Việt Nam dưới sự cai trị của việt cộng, đang được hưởng tự do, dân chủ và có các đảng phái đối lập! Chúng ta không phải là những chính đảng đối lập! Chúng ta là những người làm cách mạng thuộc những đảng phái cách mạng, quyết tâm xóa bỏ toàn bộ cái chế độ cộng sản hung tàn, bạo ngược để xây dựng một chế độ mới tự do và dân chủ!

Được ông nội truyền dạy cho những bài học kinh nghiệm về đấu tranh cách mạng, anh Tý mừng rỡ vô cùng. Anh hăng hái đi nướng thêm bánh đa (bánh tráng) để hai ông cháu tiếp tục nhậu với thịt chó. Ông Khải tiếp tục khoan khoái nhâm nhi ly rượu nếp và món rựa mận mà ông rất ưa thích. Cả cuộc đời của ông là một chuỗi những ngày buồn dài lê thê đầy những oan trái và bất đắc chí. Chỉ may mắn lắm mới có một đôi lúc được vui và thư thái về tinh thần như giây phút này. Dù đang nói chuyện với thằng cháu nhưng ông có cảm tưởng như ông đang nói chuyện với một người bạn cố tri! Nếu mai đây ông có chết thì đã có thế hệ trẻ nối tiếp ngọn lửa đấu tranh của cha ông để lại, vong hồn tổ tiên ông nơi đảo Tahiti ở Thái Bình Dương chắc cũng không đến nỗi tủi hổ!

Ông Khải tiếp tục hâm nóng các món nhậu chứa trong cái lẩu đặt trên bàn và đưa mắt nhìn đứa cháu:

– Cháu còn thắc mắc gì không cứ việc hỏi. Ông còn sống ngày nào thì ông sẵn sàng chỉ dạy cho cháu ngày đó miễn là cháu chịu học. Cháu phải luôn ghi khắc trong tim điều này: ông tổ gia phả nhà ta mang họ Nguyễn, đã từng thi đỗ phó bảng, từng làm quan lớn dưới triều Nguyễn, đã từng phò vua Hàm Nghi lập hịch Cần Vương chống Pháp. Tiếc rằng sau đó ngài đã bị giặc Pháp bắt, bị đày đi đảo Tahiti rồi chết đó! Ông cố nội của cháu là đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng, rất giỏi Pháp Văn và Hán văn, đã bị giặc Pháp xử chém năm 1933! Lúc ấy ông còn nhỏ nên có người lén đưa vào thuộc địa Nam Kỳ, đổi họ Nguyễn thành họ Huỳnh, làm con nuôi gia đình một người giàu có. Ông lớn lên ở đất Nam kỳ thuộc địa, đậu tú tài Pháp rồi đi theo Việt Minh chống Pháp. Ông là người trí thức nên bọn việt gian cộng sản rất ghét, thường xuyên trù dập nên cuộc đời binh nghiệp chỉ lên đến cấp đại tá là hết! Ông may mắn còn được thừa hưởng chút văn hóa, chữ nghĩa của tổ tiên để lại, đó là chữ Tàu, tiếng Pháp và tiếng Ăng Lê. Dù đó là văn hóa ngoại lai nhưng thế hệ của ông còn được gọi là có chữ nghĩa. Đến đời bố của cháu và cháu, sống dưới chế độ “bác Hồ” thì hoàn toàn dốt đặc, chữ Việt đọc chưa thông, viết chưa thạo, đừng có nói gì đến các ngoại ngữ như Anh, Pháp, Hán văn! Tủi hổ và buồn lắm! Đáng lẽ “con hơn cha là nhà có phúc” nhưng đằng này, các thế hệ càng về sau thì càng tàn lụi! Đó là những tội ác tày trời của thằng Hồ tặc và cái tập đoàn ăn cướp đại gian ác của hắn!!!

Nghe ông nội kể về gia phả, anh Tý không khỏi ngỡ ngàng và tự hào. Không ngờ tổ tiên của anh đã từng là những người tài cao học rộng, khí phách hiên ngang đến thế! Vậy mà đến đời bố anh thì gần như bị thất học. Bố anh chỉ mới học đến lớp tám là bị cưỡng bức đi vào Nam xâm lược. Còn thân phận anh thì cũng chỉ học dở dang đến lớp 11 thì phải nghỉ học, đi bán chợ trời rồi nhờ ông nội chạy chọt xin vào làm công nhân trong hãng chế tạo xe gắn máy của Trung Quốc! Anh Tý tiếp tục hỏi ông:

– Hiện nay giới sinh viên đang chuẩn bị biểu tình lớn vào ngày 14 tháng 9 để phản đối Trung Cộng xâm chiếm hai đảo Hoàng-Trường Sa. Ông có ý kiến gì về chuyện này không?

Ông Khải:

– Đây có thể là một âm mưu của bọn việt gian cộng sản nhằm làm lu mờ cuộc đấu tranh của giáo dân giáo xứ Thái Hà! Bọn chúng sẽ ngấm ngầm lèo lái cuộc biểu tình theo từng bước:

+Bước một, “phản đối” Trung Cộng và cũng để làm một màn trình diễn “dân chủ” để làm hài lòng thằng thứ trưởng ngoại giao của Mỹ đến thăm Hà Nội hôm 12 tháng 9. Đây lại là một màn moi tiền đô la để đem cống nạp cho thằng bố đẻ của bọn chúng là Trung Cộng!

+Bước hai, kêu gọi người Việt trong và ngoài nước cùng hợp tác với chính quyền Việt Cộng, cùng đứng dưới bóng cờ đỏ sao vàng để “chống” giặc ngoại xâm Trung Quốc, vốn là bố đẻ của bọn việt gian cộng sản!

+Bước ba, trong khi dư luận trong và ngoài nước đang lo chúi đầu chú ý vào cuộc biểu tình thì bọn chúng sẽ thẳng tay đàn áp cuộc đấu tranh của giáo dân giáo xứ Thái Hà và dập tắt luôn!

Anh Tý:

– Chúng cháu đang chuẩn bị làm những câu khẩu hiệu treo nơi công cộng, đòi đa nguyên đa đảng, xin ông cho biết nên viết câu gì thiết thực nhất?

Ông Khải:

Như ông đã phân tích: đòi đa nguyên đa đảng là vô ích. Mình đang đi xe đạp mà cứ đòi cái bình chứa xăng cho xe Honda thì đòi để làm gì? Phải đòi cho được cái xe Honda rồi mới đòi quyền được mua xăng chứ! Chiếc xe Honda có thể ví như chế độ chính trị tự do dân chủ, còn quyền được mua xăng chính là đa nguyên đa đảng! Câu khẩu hiệu phải như thế này:

– ĐẢNG VIỆT GIAN CỘNG SẢN PHẢI CÚT VỀ TÀU! NẾU KHÔNG CÚT THÌ TOÀN DÂN SẼ NỔI DẬY LẬT ĐỔ CHÚNG BAY!

Phải có lập trường chính trị dứt khoát là quyết tâm LÀM CÁCH MẠNG lật đổ bạo quyền. Tám mươi triệu dân trong nước không lẽ không đủ sức để lật đổ bọn chúng? Đó là chưa kể chúng ta đang được cộng đồng người Việt tại hải ngoại làm hậu thuẫn và được sự đồng tình ủng hộ của nhiều nước và nhiều tổ chức trên thế giới! Không cần phải súng ống gì cả, lực lượng công nhân viên chức và nông dân trong nước, khoảng 15 triệu người, với sự ủng hộ của công an và bộ đội cứ thay phiên nhau đình công, lãng công, sẽ làm tê liệt guồng máy quốc gia rồi làm cho cả chế độ của bọn việt gian cộng sản phải sụp đổ! Đây cũng là một hình thức đấu tranh bất bạo động nhưng không phải là đường lối XIN-CHO mà các đảng phái dỏm, cò mồi đang cố lèo lái chúng ta đi theo hướng đó! Và cháu cần nhớ điều này:

Thằng Nguyễn Tấn Dũng nó mới ký hiệp ước dâng luôn bốn thành phố cho giặc Tàu, đó là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và Lạng Sơn. Nó gọi là “hợp tác kinh tế” nhưng thực chất là dâng đất cho giặc Tàu. Bọn giặc Tàu sẽ nuốt hết đất nước chúng ta bằng hình thức xâm thực kinh tế, xâm lăng văn hóa, bằng nạn di dân, trộn dân, lai giống dân, đồng hóa ..v..v.. Như vậy là chỉ khoảng vài chục năm sau nước Việt Nam sẽ biến mất trên bản đồ thế giới! Việt Nam sẽ biến thành một quận của Trung Cộng!

Vấn đề Hải-Hà-Quảng-Lạng là vấn đề quan trọng, rất lớn mà ông không thấy tổ chức nào lên tiếng phản đối, vạch mặt bọn việt gian bán nước. Cứ lo quay lòng vòng trong cái vòng lẩn quẩn đòi “đa nguyên đa đảng” thật là lãng phí thì giờ và công sức đấu tranh! Ông nói thật với cháu: giả sử bọn việt gian cộng sản nó có nhường cho mấy cái tổ chức đấu tranh một phần ba số ghế trong bộ chính trị cũng không làm đếch gì được nó, bởi vì nó vẫn chiếm đa số, vẫn nắm quyền hành tuyệt đối! Quyền hành thật sự chỉ tập trung trong tay khoảng năm sáu thằng trong bộ chính trị, còn mấy thằng khác chẳng qua cũng chỉ là chầu rìa!

Nói đến đây bỗng ông Khải hỏi anh Tý về tình hình làm việc trong hãng:

– Dạo này cháu làm việc như thế nào? Bọn cố vấn Trung Cộng có tôn trọng người Việt mình không?

Như một đứa bé thường xuyên bị bắt nạt, nay được “mẹ” hỏi, anh Tý thoải mái trút bầu tâm sự:

– Ối dào, ông ơi, nói ra thêm buồn. Nhục lắm ông ạ! Bọn cố vấn Tàu rất lộng hành, tha hồ hiếp đáp người Việt mình mà không có ai dám làm gì bọn chúng! Cháu đã từng chứng kiến mấy thằng cố vấn Trung Cộng bóp vú mấy nữ công nhân người Việt ngay tại trong hãng!

Ông Khải cau mày:

– Bọn Tàu mất dạy! Thế mấy cô công nhân đó có báo cáo với ban giám đốc công ty hay không?

Anh Tý:

– Mấy cô đó kêu khóc, đi báo cáo với ban giám đốc. Sau đó ban giám đốc triệu tập một buổi họp gồm 300 công nhân và mời các cố vấn Trung Quốc tới dự để …. “hòa hợp hòa giải”. Mấy thằng Tàu nó nói là công nhân Việt Nam “vu khống” các đồng chí chuyên gia Trung Quốc. Bọn chúng bắt các cô gái đó phải …. xin lỗi bọn chúng công khai trong buổi họp! Thật là ngược đời, vừa ăn cướp vừa la làng! Toàn bộ công nhân rất phẫn nộ, nhao nhao phản đối, đòi đình công và yêu cầu ban giám đốc phải có thái độ cương quyết để bảo vệ danh dự của người Việt. Nhưng ban giám đốc, cũng giống như …. bộ chính trị trung ương đảng, hai đầu gối đã quá mềm nên lưỡng lự, không dám lên án bọn cố vấn Tàu ….. Thế là thằng cố vấn Tàu bèn nổi giận tát luôn ông giám đốc hai bạt tai ngay trước mặt 300 công nhân người Việt! Vừa tát nó vừa chửi bằng tiếng Tàu có pha tiếng Việt: – Tỉu nà ma, ngọ tả nị xảy. Nị xực buồi pín! (đù má mày, tao đập chết cha mày! Mày ăn cặc tao!)

Trước tình trạng đó, toàn bộ công nhân bèn nổi loạn, đập phá bàn ghế và ùa lên sân khấu rượt mấy thằng cố vấn Trung Cộng. Nhưng may cho bọn chúng là trước khi họp, bọn chúng đã lường trước sự việc nên đã gọi sẵn công an đến canh gác ngay trong hội trường. Tuy vậy, mấy thằng Tàu cũng phải chạy trốn trong …. cầu tiêu, sợ hết hồn đến đái ỉa ra quần! Nếu không nhờ công an bảo vệ thì có lẽ bọn chúng đã bị tan xác vì sự phẫn nộ của giới công nhân!!!

Nghe xong câu chuyện của đứa cháu, ông Khải thở dài buồn rười rượi. Giọng nói của ông như lạc đi:

– Tổ tiên ta hiển hách chừng nào thì bọn chó việt gian cộng sản nó hèn và biến dân ta thành những nô lệ mạt hạng đến như vậy! Cháu biết không, trong hộp quà mà cháu gởi biếu ông có một tờ mẫu đơn ghi bằng chữ Tàu, nội dung là yêu cầu người công nhân nên “tình nguyện” tham gia vào câu lạc bộ thể thao và văn hóa. Thật ra, đây chính là một sự lừa bịp và ngụy trang. Bọn Tàu muốn những người dân trong bốn tỉnh Hải- Hà-Quảng-Lạng làm thủ tục xin được trở thành ….. kiều dân Trung quốc!!! Mình mà điền vào mấy tờ đơn đó tức là mình chối bỏ mình là người Việt và xin được trở thành người Tàu! Một hình thức ngụy trang để đăng ký “hộ khẩu” trở thành người Tàu!

Thấy ông nội buồn, anh Tý rụt rè hỏi một câu chót:

– Thưa ông, có một số người chủ trương rằng mình phải “đi sâu vào quỹ đạo của người Mỹ” để được người Mỹ che chở, chống lại bọn giặc Tàu xâm lược. Theo ý ông như thế nào?

Ông Khải thở dài ngao ngán:

– Hiện nay một số thằng chó săn cho việt gian cộng sản ở hải ngoại đang tích cực làm môi giới để lôi kéo người Mỹ can thiệp vào Việt Nam, để giúp bọn việt gian cộng sản được “xuống cọp an toàn”, được “hạ cánh an toàn”. Bọn chúng thường quảng cáo rùm beng rằng việt gian cộng sản ngày càng đang đi sâu vào quỹ đạo của người Mỹ!

Thật ra, chúng ta phải nhìn vấn đề như thế này: – việt gian cộng sản (nếu có) đi sâu vào ÂM ĐẠO của Mỹ thì ai sẽ được sướng? Hai thằng lưu manh đó nó địt đéo với nhau thì chỉ có bọn việt gian cộng sản và bọn chính quyền Mỹ, tư bản Mỹ bẩn thỉu nó SƯỚNG VỚI NHAU, chớ 83 triệu dân Việt đâu có sướng!!! Còn mấy thằng chó săn chầu rìa thì bất quá chỉ được liếm những chất nước nhờn rơi vãi ở bên ngoài! Tám mươi ba triệu người dân đen nghèo vẫn hoàn nghèo, vẫn tiếp tục phải đánh đổi bát máu để lấy bát cháo sống qua ngày! Theo sự thỏa thuận mua bán ngầm một cách bẩn thỉu, người Mỹ sẽ tiếp tục làm ngơ cho việt cộng đàn áp nhân quyền và tiếp tục ách cai trị độc tài đảng trị, đổi lại, bọn tư bản Mỹ sẽ được hưởng một số quyền lợi nào đó!!!

Một ví dụ cụ thể: sách báo của việt cộng tràn ngập ở hải ngoại trong khi đó sách báo ở hải ngoại thì bị cấm nhập vào trong nước. Sao người Mỹ không can thiệp? Rõ ràng là có một sự cấu kết bẩn thỉu giữa chính quyền Mỹ bẩn thỉu và bọn việt gian cộng sản thông qua cái đám chó săn làm môi giới cò mồi chính trị tại hải ngoại. Nếu văn hóa phẩm ở hải ngoại mà được tự do nhập vào Việt Nam thì ông bảo đảm chỉ trong vòng một năm là cái chế độ cộng sản sẽ bị sụp đổ!!!

Nói xong ông Khải đưa tay lấy cái điếu bát thuốc lào. Ông phải hút cho say để quên hết sự đời, quên bớt những phiền muộn mà đám chó săn đã từng làm cho cuộc đời ông bị đau khổ, làm cho đất nước ta mãi mãi phải khốn khổ, điêu linh. Và đó cũng là một trong những lý do mà ông thường hay nhậu thịt chó!

Trần Thanh
Ngày 13 tháng 9 năm 2008

Chú Thích:
* ( Xin bấm vào đạy để đọc )Bài viết “Đối Lập Chánh Trị” của giáo sư Nguyễn Văn Bông đã được đăng trên báo điện tử Tin Paris, mục Tham Luận: Đối lập chánh trị

* Giáo sư Nguyễn Văn Bông đi du học tại Pháp, đậu bằng thạc sĩ luật. Khi về nước, ông được bổ nhiệm làm Viện trưởng Học viện quốc gia Hành chánh và sau đó được tổng thống Thiệu mời giữ chức Thủ tướng chính phủ. Ông là lãnh tụ đảng đối lập Quốc gia Cấp tiến. Tháng 11 năm 1971, ông bị việt cộng ám sát chết.

* Nguyễn Thiếp (1723 – 1804), tên hiệu thường gọi là La Sơn Phu Tử, người tỉnh Hà Tĩnh. Ngoài ra, ông còn có những tên hiệu khác do người đời phong tặng như: Lam Hồng Dị Nhân, Lạp Phong Cư sĩ ..v..v..
Ông học rất giỏi, từng thi đỗ làm quan dưới triều Lê, sau đó từ quan về ở ẩn, dạy học. Vua Quang Trung đã viết thơ mời ông ra cộng tác ba bốn lần, cuối cùng ông nhận lời nhưng khi vua Quang Trung mất, ông lại lui về ở ẩn cho đến khi mất.

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Đối lập chánh trị

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 14, 2008

Đối lập chánh trị

– Nguyễn văn Bông –

I. Định nghĩa và các quan niệm về đối lập.

Nói đến Dân chủ là chúng ta nghĩ ngay đến vấn đề đối lập, mà đối lập là gì? Và được quan niệm như thế nào?

A. Định nghĩa.

Chúng ta đã dùng nhiều danh từ đối lập. Mà đối lập là gì? Thế nào là đối lập? Đứng về phương diện lịch sử mà suy xét, đối lập phát sinh ở sự thực hành chính trị và liên quan đến lịch trình biến chuyển của chế độ Đại nghị. Nói đến đối lập tức là nói đến cái gì ở ngoài đa số, ngoài chính phủ. Đối lập là khía cạnh nghị viện của vấn đề. Ý niệm đối lập cần phải được phân tích rõ ràng hơn nữa để phân biệt nó với những hiện tượng tương tự. Đối lập có ba đặc điểm: Một sự bất đồng về chánh trị, có tánh cách tập thể và có tính cách hợp pháp.

1. Trước nhất, đối lập phải là một sự bất đồng về chánh trị.


Hiện tượng đối lập chỉ có, khi nào những kẻ chống đối có thể tổng hợp lại tất cả những vấn đề được đặt ra , đưa những vấn đề ấy lên một mực độ đại cương và phán đoán theo một tiêu chuẩn chính trị. Có thể có một số đông người dân chận đường chận xá để phản đối một chính sách của chính phủ, có thể có một số đông sinh viên, một đoàn thể văn hóa hay tôn giáo biểu tình đòi hỏi những cái gì. Đành rằng những sự kiện ấy có thể có hậu quả chính trị, nhưng đó không phải là đối lập. Đó chỉ là một sự khước từ, kháng cự hay phản đối. Hiện tượng đối lập chỉ có, khi nào sự khước từ ấy, sự kháng cự ấy, sự phản đối ấy được chính trị hóa.

2. Là một sự bất đồng về chính kiến.

Đối lập phải có tính cách tập thể. Trong bất cứ lúc nào, luôn luôn có những người bất đồng chính kiến với chính quyền. Có thể có một thiểu số đông anh em, thỉnh thoảng họp nhau, rồi trong lúc trà dư tửu hậu, bàn quốc sự, có một thái độ chống đối đường lối, chủ trương của chính phủ. Đó là những kẻ chống đối, những cá nhân đối lập. Và những kẻ chống đối ấy có thể có trong chính thể Độc tài, Cộng sản. Đó không phải là đối lập.

Đối lập chỉ có khi nào sự bất đồng chính kiến ấy có tính cách tập thể, khi nào nó là kết quả biểu hiện một sự hành động có tổ chức của những kẻ chống đối. Nói đến sự hành động có tổ chức là nghĩ ngay đến chính đảng. Chỉ có đối lập khi nào có một chính đảng đối lập.

 

 

3. Là một sự bất đồng về chính kiến có tính cách tập thể, đối lập phải hợp pháp nữa.


Có thể vì một lý do gì mà một đoàn thể phải dùng võ lực chống lại chính quyền. Có thể vì một lý do gì mà một chiùnh đảng phải hoạt động âm thầm trong bóng tối. Những hành động ấy, đành rằng nó có tính cách tập thể và kết quả của một sự bất đồng chính kiến, không được xem là đối lập. Những hành động ấy chỉ được xem là những cuộc âm mưu phiến loạn hay kháng chiến, nó không còn là đối lập nữa. Vì đối lập chỉ hoạt động trong vòng pháp luật.

B. Các quan niệm về đối lập.

Một khi đã ý thức được danh từ “đối lập” và nhận định tầm quan trọng của nó trong cuộc sinh hoạt chính trị, vấn đề then chốt được đặt ra là xác định vị trí của đối lập trong các chính thể. Nếu tinh túy của dân chủ là lòng độ lượng, khoan dung và tự do chính trị, thì lẽ tất nhiên lòng độ lượng, khoan dung và tự do chính trị ấy được thể hiện trên bình diện chính trị, qua những quyền của đối lập và sự hiện diện của đối lập chỉ là kết quả của sự thừa nhận tự do chính trị.

Đối lập chỉ có giá trị và hiệu quả trong một chế độ mà triết học chính trị là Dân chủ tự do. Vì đối lập dựa trên tinh thần khoan dung, trên sự chiùnh đáng của bất đồng chính kiến. Vì thừa nhận tính cách tương đối của chân lý chính trị. Một quan niệm đối lập như thế, dựa trên Chủ nghĩa tự do, Chính thể độc tài không thể chấp nhận được. Trong chính thể này, chính quyền là tất cả, còn đối lập chẳng những vô ích mà còn nguy hiểm nữa. Vô ích vì những nhà độc tài luôn cho rằng ý thức hệ của mình là bất di bất dịch và vai trò của cơ quan công quyền không phải tìm lấy một ý chí đi sát với nguyện vọng của quốc gia mà trái lại chỉ có nhiệm vụ áp dụng mệnh lệnh của chính đảng nắm quyền lãnh đạo. Chẳng những vô ích, đối lập còn nguy hiểm nữa. Nguy hiểm cho sự thực hiện nguyện vọng của quần chúng, vì hành động của đối lập phân ly quần chúng. Bởi thế, đối lập cần phải được thanh trừng và những cái mà người ta gọi là Dân chủ, quyền tự do công cộng, những lợi khí mà đối lập dùng để họat động, lợi khí ấy cần phải được cấm nhặt.
Bị khước từ bởi những chính thể Độc tài, đối lập chỉ được thừa nhận trong chính thể Dân chủ, chẳng những trên bình diện triết lý chính trị, đối lập còn được chứng minh qua khía cạnh cuộc điều hành thực tiễn của định chế. Chính sự hiện diện của đối lập phản ảnh tính cách chân chính của ý chí quốc gia. Trong những chế độ mệnh danh là “nhất tề – nhất trí”, trong những chế độ mà người ta chỉ nghe 99 phần trăm, đành rằng không phải không thể có được, nhưng sự vắng mặt của đối lập làm cho người ta lắm lúc phải hoài nghi. Chỉ trên bình diện thực tại, vai trò của đối lập chứng tỏ rằng, mặc dù bị loại ngòai hệ thống chính quyền, đối lập cần có mặt và phát biểu.

Một quan niệm quá ư rộng rãi về Dân chủ, lẽ tất nhiên – dựa trên một sự đối lập chân thành, xây dựng. Nhưng ý niệm đối lập ngày nay quá biến chuyển. Một hiện tượng mới đã xảy ra, một đối lập, không phải trong chính thể, mà chống chính thể Dân chủ, một sự đối lập hoàn toàn phủ nhận nguyên tắc Dân chủ, một sự đối lập về ý thức hệ. Tất cả vấn đề là thử hỏi, trước một sự đối lập như thế, thái độ của chính thể Dân chủ phải như thế nào. Một vấn đề hết sức phức tạp, tế nhị và trên bình diện quốc tế, những giải pháp bảo vệ chính thể Dân chủ tùy thuộc hoàn cảnh thực tại chính trị của mỗi nước.

Dù sao, để trở lại vấn đề đối lập trong chính thể Dân chủ, không ai có thể chối cãi tính cách chính đáng của sự hiện diện của đối lập. Nhưng đối lập, chẳng những phải có mặt mà còn phải có thể phát biểu nữa. Mà đối lập phát biểu để làm gì và hành động của đối lập sẽ có tác dụng gì trong guồng máy chính trị quốc gia? Và theo thủ tục nào, dưới hình thức nào, với những bảo đảm nào, đối lập có thể mạnh dạn và thành thực phát biểu ý kiến?

Đó là hai vấn đề cực kỳ quan trọng, vấn đề vai trò của đối lập và vấn đề qui chế của đối lập, hai vấn đề căn bản mà chính thể Dân chủ cần phải giải quyết một cách phân minh để ổn định cuộc sinh hoạt chính trị và để đối lập làm tròn sứ mạng của nó.

 

 

II- Vai trò của Đối Lập.

Trong chính thể Dân chủ thật sự, hiện diện của đối lập là một điều hết sức chính đáng. Chính đáng vì thừa nhận đối lập tức là thừa nhận tự do chính trị. Chẳng những chính đáng, đối lập lại còn cần thiết nữa. Cần thiết cho phẩm tính, đối lập còn cần thiết cho sự hiện hữu của chính quyền nữa. Trong cuộc sinh hoạt chính trị ổn định, đa số ở đâu ra, chính quyền hiện tại ở đâu ra, nếu không phải là sự kết tinh của sự tranh chấp với đối lập? Trên khía cạnh này, đối lập đóng vai trò căn bản, vai trò hợp tác với chính quyền, đó là hai khía cạnh của vai trò đối lập.

A. Vai trò hạn chế và kiểm soát chính quyền

1- Hạn chế và kiềm soát chính quyền.


Đó là một trong những hoạt động cốt yếu của đối lập ở bất cứ lúc nào trong cuộc sinh hoạt chính trị. Trước hết, ở giai đoạn tuyển cử Đối lập có mặt, có thể phát biểu ý kiến, đối lập có quyền phủ nhận làm cho chính quyền bỏ bớt thái độ cứng rắn, những chương trình mỵ dân, những hứa hẹn hão huyền. Đối lập chận đứng lại những tư tưởng hẹp hòi, những quan điểm thiển cận, tư tưởng và quan điểm không phải của một chính phủ quốc gia mà hoàn toàn lệ thuộc vào mệnh lệnh của đảng phái.

2- Đối lập bảo đảm tính cách đích xác công khai của những quyết định của nhà nước.


Thật vậy, khi mà chúng tạ nói đến ý chí của toàn dân, ý chí của quốc gia, cần phải nhận định rằng đó chỉ là ý chí của đa số. Ý chí của đa số là ý chí của quốc gia, cái phương trình ấy chỉ có giá trị khi nào quyết định của đa số được chấp thuận trong một bầu không khí cởi mở, sáng tỏ và tự do. Chính đối lập bảo đảm tính cách đích xác của quyết định của đa số và bắt buộc đa số nắm chính quyền phải tham dự một cuộc tranh luận công khai. Vẫn biết rằng, trong chế độ Tổng Thống hay trong chế độ Đại nghị mà chính phủ có đa số ở Quốc Hội, đối lập không thể ngăn cản chính quyền hành động theo ý của họ. Nhưng, tự do chỉ trích, đối lập bắt buộc địch thủ phải tiết lộ dự định của họ, những lý do của một quyết định của họ. Và như thế, đối lập bảo đảm rằng, khi một biện pháp hay chính sách được chấp thuận, những lý lẽ chống đối hay bênh vực biện pháp, chính sách ấy, đều được công khai đưa ra dư luận. Vai trò hạn chế và kiểm soát chính quyền, đối lập đảm đương một cách thiết thực hơn nữa trên diễn đàn Quốc Hội.

3 – Với phương tiện nào đối lập đóng vai trò của nó trên bình diện nghị viện?


Đành rằng cơ cấu chính phủ nước này không giống nước kia, nhưng trong bất cứ chính thể Dân chủ nào, người ta cũng tìm thấy từng ấy phương tiện cho phép đối lập phát biểu công khai ý kiến của họ. Trong những lúc bàn cãi và biểu quyết ngân sách quốc gia, sự hiện hữu của đối lập bắt buộc chính quyền bỏ hẳn chương trình mỵ dân, thái độ cứng rắn, và nhứt là chính quyền hết sức dè dặt khi bắt buộc toàn dân phải hy sinh quá độ. Cuộc đối thoại giữa chính phủ và quốc hội – chung qui giữa chính quyền và đối lập – qua những cuộc tranh luận, những câu hỏi, những cuộc tiếp xúc với ủy ban hay giữa phiên họp công khai là những dịp mà các vị Dân biểu đối lập nói lên những lạm dụng của cơ quan hành chánh, hay nhận được – qua cuộc trình bày của các vị Bộ trưởng – tin tức về một vấn đề nhất định hay câu trả lời đích xác. Vai trò hạn chế và kiểm soát chính quyền được biểu hiện một cách thiết thực nữa qua nguyên tắc trách nhiệm chính trị. Chúng ta biết rằng trong chế độ Đại nghị, chính phủ bắt buộc phải từ chức khi đa số ở Quốc Hội biểu quyết chống chính phủ. Yếu điểm này sẽ là một ảo mộng nếu không có một đối lập thực sự.
Vậy qua từng giai đoạn của sự khởi thảo chương trình và trong hành động hàng ngày, chính quyền luôn luôn để ý đến lập trường của đối lập, tự kiểm soát lấy mình và trong việc ấn định kế hoạch quốc gia, lắm lúc phải nhận lấy chủ trương của đối lập. Thái độ này không nhằm làm vui lòng đối lập mà cho toàn dân, vì để ý đến lập trường của đối lập trong việc xác định đường lối chính trị, chính quyền hướng về nguyện vọng của quốc gia.

4 – Hạn chế và kiểm soát chính quyền.


Vai trò tối quan trọng này, không phải đối lập luôn luôn đảm đương với tất cả hiệu quả thật sự. Không, vấn đề không phải ở chỗ đó. Vấn đề là ở khía cạnh tâm lý của toàn dân. Vấn đề là mỗi công dân có thể chắc chắn rằng, ngoài Quốc Hội hay trên diễn đàn Quốc Hội, có những người đại diện có thể phát biểu ý kiến của mình, không phải theo đường lối của chính quyền mà khác hẳn chính quyền. Và dù rằng ý kiến không được chấp thuận đi nữa, họ có cảm giác rằng sự kiện ấy do nơi quyền lợi tối cao của quốc gia, chứ không phải vì tính thị hiếu nhất thời, chuyên chế. Cần phải nhận định rằng, đối lập không những là tượng trưng cho một khuynh hướng chính trị, đối lập còn có giá trị tự bản chất nó nữa. Vì chỉ có đối lập và bởi đối lập mà việc kiểm soát của toàn dân mới có tính cách chân thành và hiệu lực trong một chế độ thương nghị, không những hạn chế, kiểm soát chính quyền, đối lập còn cộng tác với chính quyền nữa.

B. Vai trò cộng tác với chánh quyền

Cho rằng đối lập cộng tác với chính quyền, đó là một khẳng định có hơi mâu thuẫn. Tuy nhiên chính đó là khía cạnh tích cực của vai trò đối lập. Và chúng ta có thể quả quyết rằng cái lợi của chính quyền là dung túng đối lập.

1 – Qua những cuộc tranh luận trong một bầu không khí cởi mở, những ý tưởng khích động tinh thần, những định kiến bớt phần cứng rắn, những ý kiến được chọn lọc và uy quyền sáng tỏ.
Bất cứ một chính quyền nào cũng có khuynh hướng tự giam mình trong tình trạng cô đơn, chỉ nghe lời của đồng chí và lấy quyết định phù hợp với ảo vọng hoang đường qua những nhận xét riêng biệt của mình về thời cuộc. Đối lập có mặt, nhắc lại cho đoàn thể ở chính quyền tính cách phức tạp của thực tại chính trị, đem lại những màu sắc chính trị và đôi khi phản kháng lại những truyền tin báo cáo đơn phương của chính phủ. Qua những hành vi tích cực ấy, chính quyền thâu lượm được những dấu hiệu quý giá về tình trạng tinh thần của dư luận. Chẳng những trong lãnh vực thông tin, vai trò cộng tác với chính quyền của đối lập nổi bật lên nữa qua khía cạnh nghị viện.

2 – Tất cả những công việc thuộc về thiết lập chương trình nghị sự, về những vấn đề cần phải được thảo luận, những dự án ưu tiên, những cuộc tiếp xúc tóm lại, vấn đề liên hệ đến việc tổ chức công tác của Quốc Hội, sự thỏa thuận giữa đối lập và chính quyền là điều kiện cốt yếu của một tình trạng chính trị ổn định. Và lịch sử đã chứng minh rằng, trong những trường hợp đặc biệt, trong những tình trạng khẩn cấp, tối cần, trong những trường hợp mà sinh tồn của quốc gia được đặt ra, trong những trường hợp ấy, lịch sử đã chứng minh rằng đối lập từ khước độc lập và lắm lúc lại ủng hộ chính quyền để bảo vệ uy thế của chính quyền lúc phải đương đầu với mọi cuộc ngoại xâm.

3 – Hướng dẫn chính quyền tham gia vào cuộc điều hành công tác Quốc Hội, một sự đối lập có tổ chức, có hệ thống đóng một vai trò cực kỳ quan trọng là chủ trương một chính sách để thay thế cho chính sách chính quyền. Cần phải nhấn mạnh đặc điểm này. Trong những xứ mà tình trạng chính trị chưa ổn định, trong những xứ mà đối lập vắng mặt, người ta luôn luôn lo ngại cho tương lai chính trị quốc gia. Ai sẽ thay thế nhà lãnh tụ hôm nay? Viễn tượng những cuộc cách mạng đẫm máu, những cuộc chính biến, viễn tượng những gián đoạn chính trị đầy hậu quả làm cho cuộc sinh hoạt chính trị kém phần tích cực. Đối lập, trong chính thể Dân chủ, cho phép Quốc gia xoay chiều, đổi hướng trong khung cảnh của định chế và không tổn thương đến sự liên tục của cuộc sinh hoạt chính trị. Đối lập là chính phủ của ngày mai, đối lập tượng trưng sự tin tưởng vào định chế quốc gia, đối lập duy trì sự liên tục của chính quyền.
Một sự đối lập hữu hiệu là một lực lượng tích cực. Cần phải nhận định rằng đối lập không phải là lực lượng luôn luôn chống đối chính quyền. Đối lập và chính quyền là hai yếu tố căn bản của thế quân bình chính trị trong chính thể Dân chủ.


Hạn chế và kiểm soát chính quyền, cộng tác với chính quyền, một khi đã hiểu như thế, vai trò của đối lập, vấn đề được đặt ra bây giờ là thử hỏi trong điều kiện nào đối lập có thể làm tròn sứ mạng của nó trong một bầu không khí khoan dung, khi mà một số quyền hạn của đối lập được xem là bất khả xâm phạm và đồng thời đối lập thông suốt nhiệm vụ của mình. Kê khai những quyền hạn ấy, ấn định nghĩa vụ của đối lập, tức là bàn đến vấn đề quy chế của đối lập.

III – Qui chế của Đối Lập

Vấn đề ấn định qui chế của đối lập tùy thuộc mỗi quan niệm riêng về đối lập. Nếu đối lập chỉ được xem là một quyền đối lập, nó chỉ là hậu quả tất nhiên của thể chế chính trị Dân chủ tự do. Đối lập tức là có quyền xử dụng tất cả những tự do hợp pháp. Trái lại, nếu đối lập được đưa lên hàng một chức vụ rất cần thiết cũng như chính quyền, nếu đối lập được xem không phải là một việc bất đắc dĩ, mà là một liều thuốc kích thích chính quyền, thì theo quan niệm này, quy chế chẳng những bảo đảm tự do của đối lập mà còn chú ý tới công hiệu của nó nữa. Tổ chức đối lập, định chế hóa đối lập đó là quan niệm thứ hai của đối lập.


Nhưng dù có được định chế hóa hay không, đối lập để có thể đảm đương vai trò chủ yếu của nó, phải là một đối lập tự do và xây dựng. Nói đến đối lập tự do là phải nghĩ ngay đến quyền hạn của nó; nói đến đối lập xây dựng là nghĩ đến ngay nghĩa vụ của nó.

A – Một trong những quyền hạn của Đối Lập

1 – Là quyền không thể bị tiêu diệt.


Vì đối lập luôn luôn là một chướng ngại, chính quyền hay có khuynh hướng thừa một cơ hội nào đó, tẩy trừ phần tử rối loạn ấy đi. Vẫn biết rằng, có những lúc, những giờ phút nguy nan, đối lập hoặc tự mình, hoặc thỏa thuận với chính quyền, ngưng hẳn những phê bình hay chỉ trích. Nhưng đó chỉ là im hơi, lặng tiếng; chớ quyền sinh tồn vẫn là quyền tối cao của đối lập. Tiêu diệt đối lập tức là dọn đường cho Chủ nghĩa độc tài. Đối thoại trở thành độc thoại.

2 – Quyền thứ hai của đối lập là quyền phát biểu.

Và quyền phát biểu này được thể hiện bởi những cái mà người ta gọi là tự do công cộng. Số phận của đối lập sẽ ra sao nếu đối lập không tự do có ý kiến khác hẳn ý kiến chính quyền, và tự do phát biểu ý kiến ấy trên báo chí và sách vở? Nếu đối lập không được tự do hội họp? Chỉ có đối lập thật sự trong một chế độ mà các tự do này được ấn định và chế tài một cách hợp lý.

Chúng ta có nói rằng thừa nhận đối lập tức là thừa nhận tính cách tương đối của chân lý chánh trị Dân chủ. Tính cách tương đối này được thể hiện qua sự tự do tuyển cử. Tự do tuyển cử tức là tự do trình ứng cử viên, tự do cổ động và nhất là sự bảo đảm tính cách chân thành của kết quả cuộc bầu cử.

Trên bình diện đại nghị, đối lập cần phải được đặc biệt bảo vệ. Trường hợp Dân biểu đối lập bị bắt bớ hay tống giam không phải là những trường hợp hiếm có. Vì thế mà quyền bất khả xâm phạm của Dân biểu là một thực tại.

Những quyền hạn mà chúng tôi đã sơ lược kê khai không phải chỉ dành riêng cho đối lập. Đó là quyền bảo vệ tất cả công dân trong chính thể Dân chủ. Nhưng phải thành thật mà nhận định rằng tự do phát biểu, tự do tuyển cử, quyền bất khả xâm phạm v..v.. là những điều kiện quí giá cho đối lập luôn luôn bị chính quyền đe dọa.

Đó là điều kiện tối thiểu. Một quan niệm cấp tiến đã đi đến chỗ định chế hóa đối lập. Đối lập trở thành một thực thể có hiến tính. Đó là trường hợp của Anh quốc vậy.

Ở nước Anh, đối lập có một tước vị chính thức “đối lập của Nữ hoàng”. Và đối lập của Nữ hoàng có cả chính phủ riêng của họ, một nội các bóng trong Hạ nghị viện. Vị lãnh tụ đối lập của Nữ hoàng là một nhân vật cao cấp đầy uy thế, luôn luôn được mời đến cùng vị Thủ tướng tham dự những buổi lễ chính thức và luôn luôn được tham khải ý kiến về những vấn đề chính trị trọng đại. Và xin nhắc lại một điều rất lý thú là “nhà nước lại phải trả lương cho vị lãnh tụ đối lập”.
Nhưng dù sao, định chế hóa hay không, quyền sinh tồn và những điều kiện thuận tiện để tự do phát biểu, chỉ có ý nghĩa khi nào đối lập tin tưởng có quyền nắm lấy chính quyền. Chính sự bình đẳng trong vận hội ấy làm cho cuộc sinh hoạt chính trị thêm phần phấn khởi.

Đối lập có vài quyền hạn để đảm đương vai trò của nó. Nhưng đối lập không phải chỉ có quyền. Một số nghĩa vụ hạn chế hoạt động của đối lập, nghĩa vụ nhằm mục tiêu tôn trọng tinh thần Dân chủ.

 

 

B – Những nghĩa vụ của Đối Lập

1. Một trong những nghĩa vụ của đối lập là thừa nhận qui luật đa số.


Những ai quan tâm đến cuộc bầu cử đều rõ rằng có thể xảy ra trường hợp mà vị Tổng thống đắc cử hay một chính đảng chiếm đa số ở Quốc Hội trong lúc phiếu của mình lại kém địch thủ thất bại. Nhưng đó chỉ là hậu quả kỹ thuật của luật tuyển cử. Và công lý là một chuyện, mà hợp pháp là một chuyện khác nữa. Trường chính trị là một cuộc tranh đấu công nhận qui luật đa số, tức là thẳng thắn tham gia cuộc đấu tranh bởi đó là luật lệ của nguyên tắc dân chủ.

2. Nghĩa vụ thứ hai của đối lập là hoạt động một cách ôn hòa xây dựng và có tinh thần trách nhiệm.

Những chỉ trích vớ vẩn, những vu khống không có căn bản chính trị của những kẻ tự cho là chính khách, những phê bình chỉ đem lại hoài nghi và bất mãn, đó là những tệ đoan của sự đối lập không xứng đáng với danh hiệu của nó. Vì đâu lại có một hiện tượng bất thường như thế? Ngoài tham vọng cá nhân, hiện tượng này phát sinh từ một hệ thống chính đảng nhất định và liên quan đến khía cạnh ý thức hệ của một vài chính đảng.

Trong một xứ, một hệ thống đa đảng là một thực tại chính trị, khi mà không một chính đảng nào chiếm đa số hay ưu thế trên sân khấu chính trị, Chính phủ luôn luôn là một chính phủ liên hiệp. Mà liên hiệp tức là tập hợp những khuynh hướng mâu thuẫn, dung hòa những chính sách tương phản. Chính cái viễn tượng không bao giờ tự mình chiếm được hoàn toàn quyền và thực hiện những chương trình hứa hẹn làm cho chính đảng thiếu ý thức xây dựng và tinh thần trách nhiệm. Tính cách rời rạc và chia rẽ của đối lập, chỉ biết phá hoại biến đổi hẳn mối tương quan truyền thống giữa đa số và thiểu số. Đối lập không còn là đối lập ngoài và chống chính phủ, đối lập ở đây là đối lập trong chính phủ.

Chẳng những thế, khía cạnh ý thức của một vài chính đảng là nguyên do thứ nhì của sự thiếu tinh thần xây dựng. Đối lập chỉ có nghĩa trong một khung cảnh chính trị nhất định. Nếu chúng ta đồng ý về một nguyên tắc căn bản, nếu chúng ta thừa nhận chủ quyền nhân dân, nguyên tắc phân quyền, tự do chính trị, nếu chúng ta tôn trọng nhân vị, sự độc lập của Thẩm phán hay quyền tự do phát biểu, thì cuộc tranh chấp chính trị chỉ nằm trên lãnh vực thực tiễn qua những nguyên tắc thứ yếu. Trái lại, nếu đối lập nhằm chống lại, không phải một khuynh hướng chính trị hay một chính sách nhất định, mà chính cả nền tảng của xã hội, nghĩa là chống cả chính thể, thì khẳng định rằng đối lập là chính phủ tương lai không còn giá trị nữa. Vì đặc tính của đối lập về ý thức hệ là chiếm chính quyền để rồi thủ tiêu quyền đối lập.

Trong một tình trạng như thế, trước tình trạng mà đối lập không thi hành nghĩa vụ của nó, những quyền hạn không còn lý do tồn tại nữa. Và “Chính thể dân chủ” cần phải có những biện pháp thích nghi để đối phó. Sa thải những phần tử bất chính trong hành chính, bắt buộc đối lập phải có một chương trình và có năng lực nắm chính quyền trước khi lật đổ chính phủ, sửa đổi luật bầu cử, đặt ngoài vòng pháp luật những chính đảng quá khích, đó là một vài ví dụ cụ thể về biện pháp được áp dụng để bảo vệ Chính thể dân chủ.

 

 

IV – ĐốI lập trong các quốc gia chậm tiến

Phác họa như thế, vai trò và “qui chế đối lập” trong “chính thể dân chủ” qua sự biến chuyển của ý niệm trong xã hội cận đại, chúng ta không khỏi tự nhủ rằng đó là lý tưởng. Và tự hỏi rằng lý tưởng ấy có phù hợp với những quốc gia trên đường phát triển, với hiện tình những nước vừa thu hồi độc lập.

Thực tại chính trị cho chúng ta biết rằng, đối lập nếu không hoàn toàn vắng mặt, thì chỉ được dung túng một phần nào, một phần nhỏ nào, trong những nước mới này, những nước mệnh danh là Dân chủ và đồng thời cũng được xem là những chính thể không độc tài. Tại sao lại có một sự kiện oái oăm như thế?

Lý do thứ nhất mà người ta đưa ra là sự đe dọa trầm trọng của độc tài Cộng sản. Những nước mới này, là những nước bị nạn Cộng sản đe dọa và có nước đang chiến đấu một mất một còn với Cộng sản. Dung túng đối lập tức là cho Cộng sản cơ hội núp sau lá cờ đối lập để phá hoại nền dân chủ. Đối lập Cộng sản là đối lập về ý thức hệ, và chúng ta biết rằng đối lập về ý thức hệ là đối lập chống chính thể Dân chủ.

Lý do thứ hai là trình độ giáo dục của quần chúng. Người ta cho rằng dân chúng chưa có một trình độ giáo dục về chính trị khá đầy đủ để cho có thể xử dụng một cách hoàn hảo những quyền tự do công cộng. Và như thế, đối lập chỉ có hại vì nó sẽ là bức bình phong của những tham vọng cá nhân của những kẻ không cơ sở chính trị chỉ dựa trên cuộc chính đồ sinh hoạt. Hơn nữa, thì giờ gấp rút, nâng cao mực sống của toàn dân là một việc tối cần, lúc kiến quốc không phải lúc bàn cãi, phê bình hay chỉ trích.

Những lý do mà chúng ta vừa nêu ra rất là chính đáng. Nhưng chính đáng không có nghĩa là phải chấp nhận. Trong lĩnh vực chính trị và xã hội, sự hoàn hảo của một định chế chính trị là kết quả của kinh nghiệm. Làm sao hy vọng một nhận thức khá cao của quần chúng, nếu hôm nay không có học tập hướng về Dân chủ? Không phải nhất thiết áp dụng tất cả những gì đã có hay đang có ở Tây phương. Thực tại chính trị xã hội văn hóa của mỗi nước là yếu tố căn bản. Nhưng điều kiện tối thiểu phải có để đối lập được phép khởi đầu và phát triển.

Vả lại, vì thiếu đối lập mà Cộng sản và những phần tử phản Dân chủ nắm mất chính nghĩa đối lập và lợi dụng khai thác những bất mãn, than phiền của quần chúng.

Vậy để tránh mọi sự ngộ nhận giữa chính quyền và nhân dân, để cho trạng thái tinh thần khủng hoảng của dư luận được thể hiện một cách ôn hòa, để cho phần tử phiến loạn hết cơ hội lợi dụng tuyên truyền và khai thác, vấn đề đối lập tự do và xây dựng cần phải được đặt ra. Và như thế không những trong những nước tiền tiến, mà chính ngay trong những tân quốc gia, công cuộc kiến quốc và cứu quốc, công cuộc xây dựng nền Dân chủ phải là kết tinh của hoạt động song phương giữa chính quyền và đối lập

 

 

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 3 Comments »

TOÀN DÂN VIỆT NAM HẢY ĐỨNG LÊN ĐẠP ĐỔ BẠO QUYỀN

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 14, 2008

TOÀN DÂN VIỆT NAM HẢY ĐỨNG LÊN ĐẠP ĐỔ BẠO QUYỀN

TRƯƠNG MINH HÒA.

” NHẤC ĐƯỜNG ranh giới lui, NHƯỜNG ĐẤT.
HẢO ĐÃI quan thầy, HẢI ĐẢO dâng”.

Trong số những tên Việt gian thuộc đảng Cộng Sản Việt Nam, thì cái tên thủ tướng” không người lái” hay” tưởng thú” Phạm Văn Đồng, là người có nhiều điểm đáng ghi nhớ từ hình dáng với cặp mọi đẹp nhất nước; lời nói thì” cực kỳ chất lượng, phản ánh trung thực” của thứ” đạo đức cách mạng” và” nền văn hóa ưu việt xã hội chủ nghĩa, đỉnh cao trí tệ nòi người”, hắn cho những người bỏ nước ra đi tìm tự do là:” bọn đĩ điếm du côn”, còn hành động thì ngàn năm lịch sử vẫn nguyền rủa là ký văn bản dâng đất cho ngoại bang. Cái ngày 14 tháng 9 năm 1958, làm cho nước Việt Nam mất đi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, dù hai nơi nầy nằm trong tay của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, từng đem máu xương bảo vệ qua trận hải chiến lịch sử năm 1974 với quân xâm lược Trung Cộng.

Trên đời nầy, có tên nào gian manh bằng thằng Phạm Văn Đồng và thầy hắn là thằng Hồ Chí Minh, cùng đồng bọn là đảng Cộng Sản Việt Nam. Luật pháp của bất cứ quốc gia nào trên thế giới về” hộ, hình” đều coi những gian manh, đem bán nhà, đất hay bất cứ thứ gì do người khác làm chủ là có tội lừa đảo, tùy theo nặng nhẹ mà tòa tuyên án. Những người làm trong ngành địa ốc là biết rất rõ chuyện buôn bán bất động sản của từng căn nhà, chỉ khi nào chủ nhân đồng ý và ký tên mới hợp pháp; huống cho đây là chuyện bán cả hai quần đảo của hơn 83 triệu người cùng làm chủ.

Tục ngữ có câu” bán trời không mời thiên lôi” để chỉ những tên gian manh, có” nghiệp chuyên” lừa đảo, lương lẹo, bán cầm những thứ không do chúng sở hữu cho kẻ khác; ngày nay trong các tôn giáo dưới chế độ vô thần Cộng Sản, một số tu sĩ Phật Giáo, Công Giáo, cam tâm làm” đầy tớ trung thành” của lũ vô thần Cộng Sản, lập ra các giáo hội quốc doanh, đó là lũ người:” Bán Phật không cần thị thực của Bồ Tát-Bán Chúa khỏi cần mời thiên sứ làm chứng”. Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa, thế mà tên Hồ Chí Minh dám chỉ đạo cho đàn em là thằng Phạm Văn Đồng ký bán, trên bình diện pháp lý, thì kẻ bán là bất hảo và người mua là Trung Cộng cũng là đồng lõa mua đồ gian. Thế mà kẻ bán, người mua vẫn” thanh tâm trường an lạc” coi việc buôn bán là bình thường trong suốt thời gian dài.

Tập đoàn đảng Cướp Cộng Sản Việt Nam không có tư cách pháp nhân, quyền hạn để đụng tới bất cứ cái gì thuộc tài sản quốc gia, con người….. Đây là một đảng băng bất lương, được sự hậu thuẫn, viện trợ vũ khí của hai băng đảng lớn là Nga, Tàu, lợi dụng thời cơ để” cướp chính quyền” từ tay nhân dân. Bọn cướp nầy tự biên tự diễn, nặn ra một cơ cấu Nhà Nước, rồi đặt ra những chức vụ thủ tướng, chủ tịch nhà nước, đẻ ra thêm cơ chế” đảng cử dân bầu”, là thứ” xưởng gật” qua cái gọi là quốc hội….tất cả những dàn dựng nầy không thể lừa được ai, khi mà toàn bộ hệ thống nhà nước đều do đảng chỉ huy qua câu đầy mâu thuẫn, tự nó vạch trần cái phi lý, gian trá:” nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý, đảng lãnh đạo”, tất cả quyền hành đều nằm trong tay một thiểu số, dưới sự chỉ đạo của tên Tổng Bí Thư, là chức vụ” đầu lãnh” đảng cướp.

Cái cơ cấu nhà nước Cộng Sản ấy cũng không có quyền đại diện cho nước Việt Nam để bang giao, hay ký kết bất cứ hiệp định nào với các nước; vì nhà nước và đảng Cộng Sản đều không do dân bầu ra, theo đúng nguyên tắc dân chủ và quyền dân tộc tự quyết mà thế giới và tổ chức Liên Hiệp Quốc công nhận. Do đó các nước dân chủ cũng cần nên biết điều nầy hầu không bị hố, nhất là các ký kết lâu dài; những doanh nhân ngoại quốc vào Việt Nam đầu tư, kể cả những Việt kiều về làm ăn, xây nhà… cũng nên cẩn thận, vì sau nầy khi chế độ Cộng Sản sụp đổ, thì những hiệp ước, ký kết giữa đảng cướp và các chính phủ tự do, cá nhân, công ty đều không mang giá trị, vì tự nó xây dựng trên nền tảng” phi pháp”, giống như hình thức mua đồ, làm ăn với băng đảng cướp vậy. Từ đó, cái văn bản dâng đảo Hoàng Sa và Trường Sa của tên thủ tướng Phạm Văn Đồng là không có giá trị về mặt pháp lý, đó chỉ là sự” mặc cả, trao đổi” bất chính giữa hai băng đảng cướp Trung Cộng và Việt Cộng mà thôi.

Đất nước Việt Nam đã và đang bị ký bán, dâng hiến đất đai, hải đảo cho quan thầy Trung Cộng từ lâu, ngay trong thời băng đảng Cộng Sản Việt Nam còn suy yếu, cần phải dựa vào Trung Cộng để phát triển lực lượng, lợi dụng xương máu của dân Việt để chỉ phục vụ quyền lợi ngoại bang. Trong thời kỳ chiến tranh với chiêu bài” đánh Tây giành độc lập”, là độc chiêu của Hồ Chí Minh, sau khi hắn mời Pháp sang cai trị lần thứ hai sau đệ nhị thế chiến và cũng chính hắn kêu gọi toàn quốc kháng chiến, gian manh vô cùng. Lúc đó, Trung Cộng làm chủ Hoa Lục từ 1949, lợi dụng thời cơ, âm thầm dời một số cọc biên giới từ Mường Tè đến Mống Cái, khiến Việt Nam bị mất đất từ đó. Sau khi Pháp thua trận Điện Biên Phủ, lợi dụng lúc đảng Cộng Sản không có hải quân, vì Pháp rút về hết, thế là Trung Cộng chiếm một số hòn đảo của Việt Nam mà Hồ Chí Minh làm thinh để làm vừa lòng quan thầy. Sau 1954, tình hữu nghị Việt-Trung có lúc mặn nồng như” răng với môi”, nên Hồ Chí Minh thường cỡi chiếc phi cơ bản số BH-195 bay sang Bắc Kinh để cùng với Mao Trạch Đông ăn nhậu những cao lương mỹ vị, trong đó có món chân vịt chiên, uống rượu Mai Quế Lộ, Mao Đài, cùng nhau hút Á Phiện thả cửa và hành lạc với các” nhi đồng của Mao Chủ Chí” cung cấp; theo một số người từng sống ở ngoài Bắc, thì tên Việt gian, dâm tặc Hồ Chí Minh từng sống lâu năm trên đất Tàu, là người” ghiền vú Xẩm và món ăn Tàu” nên thích sang để hưởng lạc. Tụ điểm ăn chơi, tiếp nối truyền thống” vua Tàu” được hai tên cầm đầu hai băng đảng cướp nầy thường thực hiện ở Điếu Ngư Đài ( nơi mà ngày xưa vua chúa đến giải trí, câu cá…) và vài địa điểm sang trọng khác, do” tàn dư chế độ phong kiến để lại”. Mao biết rất rõ cái” cuộc đời và sự nghiệp trác táng, dâm ô” của tên đàn em Hồ Chí Minh, nên sau nầy, khi muốn gây áp lực để trục lợi, Mao thường dọa đem công bố cuộc đời tư của vị cha già dân Vẹm, được tô son trét phấn là:” không bao giờ nghĩ đến vợ con, gia đình, suốt đời lo cho dân cho nước”, do đó, Hồ Chí Minh phải tuân theo lịnh quan thầy triệt để, ngoài áp lực nước lớn, còn áp lực cá nhân qua đời tư. Cho nên chuyện tên thủ tướng Phạm Văn Đồng vâng lịnh tên thầy Hồ Chí Minh làm liều, làm bậy, công nhân hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam Cộng Hòa làm chủ là điều ngang ngược, nhưng làm vừa lòng quan thầy Trung Cộng. Hồ Chí Minh từng biện minh cho hành vi bán nước của hắn và đồng đảng, hắn cho là chuyện” hiến tặng” vài hòn đảo nhỏ cho Trung Cộng không quan trọng, vì đảo toàn là” phân chim”, trong khi Trung Công cho Việt Nam rất nhiều, nhất là vũ khí để” đánh Tây, Mỹ”, miệng lưỡi của kẻ bán nước là như thế.

Trong nước, sau khi nhà nước thiết lập xong cơ cấu, chính quyền từ trung ương đến địa phương, thì đảng Cộng Sản ra tay cướp đất, nhà, tài sản của dân qua cuộc cải cách ruộng đất miền Bắc sau 1954, đánh tư sản miền Nam sau 1975, chúng không từ chối tài sản của tay sai là những gia đình” có công với cách mạng” trong hai cuộc chiến dài từ 1945 đến 1975, nên từ hàng chục năm qua, hàng ngũ” dân oan khiếu kiện gia tăng”, thế mà đảng cướp vẫn bình chân như vại. Gần đây, Công Giáo đứng lên đòi lại” đất đai, tài sản” từ tay bọn cướp Cộng Sản tại Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, không còn lẽ tẻ như dân oan khiếu kiện từng” hộ” và người dân trong nước hảy đứng lên đòi là đất, đảo đã bị đảng Cộng Sản dâng cho quan thầy Trung Cộng, là điều cần phải thực hiện càng sớm càng tốt, đã 50 năm rồi, còn gì nữa. Lấy lại chính quyền là ưu tiên hàng đầu, vì” có chính quyền là có tất cả”, cũng như câu:” còn tự do là còn cơm no” của chính phủ miền Nam trước 1975.

Muốn đòi lại đất đai do Trung Cộng chiếm, thì việc đầu tiên là đánh vào” bọn bán đất” chính là tập đoàn đảng Cộng Sản Việt Nam; sau khi lấy được chủ quyền, thì mới tính đến chuyện truy tố tên mua đồ gian là Trung Cộng trước quốc tế. Điều kiện dành lại đất đai, hải đảo rõ ràng như luật pháp hình sự: trước hết phải khống chế kẻ trộm, cướp….và sau là lấy đồ gian từ tay kẻ mua bất hợp pháp, là hai giai đoạn cần thiết. Ngày nay kẻ bán nước xuất chiêu, giả vờ kêu gọi tất cả người Việt trong và ngoài nước cùng nhau” chống Bắc Kinh” bằng mồm, nhưng thực ra thì đảng và nhà nước Cộng Sản luôn” bảo vệ tình hữu nghị Việt-Trung đời đời bền vững”; điều nầy được chứng minh qua các vụ biểu tình của sinh viên tại sứ quán Hà Nội, lãnh sứ quán Trung Cộng ở Saigon trước đây, bọn công an Việt Cộng luôn tìm cách bảo vệ cơ sỡ của” quan thầy” một cách triệt để, nên ngăn chận, vô hiệu hóa tất cả các cuộc phản đối; hình ảnh mật vụ và Hoa Kiều được tự do trương cờ đỏ năm sao vàng, dưới sự bảo vệ của công an Việt Cộng, trong kỳ rước đuốc thế vận ngày 28 tháng 4 năm 2008 tại Việt Nam, những người phản đối Trung Cộng đều bị bất bớ, tù đày, như nhà báo Điếu Cầy Nguyễn Hoàng Hải mới đây bị tù 30 tháng với cái tội danh trốn thuế mơ hồ, mà dân trong và ngoài nước đều biết vụ án nầy nhằm dập tất những tiếng nói đòi chủ quyền lãnh thổ đã bị đảng cướp Việt Cộng dâng bán cho Trung Cộng. Người Việt hải ngoại không lầm lẫn trước những biến chiêu của bè lũ bán nước Việt Cộng, tức là không bao giờ đứng chung hàng ngũ” hòa hợp hòa giải” đến chống quân xâm lược Trung Cộng, chiêu bài” bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ” trở thành lố bịt trước tinh thần đề cao cảnh giác, những kinh nghiệm xương máu:” đừng nghe những gì Cộng Sản nói, hảy nhìn kỷ những gì Cộng Sản làm”. Tuy nhiên, qua sự kiện trên, ở hải ngoại mới lòi ra một số tổ chức, những tên” ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản” mưu toan đứng ra làm” trung gian” với Việt Cộng để tiếp tục lừa đảo lần nữa. Những ai kêu gọi” đoàn kết, xóa bỏ làn ranh Quốc-Cộng, cùng nhau chống Trung Cộng, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ…” chỉ là đám cò mồi mà thôi.

Ngày 14 tháng 9 năm 2008 năm nay, đúng 50 năm từ ngày hai kẻ gian cấu kết bán và mua đứng hai quần đảo mà họ không làm chủ, nay thì chủ nhân là nhân dân Việt Nam cần phải đứng lên đồng lòng đòi lại, đó là điều cần phải làm để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, công bằng, hợp với công lý, công pháp quốc tế và lòng người, phù hợp với truyền thống dựng và giữ nước của tiền nhân. Ngày xưa, những người từng đi sai đường, tham gia vào hai cuộc chiến vô ích do đảng Cộng Sản và tên ma đầu Hồ Chí Minh, lợi dụng lòng yêu nước, xương máu để phục vụ quyền lợi của hai quan thầy Nga Tàu, nay họ phải biết có lổi với đất nước, tiền nhân, khi hai quần đảo bị bán đứng do người đại diện là Phạm Văn Đồng. Sinh viên, học sinh, công nhân, nông dân…và nhất là” các nhà dân chủ”, giờ nầy đang ở đâu? Hảy đồng lòng cùng toàn dân Việt Nam trong nước đứng lên lật đổ bạo quyền bán nước, mới hy vọng lấy lại được những gì đã mất, nếu các cuộc biểu tình xảy ra, thì ngoài những biểu ngữ (đề nghị lấy nền vàng, chữ đỏ), không nên mang lá cờ đỏ sao vàng, là biểu tượng của kẻ bán nước; để biểu tình chống lại cờ đỏ 5 sao của kẻ mua; làm như vậy là coi như mất đi chính nghĩa, nhất là đừng nên mang theo hình của tên bán nước Hồ Chí Minh, càng làm mất hết ý nghĩa đấu tranh. Các lực lượng công an, bộ đội, nếu muốn được toàn dân khoan hồng, hảy gia nhập vào hàng ngũ, tốt nhất là bắt, quản thúc những tên Việt gian chỉ huy nào ra lịnh đàn áp đoàn biểu tình đòi đất đai bị bán cho ngoại bang./.

TRƯƠNG MINH HÒA

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 3 Comments »