Tudodanchu's Weblog

Freedom, Democracy, Human Rights, No Communism For Vietnam

Archive for Tháng Chín 16th, 2008

50 năm bức Công hàm ô nhục

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 16, 2008

50 năm bức Công hàm ô nhục !!!

• Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 59 (15-09-2008)

Nhờ lòng tận tụy mẫn cán, tuyệt đối trung tín, tối mặt vâng lời đảng của lực lượng công an cảnh sát, của giới giáo chức đại học, của hàng thủ lãnh đoàn thanh niên Cộng sản, cũng như nhờ sự im lặng đồng lõa, dửng dưng bất biết của nhiều lãnh đạo tinh thần, ngày 14-09-2008, thay vì biến thành một hội nghị Diên Hồng thời mới, xé toang Công hàm bán nước ô nhục cách đây 50 năm, thì đã lặng lẽ trôi qua trong tinh thần “ổn định chính trị”!!! Không lặng lẽ trôi qua sao được khi những “tên đầu sỏ” dám khua môi múa mép chống lại Thiên triều, giăng biểu ngữ phản đối Đại Hán, cất cao giọng đòi Bộ chính trị rửa nhục, đã bị cho vào nhà đá hay bị canh giữ tại nhà tư kể từ hôm 10-09 và những ngày kế tiếp rồi.

1- Cách đây 50 năm, cũng trong sự lặng lẽ của toàn xã hội miền Bắc, sự câm nín của Quốc hội bù nhìn nước Việt Nam Dân chủ, bộ chính trị mà đứng đầu là Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã mau mắn đáp lời đàn anh Trung Quốc vĩ đại. Các “đồng chí kính mến, không thể sai lầm” Mao Chu vừa viết: “Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa [tức Hoàng Sa], quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa [tức Trường Sa], và các đảo khác thuộc Trung Quốc”. Thế là, dù biết đó là đất đai tiên tổ để lại mà người anh em đồng bào khác chính thể đang quản lý, và đang khi Tuyên bố của Trung Quốc còn chưa ráo mực, Hồ Chí Minh cũng đã ngang nhiên chỉ thị cho Phạm Văn Đồng trả lời: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể”. Quả thật Trần Ích Tắc, Mạc Đăng Dung, Lê Chiêu Thống cùng bao tên bán nước trong lịch sử dân tộc phải bái Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng làm sư phụ vì họ đã không mau mắn quỵ lụy Triên triều bằng. Lịch sử mấy nghìn năm chống Bắc phương của Đại Việt kể như chấm dứt từ giây phút đó!

Chưa hết, hơn một tuần sau, báo Nhân dân ra ngày 22-09-1958 đã đăng toàn văn Công hàm vừa kể, để toàn đảng, toàn dân và toàn cầu biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nay không còn là của Việt Nam nữa. Đến tháng 02-1972, Cục Đo đạc và Bản đồ, trực thuộc phủ thủ tướng CSVN, lại phát hành Tập Bản Đồ Thế Giới, trong đó Hoàng Sa và Trường Sa bị đổi tên là Tây Sa và Nam Sa, đúng theo ý muốn của Trung Quốc. Rồi để giáo dục cho các thế hệ trẻ, Sách địa lý xuất bản năm 1974, trong bài “Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa” có viết rằng: “Chuỗi hải đảo từ Nam Sa (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa) tới Hải Nam và Đài Loan là bức tường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc”. Tháng 5-1976, báo Saigon Giải Phóng (của những tên Việt cộng nằm vùng Ngô Công Ðức, Lý Quý Chung…), trong bài bình luận việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực ngày 19-01-1974, đã nói: “Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi!”. Khi nào ta muốn lấy lại thì Trung Quốc sẵn sàng giao trả !?! Rồi dù ngày 14-3-1988, Việt Cộng và Trung Cộng đã giao tranh đẫm máu tại Trường Sa khiến cho 74 chiến sĩ Quân đội Nhân dân vị quốc vong thân và một số đảo ở đấy rơi vào tay Trung Cộng (nhưng tin tức bị giấu nhẹm trên báo đài), trên tờ Nhân Dân số ra ngày 26-4-1988 ngay sau đó, Việt Cộng vẫn xác nhận sự kiện Hồ Chí Minh thừa nhận hai đảo thuộc Tàu năm 1958 là hợp lẽ.

Đang khi đó thì mấy hôm sau ngày 19-01-1974 định mệnh vốn đã khiến 58 binh sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trở thành anh hùng dân tộc trong một trận hải chiến lịch sử không cân sức, “Tuyên cáo của Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa về những hành động gây hấn của Trung Cộng trong khu vực quần đảo Hoàng Sa” đã mạnh mẽ khẳng định : “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa. Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng hòa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của mình trên những quần đảo ấy. Chừng nào còn một hòn đảo của Việt Nam Cộng hòa bị nước ngoài chiếm giữ bằng bạo lực thì chừng ấy chính phủ và nhân dân Việt Nam Cộng hòa còn đấu tranh để khôi phục những quyền lợi chính đáng của mình”.

Tại sao Hồ Chí Minh, rồi các “học trò xuất sắc” của tên bán nước ấy như Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Trần Đức Lương, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng… đã và đang thản nhiên trước cảnh từng mảng thịt tổ quốc bị Đại Hán ngoạm dần?

Ngày nay, ai cũng biết rằng việc CSVN “bán trời không văn tự”, “lấy của chùa ve gái” năm 1958 ấy là để được Trung Cộng viện trợ súng đạn, gạo tiền và gần nửa triệu quân hầu tiến hành cuộc đánh chiếm VNCH, một cuộc chiến xâm lăng được đảng Cộng sản cưu mang từ trước hiệp định Genève (qua việc cài cắm cán bộ nằm vùng tại miền Nam và chiêu mời cán bộ tập kết ra Bắc để huấn luyện chờ ngày trở về hoạt động), rồi hoạch định tại hội nghị trung ương đảng ngày 13-05-1959, một cuộc chiến mà Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo cộng sản nhất định phải tiến hành cho bằng được, dù phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn”! Đúng như lời nguyên bộ trưởng ngoại giao CS Nguyễn Mạnh Cầm tuyên bố trong một buổi họp báo tại Hà Nội ngày 2-12-1992 với những mỹ từ lừa gạt, những ngụy biện trâng tráo: “Việt Nam đã phải tập trung tất cả các lực lượng quân sự cho mục tiêu cao nhất để chống lại cuộc chiến tranh hung hãn của Mỹ, nhằm bảo vệ nền độc lập quốc gia. Việt Nam đã phải kêu gọi sự ủng hộ của bè bạn trên toàn thế giới. Đồng thời, tình hữu nghị Trung-Việt rất thân cận và hai nước tin tưởng lẫn nhau. Đối với Việt Nam, Trung Quốc đã là một sự ủng hộ rất vĩ đại và trợ giúp vô giá… Trong tinh thần đó và bắt nguồn từ những đòi hỏi nêu trên, tuyên bố của các nhà lãnh đạo của chúng tôi [ủng hộ Trung Quốc trong việc tuyên bố chủ quyền của họ trên Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa] là cần thiết vì nó trực tiếp phục vụ cho sự đấu tranh bảo vệ độc lập và tự do cho tổ quốc”.

Nhưng rồi “sự ủng hộ rất vĩ đại và sự trợ giúp vô giá của kẻ vừa là đồng chí vừa là anh em, vừa là bằng hữu thân thiết vừa là tôn sư tin cẩn” ấy đã sớm làm Việt Cộng méo mặt vì sự thèm khát đất đai và tài nguyên đến độ điên cuồng và ngang ngược của Trung Cộng. Lại đến lúc thế giới CS sụp đổ, chỉ còn sót bốn năm anh em “xã hội chủ nghĩa”. Vậy thì phải liệu ôm nhau mà sống, củng cố đảng cho nhau để kéo dài sự thống trị được ngày nào hay ngày ấy trên dân tộc đồng bào mình.

Thế là sau hai quần đảo tiền đồn phía đông được dâng trên giấy, Việt Cộng dâng nốt tiền đồn phía Bắc ngàn năm vững chãi là Ải Nam quan, cộng thêm những cao điểm chiến lược quan trọng, qua Hiệp định biên giới Việt-Trung ký kết ngày 30-12-1999, khiến Trung Cộng chẳng còn gặp cản trở lớn lao nào trên con đường tiến xuống Đông Nam Á châu. Năm sau, qua Hiệp định lãnh hải Việt-Trung bí mật ký kết ngày 25-12-2000, bọn mãi quốc cầu vinh, bán nước giữ ghế ấy lại tiến cống thêm khoảng 11.000 km2 trên biển, chính thức để Hoàng Sa và Trường Sa lọt vào tay Trung Cộng, giúp Trung Cộng mặc sức tung hoành trên Đông Hải, dễ dàng khống chế thủy lộ từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương. Rồi sau đó, với những sai lầm liên tiếp khác, đảng CSVN đã đưa đất nước xuống hố sâu của sự khánh kiệt mọi mặt, đành phải thúc thủ trước sự hung hãn của Trung Cộng. Hiện nay, tập đoàn lãnh đạo Việt Cộng vẫn điềm nhiên đi bái yết thiên triều Đại Hán mỗi năm mấy bận, vẫn thản nhiên trơ mắt đứng nhìn đồng bào bị Trung Quốc tàn sát, vẫn vung tay đàn áp con dân đám phản kháng Bắc thù xâm lược, vẫn ngấm ngầm hỗ trợ cho ý đồ hăm dọa các tiểu quốc lân bang, cho giấc mộng thôn tính toàn cầu của Đàn anh Trung Cộng.

2- Với não trạng “cướp sản” thâm căn cố đế, “coi của người như của mình” và sẵn sàng dùng bạo lực để chiếm đoạt, cộng với một “mặc cảm bù trừ” cho sự yếu thế trước ngoại bang như thế, đảng CSVN đã và đang hung hãn cướp bóc, đàn áp đồng bào mà họ coi là thần dân và thảo dân, trước tiên bằng nguyên tắc bất nhân, vô lý, phi luật: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý” (Hiến pháp 1992, điều 17&18), rồi thông qua các chiến dịch ăn cướp trá hình như cải cách ruộng đất, quốc hữu hóa, hợp tác hóa, tập thể hóa, hợp doanh hóa, cải tạo xã hội chủ nghĩa… thông qua những văn bản bất công vi hiến như Nghị quyết 23 của Quốc hội ngày 26-11-2003 về quản lý nhà đất, như Luật Đất đai 2003 mà qua 5 lần 7 lượt sửa đổi vẫn là một căn cứ pháp lý để đảng tha hồ tước đoạt bất động sản của các cá nhân, các tôn giáo, các dòng họ.

Cụ thể trước mắt là chiến dịch cướp đất, xúc dân để chia chác cho nhau giữa đảng viên cán bộ, bán lại cho các ông chủ nước ngoài kể từ năm 1986 đến nay. Gần một triệu hộ nông dân đã bị đẩy ra khỏi ruộng vườn, nhà cửa của họ, dở sống dở chết. Hàng vạn bất động sản của các tôn giáo và dòng tộc vẫn chưa được trả, còn bị chiếm thêm. Hàng ngàn người dân oan và dân chủ phải ngồi tù vì phản đối nạn bóc lột. Tiếng oan dậy đất, án ngờ lòa mây đang hiện hữu khắp mọi miền đất nước, mà nóng bỏng nhất lúc này là tại giáo sứ Thái Hà, Hà Nội. Bất chấp bằng chứng pháp lý, kiên nhẫn đối thoại, cầu nguyện hiền hòa từ phía nhân dân, đảng CS vẫn nhất định không lắng nghe sự thật và lẽ phải, không từ bỏ thói quen “cướp sản”, thậm chí còn đang chuẩn bị cho một Thiên An Môn tại Việt Nam.

BAN BIÊN TẬP

http://www.vietvungvinh.com/Portal.asp?goto=VietNam/2008/20080916_01.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

TỬ HUYỆT: GIAN DỐI

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 16, 2008

VietCatholic News (Thứ Ba 16/09/2008 10:30)

TỬ HUYỆT: GIAN DỐI

Những sự kiện diễn ra ở Thái Hà những ngày gần đây đã vượt khỏi phạm vi của một giáo xứ hay một giáo phận. Phải nói truyền thông nhà nước đã góp phần không nhỏ trong việc gây tiếng vang, nhiều khi ngược lại với chủ đích của người loan tin. Một tháng đã trôi qua kể từ ngày cuộc cầu nguyện bùng lên lần thứ hai trong vòng chưa đầy một năm, với tính cách mạnh mẽ và quyết liệt dường như khiến cho giới cầm quyền hết sức lúng túng. Thời gian chưa thể coi là dài, nhưng thiết tưởng cũng đủ để chúng ta đưa một vài nhận định về thái độ của chính quyền.

Đàn áp

Đàn áp là từ mà giới truyền thông nhà nước cũng như các quan chức ngành công an ra sức phủ nhận, dù chính họ biết rõ hơn ai hết đó chính là biện pháp mà họ đang sử dụng.

Khác hẳn với khi diễn ra vụ Toà Khâm Sứ, bắt đầu từ tháng 12-2007, dàn đồng ca báo hình, báo chữ và báo tiếng của chính quyền đã được huy động ngay từ những ngày đầu tiên khi cuộc cầu nguyện tại Thái Hà bùng phát trở lại. Báo báo Hà Nội Mới đã không che dấu chủ đích đàn áp bằng dư luận qua phương tiện báo chí: “Việc các cơ quan truyền thông trong nước liên tục đăng tin, bài viết, ảnh, chương trình truyền hình có nội dung tố cáo, tạo dư luận rộng rãi lên án những hành vi vi phạm pháp luật tại 178 Nguyễn Lương Bằng đã tác động mạnh đối với linh mục giáo xứ Thái Hà.” Phải nói, ở một góc độ nào đó, truyền thông nhà nước đã thành công, khi đa số người dân chỉ biết đến vụ việc qua truyền thông độc quyền của nhà nước, và với họ, các linh mục và giáo dân tại Thái Hà mang một bộ mặt quái gở, lì lợm, tham lam cố chấp. Tuy nhiên, liều thuốc mà giới truyền thông sử dụng lại có tác dụng phụ là gây tiếng vang cho vụ việc. Những ai thực sự quan tâm và tìm hiểu sẽ không khó nhận ra rằng trớ trên thay, tất cả những điều xấu xa giới truyền thông và quan chức nhà nước khoác cho các linh mục và giáo dân Thái Hà lại là phản ảnh trung thực bộ mặt của giới cầm quyền, một bộ mặt nhem nhuốc của những kẻ quyết tâm quay lưng trước sự thật.

Đàn áp bằng truyền thông xem ra không hiệu quả, hay nói đúng hơn, gây ra nhiều hậu quả không theo ý muốn của những kẻ có thừa phương tiện nhưng lại thiếu một điều cốt yếu trong truyền thông: sự thật, giới cầm quyền và có quyền đã sử dụng trò đàn áp bằng bạo lực. Thế nhưng, chính họ cũng thấy đó là cách giải quyết của phường lưu manh, nên chơi trò ném đá giấu tay. Cứ như giới quan chức ngành công an, thì ở Hà Nội hẳn phải có một đội quân vô hình nhưng lại sử dụng những loại công cụ hữu hình là dùi cui điện và bình xịt hơi cay. Mà lạ một điều là đội quân này dường như rất hiểu ý chính quyền. Nhà nước mà chỉ huy được một đội quân như thế thì chắc chắn là “khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” rồi. Phiền một nỗi những tấm ảnh biết nói được loan truyền trên hệ thống thông tin điện tử dường như lại không chịu chỉ xếp hàng theo lề đường được ngành truyền thông nhà nước vạch ra!

Thế lực thù địch

Lúng túng, bối rối và phản ứng tuỳ tiện trước một vụ việc mà diễn biến nằm ngoài dự đoán của giới cầm quyền vốn quen dùng trò chơi bạo lực, có quan chức đã đổ vấy cho một thế lực thù địch đứng sau lưng giáo xứ Thái Hà. Thế lực thù địch, một khái niệm vô hình, vô tung vô tích, nhưng tiện ở chỗ nó rất dễ dùng để chụp lên đầu những người hay nhóm người mà giới cầm quyền không ưa. Những chế độ độc tài dường như luôn có thù địch và phải có thù địch mới yên tâm. Mà cứ nói tới thù địch là nhân dân ta nhất định phải chống rồi.

Thực ra, dường như khi tung ra những đòn đàn áp bằng truyền thông và bạo lực, giới cầm quyền đã chắc mẩm là sẽ đè bẹp giáo xứ Thái Hà như người ta dơ chân di một con dán. Mọi khúc mắc sẽ được dùi cui điện, hơi cay, thậm chí nòng súng giải quyết dễ dàng như trở bàn tay. Vậy mà ngược với dự tính của họ, vụ việc đã không bị đè bẹp, trái lại còn gây ra một tác dụng phụ khác, đó là tính lan toả và khơi dậy tình đoàn kết của người công giáo.

Tử huyệt gian dối

Những ai chịu dành chút thời giờ và thực tâm tìm hiểu vụ việc đều dễ dàng nhận ra bộ mặt tráo trở, nhem nhuốc, gian dối, nham hiểm và vô lương của giới truyền thông nhà nước và các quan chức ngành công an. Thư ngỏ của giám mục Vũ Huy Chương và Tổng giám mục Ngô Quang Kiệt đã chỉ ra một cách chừng mực nhưng rõ ràng tính lưu manh và lừa bịp của giới truyền thông nhà nước.

Đó thiết tưởng không phải là điều gì quá xa lạ với những ai là nạn nhân của một hệ thống phi nhân và tàn bạo. Điều lạ nằm ở chỗ giờ đây dường như giới cầm quyền không còn thiết che giấu bộ mặt thật của mình bằng vẻ ngoài nhân nghĩa. Bản chất của họ không thay đổi sau mấy chục năm, vẫn là những kẻ tâm địa gian manh, dám làm mọi chuyện để đạt mục đích. Có khác chăng là những bộ mặt đen đúa gầy còm xưa kia bây giờ nung núc những mỡ, và lạ lùng thay, vụ việc Thái Hà giống như một phép thử khiến cho nhiều bộ mặt nham nhở xuất hiện dưới ánh sáng mặt trời để nhiều người có dịp quan sát tỏ tường những góc cạnh gồ ghề thô bỉ.

Suy cho cùng thì giới quan chức chính quyền có nói tới một thế lực thù địch cũng thật chí lí. Ánh sáng đối lập với bóng tối. Sự dối trá thù nghịch với chân lí. Cả một hệ thống vốn được xây dựng trên hận thù và dối trá, nhưng nhờ một thời cơ nào đó đã khoác vội vào mình tấm áo xộc xệch mang mầu ái quốc, nay lại có một đám người kiên quyết nói lên sự thật, sau lưng nhóm người này lại có một hệ thống truyền thông không chính thống và vô vàn vô số những kẻ sẵn sàng loan truyền sự thật không cần lương bổng. Thế lực đó rõ ràng là một thế lực mà những kẻ vốn sống dựa vào sự dối trá phải gọi tên là thế lực thù địch.

Mới hay dối trá là nền tảng, cũng là tử huyệt của một hệ thống phi nhân tàn bạo, từng là tai hoạ khủng khiếp cho nhân loại trong thế kỉ 20. Khi kẻ tỉ võ không còn thiết che giấu tử huyệt của mình, là lúc họ sẽ dễ dàng ra đòn lưỡng bại câu thương. Nhưng liệu sự thật có tiếp tục dễ dàng bị bức tử trong thế giới hôm nay?

Hoàng Cúc

http://vietcatholic.net/News/Html/58582.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Các viên gạch Thái Hà có phải nằm trong chính sách ”hưởng nhanh”?

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 16, 2008

Các viên gạch Thái Hà có phải nằm trong chính sách ”hưởng nhanh”?

THÁI HÀ – Chuyện khôi hài tại Hà thành khi nhắc đến an ninh thủ đô và việc cầm cân nẩy mực thi hành những nghị quyết của thành phố Hà Nội được giao cho 2 ông quan lớn: thiếu tướng Nguyễn Văn Nhanh (giám đốc sở Công an thành phố Hà Nội) và thượng tướng công an Nguyễn Văn Hưởng: Người dân gọi tắt cho tiện và cũng biểu lộ đâu đó các thói quen rõ nét của chính quyền cộng sản độc đảng tham nhũng từ 2 ông tướng này kết lại như mì gói ăn liền: “hưởng nhanh”.

Đơn cử 2 ví dụ:

Với quyền lực sinh sát trong tay, tướng Nguyễn văn Hưởng xác định về vụ Khu đất 178 phố Nguyễn Lương Bằng: “Công an Hà Nội khởi tố vụ án hình sự, khởi tố, bắt tạm giam một số bị can có hành vi quá khích, gây rối, hủy hoại tài sản là biện pháp cần thiết và đúng pháp luật” và lại còn “chỉ đạo Công an Hà Nội cần tiếp tục điều tra, làm rõ những đối tượng có hành vi vi phạm để xử lý đúng tính chất, mức độ”.

Không thua gì người bạn đồng nghiệp, tướng Nguyễn Đức Nhanh nhấn mạnh đến chi tiết: “riêng việc linh mục có mặt tại các địa điểm có đông giáo dân tụ tập, cầu nguyện trái phép hoặc tại địa điểm có hành vi gây rối, hủy hoại tài sản thì việc có mặt đó đã là hành vi xúi giục, kích động.”

Điểm lại các tin tức báo chí của tuần qua làm cho người đọc phải suy tư thật nhiều về “luật xử tàn bạo“ cho các viên gạch Thái Hà. Nhìn bờ tường được giáo dân gỡ ra từng viên gạch trong vài mét để tự mở cổng vào nhà mình, đếm non đếm già chắc thì hơn trăm viên. Giá trị thiệt hại của nó là 3.479.990 đồng (trên dưới 200 đô la) do Hội đồng định giá tài sản quận Đống Đa thẩm định.

Nếu được so sánh các tin tức trong vài ngày qua tại Việt Nam thì các viên gạch Thái Hà đáng giá hơn… bạc tỉ rất nhiều vì các vụ hối lộ, tham nhũng cướp đất gây hậu quả tai hại không lớn bằng khúc tường đổ vài mét của Thái Hà: bắt bớ, tù tội, đánh đập, đổ máu, thả hơi cay, đổ vạ cáo gian, v.v…

Xin 2 ông tướng: Hưởng – Nhanh đọc báo quốc nội sau đây và kiểm tra lại cách hành xử của mình đúng với tình và lý đối với giáo dân Thái Hà cầu nguyện ôn hòa:

1. Đem đất công cho thuê, hưởng lợi hàng tỉ đồng (Thanh Niên, 12/09/2008): Phó chủ tịch thường trực UBND TP.HCM Nguyễn Thành Tài vừa chỉ đạo các sở – ngành liên quan xem xét, xử lý kết quả thanh tra về tình hình sử dụng đất của Công ty TNHH Sơn Tùng (gọi tắt là Công ty Sơn Tùng, trụ sở đặt tại P.12, Q.10, TP.HCM) tại Q.Thủ Đức. Đầu năm 2001, Công ty Sơn Tùng lập dự án trình Thủ tướng Chính phủ xin thuê phần diện tích 48.786m2 tại P. Linh Trung, Q. Thủ Đức để xây dựng xưởng dệt, may. Tháng 6.2006, Sở Tài nguyên – Môi trường TP.HCM ký hợp đồng với ông Cao Thanh Sơn, Giám đốc – đại diện Công ty Sơn Tùng, cho thuê sử dụng lô đất trên trong 50 năm, với tổng số tiền thuê mỗi năm hơn 203 triệu đồng. Mục đích thuê được ghi rõ là sử dụng làm xưởng dệt may như dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Thế nhưng, thực tế, Công ty Sơn Tùng chỉ dành hơn 10.000m2 tại khu đất trên để xây dựng xưởng may, số còn lại chia nhỏ thành nhiều lô để, cho thuê, hưởng lợi hàng tỉ đồng.

Khủng khiếp 1: 38.786m2 đất lọt vào tay các tài phiệt được bảo kê bởi các tham quan!

2. Thu hồi 500 tỷ đồng đền bù sai: “Mò kim đáy bể” (Vietnamnet, 12/09/2008): … Điều đáng lưu ý là trong diện tích nêu trên (1.350ha) có 700ha cao su trước đây do Công ty Chế biến cây công nghiệp xuất khẩu (Sobexco) quản lý, nhưng do làm ăn thua lỗ, giải thể nên đã bán vườn cây để trả nợ. Trong việc bán đấu giá 700ha đất công này, UBND tỉnh Bình Dương đã cho phép Sobexco bán vườn cao su trên đất và “biếu không” quyền sử dụng 700ha đất công này cho những người mua đấu giá. Việc làm sai này đã được Thanh tra Bình Dương chỉ rõ vào tháng 6/2006 và yêu cầu thu hồi chủ quyền đất cấp sai. Tuy nhiên, thay vì sửa sai, khi dự án Khu liên hợp công nghiệp – dịch vụ An Tây được triển khai, UBND tỉnh Bình Dương lại tiếp tục cho phép Công ty Sản xuất – Xuất nhập khẩu Bình Dương vay ngân hàng hàng trăm tỷ đồng để đền bù cho diện tích 700ha đất công này. Câu hỏi đặt ra, vì sao tỉnh Bình Dương lại bỏ tiền ngân sách ra mua lại chính phần đất công vốn là của Nhà nước? Hậu quả của việc làm trái này là hàng trăm tỷ đồng tiền Nhà nước “mất không” vào túi tư nhân một cách hợp pháp?

Khủng khiếp 2: 500.000.000.000 đ lọt vào túi tư nhân do sự cộng tác của tham quan!

3. Vụ tham nhũng đất đai tại Sơn La (Tuổi Trẻ, 11/09/2008): Viện KSND tỉnh Sơn La vừa có cáo trạng vụ án thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra trong quá trình thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng quốc lộ 6 tại thị xã Sơn La. Theo cáo trạng, Viện KSND tỉnh truy tố 14 bị can về các tội danh trên, trong đó có Nguyễn Thái Hải, nguyên chủ tịch UBND thị xã Sơn La. Trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan điều tra đã làm rõ sai phạm của nhóm bị can này khi thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, làm thiệt hại của Nhà nước 151 lô đất với tổng diện tích gần 100.000m2…

Khủng khiếp 3: 100.000m2 đất bị một „tham quan nhỏ“ thuộc hàng xã lừa đảo chiếm đoạt!

4. Phát hiện 22.000 khoản chi chưa đúng qui định (HNM, 10/09/2008): Bộ Tài chính cho biết, 8 tháng đầu năm 2008, hệ thống Kho bạc Nhà nước (KBNN) đã kiểm soát 128.000 tỷ đồng chi thường xuyên của ngân sách qua KBNN. Thông qua việc kiểm soát chi ngân sách nhà nước, các đơn vị KBNN đã phát hiện 22.000 khoản chi của 8.000 đơn vị chưa đúng thủ tục, chế độ quy định và yêu cầu đơn vị bổ sung các thủ tục cần thiết. KBNN cũng từ chối thanh toán số tiền trên 110 tỷ đồng chi không đúng chế độ quy định.

Khủng khiếp 4: 110.000.000.000 đ chi tiêu bậy bạ cho 22.000 khoản chi vô lý!

5. Vụ sai phạm tại Nông trường Sông Hậu (Tuổi Trẻ, 10/09/2008): Ngày 9/9, đại tá Lê Việt Hùng – PGĐ, thủ trưởng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP Cần Thơ – cho biết cơ quan này đã ký quyết định khởi tố bị can, cho tại ngoại đối với bà Trần Ngọc Sương (nguyên giám đốc Nông trường Sông Hậu). Bà Sương bị khởi tố về tội “lập quỹ trái phép gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”. Trong quá trình điều tra, cơ quan chức năng đã “dò” ra được việc Nông trường Sông Hậu lập quỹ trái phép 29 tỉ đồng. Trong số này, giai đoạn từ 1994 -2000, lúc ông Trần Ngọc Hoằng (đã mất) làm giám đốc thì số quỹ được lập là 20 tỉ đồng. Sau khi ông Hoằng mất, bà Sương là người kế nhiệm tiếp tục lập quỹ trái phép thêm 9 tỉ đồng nữa. Số tiền này được chi xài thông qua việc tiếp khách, quan hệ giao dịch, biếu xén, quà cáp, cho tặng… Bị can Trần Ngọc Sương từng được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lao động và nhận được danh hiệu Người phụ nữ ấn tượng châu Á…

Khủng khiếp 5: 29.000.000.000 đ xài riêng cho quỹ đen của một nông trường!6. 24.000 hộ nghèo “từ trên trời rơi xuống”! (Dân Trí, 14/09/2008):

từ UBND tỉnh An Giang cho biết, ngân hàng chính sách xã hội tỉnh đã cho khoảng 65.000 hộ nghèo vay tiền. Tuy nhiên số liệu thống kê những hộ nghèo của tỉnh lại thấp hơn con số trên. Thống kê của Sở Lao động – Thương binh và xã hội thì toàn tỉnh chỉ có 41.000 hộ nghèo và thuộc đối tượng được vay vốn ưu đãi từ ngân hàng chính sách. Thế nhưng số lượt người vay tại ngân hàng này hiện đã lên đến 65.000 hộ. Như thế có nghĩa là “dôi dư” khoảng 24.000 hộ nghèo.

Khủng khiếp 6: 24.000 hộ nghèo “ảo“ trong một tỉnh do các tham quan vẽ ra hưởng lợi!

7. Có tội, nhưng chỉ bị cảnh cáo – Hậu vụ án Minh Phụng – Epco (Vietnamnet, 9/9/2008): ngày 9/9, Hội đồng xét xử phán quyết, những cáo buộc của VKS đều có cơ sở để kết luận Lương Vĩnh Phúc (53 tuổi, nguyên trưởng phòng thi hành án dân sự TP HCM) và Bùi Liên Hiệp (51 tuổi, nguyên chấp hành viên) có tội, nhưng ông Phúc chỉ bị phạt cảnh cáo, ông Hiệp bị phạt 1 năm 8 tháng và 3 ngày tù. Bản án do thẩm phán Vương Văn Nghĩa, chủ toạ phiên toà tuyên cho các bị cáo, đã khiến báo giới và những người theo dõi đến cùng phiên xét xử ngạc nhiên, sau khi vị thẩm phán kết luận các bị cáo đều có tội như VKS đã buộc. Trước đó, VKS đề nghị 5-6 năm tù đối với bị cáo Bùi Liên Hiệp với tội danh “lạm quyền trong khi thi hành công vụ”, và với bị cáo nguyên Trưởng phòng Thi hành án dân sự TP.HCM, Lương Vĩnh Phúc với mức án 12–14 tháng tù treo. Với mức án trên, 2 bị cáo đã được tự do ngay tại toà, bởi ngoài ông Phúc chỉ bị cảnh cáo, ông Hiệp đã bị tạm giam 20 tháng, 3 ngày để phục vụ điều tra, với mức án đó, sau khi đã tính vào thời gian tạm giam, mà bị cáo đã “tạm ứng”, ông Hiệp được tự do ngay tại toà. … Trong phần kết luận của chủ toạ phiên toà đã bác bỏ quan điểm của luật sư, và khẳng định cáo buộc VKS là hoàn toàn có đủ chứng cứ, cơ sở để kết luận ông Phúc “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”! Đối với bị cáo Bùi Liên Hiệp, luật sư Lưu Văn Tám cũng cho rằng, việc truy tố tội danh “lạm quyền trong khi thi hành công vụ” là không đủ căn cứ, oan sai, và đề nghị huỷ tội danh trên đối với ông Hiệp và phục hồi tư cách công dân, đảng viên của thân chủ ông ngay tại toà. Ngay sau khi nghe toà tuyên, nhiều người dân đã ngạc nhiên trước bản án này!

Khủng khiếp 7: Hành vi của Phúc và Hiệp đã gây thiệt hại cho Công ty Epco 3,6 tỷ đồng, nhưng tham quan Phúc được tha án và phục hồi đảng viên!

Đau lòng cho người dân đen, nếu so với 3 triệu rưỡi để đền bù vài trăm viên gạch của Thái Hà thì chúng ta không thể tưởng tượng đến số tiền liên quan đến đất đai tính bằng bạc tỉ to lớn do các sai trái của các tham quan địa phương, đấy là chỉ đọc tin trong thời gian 6 ngày cho những việc đổ bể không còn che dấu được. Nhưng các việc gian lận khác do đám tham quan mờ ám che dấu còn cao hơn rất nhiều, điều ấy không loại trừ nơi quận Đống Đa hoặc tại phường Quang Trung, hoặc nơi cao hơn chẳng hạn tại văn phòng của ông Phó chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Hồng Khanh và cũng có thể đang xảy ra ngay tại bản doanh của 2 ông tướng Hưởng – Nhanh.

Sự thật quá tang thương cho đất nước vì nhiều nơi chính quyền độc đảng đang đục khoét tài sản, ngân quỹ quốc gia. Họ muốn đưa tiền đồ dân tộc Việt Nam xuống tận bùn xâu. Tầng lớp nghèo khổ nai lưng đóng thuế bù lại, có thể suốt đời vẫn chưa trả xong.

Bức tường Thái Hà giá trị 3 triệu rưỡi, tuy nhiên chỉ vì vài trăm viên gạch ấy dân lành đang phải trả giá cho việc tù tội của 10 người (gồm 4 phụ nữ), bao nhiêu giọt máu bị phụt ra bởi roi đòn công an đánh đập, bao nhiêu nước mắt phải rơi xuống vì bom cay, bao nhiêu nhục mạ giả trá của nhóm bồi bút và đài truyền hình, v.v…

Ngoài ra chúng ta phải cộng thêm các phí tổn từ nhiều tuần lễ qua cho: lực lượng công an mặc quân phục lên đến hàng trăm nhân viên vào lúc cao điểm, lực lượng chìm không đếm được trà trộn vào đám dân cầu nguyện. Đài truyền hình với đội ngũ săn tin thâu hình, nhóm phóng viên bồi bút chạy long rong quanh linh địa, v.v…

Nếu được tính như thế thì giá trị của vài trăm viên gạch Thái Hà lớn hơn… bạc tỉ do các tham quan gây ra thiệt hại cho đất nước trong những tin thời sự vài ngày qua.

Khi đọc được các tin tức tiêu hoang bạc tỉ vô thưởng vô phạt ở trên, cùng lúc thật khôi hài khi nghe được những lời phát biểu hùng hồn của Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương phòng, chống tham nhũng vào ngày 12/9: “… Vì vậy, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng phải được lãnh đạo Bộ quan tâm một cách thỏa đáng, luôn coi công tác này là nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm trong chương trình hành động. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục và phải mang tính quyết liệt và toàn diện.“ Quá hào hứng mà không cần biết đất nước lan tràn tham nhũng như dịch bệnh, ông ta nổ lớn thêm: „Khi đã phát hiện có các hành vi tham nhũng, tiêu cực phải có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để tiến hành xử lý, xử lý phải kiên quyết, triệt để, xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.“ (Sic!)

Nhìn lại những vụ tham nhũng lộng hành bất trị, trên bảo dưới không nghe, người dân nghèo luôn biết rằng nhiều kẻ vi phạm chưa bị xử lý thích đáng theo pháp luật. Tất cả rộ lên đôi chút làm xoa dịu lòng dân rồi… âm thầm lắng xuống rơi vào lòng xoáy được che chở bí mật của đảng cộng sản Việt Nam, điển hình qua vụ PMU 18, người chịu trách nhiệm chính chỉ bị cách chức thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải đối với Nguyễn Việt Tiến là chìm xuồng. Ông Tiến bây giờ an nhàn sống bên gia tài kếch sù hưởng đến 3 đời vẫn chưa hết.

Sở hữu đất đai đang là bức xúc to lớn cho toàn dân. Từ Bắc chí Nam đất đai trở nên lĩnh vực nhạy cảm, thật dễ xảy ra các hành vi gian lận tham ô, hủ hóa và tiêu cực. Mảnh đất tại Thái Hà cũng không những tránh khỏi vòng xoáy này, mà cường độ bạo tàn gia tăng thêm lên khi người dân cầu nguyện ôn hòa đòi công lý đã trở thành nạn nhân của dùi cui, giầy đinh, roi điện, khói cay do bọn tham quan hoành hành.

Cộng sản với chủ trương độc đảng tham quá và muốn “hưởng nhanh”!

Hà Long

http://www.vietland.net/main/showthread.php?s=8f42336ceac0a1cd97e5e66da4efe1bc&t=2402

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Phan Văn Hưng và Bi Phẫn Ca

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 16, 2008

Trịnh Thanh Thủy

Phan Văn Hưng và Bi Phẫn Ca

Người nghệ sĩ cúi xuống trên mười ngón tay nhả những thanh âm phừng phừng rực lửa.

Khuôn mặt anh chứa chan cảm xúc, rập rờn âm điệu. Thính giác khán giả căng, dãn, đàn hồi, nhảy múa theo hấp lực của từng làn điệu, lời ca. Những ca từ hiện thực, tả chân cuộc sống con người đang ở đáy địa ngục. Những truyện ca có thật tạo năng lực cấu nhoi nhói tim đỏ người nghe. Nếu mỗi người là một cá nhân khác biệt có nhiều điểm khó hoà hợp, thì phút giây hiện tại này, mức đồng cảm giữa người và người ở khán giả đang lên cao nhất. Mọi vật rơi vào thể tĩnh của bất động ngoại trừ anh. Những đôi mắt không kịp nháy, tụ hội về vóc hình người đàn ông có dáng dấp thư sinh. Thế rồi bất chợt họ hiểu ra bài hát đã đến hồi dứt. Tiếng chuyển động rào rào của những bàn tay vỗ nhất loạt oà lên bao vây lấy hội trường, phủ lấp hình hài nhỏ bé của người đàn ông đang ngồi ôm đàn ấy.

Anh cúi chào khán giả với một phong thái nho nhã, điềm đạm. Anh, Phan Văn Hưng, đến từ Úc, đem tiếng hát, dòng nhạc trải dài khắp vòng quay trái đất. Nơi nào mời anh, anh đến, nơi nào đón anh, anh lại. Anh giản dị, chân tình, nhẹ nhàng, thư thái, nhưng khi cây đàn được đặt vào vòng tay bồng bế, nó biến anh thành một con người khác.

Nhắc đến Phan Văn Hưng người ta không nhắc đến một giọng hát điêu luyện, trầm ấm hay đằm thắm mà người ta tưởng tượng ra được một giọng hát thấm đẫm chân thật, xoáy sâu chọc thủng bức tường trái tim con người. Chúng ta cảm được cái hay của nó nhưng không phân tích được tại sao. Bởi anh hát từ tim nên tim ta và tim người giao cảm. Giọng anh không thể lẫn với bất cứ giọng hát nào khác vì anh có một phong cách rất riêng trong lối nhả chữ. Kỹ thuật luyến láy chữ của anh phải nói là “được tinh luyện và rất khác biệt’. Một phong cách rất “Phan Văn Hưng”. Vả lại khi anh hay bất cứ ai hát loại nhạc của anh sáng tác, người ấy không cần một giọng hát thiên phú thật hay mà chỉ cần hát thật có hồn, hát bằng tất cả trái tim của người ấy.

Phan văn Hưng không những mang giọng hát của mình đến với khán thính giả khắp nơi ở hải ngoại mà anh còn đem dòng nhạc rất đặc biệt của mình gieo rải bất cứ nơi nào người nghe muốn nghe. Nhạc của anh phần lớn là phổ thơ nhưng anh nổi tiếng đầu tiên ở những ca khúc chính anh viết như “Bạn bè của tôi”, sau này là “Bài ca tuổi trẻ”, “Dìu nhau”, “Nhớ những dòng sông” ….. Thơ anh phổ nhiều nhất của Nam Dao, “người bạn đời” của anh từ những ngày hoạt động trong các phong trào sinh viên ở Paris. Người bạn đời sát cánh bên anh còn chung lưng cùng anh trong việc sáng tác. Có khi anh phổ thơ Nam Dao, có khi anh viết dựa trên lời thơ ND, rồi từ đó viết cả ca từ và nhạc. Có lúc anh viết cả hai nhưng ND sửa lời và góp ý. Cũng có một vài bài ND viết cả nhạc lẫn lời, anh sửa nhạc.

Ngoài ra anh phổ thơ của nhiều thi sĩ khác trong cũng như ngoài nước. Mối giao cảm giữa thi sĩ và nhạc sĩ trong một bài thơ phổ nhạc như một hôn ước nhịp nhàng, du dương và hoà điệu. Nhưng không phải cuộc hôn phối nào cũng đẹp đẽ và hạnh phúc. Có những bài thơ hay bị giết chết thê thảm khi được phổ nhạc nhưng cũng có những bài thơ khi được phổ nhạc bỗng trở thành vang danh và bất tử. Theo ý riêng của tôi những bài thơ được anh Hưng phổ nhạc là những đứa con may mắn được đặc biệt ưu ái chạm vào van tim của những người nghe biết mở lòng.

Phan Văn Hưng biết chọn cho mình một phong cách riêng trong âm sắc cũng như lối soạn nhạc và chơi đàn của mình. Âm Sắc là thứ màu sắc của âm thanh. Màu Sắc đóng vai trò tối quan trọng trong một tác phẩm nghệ thuật của người hoạ sĩ thì đối với nhạc sĩ, Âm Sắc cũng đóng vai trò tương tự. Nó là chữ ký, ngôn ngữ, âm thanh, tính khác biệt, nét độc đáo, tất cả đúc kết thành phong cách của một nhạc sĩ.

Anh kể cho tôi nghe một thói quen đặc thù khác người. Người chơi guitar classic thường bằng bốn ngón trong khi anh chơi chỉ bằng hai ngón, ngón trỏ và ngón cái.

Thế hệ ngày mới lớn của anh là những thập niên 60, 70, được nuôi dưỡng bằng dòng nhạc của The Beatles, Simon & Garfunkel, Peter,Paul & Mary và Cat Stevens nên một điều không thể phủ nhận là nhạc anh có mang âm hưởng nhạc Mỹ và dân ca Mỹ(Folk Music).

Sau này khi ra ngoại quốc anh lại chỉ chơi nhạc Việt Nam, tuy nhiên, vì sống trong một môi trường đa dạng và phong phú ở hải ngoại nên anh biết cách pha chế rồi tổng hợp nên một dòng nhạc riêng cho mình bằng một tinh thần bạo dạn khai phá của người làm nhạc. Tỷ như trong bài “Những đứa bé” có nhiều gam chõi, lạ, và mang âm hưởng jazz và blues.

“Những đứa bé không chiếu chăn/ Nằm lây lất giữa hè phố

Nằm chui rúc nơi những xó tối tăm, rác rưởi.

Những đứa bé trong quán bia/ Em đón khách nơi phồn hoa

…………………………………………………..

Những đứa bé không cánh tay/ Những đôi mắt không còn thấy

Đời em giam trong ngõ tối/ Hắt hiu, lụt lội

Những đứa bé đi bán rong/ Đạp xe mướn hay lượm rác

…………………………………………………….

Một ngày về trên quê hương

Tôi muốn nấc lên đau thương

Tôi muốn khóc cho tủi hờn

Tôi muốn ôm em vào lòng

(Những đứa bẻ/Phan văn Hưng-Nam Dao)

Nói đến PVH người ta nhớ ngay đến bài hát “Bạn bè của tôi”. “Bạn bè của Tôi” không những là nhân chứng của một thế hệ, hai thế hệ mà có lẽ của các thế hệ tiếp nối. Nó không đơn thuần là một bài hát mà là cuốn nhật ký ghi lại sự thật xảy ra ở Việt Nam, không chỉ của một cá nhân mà cả một dân tộc. Nó gắn chặt tên tuổi anh vào nó hay nói ngược lại nó đã khai sáng một PVH, một dòng nhạc mới ở hải ngoại.

Bạn bè của tôi,
Từng chiếc lá trong trận bão dân tộc
Tuổi trẻ đôi mươi bị lãng phí như cỏ rác thôi

……………………………………………………………..

Bạn bè của tôi
đi lây lất trong cuộc sống vô vọng

…………………………………………

Ai thấu cho oan khiên này
Người có lắng nghe ….
Tiếng ai than dài

(Bạn bè của tôi/Phan Văn Hưng)

Trong một bài phỏng vấn anh Hưng tâm sự:

“Tôi sẽ hát những bài hát đầu tay của Nam Dao và tôi, những bài hát mộc mạc không tham vọng, nhưng cũng là những bài hát đã đánh dấu cuộc đời chúng tôi cũng như của các bạn của tôi. Thời đó chúng tôi đã khóc cho quê hương, cho đồng bào mình, thì ngày hôm nay tiếng khóc đó vẫn chưa dứt. Ngày hôm nay chúng tôi vẫn viết ca khúc, có thể kỹ thuật làm nhạc đã già dặn hơn, đề tài cũng có thể đã thay đổi theo những biến đổi của đất nước, nhưng trong tiếng uất nghẹn chưa nguôi đó, tôi vẫn cảm thấy lòng mình rực lửa vì con đường dân tộc mình đi nhất định sẽ có ngày rực sáng.”

Anh khóc cho quê hương trong ca khúc “Hai mươi năm”

“Hai mươi năm, nhiều kẻ gian trong làng xóm
Người hiền khô mang gông cùm
Kẻ mộng du lên bạo chúa
Người ngồi khóc trên sân chùa
……………………………………………………………

Hai mươi năm, những nụ hoa cho người hái
Những thể xác cho ai đầy
Một thầy cô trong nhà chứa
Gặp trò xưa bỗng khóc òa”

(Hai mươi năm/ Phan Văn Hưng-Nam Dao)

Anh cũng đã khóc cho quê hương khi khúc đầu, khúc trán, khúc tai, hình chữ S bị xẻo ngang ngày đó, bây giờ lần lượt tới Trường Sa, Hoàng Sa:

“PVH: Làm sao mà không nói cho được về chuyện mất Ải Nam Quan sau hàng chục thế kỷ tổ tiên ta đã giữ vững bờ cõi ở phương Bắc? Đau mất đất chỉ là một, nhưng đau và tủi nhục đối với tổ tiên là mười. Đã hát về đất nước VN ngày hôm nay thì đương nhiên ta phải hát về Nam Quan chứ.”

“Ải Nam Quan ơi ta đã mất tên em/ Như một phần hồn tự nghìn năm.

Lòng ta đau như ai đem dao/ Xé nát da non cứa trên thịt gan.

…………………………………………………………

Ai đem hình hài/ Giang sơn đọa đày/ Cho thân lìa cành/ Cho cây lìa đất

Cho ta lìa cội/ Như sông bỏ nguồn/ Ta nghe tủi nhục/ Dâng vào lòng”

(Vọng Nam Quan/ Phan Văn Hưng-Nam Dao)

Ba mươi ba năm lưu vong, dòng nhạc Phan Văn Hưng để lại cho kho tàng âm nhạc hải ngoại một dòng nhạc tranh vẽ những thao thức, khắc khoải tâm tư: “Trái tim tôi là bến” phổ thơ Bắc Phong, “Giết một ước mơ” phổ thơ Chế Lan Viên, “Nơi phía bình nguyên” Ý văn Dương Thu Hương, “Kiểm tra” phổ thơ Hà Sĩ Phu, “Khát” ý thơ Thanh Thảo, “Ai trở về xứ Việt” thơ Minh Đức Hoài Trinh. Dòng nhạc truyện kể những mảnh đời bi thảm của “Bài ca cho bé Thảo” phổ thơ Nam Dao, “Em bé và viên sỏi” phổ thơ Trần Trung Đạo, “Em bé lên 6 tuổi” phổ thơ Hoàng Cầm, “Bậu”, “Con bé nhà quê” phổ thơ Thái Sơn, “Tiễn em rời K18”…. và còn nhiều nữa. Anh bắt đầu sáng tác từ năm 1970 cho tới nay, 38 năm anh có tất cả là 121 ca khúc. Bấy nhiêu tâm huyết làm nên dòng nhạc Phan Văn Hưng.

Có người gọi dòng nhạc này là nhạc Tranh Đấu. Nghe kỹ lại những CD anh đã phát hành, từ “Sinh ra là người Việt Nam”, “Khát”, “Có phải em chờ mùa Xuân”, “Hai mươi năm”, cho đến “Nơi phía bình nguyên” ….người ta không thấy một dấu hiệu nào anh gào thét tranh đấu, đòi cái này, cái nọ. Anh không kêu gọi, ủng hộ, hay tuyên dương cho một chủ nghĩa nào. Người bảo nhạc anh là Hưng Ca. Tôi không thấy anh có ý phục quốc, xây dựng một chính thể khác, đòi làm mới hay ẩn dấu trong dòng nhạc một tư tưởng vùng dậy nào cả. Nhưng có lẽ tác động tranh đấu và phục hưng của nó nảy sinh từ trong tâm thức thính giả sau khi nghe các bài nhạc vạch rõ những áp bức, bất công, lầm than, nên người ta đặt tên cho dòng nhạc này như thế chăng? Kẻ góp ý nhạc anh là Dân Ca. Tuy những dòng nhạc anh viết hầu hết cho người dân lầm than nhưng không thể ghép nó vào dòng nhạc dân gian.

Theo giáo sư Trần Quang Hải, Dân Ca nghĩa là:

“Định nghĩa danh từ dân ca, theo tôi, là những bài ca không biết ai là tác giả, được truyền miệng từ đời này sang đời khác, dính liền với đời sống hàng ngày của người dân quê, từ bài hát ru con, sang các bài hát trẻ em lúc vui chơi, đến các loại hát lúc làm việc, hát đối đáp lúc lễ hội thường niên.

Dân ca lại mang một màu sắc địa phương đặc biệt, tùy theo phong tục, ngôn ngữ, giọng nói, và âm nhạc tính từng vùng mà khác đi đôi chút. Nhưng nhìn chung, vẫn là bài hát thoát thai từ lòng dân quê với tính chất mộc mạc, giản dị của nó.

(Trích Dân Ca Việt Nam-Giáo sư Trần Quang Hải)

Nét bi ca và phẫn uất rực lên trong dòng nhạc. Riêng tôi, tôi nghĩ chúng ta nên gọi dòng nhạc này là “Bi phẫn ca” thì đúng hơn. Chữ “Bi” ở đây có thể hiểu là buồn vì cái buồn của người khác và khổ vì cái khổ của người khác.

Bàng bạc trong những ca khúc của anh điều nguời ta phát hiện nhiều nhất, rõ nhất là tính nhân bản của con người. Nghệ sĩ thì nhạy cảm. Họ nhìn thấy trước cái thiên hạ thấy, cảm trước cái thiên hạ cảm. Nên anh cảm và thấy cái khổ đau, thống thiết, bất công, tàn nhẫn, ngược đãi, nghèo đói, bạo lực, lầm than, áp bức, tù tội … nhan nhản trên đất nước Việt Nam từ thời điểm 1975 cho đến nay. Sự nhạy cảm cấu mềm sự tích cực, lúc ấy người ta chỉ thấy toàn tiêu cực. Khi nước mắt người nghệ sĩ nhỏ xuống cung bậc sẽ lên ngôi. Dòng nhạc hát cho người dân, hát cho đồng bào tôi ra đời. Hầu hết các ca khúc của anh viết cho quần chúng, đối tượng của anh phần lớn là trẻ thơ, người nghèo, anh bạn tù, những thân phận bị vùi dập, những cay đắng, thống khổ triền miên mà những kẻ yếu không thể nói hay không có cơ hội nói lên được. Anh không bao giờ nghĩ rằng chính mình mang sứ mạng của một người đánh chuông, nhưng dòng nhạc thay anh gióng tiếng chuông tỉnh thức tới mọi nơi, mọi nhà, viết dùm, nói dùm nỗi uất ức của những người không nói được. Những nét chấm phá bi thảm cuộc sống ấy pha màu cho những bức tranh màu xám, đầy gai, bấu rách màng tim người nghe. Dòng nhạc vô tình chuyên chở được nhu cầu được nói của kẻ yếu trong cái hữu tình của người soạn nên ca khúc.

Tất cả sự việc vô tình và hữu tình ấy tình cờ kết duyên tao ngộ làm nên dòng nhạc

“Bi Phẫn Ca” của Phan văn Hưng.

Để nghe và biết thêm về dòng nhạc “Bi Phẫn Ca” này các bạn có thể bấm vào các link sau:

Em bé và viên sỏi/ Phan văn Hưng

http://www.youtube.com/watch?v=VltsSNsY4Kc

Sinh ra là người Việt Nam/ Phan văn Hưng

http://www.youtube.com/watch?v=pKxIJJedUdo&feature=related

Hai mươi năm

http://www.youtube.com/watch?v=yDYIPnPn8s0&feature=related

 

http://www.vietnamexodus.org/vne0508/vnenews/chantroiviet/Phan%20Van%20Hung%20va%20Bi%20Phan%20Ca.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »

Hình Ảnh Biểu Tình Chống Trung Quốc Chiếm Hoàng Sa & Trường Sa Ngày 13 Tháng 09, 2008 tại Nam California

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 16, 2008

Hình Ảnh Biểu Tình Chống Trung Quốc Chiếm Hoàng Sa & Trường Sa Ngày 13 Tháng 09, 2008 tại Nam California

Mười Sáu

Thanh Niên Cờ Vàng (TNCV) phối hợp với đoàn Thanh Sinh Phó Đức Chính, tổ chức mít tinh, chiếu Slide Show (về những tình hình biến chuyển gần đây tại Việt Nam như vụ Thái Hà, tiếng nói của các nhà dân chủ bị cs đàn áp, v.v…) trên Đại Lộ Bolsa – nam California, đồng thời Yểm Trợ Thanh Niên Sinh Viên Quốc Nội Biểu Tình ngày 14/9/2008 được đông đảo đồng bào mọi giới đến tham dự.

(ông Trần Thế Cung)

http://www.vietnamexodus.org/vne0508/modules.php?name=News&file=article&sid=787

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Người Việt Bắc Caifornia biểu tình phản đối CSVN bán nước cho Trung Cộng

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 16, 2008

Người Việt Bắc Caifornia biểu tình phản đối CSVN bán nước cho Trung Cộng

Sep 15, 2008

Bấm vào đây để xem Phóng sự ảnh: Bắc California xuống đường phản đối Công Hàm Bán Nước của cố Thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng và đòi lại Trường Sa và Hoàng Sa cho Việt Nam

 

Cali Today News – Trong khi có tin tòa đại sứ Trung cộng tại Việt Nam sẽ cho phổ biến bức công hàm của Thủ tướng Cộng sản Việt Nam là Phạm Văn Đồng đã gửi văn thư chính thức xác nhận và tán thành bản tuyên bố quyết định về hải phận của Trung Cộng bao gồm cả hai đảo Hoàng Sa Trường Sa vào ngày 14/9/1958 thì công đồng người Việt khắp nơi tại hải ngoại và thanh niên sinh viên trong nước đã lên tiếng phản đối “công hàm” nầy và không công nhận nó.Tin tức trong những ngày qua cho thấy Công an Cộng sản Việt Nam đã tìm mọi cách để ngăn chặn những cuộc biểu tình tại cả hai thành phố Hà Nội và Saigon.

 

Tại hải ngoại, cộng đồng người Việt nhiều nơi đã xuống đường từ Nam California, Bắc California, Hoa Thịnh Đốn…v.v để yểm trợ giới sinh viên thanh niên trong nước.

 

Vào ngày thứ Bảy 13/9 tại Nam California, đúng vào ngày 14/9 tại Việt Nam, tin tức cho biết nhóm Thanh Niên Cờ Vàng tổ chức cuộc biểu tình trước khu Phước Lộc Thọ vào lúc 6 giờ chiều thứ bảy, tất cả để cùng góp sức với thanh niên, sinh viên trong nước bảo vệ chủ quyền của Việt Nam.

 

Tại San Francisco bắc California, nhiều hội đoàn và đồng hương tham dự biểu tình được một số hội đoàn tổ chức vào lúc 11:30 trưa Chủ Nhật ngày 14 /9/2008 trước tòa lãnh sự Cộng sản Việt Nam tại San Francisco, số 1700 Clifornia St. Khoảng hơn 100 đồng hương từ San Francisco, San Jose, Oakland, Sacramento về tham dự.

 

Trong thành phần tổ chức người ta nhận thấy có Lực Lượng SQTĐ, Ủy Ban Bảo Vệ Chính Nghĩa Quốc Gia, Đảng Việt Tân, nhiều thành viên của các tổ chức thanh niên. Cuộc biểu tình thu hút nhiều cơ quan truyền thông, báo chí Việt ngữ và ngoại quốc, trong có phóng viên của đài VOA, Đài Chân Trời Mới và đài TNT trực tiếp truyền thanh.

 

Các nhân sĩ và hội đoàn lên tiếng phát biểu có GS Hoàng Cơ Định, ông Vũ Huynh Trưởng, Ông Le Văn Hải, ông Uông Tiến Thắng, sinh viên Charlie Nguyễn, sv Nguyễn Minh, SV Ngô Mai Hương, SV Nguyễn Lê Phương Uyên, tiến sĩ Trần Dịệu Chân…v.v. với tư cách là người dân Việt Nam, Ông Hoàng Thưởng Ủy Ban Bảo vệ Chính Nghĩa Quốc Gia, ông Nguyễn Minh Đường LLSQTĐ.

 

Tất cả các lời phát biểu lên án công hàm 14/9/1958 do Phạm Văn Đồng (thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lúc đó) ký công nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Trung cộng. Tất cả lời phát biểu đều cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt quyền lợi của đảng CS lên trên quyền lợi của đất nước, bất lực trong việc bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ của Việt Nam, trong khi đó thì đàn áp các nhà dân chủ, học sinh, sinh viên và những người bày tỏ lòng yêu nước chống Trung quốc xâm lược.

 

Nhiều lời lên án CSVN bán nước, nhiều lần đoàn biểu tình hô to các khẩu hiệu “Hoàngsa, Trường Sa là của VN”, “CSVN bán nước”…v.v.

 

Một tài liệu và bài nói chuyện bằng Anh ngữ được đọc lên và phân phát cho những du khách qua đường.

 

Cuộc biểu tình kéo dài 1 giờ đồng hồ và chấm dứt lúc 12:30 chiều.

 

Trong khí đó tại Hoa Thịnh Đốn, các tổ chức người Việt đã đồng loạt thực hiện những cuộc biểu tình trước tòa đại sứ Cộng sản Việt Nam tại công viên Sheridan Circle, góc đường đường R và Massachussetts Northwest, vào lúc 2 giờ chiều chủ nhật ngày 14 tháng 9. Tại Paris, một cuộc biểu tình cũng được tổ chức để vạch trần sự thật về bức công hàm Phạm Văn Đồng dâng hiến quần đảo Hoàng Sa Trường Sa cho Trung cộng. Tại Frankfurt, Đức quốc, cũng có tin một thông cáo báo chí của đảng Thăng Tiến sẽ tổ chức biểu tình trước tòa Tổng Lãnh Sự Việt cộng tại Frankfurt vào lúc 11 giờ 30 ngày 20 tháng 9, cùng ngày sẽ có buổi hội thảo về hiện trạng đất nước, cũng như đặc biệt liên tôn cầu nguyện cho quê hương Việt Nam, hiệp thông cùng các Linh mục cùng Giáo dân Thái Hà đang bị bách hại dã man, thắp nến cầu nguyện, thông báo và kêu gọi người Đức tham gia ký thỉnh nguyện thư gửi chính phủ Đức để phản đối nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam.

 

Trong khi đó cuộc biểu tình được chờ đợi của sinh viên và thanh niên VN trong nước vào ngày 14/9/2008 đã không xảy ra như kêu gọi. Theo tin tức ghi nhận từ các bản tin của các tổ chức thanh niên, trên diễn đàn giới trẻ VN viết “Hôm nay 14/9/2008, ngày gợi lại một ‘vết đen’ trong lịch sử đối ngoại và hải giới của 50 năm về trước. Dù ít hay nhiều, những ai nhớ đến “bức công hàm Chính Phủ” đều mang một tâm trạng thất vọng, thất vọng không chỉ sự đã rồi mà thất vọng cho cả sự im lặng kinh khủng của giới trẻ Việt Nam.

 

Bản tin viết tiếp “Đã gần hai tuần nay nhiều thông tin bùng lên một phong trào dấy động biểu tình của sinh viên Hà Nội. Đặc biệt là từ hải ngoại và các lực lượng đối lập cố thắp lên cho được niềm tin về một dịp 9/12 [đợt biểu tình phản đối Trung Quốc năm 2007] nữa. Song đến 19h30′, trăng vẫn sáng dịu hiền trên bầu trời HN, một nỗi thất vọng tràn trề ập xuống những ‘tâm hồn nhỏ’”.

Bản tin ghi nhận phân tích nguyên do của sự im lặng này. “Thứ nhất: Những lời kêu gọi bấy lâu nay suồng sã và thiếu hiểu biết giới trẻ Việt Nam một cách đáng báo động. Thứ nhì: Lực lượng đối lập quá yếu, gần như chưa đi vào được dân chúng và cũng chưa đủ dũng cảm để hiện thực hóa những gì họ vẫn thường kêu gọi. Thứ ba: Hệ thống tuyên truyền mang tính chất lôi kéo những tư tưởng chống đối hơn là hun đúc ý chí quốc dân.

 

Thứ tư: Bế tắc toàn vẹn trong chính phương cách giải quyết vấn đề biển Đông. Sức lý luận không được trình bày ngoài sự chửi bới chính quyền. Duy chỉ có một điều làm được được là phổ biến được bức công hàm đen tối…”

 

Bản tin kết luận rằng “Chính những lời kêu gọi không mang tính thực tiến sẽ làm xói mòn các sự việc trong giới trẻ, đển lúc nào đấy, cứ nghe đến lời kêu gọi, các bạn trẻ sẽ chỉ tấc lưỡi: Toàn những lời kêu gọi nhảm nhí!??… Còn gì tệ hại hơn khi giới trẻ xem thường lời kêu gọi của “chúng ta”.”

 

Có ý kiến thì cho rằng “Thất bại là vì: Lý do không thực sự thuyết phục; cách thực hiện rất dở (kẹp tiền vào truyền đơn); uy tín không có, thậm chí còn là hình ảnh xấu trong mắt đại bộ phận thanh niên (điều đáng buồn nhưng phải nhìn thẳng vào sự thật).”

 

Có ý kiến cho rằng “Cộng sản gần quần chúng để kiểm soát họ, chúng ta phải gần quần chúng để dân chủ hóa họ… đừng tưởng đứng ở xa mà hú là họ nghe…”

 

Hoặc “Đổ lỗi cho mấy nhà dân chủ salon là không chính xác. Có nhiều người đã dấn thân làm việc thực tế như luật Đài và luật sư Nhân… nhưng đều bị cấm và gán ghép tội nọ tội kia cho đi tù. Nhận thức lệch lạc về dân chủ nói riêng và chính trị nói chung là do cách giáo dục và tuyên truyền đổi trắng thay đen của đảng cầm quyền. Ngoài ra tâm lý dân Việt Nam nói chung là kiếm tiền và hưởng thụ. Chừng nào có thằng tới xâm lăng, hiếp gái Việt thì mới liều chết mà đánh. Nói chung là tâm thế nhược tiểu hèn mọn.”

 

Có ý kiến cho rằng:”dù bất cứ viết gì hay nói gì, chúng ta hãy chỉ nên nói nên viết Sự Thật, và chỉ Sự Thật mà thôi! Hãy hết lòng tôn trọng và bảo vệ Sự Thật! Chỉ cần cò một chút lập lờ đánh lận con đen, chúng ta làm mất lòng độc giả tức thì! Chính Sự Thật sẽ giải phóng chúng ta! (chứ không phải những mưu mẹo, trí trá).”

 

Nhìn chung, trong tuần qua vụ Trường sa Hoàng Sa đã dấy lên trong cộng đồng người Việt khắp nơi lòng căm phẩn, và đánh động được giới trẻ trong nước.

Trong cộng đồng còn nhiều sinh hoạt khác, bổn báo phóng viên sẽ tường trình trong số báo ngày mai.

 

Chúc bình an


Việt Điểu

 

http://www.calitoday.com/news/view_article.html?article_id=d1707c987352a089096c86939e5566be

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

COI CHỪNG TỔ CHỨC GIÚP THƯƠNG PHẾ BINH VNCH” DỎM”

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 16, 2008

TinParis. Trong cuộc chiến hiện nay với CSVN tại Hải Ngoại, chúng ta cần phải tự làm cuộc “cách mạng bản thân ” thì họa may mới chiến thắng được Việt cộng trong trận chiến cuối cùng nầy để chúng ta có thể hãnh diện ” ngẩng mặt nhìn trời ” , mà không ” cúi đầu khuất phục ” bọn cướp đỏ “, mà khi ” cúi đầu rồi thì chỉ biết cuối đầu xuống đất mà đi ” thì hình ảnh đó là của ” một con thú , một con chó “. Đời đời , sẽ ghi lại trong sử xanh, cho con cháu chúng ta, cho các thế hệ mai sau rằng : ” những người của chế độ củ , từng gọi là Việt Nam Cộng Hòa, đã đầu hàng tại hải ngoại và phục tùng đảng Cộng sản Việt Nam như những con chó “.

Làm cuộc ” cách mạng bản thân ” là như thế nào ? Rất giản dị nhưng rất khó thực hiện :

1- Cương quyết từ chối mọi sư ” mua chuộc ” của “bọn cướp đỏ” như tiền bạc, danh vọng , gái, v.v…

2- Đừng để tình cảm riêng tư chi phối . Điều nầy còn khó thực hiện hơn là điều trên đây. Có nhiều người dù biết rằng ” cá nhân ” đó là kẻ “lường gạt ” hay ” trở cờ ” nhưng không dám chỉ trích vì kẻ đó là bạn bè , bà con, hay là ” xếp cũ của mình ” , v.v.. Trước đây, vì ” nặng tình cảm gia đình ” cho nên Miền Nam đã mất vào tay cộng sản Việt Nam.

Do đó, như quý bạn đọc giả từng theo dõi TinParis.net, tác giả Trương Minh Hòa là ” một người hiếm có ” tại hải ngoại dám ” vạch mặt chỉ tên ” những kẻ ” trở cờ , lường gạt , nội tuyến ” như những người có tên dưới đây, tuy rằng có hơi ” lễ phép ” đối với họ. Thiết tưởng, dù chúng có mang cấp bậc Đại Tá của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhưng nay đã trở cờ , thì xin đừng gọi chúng là đại tá ( như Nguyễn cao Kỳ ) mà chỉ nên gọi chúng là ” thằng ” hay ” là quân chó đẻ ” là đúng nhất .

 

COI CHỪNG TỔ CHỨC GIÚP THƯƠNG PHẾ BINH VNCH” DỎM”

TRƯƠNG MINH HÒA.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, toàn dân miền Nam Việt Nam đã thấm thía thế nào là câu tuyên bố của đại tướng Dương Văn Minh trong ngày nhậm chức tổng thống từ tay cụ Trần Văn Hương rằng:”… nhiệm vụ của tôi lên đây nhằm thực hiện mục tiêu hòa hợp hòa giải dân tộc” và sau đó là những tên du kích miền Nam, giặc từ niềm Bắc vô đây, được tên nhạc sĩ quốc gia, cầm ca cho Cộng Sản Trịnh Công Sơn đã” nối Còng tay lớn” để thực hiện cái gọi là:” cách mạng vùng để đổi đời” với cảnh:” thằng ngốc làm vua, thằng khôn đi học thằng ngu làm thầy..”.

 

Tất cả mọi người dân miền Nam đều khốn đốn với những đợt đánh tư sản, đổi tiền, chính sách ngăn sông cấm chợ qua mạng lưới các trạm kiểm soát khắp nơi như mạng nhện, hàng năm phải làm công tác thủy lợi với cái chiêu bài” xã hội chủ nghĩa”, bị khủng bố tinh thần thường trực bởi hệ thống đảng ủy, công an từ phường khóm, ấp, xóm…. đến huyện, tỉnh. Riêng thành phần quân nhân trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa thì càng thê thảm:

-Người sống bị đưa đi tù đày, trả thù hnè hạ với mỹ từ” cải tạo” trong nhiều trại tù từ Nam chí Bắc; giặc đã sát hạ hàng chục ngàn người bằng hành quyết, tra tấn, bịnh tật không thuốc men, lao động khổ sai…..

-Người chết nằm ở các nghĩa trang quân đội thì bị khai quật, ủi, san bằng mồ mả, tượng đài bị đập phá.

-Các thương phế binh bị đuổi ra khỏi bịnh viện trong lúc đang điều trị; gia đình bị đuổi ra khỏi các khu gia binh, khu thương phế binh… để cho đám cán binh, du kích, cán bộ chiếm nhà.

Đời sống của những thương phế binh quân lực Việt Nam Cộng Hòa thê thảm nhất, họ phải sống trong cảnh nghèo khổ, thân thể không toàn vẹn, mất hết tất cả tiền cấp dưỡng, lại là đối tượng trù dập của chế độ Cộng Sản, bị chúng gọi là” Ngụy quân”. Do đó, sau khi vượt thoát khỏi ngục tù Cộng Sản, người Việt tỵ nạn, nhất là các quân nhân quân lực VNCH có lòng thương nhớ đến những người đã từng hy sinh một phần thân thể để bảo vệ quê hương, nên trong nhiều năm qua, tại nhiều nơi, có những tổ chức gây quỷ giúp cho thương phế binh còn kẹt ở quê nhà, đây là nghĩa cử cao quý, đáng ca ngợi và ủng hộ trong tinh thần” nhớ ơn”.

Tuy nhiên, thời đại ngày nay, cảnh” vàng thau lẫn lộn”, là” thời đại đồ giả”, từ con người, xã hội, hội đoàn, tổ chức, kháng chiến, phục quốc…. đến tôn giáo với các linh mọp quốc doanh, mượn danh Thiên Chúa và cây Thánh Giá, từ trong nước xuất ngoại lạc quyên; các sư quốc doanh lợi dụng” chùa và tượng Phật” để làm công tác tôn giáo vận, thu tiền, phát triển cơ sở, từ thiện, xây, sửa chùa, dịch kinh Đại Tạng, ru ngủ qua chiêu bài” phi chính trị”…tất cả đã và đang” rút rỉa túi tiền” của người Việt hải ngoại một cách” sáng tạp lẫn tối tạo” bằng nhiều chiêu bài hình thức, biến biến hóa hóa khôn lường, chẳng khác nào những” con bài trong canh bạc”; cho nên việc đóng góp giúp cho thương phế binh cũng nên thận trọng, chọn tổ chức gởi tiền, nhiều khi gặp tổ chức dỏm, do kẻ gian thực hiện, thì tiền đóng góp không đến tay những” ân nhân, anh hùng dân tộc” đang chịu nhiều gian khổ nhất trong cuộc chiến bảo vệ lý tưởng tự do. Nhân đây xin được đưa ra một trường hợp điển hình về tổ chức quyên góp tiền, với danh nghĩa giúp cho thương phế binh quân lực VNCH tại Úc Châu, do chính những người làm cựu quân nhân, cấp bậc cao đứng ra tổ chức, thì ban đầu được nhiều người hưởng ứng là điều không cần giải thích, do họ là những người có uy tín, được dân, quân tin cậy.

Tiểu bang Tây Úc ( West Australia) với hơn 10 ngàn dân Việt Nam, cũng có nhiều tổ chức như: Cộng Đồng Người Việt Tự Do, Hội Cựu Quân Nhân, tôn giáo….Từ đầu thập niên 1990, đại tá Vũ Ngọc Hướng, khóa 1 Nam Định, từ Na Uy sang trong diện đoàn tụ gia đình, ông nầy là người có cấp bậc lớn nhất, dùng uy tín cũ để gom hai hội quân nhân thành một, là điều đáng khen, lúc đầu làm hồi sinh lại không khí sinh hoạt, đoàn kết giữa các cựu quân nhân địa phương, sau thời gian dài bị phân hóa. Và cũng năm nầy, một người tên là Nguyễn Dân Cường, xưng là” đại úy” quân lực VNCH, sang Úc theo diện bảo lãnh của con, mới sang đã hành nghề” bói toán, tử vi” và khoe là đã từng coi chữ ký Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải ( sau nầy đều làm thủ tướng), có mang theo trong một quyển sổ, để quảng cáo tài bói toán của mình, làm ăn khắm khá lúc đầu; ông nầy vào hội quân nhân ngay khi vừa mới qua, làm chức” phó chủ tịch nội vụ” nhiều nhiệm kỳ và cũng về thăm quê hương rất thường.

Là người được dịp về Việt Nam thoải mái, thường ghé” làng phế binh Thủ Đức” để thăm viếng những” thương phế binh quân lực VNCH” và lấy nhu cầu cần giúp đở. Ông đại úy nầy được đại tá Hướng tin cậy, trong lá thư, đại tá viết:

“… Đường lối ĐỐI THOẠI không ĐỐI ĐẦU mà tôi đã trình bày trên Nguyệt San Thông Luận tháng 11/1989 và trong bản Tuyên Cáo của Phong Trào Dân Chủ Xả Hội VN công bố ngày 12/12/1990 tại Hoa Kỳ. vì nhắm vào đối tượng quốc nội và các cơ sở Ngoại Giao đoàn, không phổ biến ở hải ngoại, nhưng cuối năm 1991 anh NGUYỄN DÂN CƯỜNG dự Đại Hội Cựu Quân Nhân liên bang, tôi gởi biếu 25 cuốn. Bản Tuyên Cáo cũng được dịch sang Anh ngữ, được phổ biến trong giới chính quyền liên bang, tiểu bang và địa phương ở Úc khoản 150 cuốn..” ( ngưng trích lá thư tháng 7 năm 1997).

Từ dạo đó, hội cựu quân nhân Tây Úc do đại tá Vũ Ngọc Hướng làm chủ tịch, Nguyễn Dân Cường làm phó chủ tịch nội vụ, Lê Quang Vinh làm phó ngoại vụ, hàng năm phát động gây quỷ, giúp cho thương phế binh, khá rần rộ lúc đầu, tổ chức thành công, sau nhiều lần quyên góp bằng hình thức” ăn cơm nhà hàng”, vận động mạnh thường quân, dân chúng….trong một” thiệp mời” đề ngày 22 tháng 5 năm 1997, do đại tá Vũ Ngọc Hướng mời tham dự buổi tiệc gây quỷ được tổ chức tại nhà hàng Golden Swan lúc 18 giờ 30 ngày 22 tháng 6 năm 1997. Mặt sau là” TÂM THƯ” của ban tổ chức gây quỷ cho thương phế binh QL/VNCH do trưởng ban tổ chức là đại úy Trần Văn Tuyền, đề ngày 1-6-1997 có đoạn ghi:

” Ngay cả Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và các tướng lãnh như Nguyễn Cao Kỳ, Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Văn Toàn, Ngô Quang Trưởng, Ngô Du..v..v..Những người nầy đã hèn nhát đào ngũ trước thời chiến để bỏ lại trên một triệu quân tàn hàng, rả đám để rồi hàng trăm ngàn quân nhân và công chức đi tù, từ đó đến nay họ sống ung dung tự tại với đồng tiền xương máu mà họ bòn rút tham nhũng, những kẻ tội đồ đó lại làm ngơ trước nổi thống khổ của đồng bào và nhứt là tập thể thương phế binh QL/VNCH..” ( ngưng trích).

Qua vài dòng đó, khiến nhiều quân nhân và đồng bào thắc mắc về” tướng Ngô Quang Trưởng” chẳng lẽ là” sống ung dung tự tại với đồng tiền xương máu mà họ bòn rút tham nhũng”? Trung tướng Ngô Quang Trưởng, nổi tiếng là thanh liêm, tài ba, ngay cả trong quyển sách bôi nhọ của Cộng Sản, phát hành năm 1976 có tựa đề là:” Bộ Mặt Thật Tướng Ngụy”, họ chỉ dùng câu” Tướng gà chọi”, chứ không thấy nói tham nhũng. Như vậy có lẽ là ông đại úy Quân Tiếp Vụ mãi mê” đánh giặc đêm ngày trên chiến trường Đường, sửa, bột ngọt, thuốc hút, dầu ăn…” mà không biết tướng Ngô Quang Trưởng đánh giặc, tác phong ra sao?. Trong Quân lực VNCH, trên 4 vùng chiến thuật, ngay cả anh nghĩa quân đóng đồn ở rừng U Minh ( Cà Mau) cũng biết tướng Trưởng .. Có thể nói là trong tổ chức gây quỷ giúp thương phế binh, có một số người thiện chí, tinh thần rất đáng ca ngợi, như anh Nguyễn Văn Minh, tức là Minh-Què, một thương phế binh, anh rất tích cực, hoạt động vô vị lợi, nhưng anh và một số người khác có lẽ không biết đàng sau cái tổ chức nầy thế nào. Hy vọng anh và những người có tấm lòng, sau khi đọc xong bài nầy, sẽ hiểu rõ hơn.

Đến thời ông Trần Văn Tuyền làm chủ tịch hội cựu quân nhân Tây Úc, thì ông quyết định thành lập ra tổ chức mang tên:” Hội Gia Đình Cựu Quân Nhân QL/ VNCH Tây Úc” qui tụ những” phu nhân” trong hội và một số vị nổi tiếng địa phương. Hội nầy nhằm giúp đở thương phế binh, vì hình như các ông tổ chức không được nhiều người hưởng ứng như mới phát động?.

Trong một thông cáo gây quỷ năm 1998, phổ biến trên một số cơ quan truyền thông như tuần báo Úc Châu như Nhân Quyền ( số 654), đài phát thanh SBS, do bà Trần Văn Tuyền, là chủ tịch Hội Gia đình cựu quân nhân quân lực VNCH cùng với các bà: nha sĩ Dương Quỳnh Giao*, Nguyễn Phụng Loan, tổ chức buổi ca nhạc Tình Thương, ngày 18 tháng 10 năm 1998, lúc 11 giờ sáng tại nhà hàng Golden Swan…thông cáo với nội dung:

-Duyệt xét thêm 2200 hồ sơ phế binh ở quê nhà.

-Từ năm 1991 đến 1998, đã giúp được 3200 phế binh.

-Mỗi người phế binh được tặng 100 Úc Kim.

Như vậy, thì chỉ cái hội cựu quân nhân quân lực VNCH Tây Úc, nhỏ bé, vậy mà đã tìm được con số thương phế binh để giúp là: 2200+3200= 5400 thương phế binh ( cũng gần một trung đoàn chớ bộ), dù hội nầy không có cơ sở tại Việt Nam và cũng không được các tờ báo” nhà nước” giúp đăng thông báo để cho các phế binh quân lực VNCH liên lạc để được giúp đỡ. Theo lời” đại úy” Nguyễn Dân Cường, đại tá Vũ Ngọc Hướng thì: bây giờ Việt Nam cỡi mở lắm, cho thương phế binh ta được Việt Cộng cho ở làng phế binh Thủ Đức, lập ra nơi liên lạc, đặt cơ sở; nên đồng bào, các chiến hữu cứ đóng tiền và hội sẽ gởi tiền về giúp đến tận tay, rất là” giản đơn” và đầy tình người, chiến hữu.

Được biết đại tá Vũ Ngọc Hướng là người từng về Việt Nam như đi chợ từ năm 1996, ông hay” động viên” các quân nhân và đồng bào rằng:” Việt Nam bây giờ cỡ mở lắm, hảy về nước du lịch, thăm quê hương, làm ăn..”, nên ông được gọi là” đại tá Cỡi Mở” và ông hô hào phương cách lật đổ bạo quyền Cộng Sản rất là” sáng tạo”, chắc chắn là nằm ngoài” cương lỉnh, phương cách hành động của các đảng phái, tổ chức” giải thể Cộng Sản, được ông khoe nhiều lần trước đám đông như sau:” bản thân ông bỏ tiền ra ủng hộ những tay đua xe gắng máy cao tốc, chính những tay đua nầy là lực lượng tiên tiến, lật đổ Cộng Sản”.

Mỗi lần có cuộc tập hợp như ngày quốc hận 30-4, lợi dụng cấp bậc” đại tá” lon lớn nhất, ông nhảy lên bụt giành máy Micro ( dù có lúc ban tổ chức không mời), phát biểu dài, nói về những chuyến về thăm quê hương thật là thú vị, rất là tâm đắc khoe là:” khi về tới Việt Nam là có NGƯỜI TA ( Việt Cộng) ra đón rất long trọng”. Ngay cả lúc thiếu tướng Lê Minh Đảo sang vào năm 2005 lần đầu tiên, trong khi mọi người nói về cách chống Cộng, thì đại tá Hướng nhảy lên, cũng là lối cũ, ông cho biết là: mới về Việt Nam, cổ động mọi người cùng về, hòa hợp hòa giải….làm cho phái đoàn tướng Đảo và cả những người tham dự bực mình. Tháng 8 năm 1996, lúc đoàn Văn Công Việt Cộng Dạ Lý Hương 2 sang Tây Úc, trong lúc cộng đồng, các tổ chức chống, thì tờ Phổ Thông do Bùi Tấn Chức, khóa 27 Võ Bị Đà Lạt ủng hộ ( nghe đâu tay nầy đang sinh sống ở Queensland?) và đại tá Hướng chủ trương: cứ cho họ hát ở sòng bạc Casino, tôi sẽ mời tham vụ ngoại giao Việt Nam đến, họ đặt lá cờ đỏ; còn tôi đặt lá cờ vàng trên bàn chủ tọa, họ hát cho dân ta xem; và sau đó truất một số tiền lời để ủng hộ cho các thương phế binh VNCH, là cách” dùng súng địch để bắn địch”. Ông đại tá thường khuyên các quân nhân là:” chống Cộng tế nhị”, điển hình là vụ cơn bảo Linda, trong lá thư ông viết:” Tại sao Cộng Đồng Người Việt hải ngoại không gửi văn thư cho tòa đại sứ của Hà Nội đề nghị gởi một phái đoàn gồm các đại diện tôn giáo về VN ủy lạo, vừa có tình có nghĩa”

Đại tá Vũ Ngọc Hướng còn có chương trình thành lập tại Việt Nam cái tổ chức gọi là:” Hội Những Người Tàn phế Vì Chiến Tranh” từ Việt Nam, để nhận tiền từ hải ngoại gởi về, chính phủ Hoa Kỳ. Ông cho là:” Hoa kỳ là một trong những kẻ chủ chốt gây ra chiến tranh Việt Nam, còn chúng ta bị tai họa đẫy vào cuộc chiến tương tàn thảm khốc” ( ngưng trích từ lá thư gởi anh em thương phế binh ở Việt Nam năm 1997).

Trong lá thư gởi” các chiến hữu” ngày 19 tháng 4 năm 1999, đại tá Hướng có nói đến trường hợp của thiếu tá Nguyễn Văn Thà ( Sáu Thà), nguyên quận trưởng Giáo Đức, sang Úc tỵ nạn (ông vừa mới qua đời năm 2007); nói về ông Sáu Thà nhân dịp về Việt Nam thăm quê hương, tìm được vài nghĩa quân phế binh, cần được giúp đỡ. Tuy nhiên đám công an địa phương đến hỏi thăm, khiến ông Sáu Thà hoảng sợ, bèn trở về Úc. Gặp đại tá Vũ Ngọc Hướng để thông báo tình hình, thế là ông bèn liên lạc với Mặt Trận Tổ Quốc ở Hà Nội, với nguyên văn:” Tôi muốn biết rõ sự việc nên nhờ điện thoại về Hà Nội thì ông già Mặt Trận Tổ Quốc trả lời: Nhà nước đang cần ngoại tệ, dân thì nghèo, gởi về giúp là quí là tốt lắm…..rồi bảo hỏi phòng chánh sở Công An Tiền Giang; sau khi liên lạc về địa phương, trả lời là không có vần đề gì?”

Như vậy, thì cái vụ gởi tiền giúp phế binh quân lực VNCH do hội cựu quân nhân Tây Úc, muốn gởi tiền đến tay các thương phế binh VNCH, thì nên qua tay Mặt Trận Tổ Quốc và Công An…do đó, sau vụ gây quỷ năm 1998 với thông báo nêu trên, thì đồng hương Tây Úc đã hiểu rõ nên không thiết ta đóng góp. Sau thời gian dài từ 1998 đến năm 2008 ở Tây Úc không có tổ chức gây quỷ nữa; vào tháng 8 năm 2008, mới đây hội cựu quân nhân Tây Úc cũng vừa tái tổ chức gây quỷ giúp phế binh, nghe đâu cũng thu được mớ tiền, đáng hoan nghinh, chúc mừng những người” ăn cơm nhà..vác ngà voi” và hy vọng đừng theo vét mòn và sự chỉ đạo của đại tá Vũ Ngọc Hướng và những người khác nằm trong hội, có nhiều ảnh hưởng, hiện là cố vấn của hội.

Việc quyên tiền gởi về giúp cho thương phế binh VNCH còn kẹt ở quê nhà là điều tối cần thiết, vì thời gian làm cho họ kiệt lực, nhiều người đã” trở về với đất mẹ” trong sự nghèo khổ, bạc đãi, trù dập của bạo quyền Việt Cộng, do đó các chiến hữu còn sống thường nhớ đến:” những ngày xưa thân ái” cũng là điều đáng khen ngợi, trong tình người, cũng vừa là” huynh đệ chi binh”. Tuy nhiên làm cách nào để gởi tiền đúng và đến tận tay các thương phế binh? Đây là câu hỏi mà nhiều người quan tâm, lý do là thời buổi ngày nay là” THỜI ĐẠI ĐỒ GIẢ”, từ bằng cấp giả, tiến sĩ giả, mục sư giả, thầy chùa giả, linh mục giả, đồ giả, lý lịch giả, vú giả, mũi giả, đít giả….khắp nơi đồ thiệt, giả, dỏm lẫn lộn, thì những hình ảnh, giấy tờ của các phê binh cũng dễ làm giả lắm.

Cách đây không lâu, tại nước Úc, ông bộ trưởng bộ Cựu Chiến Binh liên bang là ông Bruce Scott đã ra thông cáo kêu gọi người Việt Nam tỵ nạn tại Úc hảy tố cáo” những tên Việt Cộng, lấy giấy tờ của quân nhân VNCH để lòn vào, giả mạo, lãnh tiền cấp dưỡng..”. Do đó, các tổ chức quyên góp có chắc chắn là không giúp lầm những tên phế binh Việt Cộng, được đảng và nhà nước giúp đỡ với bộ xã hội, thương binh liệt sĩ và có nhà cửa do chiếm đoạt từ các làng phế binh, trại gia binh sau 1975?. Đây là vấn đề tế nhị và khó khăn, nên các ban cứu xét cũng có thể lầm, ngoài ra còn có thể có một số tổ chức giúp phế binh cuội, lợi dụng danh nghĩa phế binh để làm những chuyện bất chánh. Ở hải ngoại lâu nay, nhiều người từng lầm cái Mặt Trận kháng chiến Hoàng Cơ Minh, thì cái hình thức giúp thương phế binh cũng dễ” ăn khách” lắm.

Đề nghị là các tổ chức quyên góp, sau khi thu được một số tiền, nên tìm đến các nơi đáng tin cậy như sau: binh chủng, gia đình quân đội, các quân trường….chính các nơi nầy có nhiều người biết rõ những chiến hữu phế binh của họ còn kẹt ở Việt Nam và biết rất rõ:” GIỜ NẦY ANH Ở ĐÂU?”. Sau đó hỏi họ có bao nhiêu nhu cầu vì nắm vững danh sách và đưa cho họ gởi dùm, là coi chắc ăn; chớ ban cứu xét, dựa vào hình ảnh, giấy tờ mà gởi, thì e là không chính xác. Từ lâu, nhiều quân trường, binh chủng, đơn vị quân đội đã âm thầm giúp đỡ các bạn đồng ngũ, cùng đơn vị, biết nhau từ trước; chứ không đợi đến những tổ chức đứng lên gây quỷ, như vài hội cựu quân nhân, tổ chức Hội Bạn Thương Phế Binh…. người viết bài nầy cũng là một quân nhân, nên rất mong muốn tiền quyên góp đến tận tay những chiến hữu thương phế binh còn kẹt ở Việt Nam, nên bài viết nầy chỉ nhằm đề cao cảnh giác mà thôi. Đồng tiền làm ra ở nước ngoài cũng” chăm lắm” chứ không phải như người” ngồi trên đống vàng”, do đó những đồng tiền tình nghĩa cần được gởi đến đúng người. Có ai cảm thấy thoải mái khi biết tiền của mình đóng góp lại lọt vào tay những tên khủng bố Việt Cộng, sau thời gian pháo kích vào khu đông dân cư, bắn sẻ, giựt mìn… đã bị thương, và những kẻ chiến thắng, từng mạt sát mình sau ngày 30 tháng 4 năm 1975?.

GHI CHÚ: * Nha Sĩ DƯƠNG QUỲNH GIAO, có phòng mạch ở Tây Úc, định cư khá sớm, hình như thập niên 1980? Là người nổi tiếng có tấm lòng” đại-bác” ( tức là lòng bác ái lớn, không phải là súng cành-nông nhé). Bà thường tham gia những cuộc lạc quyên, từ thiện như: giúp thương phế binh, mổ mắt cườm ( do cánh của Phước Huệ), giúp người cùi, cám ơn nước Úc….dù là nha sĩ, nhưng cũng từng tháp tùng phái đoàn” mổ mắt cườm” về tận Việt Nam nhiều lần, chắc là” mắt với răng” có mối” quan hệ hữu cơ” với nhau, như tình hữu nghị Việt-Trung như răng với môi? Bà từng được đài phát thanh SBS đưa lên phỏng vấn nhiều lần. Bà nha sĩ Dương Quỳnh Giao được đại tá Vũ Ngọc Hướng khen ngợi và tặng danh hiệu:” CÔNG NƯƠNG DIANA QUỲNH GIAO”.

Những người nào về nước làm từ thiện thường hay sợ Việt Cộng làm khó dễ nếu muốn về tiếp tục công tác giúp người, và họ tự nhận” phi chính trị”, nên ít thấy hoặc không thấy những người có tấm lòng” đại bác” đi biểu tình, ngay cả ký tên đòi lại tên Saigon, dù thỉnh nguyện thư nầy gởi cho La Mã, thế mà họ cũng sợ, không dám ký. Do đó: khi một người làm từ thiện là tập thể người Việt tỵ nạn mất đi một người đấu tranh cho dân chủ, tự do trong nước. Việt Cộng rất” ái mộ” những người làm từ thiện, họ vừa được tiền và vừa làm giảm quân số chống Cộng, thật là thâm độc./.

TRƯƠNG MINH HÒA

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »