Tudodanchu's Weblog

Freedom, Democracy, Human Rights, No Communism For Vietnam

Archive for Tháng Chín 28th, 2008

PHAN NHẬT NAM: TÊN TUỔI CŨ, ĐẦU ÓC MỚI?

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 28, 2008

PHAN NHẬT NAM: TÊN TUỔI CŨ, ĐẦU ÓC MỚI?

Nam Nhân (Quân nhân QLVNCH)

Là một quân nhân của QLVNCH, Nam Nhân tôi, trước 1975, rất ngưỡng mộ nhà văn quân đội Phan nhật Nam. Nhiều lúc chuyện vãn cùng bạn bè đã đề cập đến cuốn “Mùa Hè Đỏ Lửa” để cùng nhau tâm đắc, khâm phục Binh chủng kỷ luật và hào hùng nhất của quân đội qua các chiến tích bảo quốc an dân; không quên khen ngợi ngòi bút ghi lại chính xác những chiến tích đó của nhà văn Đại-úy Dù, Phan nhật Nam.

Sau tháng 4 năm 1975, cũng như bao chiến hữu khác, Nam Nhân tôi cũng phải trải qua những năm tháng đọa đày trong lao tù của tập đoàn việt-gian-cộng-sản. Ra khỏi tù, lập gia đình, sau đó được định cư tại Anh-quốc, nhưng Nam Nhân tôi vẫn coi như mình tại ngũ, sẽ chiến đấu bằng phương thức khác phù hợp với hoàn cảnh mới: nghĩa là lấy bút thay súng. Chính những trang phóng sự chiến trường của Phan nhật Nam trước đây đã là một trong những nguyên nhân để Nam Nhân cùng vợ và một vài người bạn cho ra đời Tạp chí Hồn-Việt và web Hồn-Việt UK online, và nhiệt tình tham gia hoạt động trong Tổ chức Cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản ở Miền Trung Anh-quốc. Rồi cũng từ đó, bao nhiêu lần biểu tình chống việt-gian-cộng-sản, thì cũng bấy nhiêu lần Nam Nhân tôi tham gia vào ban tổ chức, có cả vợ và con (từ vài ba tuổi cho đến lớn khôn) đều Quốc kỳ Vàng trong tay, ngạo nghễ phất lên trong tiếng hô đánh đổ tập đoàn việt-gian-cộng-sản bán nước giết dân.

Đánh việt-gian-cộng-sản bằng vũ khí truyền thông, điều quan trọng là phải tìm học lại để biết về KẺ ĐỊCH. Nghĩa là phải hiểu nguyên nhân ra đời của cái tổ chức gọi là “đảng cộng sản VN”; phải hiểu về công tác tổ chức của nó, trong từng giai đoạn có biến chuyển trong lịch sử của VN và một phần cần thiết nào đó của thế giới (có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến VN); phải hiểu về một số nhân sự chóp bu của nó. Nhưng cái khó nhất là “ngôn từ mà việt-gian-cộng-sản sử dụng trong các văn bản”, cũng như các mánh khóe “chơi chữ” của chúng. Thí dụ: “Đóng tiền học tập 10 ngày” (không phải là tù 10 ngày; còn sau đó là tù nên không phải đóng tiền ăn và cũng không học); hoặc “duy trì 5 thành phần kinh tế” (không nói rõ thời hạn, nên có thể duy trì 5 ngày, 20 ngày hoặc nhiều hơn hay ít hơn thế). Rồi “độc lập” là không có quân lính nước ngoài, các cơ quan quyền lực đều do người VN đảm nhận (!?). Rồi “tự do” là tự do trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước XHCN, và “dân chủ” là “dân chủ tập trung” chứ không phải “dân chủ tư sản”, v.v…

Trong tổ chức của việt-gian-cộng-sản, nhiều người đều nghe nói về cái gọi là “đảng (việt-gian-cộng-sản) lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, tưởng rằng mình hiểu về khái niệm đó, nhưng vẫn chứng tỏ là hiểu sai. Ngay như nhà nghiên cứu Minh Võ, cho đến nhà báo ngoại quốc kiểu Judy Stowe, cũng phải nói là đã hiểu còn “lơ mơ” lắm, nên mới coi tên Cuội Hoàng minh Chính là “cán bộ cao cấp” (không hiểu căn cứ vào đâu?). Họ lẫn lộn giữa “cao cấp” và “trung cao”.

Cũng như họ không hiểu gì về hệ thống tổ chức ngành giáo dục ở VN dưới sự đô hộ của việt-gian-cộng-sản, nên mới gọi Trần Khuê là “giáo sư”, rồi ngay Hoàng minh Chính cũng được gọi là ” giáo sư”, hay cái gọi là “dạy hộ bạn môn sử” của LỪA SĨ Nguyễn chí Thiện (!?). Không biết mà lầm rồi “sửa sai” cũng được thôi. Đáng tiếc là có số nào đó tự ái, giấu dốt, cứ bước sai tiếp. Tác hại của việc đó ra sao, nhất là đối với thế hệ trẻ và ngoại quốc, các vị đó có nghĩ đến không? (loại trừ tay sai của việt-gian-cộng-sản và các thày dùng nick ma để bàn tào lao cho đỡ buồn).

Một may mắn cho Nam Nhân là có dịp kết bạn vong niên với nhà báo lão thành Việt Thường, người sống dưới sự đô hộ của việt-gian-cộng-sản ở phía Bắc VN, phải “bị cải tạo lao động” từ đầu năm 1956 và đã phải làm đủ thứ nghề, từ cu-li bốc vác, cu-li đào đường cho đến đi dạy học và làm báo dưới chế độ việt-gian-cộng-sản cai trị, ở Bắc VN, sau tháng 4-1975 bị đi tù 10 năm, trong đó có một năm bị nhốt chung với người điên ở nhà thương Chợ Quán (Sài-gòn). Giấy ra tù ghi tội danh là “nhen nhúm tổ chức phản động”. Chính nhờ nhà báo Việt Thường mà Nam Nhân tôi đã hiểu có hệ thống và căn bản về những gì liên quan đến cộng sản VN, nhìn ra được tội danh của cái gọi là “đảng cộng sản VN” là VIỆT GIAN; thấy được âm mưu của chúng, hiểu được cách lựa nhân sự cũng như cách cấy “sinh tử phù” vào tay sai để khó có thể phản lại chúng và v.v… Chính vì hiểu việt-gian-cộng sản, nên dịp tổng thống Bush dự hội nghị APEC ở VN, trong khi các tổ chức “chính trị cơ hội” ở hải ngoại, cũng như các loại Cuội dân chủ trong nước và một số các “nhà bình luận” đã hoan hỉ trên các phương tiện truyền thông, trên các diễn đàn Paltalk rằng chắc chắn kẻ này người nọ trong lũ Cuội sẽ được ông Bush gặp. Bs Nguyễn quốc Quân, của “Cao trào nhân bản” mừng rơn tin ở ông em là Bs Nguyễn đan Quế sẽ “làm nên lịch sử”, thao thao trả lời phỏng vấn, thao thao giới thiệu “lộ trình 9 điểm” (chọn số 9 cho hên tột đỉnh mà) trên diễn đàn Paltalk, đến nỗi một ông “già đời trong nghề bàn tào lao bị… thuyết phục”, cả ngày “cầu kinh” cho “lộ trình XIN CHO 9 điểm” ở khắp nơi, khắp chốn, hy vọng phen này “trúng độc đắc trên hoạn lộ”!!! Còn nhà báo Việt Thường, với vốn hiểu biết học hỏi từ cuộc sống chiến đấu chống việt-gian-cộng-sản đầy máu và nước mắt của nhân dân VN và của cả gia đình và chính bản thân, đã khẳng định trước ngày ông Bush đi VN rằng “Tổng thống Bush, qua vụ Cuội đeo cờ máu cạnh cờ hoa, diện đồ bộ và hơn hớn đến Tổng lãnh sự ở Sài-gòn, thì đã biết chúng là AI, chắc chắn sẽ không gặp ai cả!!!”

Đã từ nhiều năm về trước, nhà báo Việt Thường có kể cho tôi về lần gặp Phan nhật Nam ở Sài-gòn. Ông Việt Thường kể, đại ý: “Một lần được mời đến ăn giỗ ở nhà người bạn quen từ nhỏ là Nguyễn đỗ Hải, ngụ tại Lê Lợi, Sài-gòn. Bữa ăn có khá đông người (tuy nay đã già nhưng nhiều người còn sống). Thấy ông Việt Thường tới, mọi người đến trước vui vẻ gọi tên chào hỏi. Có một người lạ mặt, ngồi bên ông Hải, đứng dậy, lễ phép: “Thưa anh, anh có ở Z30D phải không ạ?”.

Ông Hải trả lời giùm:”Đích thị là ông ta chứ còn ai nữa”. Và, quay sang phía ông Việt Thường, ông Hải nói:” Phan nhật Nam, tác giả Mùa Hè Đỏ Lửa, mà ông khen hay đấy”. Rồi ông Hải cho đổi chỗ để ông Phan nhật Nam ngồi cạnh ông Việt Thường. Tuy ngồi cạnh, nhưng vì đông bạn cũ hỏi tíu tít nên ông Việt Thường cũng chẳng nói gì được với Phan nhật Nam. Tiệc tan, Phan nhật Nam biết ông Việt Thường ở Đường Tự Do (tức đồng khởi) nên xin được đến thăm. Thấy thế ông Hải nói: “Mình cho Nam ở căn hộ của mình ở Hai Bà Trưng, cùng tiện đường thôi”. Và Phan nhật Nam đã đến ngồi chơi tại nhà riêng của ông Việt Thường, tối hôm đó (đầu năm 1991). Khi chia tay, ông Phan nhật Nam ngỏ ý muốn được lại thăm ông Việt Thường thường xuyên có tiện không, vì hai bên cư ngụ rất gần nhau. Ông Việt Thường khuyên không nên, vì ông không hoàn toàn được tự do, có nhiều con mắt để ý lắm, sợ không hay cho Phan nhật Nam. Rồi ông Việt Thường nói với tôi rằng: “Tôi rất biết tay Hải này làm những việc gì, nhưng không bao giờ tôi hỏi. Sống với cộng sản phải luôn tỏ ra không có tính tò mò, chỉ ham tán dóc truyện lăng nhăng, nhậu nhẹt, không bon chen kèn cựa, đôi khi còn tỏ ra lười cả suy nghĩ lẫn “lao động chân tay”, luộm thuộm… thế thì mới yên thân. Chính vì thế, tôi rất muốn biết vì sao Phan nhật Nam, đáng ra sau khi ra khỏi Z30D, là phải về quê mà trình diện, chứ đâu lại được về Sài-gòn, mà lại QUEN được cái nhà ông Hải Béo này, lại còn được nuôi ăn và ở căn hộ cực sang trọng nữa chứ. Anh thấy đấy, cụ Vũ Hồng Khanh, ra khỏi cải tạo là phải về quê ở Nam Định; Hòa thượng Quảng Độ phải về quê ở Thái Bình. Tôi CAM ĐOAN với anh là Phan nhật Nam đã BỊ MUA RỒI. Chờ đấy, khi nào thấy Phan nhật Nam xuất hiện ở hải ngoại, cứ lẳng lặng theo dõi, anh sẽ phải đau lòng thấy thần tượng của anh đã bị cháy. Nhưng nhớ phải kín miệng và nhẫn nại, chờ cho rắn ra khỏi hang đã.”

Tôi thắc mắc: – Có thể nào anh Phan nhật Nam tương kế tựu kế không?

Ô. Việt Thường: – Tụi việt-gian-cộng-sản là tụi Đại Lưu Manh, đã lọt vào lưới của nó là “hết trinh” ngay, như Mã Giám Sinh với Thúy Kiều vậy.

Và, bây giờ tôi thấy Phan nhật Nam đã như “con rắn ra khỏi hang”. Có thể do bị hun khói mà phải ra mặt, hoặc có khi vì tưởng đã an toàn v.v…

Tập đoàn việt-gian-cộng-sản HIỂU RẤT RÕ RẰNG, vấn đề Cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản là VẤN ĐỀ SINH TỬ của chúng. Chúng dùng đủ mưu ma chước quỷ để chinh phục cái Cộng đồng này. Trong bài: “Phe thân Mỹ ở đâu?”, chúng tôi đã trình bày về cái bẫy của vở kịch “Hai Phe”, hy vọng qua vụ Thái Hà và Tòa Khâm Sứ ở Hà-nội vừa xong, quý bạn đọc đã nhận ra sự thật. Và, từ đó có thể thấy những bộ mặt đặc công đỏ Bùi Tín, Vũ thư Hiên… và đám lâu la đã và vẫn tiếp tục hướng dẫn việc thực thi nội dung của cái gọi là “nghị quyết 36”. Trong đó Nguyễn chí Thiện sẽ đóng vai trò gì? Một số người sặc sụa Phở Bò, hoặc lâu la dùng nick ma để cố tô vẽ lại bộ mặt Thiện đang bị rơi râu, long phấn và cố lái sang chuyện mà đa số không ai đặt ra. Đó là Nguyễn chí Thiện “thật và giả”. Những người có độc lập suy nghĩ chỉ muốn đặt hoài nghi rằng, qua những dữ kiện lịch sử VN, qua những trả lời bất nhất và đầy mâu thuẫn của Thiện, qua nội dung của tập thơ VÔ ĐỀ thể hiện rõ ràng LẬP TRƯỜNG CHÍNH TRỊ của tác giả, thì không thể nào có chuyện Tác Giả Thứ Thiệt của VÔ ĐỀ lại nhận làm thành viên QUAN TRỌNG CỦA TIỂU DIÊN HỒNG!!!

Trong số những kẻ ra công BẢO VỆ MỘT CÁCH MÙ QUÁNG Nguyễn chí Thiện (trước đó là bảo vệ Đỗ ngọc Yến) có PHAN NHẬT NAM, người ra khỏi trại cải tạo việt-gian-cộng-sản lại được về Sài-gòn, được nuôi ăn và được cấp một căn hộ sang trọng ở đường Hai Bà Trưng (ngay trước hãng bia BGI, gần Bến Bạch Đằng). Chính nhà báo Nga, Irina, có viết bài kể rằng có đến căn hộ nói trên để phỏng vấn Phan nhật Nam, nhưng Nam lánh mặt (chắc sợ lộ tẩy), nên bà ta đành đi gặp Trần Tiến.

Trước khi bị lộ tẩy, thì những thứ như Nguyễn cao Kỳ, Phạm Duy, Vũ ngọc Nhạ, Phạm ngọc Thảo, Phạm xuân Ẩn, Nguyễn hữu Hạnh, Nguyễn thành Trung, Vũ Hạnh, Lý quý Trung v.v… và nhiều lắm, cũng từng được coi là người “quốc gia” đấy. Cho nên phải nhìn vào việc làm của họ, và trong tình hình hiện nay thì phải phân biệt giữa NGƯỜI QUỐC GIA và việt-gian-cộng-sản với tay sai của chúng qua việc biểu hiện lập trường chính trị một cách cụ thể.

Vậy lập trường chính trị của Phan nhật Nam là gì? Chỉ xin tóm tắt mấy nét lớn để chia xẻ cùng quý bạn đọc:

Một là: Phan nhật Nam khéo léo qua SBTN, tuyên truyền cho XÓA BỎ HẬN THÙ (cái bẫy của việt-gian-cộng-sản) bằng đưa tên Du tử Lê, một đứa đã đưa thơ của hắn về VN để việt-gian-cộng-sản in cho. Và Nam bốc thơm Du tử Lê rằng: “42 tập thơ của anh chỉ nói về yêu, không hề ghét, không hề thù ai, kể cả KẺ LÀM HẠI MÌNH”(!?). Thời gian đó là lúc việt-gian-cộng-sản đang đàn áp dân oan và công nhân biểu tình. Chưa nói đến, đó chính là một trong những trọng điểm mà việt-gian-cộng-sản muốn Cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản hãy QUÊN QUÁ KHỨ, XÓA BỎ HẬN THÙ. Xin quý bạn đọc tự khách quan nhận xét.

Hai là: Ngay năm 2008 này, Phan nhật Nam, đã cho quảng bá một bài, gọi là thơ, có tên “Tổ quốc chúng tôi, không là chế độ các anh”, để tuyên truyền cho việc “hòa giải-hòa hợp” (cũng là cái bẫy của việt-gian-cộng-sản). Nam Nhân tôi đã viết bài lật tẩy, kính xin quý bạn đọc bớt chút thời gian tham khảo bài đó có đính kèm nơi cuối bài này.

Ba là: Bùi Tín, Vũ thư Hiên cho đến Hoàng minh Chính, Trần Khuê, Nguyễn thanh Giang… đã bị hải ngoại lột mặt nạ. Giờ đây đến lượt Lừa sĩ Nguyễn chí Thiện phải trả lời về những chuyện bốc phét do “ăn nhiều mất ngon, nói lắm mất khôn”, như cha ông chúng ta thường căn dặn, nên đã lộ Mặt Thật như “giáo sư Trần Khuê”, “viện sĩ” Nguyễn thanh Giang, “nhà dân chửi Nguyễn khắc Toàn” (xin tham khảo các audio của dân oan ở vườn hoa Mai xuân Thưởng, Hà-nội, nói về Toàn, có lưu trữ trên web VietnamExodus), thì Phan nhật Nam cùng Chu tất Tiến ra công bảo vệ, kiểu cãi chày cãi cối. Thí dụ Nguyễn chí Thiện đã thuộc hầu hết các bài thơ trong tập Vô Đề; coi đó là bằng chứng Thiện là tác giả! Quả là lý lẽ sắc bén như dao bổ củi. Nam Nhân có thể kể ra nhiều chục thí dụ về những người thuộc THƠ VĂN CỦA NGƯỜI KHÁC LÀU LÀU.

Giáo sư Ts Nguyễn chung Tú, Khoa trưởng Đại học Sài-gòn có thể đọc trơn như mỡ, và đọc ngược Truyện Kiều của…. Nguyễn Du.

Ai đã học ở trường Albert Sarraut ở Hà-nội, trước năm 1954, có thể còn nhớ Đức Cha Maillot, là người Pháp, nhưng lại dạy về tiếng Việt cho học sinh ở các trường Notre Dame du Rosaire (dòng tu các Mẹ áo trắng), trường A.Sarraut. Cha có thể đọc làu làu ngược không chỉ toàn bộ Truyện Kiều, mà cả Cung oán ngâm khúc, Trê Cóc, Lục súc tranh công ….

Bạn thân của Vũ thư Hiên, chỉ vì sự khai báo QUÁ thành khẩn của “cụ” Hoàng minh Chính của Chu tất Tiến, mà bị dzô tù, coi như là “thành viên” nhóm xét lại (?), là người được nhà văn Tưởng năng Tiến, nghe cò mồi Vũ thư Hiên rù rì thê thảm quá, nên đã chia một phần tiền ăn trợ cấp xã hội, gửi Hiên giúp hộ. Cái anh nửa khùng nửa điên đó chỉ có tội say mê văn học cổ điển Nga, đến mức thuộc lòng cả một cuốn tiểu thuyết của Dotoiepxki kia đấy. Văn xuôi đấy nhé chứ không phải thơ mà dễ học!!!

Bà Băng, vợ nhạc sĩ Văn Cao thuộc lòng TOÀN BỘ LỜI NHẠC VÀ THƠ của chồng!

Ông Vũ hoàng Địch (vẫn còn sống đấy) thuộc lòng tất cả các sáng tác của cố thi sĩ Vũ hoàng Chương, với cả ngày và nơi đã in ấn những tác phẩm đó!!!

Kể tạm vài thí dụ để quý bạn đọc thấy trình độ rất hạn hẹp của cặp song mã trên cỗ xe Vàng Vện mà Lừa sĩ Nguyễn chí Thiện, Bùi Tín, Nguyễn chính Két… đang ngồi chồm hổm!

Nếu Phan nhật Nam và Chu tất Tiến muốn phản biện về những gì Nam Nhân tôi nêu ra, thì nên tỏ ra có chút hiểu biết về lề luật phản biện, chứ đừng dùng những bài học được việt-gian-cộng sản “CẢI TẠO”, từ Người biến thành Ngợm, thì Nam Nhân không dư thời giờ mà đối đáp.

Anh-quốc, ngày 28 tháng 9 năm 2008

Nam Nhân (Quân nhân QLVNCH)

Nhà văn Phan Nhật Nam viết bậy rồi!

Cách đây độ hơn một tuần lễ, trên các diễn đàn có một bài viết của ông Phan nhật Nam, được giới thiệu là “thơ” với tên bài là: “Tổ Quốc Chúng Tôi Không là “chế độ các anh””

Ngay từ cái tên của bài được giới thiệu là “thơ” này, đã làm tôi ngạc nhiên về khả năng dùng chữ của một “nhà văn”, lại còn là “nhà thơ” nữa !!! Không hiểu ông Phan nhật Nam hiểu các khái niệm “Tổ Quốc” và “Chế Độ” (tức chế độ chính trị) ra làm sao mà lại có cách dùng giống Nguyễn gia Kiểng thế. Định lập dị chăng?

Nêu việc trên để thấy rõ hơn về trình độ “chơi chữ” của ông nhà văn họ Phan. Cái cần nói là trong bài gọi là “thơ”nói trên, Phan nhật Nam đã nhập nhằng QUẢNG CÁO cho cái gọi là LẬP TRƯỜNG HÒA GIẢI HÒA HỢP khi hạ bút:

……. “Giữa vùng nước phương Nam nầy chiến hạm

Hải Quân 10 Nhật Tảo,

Hòa máu Ngụy văn Thà đổ xuống đậm sắc biển xanh.(1)

Có còn không Bộ Đội vây trận Điện Biên? (2)

Quân lực Cộng Hòa đã thật gẫy tan nòng pháo!

…………………………………………………………..

…………………………………………………………..

Sử Việt không viết nên từ “Cách Mạng Mùa Thu,Tuyên Ngôn Tháng Chín”,(3)

nhưng bởi giòng máu lệ kiên cường chung phần độc dược

Phan thanh Giản uống cạn nghĩa tận trung báo quốc

Vệ Quốc Quân chết trên đồi Hồng Cúm, Him lam (4)

Nguyên phẩm tính Lính Cộng Hòa gục ngã Cổ Thành Đinh Công Tráng.(5)

Đễ Hồn Nước ngời ngời hơi thở lộng mỗi khắc giây

Để Tự Do hiến trọn ý nghĩa cao thượng cho Người

Và Độc Lập khởi dậy tầng tầng kiêu hãnh

Việt Nam

Tên gọi đến..

Rưng rưng nước mắt cảm xúc.” ( Hết trích )

Ông Phan nhật Nam muốn hòa chung máu của riêng ông với máu của lũ ngụy binh Việt gian cộng sản chết ở Điện Biên phủ, vì âm mưu bành trướng của đế quốc đỏ Nga-xô và Tàu cộng, là việc lựa chọn của ông. Thuở đó, tướng Phạm văn Phú cùng đồng đội, thuộc lực lượng vũ trang của Chính phủ Bảo Đại, cũng có nhiều người hy sinh để chống sự bành trướng đỏ đấy. Và, cái lực lượng đó chính là tiền thân của Quân lực VNCH, mà ông từng lấy làm vinh dự đeo lon đại úy. Chẳng lẽ thực sự ông ĐÃ bị cải tạo qua những năm tháng ở nhà tù của Việt gian cộng sản, đến nỗi lú lẫn Không biết rằng: Kể từ 1947, nhiều người trong Chính phù Liên Hiệp Kháng chiến Đã nhìn ra phần nào dã tâm bán nước của tập đoàn Hồ chí Minh, nên đã tụ hội lại Quanh Quốc trưởng Bảo Đại, để chống lại sự xâm lược đỏ Nga-xô, Tàu cộng bằng ngụy quân Việt gian cộng sản. Cái lực lượng chính trị và vũ trang ấy chính là tiền thân của hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa sau này cũng như của Quân lực VNCH vậy.

Ngay sau 1949, khi Tàu cộng làm chủ lục địa Tàu thì tên Đại Việt gian Hồ chí Minh đã bò sang Tàu triều kiến , xin chỉ thị của hai mẫu quốc Nga-Tàu. Và việc làm đầu tiên của Hồ khi về nước là bằng mọi cách, bằng mọi giá cướp quyền lãnh đạo và sử dụng lực lượng vũ trang. Và thế là sau cái gọi là “Rèn cán, chỉnh quân” và “đấu tố chính trị” cũng như tiếp tục mở cửa thu nhận ồ ạt người, chủ yếu trong lực lượng vũ trang, vào đảng Việt gian CS và đoàn thanh niên cứu quốc (một tổ chức cho lớp trẻ chuẩn bị bổ xung cho lực lượng của dảng Việt gian Hồ chí Minh). Sau đó, thằng Hồ chí Minh cho đổi danh xưng từ Quân đội Quốc gia của Chính phủ Liên Hiệp thành cái gọi là “quân đội nhân dân “hay tên khác là “bộ đội “cụ Hồ””. Và cái tôn chỉ lúc còn là Quân Đội Quốc Gia là “Trung với Nước, Hiếu với Dân “ bị đổi thành: “trung với đảng (tức đảng Việt gian cộng sản), hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hòan thành, khó khăn nào cũng vượt qua , kẻ thù nào cũng đánh thắng “.

Trận Điện Biên phủ xảy ra như thế nào, ai chỉ huy, ai viện trợ cả vũ khí, cả binh lính, quân nhu thì đến nay đã rõ ràng do chính cả Tàu cộng, Nga-xô và người ở các nước khác viết ra rất rõ và rất nhiều cũng như rất chi tiết. Cho nên làm gì có “Vệ Quốc Quân chết trên đồi Hồng cúm, Him lam (4)” Đó là lũ ngụy quân Việt gian cộng sản. Phan nhật Nam đừng gỉa khùng mà nhai lại nhưng bài học trong trại cải tạo của VGCS nhé !!!

Tôi là một sỹ quan của Quân lực VNCH. Tôi không cho phép ông Phan nhật Nam đem máu của những quân nhân VNCH để hòa chung với máu của mọi loại Việt gian, đặc biệt là máu của lũ Việt gian cộng sản.

Từ khi Phan nhật Nam ra hải ngoại thì đã có nhiều tin đồn không hay lắm về Phan nhật Nam. Nhưng thời gian gần đây, Phan nhật Nam đã có những việc làm không giúp gì cho cuộc đấu tranh của người VN trong và ngoài nước nhằm loại bỏ sự thống trị của Tập đoàn VGCS. Thí dụ, qua hệ truyền hình SBTN, đã thổi ống đu đủ, tô son trát phấn cho những tên kiểu như Du tử Lê.

Mọi người không lươn lẹo như ông đâu, ông Phan nhật Nam. Ông đáng được liệt vào loại: Nhà văn Đà điểu.

NAM NHÂN

Chú ý: Xin quý vị đọc toàn bộ bài “thơ” ở bên dưới:

Tổ Quốc Chúng Tôi
Không là “chế độ các anh”

Gởi Kim Phượng,
Bằng Hữu Úc Châu nơi Phương Nam

Hãy thống hận khi Đất cha ông cướp đoạt mất
Hãy gào uất buổi Biển, Trời tổ tiên giặc chiếm, cắt
Hãy biết xót đau,
Hãy biết hờn căm,
Thấm đê nhục..
Dân Tộc cúi đầu, nín thinh, khinh miệt..

Nơi quan ải phía Bắc xa một lần Nguyễn Phi Khanh bật khóc,
nước mắt lắng sâu mạch đất.
Giữa vùng nước phương Nam nầy chiến hạm Hải Quân 10 Nhật Tảo,
hòa máu Ngụy Văn Thà đổ xuống đậm sắc biển xanh.(1)
Có còn không Bộ Đội vây trận Điện Biên? (2)
Quân lực Cộng Hòa đã thật gẫy tan nòng pháo!
Xé không gian nghe âm vọng bao lần người lính giữ nước xung phong
Tát cạn đáy bày ra vạn cốt xương
lớp lớp dân oan di tản
Trời Nam bàng hoàng khốc tang
Biển Đông lềnh loang bi phẫn..

Hoàng Sa, Trường Sa..
Hãy trải rộng Nhất Thống Toàn Đồ..
Hẳn thấy lớn dài mênh mông biên cương Đại Việt
Lẽ nào bộ chính trị, ban bí thư, chủ tịch đảng, đoàn không hề hay biết?
Sử Việt không viết nên từ “Cách Mạng Mùa Thu, Tuyên Ngôn Tháng Chín”,(3)
nhưng bởi giòng máu lệ kiên cường chung phần độc dược
Phan Thanh Giản uống cạn nghĩa tận trung báo quốc.
Vệ Quốc Quân chết trên đồi Hồng Cúm, Him Lam(4)
Nguyên phẩm tính Lính Cộng Hòa gục ngã Cổ Thành Đinh Công Tráng.(5)
Để Hồn Nước ngời ngời hơi thở lộng mỗi khắc giây
Để Tự Do hiến trọn ý nghĩa cao thượng cho Người
Và Độc Lập khởi dậy tầng tầng kiêu hãnh
Việt Nam,
Tên gọi đến..
Rưng rưng nước mắt cảm xúc.

Tất cả nay đã là vô ích!
Với một chữ ký!
Hợp thức hóa một lần dâng giặc cướp!
Hoàn tất trọn một lần xong bán nước!
Đồng thuận mưu sâu Quốc Vụ Viện Bắc Kinh
Mậu Tuất, Năm “Một-ngàn chín-trăm năm-mươi-tám”.(6)
Các Vua Hùng nơi đâu?
Cuộc hành quân xẻ dọc Trường Sơn cuối cùng hóa ra thất bại
Tự Vệ Thành nổ lựu đạn tan thân,
gục đầu lên giao thông hào chống xe tăng Pháp,
Chết giữ hùng khí Thăng Long.(7)
Đảng khinh miệt gạch phăng, bôi bẩn!
Trang lịch sử linh thiêng viết bởi máu vô vàn
Vạn, triệu trái tim lẫm liệt Việt Nam yêu nước.
Tất cả nay đã là vô ích!
Không bớt lằn roi đau rạch nát tấm lưng..
Đám sinh viên oằn người trên đất cũ cha ông
Thảm nhục hứng đòn thù công an Hà Nội,
nơi “Thủ Đô Phẩm Giá Con Người”!(8)
Rùa thiêng ngượng mặt lặng sâu..
Cương thổ ngập hàng lậu thuế
Made in China.

Made in China
Đỗ Mười giữ ghế tổng bí thư thêm nhiệm kỳ
Địa giới Nam Quan cắt phăng một phần cửa ải.
Ba mươi năm hơn sau ngày “giải phóng Miền Nam”
Đà Nẵng nhìn ra bóng Hồng Kỳ đỏ ngầy mặt nước.
Chính danh, quốc sĩ mất lý nghĩa linh thiêng,
“Tình Hữu Nghị”, món hàng tuỳ nghi miệng lưỡi,
Trung Quốc mặc tình cung cấp.
Mười năm hơn xẻ dọc Trường Sơn đánh Mỹ kiên cường
Cuối đoạt thắng..
Quê hương dầm sâu vũng bùn hôi tanh ô nhiễm
Phanh thây Dân bằng nanh vuốt sói lang
Xây dựng Nước với giấy, tiền giả mạo
Ấn chứng từ Bắc Kinh.

Nỗi đau kinh dị làm khô sôi tròng mắt,
Ôi giá như các anh còn chút lương tri,
Đôi phần trí nhớ..
Ở đâu nên “độc lập/hạnh phúc/tự do”?(9)
Họa chăng chỉ trên báo đảng
Cơ quan trung ương, món hàng cũ xưa, hư mòn, phế thải
Xứng đáng vất thiêu bãi lửa
Giải hạn oan hồn vất vưỡng cõi nghiệt Việt Nam
Để Mát-xcơ-va nên thành “thánh đô” thiện mỹ huy hoàng
Để Bắc Kinh kết tụ “chiếc nôi hòa bình” tuyệt vời thế kỷ
Âm u cặn máu cờ đỏ vàng sao
Vấy bẩn màu Bồ Đề hai ngàn năm trăm hơn Đại Phật!
Tưởng như một chuyện đời xưa..
Người chết hiện nguyên hình/râu/tóc/răng/mắt..
Theo dõi em thơ bới rác, lội cống, ngập sình
Hốt phân thối theo kế hoạch ngũ niên, quy trình tuổi nhỏ
Hoàn thiện mô hình “hạnh phúc”,
tiến lên thời kỳ quá độ.
“Khăn quàng đỏ” không đủ lau khô giòng lệ ứa!
“tự do” nào?!..
tự do, báo được phép đưa tin từ một nguồn kiểm duyệt
tự do, giết cướp giữa ban ngày không thể tìm ra dấu vết
tự do, phí tiêu bạc tỷ, triệu của dân
tự do, hủy phá đền, chùa, ruộng, rừng.. không cần nhận lệnh
tự do, phán quyết con người không quyền được sống..
Từ chứng tích, tội danh lý lịch quá khứ ngụy quân,
xếp nên hạng tiện dân,
phận ngặt lưu đày trên quê cha, đất tổ!

Ba mươi-ba năm sau lần “Đại Thắng Mùa Xuân”(10)
Đất nước đi lên bằng hai chân giấy, gỗ
Với khẩu hiệu ngây ngô,
Nghị quyết hàm hồ,
Kết tinh trọn vinh hoa, “Tư Bản Đỏ”.
Giai cấp (cách mạng) mới
Tổng hợp phương trình quỷ ma: “Thực dân/Vô sản”,
Nhìn xuống “bọn Sàigòn mất tên” ứ tràn khinh miệt!
Với trí hiểm tiếm danh, “Người Ái Quốc”
Với hãnh tiến tự tuyên công, “Cha Già Dân Tộc” (11)
Thây xác nằm nơi Ba Đình luôn mở mắt,
Sống tráo trở đổi tên,
Chết không hề che mặt.
Hiển hiện toàn phần chước quỷ/tính ma.
Quái thai hậu nhiên phẩm chất, khối lượng rặt ròng..
Quốc hội biểu quyết “chín-chín-phầm trăm” hơn nhất trí,
Ngàn đại biểu dùng chung một miếng khẩu trang!

Mỗi buổi sớm mai..
Mặt trời mọc nơi phương Đông vô hồi vĩnh cửu
Cũng muôn đời ô nhục
Loang thấm dần từ vết máu Hoàng, Trường Sa..

Để nhớ,

19 tháng 1, 1974-2008

Phan Nhật Nam

(1) Chiến Hạm; Hạm Trưởng/QLVNCH tử trận Hoàng Sa, 19/1/1974
(2) Chiến trường lớn kết thúc chiến tranh (1946-54)
(3) 19/8/ và 2/9/1945
(4) Đồi chiến thuật quanh vòng chảo Điện Biên Phủ
(5) Cổ Thành Quảng Trị
(6) Công hàm Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gởi Chu Ân Lai
(7) Trận chiến giữ Hà Nội 19/12/46
(8) Logos của Hà Nội trong thời kỳ chiến tranh (1960-1975)
(9) Quốc Hiệu của nhà nước cộng sản Việt Nam
(10) “30/4/1975”
(11)Những bí danh, danh hiệu của Nguyễn Tất Thành, Hồ Chí Minh..

Posted in Uncategorized | Tagged: | 3 Comments »

Sự thật về “láo sĩ” hay thi sĩ Nguyễn Chí Thiện (Bài 3a, Triệu Lan)

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 28, 2008

Những điều nên nói …

Báo Saigon Nhỏ

Số 30 Thứ Sáu

26 tháng 9, 2008

Sự thật về “láo sĩ” hay thi sĩ Nguyễn Chí Thiện:

Tại Sao Ông Nguyễn Chí Thiện Lại Có Thể Tuyên Bố Quá Nhiều Điều Tương Phản Về Chính Mình

Triệu Lan

Bài 3

Cộng Sản hiểu quy luật tổ chức đấu tranh; nên đã lo sợ khi thấy tập thơ Vô Đề xuất hiện tại hải ngoại vào năm 1980, tính đến nay (2008) thắm thoát 28 năm. Tập thơ đã được tái bản nhiều lần, số người đọc kể tới con số hàng chục vạn và số người viết để bình phẩm dẫn giải cũng đã lên đến hàng nghìn; tập thơ chỉ được hiểu như một tác phẩm đấu tranh chống Cộng của một nhà thơ đại diện cho tập thể nhân dân trong nước và đại đa số người dân chỉ hiểu về tập thơ một cách bình thường là chống bọn Việt Gian Cộng sản.

Sau đó để ngăn chận những hậu quả “nguy hại không thể lường trước được” nếu giới đấu tranh biết tập hợp mà góp lực và quần chúng hải ngoại nhìn ra được yếu điểm của Cộng sản, họ sẽ chấm dứt tình trạng chia rẽ như hiện nay biết tìm đến một đích điểm là đất nước Việt Nam mà thống nhất lập trường để cùng nhìn về một hướng. Nếu có một chỉ đạo trong công cuộc đấu tranh chung thì chúng ta rất dễ dàng giải thể chế độ Việt Gian Cộng sản, nên Hà Nội đã mở ra cả một chiến dịch tuyên truyền với đầy đủ nhân lực, tài lực với những tên cán bộ văn hóa nằm vùng, và dư thừa tiền bạc của các cơ sở kinh tài dùng để mua chuộc, lũng đoạn ngành báo chí và giới cầm bút tại hải ngoại, nên một số “văn sĩ” thờ ơ đã bị chúng cầm chân.

Nhưng với những cặp mắt “hiểu chuyện đời” thì sự xuất hiện của tập thơ này là một “tiếng gọi” để khởi đầu cho một cuộc đấu tranh Cách Mạng gay gắt trên lãnh vực văn hóa giữa người Việt Quốc Gia Chân Chính chống lại bọn Việt Gian Cộng sản trên mọi mặt, cũng như chống sự xâm nhập của các tên tình báo Cộng sản trà trộn len lõi vào trong các hội đoàn, các tổ chức chống Cộng của người Quốc Gia ở khắp nơi trên thế giới nói chung và ở Hoa Kỳ nói riêng.

Hơn thế nửa tập thơ Vô Đề là một bức thông điệp được viết bằng máu, từ trong nước gửi ra cho những người kiên tâm trì chí, những kẻ sĩ, những người trí thức hiểu được thời thế đồng loạt đứng lên, trong và ngoài nước cùng nhau chung lưng đấu cật, cộng tác làm xoay đổi cục diện hiện nay và đi đến một cuộc Đại Cách Mạng, đồng loạt giải quyết tận gốc rễ vấn đề một cách triệt để, những vấn đề của Dân Tộc trong lãnh vực Dân Sinh, Dân Quyền tại Việt Nam.

Để làm sáng tỏ thêm vụ Nguyễn Chí Thiện “đạo thơ” của thi sĩ Vô Danh. Xin đọc giả đọc thêm hai chi tiết, (1) trong báo Người Việt (bài trước có nói đến nhưng chưa đủ) nói về “thi sĩ” Nguyễn Chí Thiện theo lời kể của nhân vật Minh Thi một người tự nhận là “bạn đồng tù” với Nguyễn Chí Thiện và (2) lời giới thiệu của Nguyễn Ngọc Bích như sau:

(Trích) “Nguyễn Chí Thiện sinh 1937 tại Hải Phòng Bắc Việt, khoảng cuối năm 1978 được tạm phóng thích, ngụ tại 36 đường Nhà Ga, Hải Phòng. Thiện bị chuyển từ trại cải tạo II Yên Báy tới trại Phong Quang cách Lao Cay 30 km vào đầu năm 1966 suốt tới 1978 (12 năm tù). Nguyễn Chí Thiện, Minh Thi, Phùng Cung (nhóm Nhân Văn Giai Phẩm ở Bắc) bị giam chung với chính trị phạm và biệt kích miền Nam … Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện thông suốt Anh, Pháp ngữ, Hán văn, ưa thích thơ Đường, ông học hết tú tài Pháp (BAC) … Ông bị ho lao nặng nên đến ở toán đan lát trong tù. Đa số bài thơ sáng tác trong tù, thuộc lòng và chỉ chép lại cất dấu khi được tạm phóng thích. Hai ba lần tìm tầu người ngoại quốc nhờ chuyển tập thơ ra ngoài bị thất bại. Sau cùng tập thơ được tác giả trao tay một nhà ngoại giao Anh Quốc, và một nhân viên đài BBC người Việt: Đỗ Doãn Quy, rồi chuyển giao cho ông Châu Kim Nhân đưa qua Hoa Kỳ …”. (ngưng trích báo Người Việt, số 32 ngày 24 tháng 11 năm 1980).

Trong quyển [“Hạt Máu Thơ – Blood Seeds Become Poetry”. Ông Nguyễn Ngọc Bích khai lại năm sinh của Nguyễn Chí Thiện sinh ngày 27 tháng 2 năm 1939 tại Hà Nội (Bắc Việt). Thiện là tác giả của tập “Hoa Địa Ngục và Hạt Máu Thơ”. Thiện có học thức khá, thông thạo Pháp và Việt ngữ trước khi Cộng sản nắm quyền ở miền Bắc vào năm 1954 (Triệu Lan- năm 1954 Thiện được 16 tuổi. “1939-1954” và Nguyễn Ngọc Bích cũng không quên lấy ra chi tiết, “Thiện thông suốt Anh ngữ và Hán văn”). (Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ – Arlington, VA 1996). Được biết Nguyễn Ngọc Bích cũng là người “khổ công” đã dịch tập “Hạt Máu Thơ” ra Anh ngữ và nhiều “tác phẩm” khác của Bùi Tín.

Hai “tác giả” Minh Thi và Nguyễn Ngọc Bích đều tự nhận mình là bạn thân, bạn cùng tù với Nguyễn Chí Thiện nhưng Hai ông này đều khai hai năm sinh và hai nơi sinh của Nguyễn Chí Thiện hoàn toàn khác nhau (Minh Thi: Thiện sinh năm 1937 tại Hải Phòng – Nguyễn Ngọc Bích: Thiện sinh năm 1939 tại Hà Nội). Tại sao ?!

Nhưng có một chi tiết quan trọng mà từ bao lâu nay không ai để ý đặt ra đó là: Nhân Vật Minh Thi. Và để rộng đường dư luận nên chúng ta phải đặt vấn đề về nhân vật Minh Thi với Nguyễn Chí Thiện là: Tại sao gần 13 năm qua (từ 1995 đến nay) chưa ai trong chúng ta từng nghe Nguyễn Chí Thiện nhắc đến nhân vật Minh Thi hay dù chỉ một lời hỏi thăm. Minh Thi một người “bạn đồng tù” với Nguyễn Chí Thiện và cũng là người đã “có công” đưa tên tuổi của diễn viên Nguyễn Chí Thiện ra sân khấu phường tuồng như ngày hôm nay, ít nhất Nguyễn Chí Thiện phải nhắc đến tên Minh Thi dù chỉ một lần. Nếu đọc giả nào có theo dõi về tập thơ Vô Đề, thì Minh Thi là người đầu tiên “xác nhận” tập thơ Vô Đề là thơ của Nguyễn Chí Thiện. Vậy hiện nay ông Minh Thi đang ở đâu?.

***

Công Tử Hà Đông khi phỏng vấn Nguyễn Chí Thiện vào năm 2001 thì chính Thiện cho biết các năm và các lần Thiện bị bắt như sau:

– Nguyễn Chí Thiện: Tôi bị bắt ba lần, lần thứ nhất tù từ 1961 đến 1964, lần thứ hai từ 1966 đến 1977, lần thứ ba từ 1979 đến 1991. [SVN Cong Tu Ha Dong pv NCT 2001]

(Triệu Lan: tổng cộng 27 năm. Nhưng theo Minh Thi thì Nguyễn Chí Thiện “bị” ở tù từ năm 1966 đến 1978, chứ không phải từ năm 1966 đến 1977)

Năm (5) năm sau; bà Jean Libby phỏng vấn trực tiếp Nguyễn Chí Thiện để viết “hồi ký”, thì Thiện đã trả lời rằng:

* Jean Libby: Ông bị bắt tù lần thứ 3 vào năm nào ?.

– Nguyễn Chí Thiện: Tôi đi tù lần thứ 3 từ năm 1977 đến 1988 …

[nhật ký bà Jean Libby: VAA Jean Libby Sunday May 21, 2006 Vietnamese American Achievement …]

(Triệu Lan: Nên nhớ các tác giả trên đây không phải họ đoán mò để viết ra về cuộc đời “tù” của Nguyễn Chí Thiện, mà họ đã tìm đến phỏng vấn cũng như tìm hiểu về sự thật cuộc đời của Nguyễn Chí Thiện để viết hồi ký cũng như viết sách, báo. Những điều họ viết ra hoàn toàn vô tư theo lời kể (khai) của chính Nguyễn Chí Thiện. Vậy Thiện đi “tù” lần thứ ba (3) từ năm 1979 đến 1991 hay từ năm 1977 đến 1988 …?!).

***

Dưới đây là cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Hữu Hiệu về “xuất xứ” tập thơ Vô Đề. Báo Việt Star (vietstar & Việtstaronline.com) do hai phóng viên Joe Đỗ Vinh & Chris Phan vào ngày 18 tháng 6, 2008 vừa qua thực hiện. Tập thơ Vô Đề được gọi là “tác phẩm” “Tiếng Nói Từ Đáy Vực”.

VS (vietstar): Ông sang Hoa Kỳ từ năm nào?

Nguyễn Hữu Hiệu: Vào cuối năm 1978, và đã định cư ở Virginia từ đó đến bây giờ.

VS (vietstar): Bây giờ xin phép ông hỏi sang qua tác phẩm “Tiếng Nói Từ Đáy Vực”. Cơ duyên nào mà ông đã có được thơ của Nguyễn Chí Thiện ?

Nguyễn Hữu Hiệu: Đây là lần đầu tiên tôi có cơ hội để nói điều mà từ xưa nay mình chưa nói tới. Cảm ơn anh em tòa soạn Việt Star. Để tôi trình bày nguyên nhân lý do tại sao tôi có tập thơ này.

Anh Bùi Bảo Trúc lúc đó đang làm trong báo Văn Nghệ Tiền Phong cho tôi biết là anh có một tập thơ rất hay. Chỉ có một tập thơ, tập giấy, không có tên tác giả. Bùi Bảo Trúc được đọc, và tôi xin anh ấy cho tôi bản sao. Anh Bùi Bảo Trúc ngần ngại, nhưng rồi cũng đồng ý. Sau khi tôi đọc lên thấy ý thơ bất khuất của một kẻ sĩ Hà Thành, đã kiên cường và ném vào tòa Đại sứ Anh … Huỳnh Sanh Thông đã nhận được tác phẩm mà không thấy có tên tác phẩm. Sau đó có người nào đó trong bộ ngoại giao (?) trao cho đài BBC, và BBC chuyển đến báo Văn Nghệ Tiền Phong-theo tôi biết.

VS (vietstar): Ông có trực tiếp thấy bản gốc không ?

Nguyễn Hữu Hiệu: Nét chữ viết bằng tay, tôi có chụp lại từ trong sách này. Văn Nghệ Tiền Phong không phổ biến tác phẩm này làm cho mình nghĩ rằng họ không đúng. Lúc đó tôi là Chủ Tịch Ủy Ban Tranh Đấu Giải Phóng Tù Nhân Chính Trị. Bùi Bảo Trúc chỉ cho tôi coi, tôi chỉ xin để có tài liệu viết tay, và photocopy. Với tư cách Ủy Ban tôi phải làm chuyện này, dù rằng việc đó không đúng, mình nghĩ rằng tác giả không chỉ gởi riêng cho Văn Nghệ Tiền Phong hay một cá nhân tổ chức nào cả …. Nếu Văn Nghệ Tiền Phong giữ riêng thì không thể nào phổ biến đến những người đó hay những người khác nữa.

VS (vietstar): Ai đặt tên cho cuốn sách này?

Nguyễn Hữu Hiệu: Người đặt tên sách là nhà thơ Viên Linh “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” nhờ Linh Mục Trần Duy Nhất, chủ nhiệm/chủ bút Việt Báo ở Washington DC đánh máy. Phát hành vào ngày 20 tháng 9, 1980 tại Trường Học Thomas Jefferson. Sau đó tôi gởi qua Pháp cho Quê Mẹ của ông Võ Văn Ái, và rất nhiều nơi. Làm bùng dậy một cuộc đấu tranh mới, một khí thế và đề tài để tranh đấu sống động. Không biết bao nhiêu cuộc hội thảo dùng tác phẩm này làm tài liệu. Khi tôi gửi đến cho nhà báo Đỗ Ngọc Yến (*), anh em đọc say mê và ông Phạm Duy xin phổ nhạc, cho nên Phạm Duy được gởi cho nửa cuốn sách, còn các anh em khác chỉ được vài trang thôi. Sau đó Phạm Duy phổ nhạc 10 bài “Ngục Ca” và gởi cho tôi.

VS (vietstar): Làm sao chúng ta có thể kiểm chứng được những bài thơ này là chính Nguyễn Chí Thiện viết ra?

Nguyễn Hữu Hiệu: Sau tác phẩm và nhạc của Phạm Duy, thì tôi mời Nguyễn Đức Quang về Washington DC để hát và ngâm tập thơ này. Tập thơ này đánh dấu một thời điểm rực rỡ. Sau đó tôi có gởi thơ về nhà văn Phùng Quán, hỏi ông có biết “NCT” hoặc “N.Chi.T” là ai không ?. Phùng Quán trả lời là không biết …. Tôi về Hà Nội lần đầu tiên năm 1992. Lần nhì, tôi nói với Phùng Quán là khi tôi về đây, tôi đã bị công an theo dõi cho nên tôi nhờ ông điều tra giùm. Ông Phùng Quán nói với tôi rằng nếu ông không biết thì không ai biết bởi vì các anh em văn nghệ sĩ đều ghé nhà ông hết, và ông nói rằng ông đã nhờ các anh em điều tra mà không ai biết tác giả “NCT” là ai hết!.

VS (vietstar): Phùng Quán có đọc được tập thơ đó không ?

Nguyễn Hữu Hiệu: Không một nhà thơ Việt Nam nào biết về tập thơ này. Bít kín như vậy! Tôi cho ông Phùng Quán thêm một cái “clue”. Đó là NCT phải là một người sống khép kín. Mà Phùng Quán là một người “quảng giao” (giao thiệp rộng rãi) thì không thể nào chơi được một người “quả giao” (khép kín) như NCT. Với cái “clue” này, ông Phùng Quán suy ra là có thể ông Phùng Cung biết NCT là ai bởi vì Phùng Cung cũng là người “quả giao” khép kín. Khi hỏi đến Phùng Cung, thì quả đúng, ông Nguyễn Chí Thiện chỉ chơi với một mình ông Phùng Cung mà thôi. Tôi hẹn gặp Nguyễn Chí Thiện ở nhà Phùng Cung, lúc đó tôi cảm phục Nguyễn Chí Thiện. Sau này tôi có hiểu khác đi. Nhưng lúc đó tôi hoàn toàn thuyết phục bởi vì khi ông Phùng Cung mời ông Nguyễn Chí Thiện đọc vài bài thơ, thì Nguyễn Chí Thiện có đọc một số bài từ trí nhớ. Đó là năm 1993. Nhưng về tình cảm thì tôi thấy rất lạ lùng. Tôi chưa từng thấy có một nhà thơ nào lạnh lùng như thế này?. Rất là khất bật, không phải ở trong ý niệm của mình về một nhà thơ. Tôi thấy có một điều như thế này: có một số văn nghệ sĩ mà đọc giả không nên tìm gặp bởi vì sẽ làm cho họ (đọc giả) thất vọng!.

VS (vietstar): Như vậy vẫn chưa trả lời được câu hỏi “Nguyễn Chí Thiện có thật sự là tác giả của thơ Hoa Địa Ngục hay không ?”.

Nguyễn Hữu Hiệu: Cả nước chỉ có một người biết Nguyễn Chí Thiện là tác giả của tập thơ này, đó là Phùng Cung. Phùng Cung nói rằng Nguyễn Chí Thiện nói với ông rằng sau tập thơ Hoa Địa Ngục, Nguyễn Chí Thiện còn sáng tác cả trăm bài thơ nữa, mà Phùng Cung nói rằng ông không tin điều ấy.

VS (vietstar): Sau tập thơ “Hoa Địa Ngục” Nguyễn Chí Thiện có tập thơ nào khác nữa không?

Nguyễn Hữu Hiệu: Có tập thơ “Những Hạt Máu Thơ” mà văn phong không giống “Hoa Địa Ngục ….”

[Thắc mắc của Triệu Lan: Theo lời kể trên của ông Nguyễn Hữu Hiệu thì năm 1992-1993 ông đã về Việt Nam tìm gặp “nhà thơ chống Cộng” Nguyễn Chí Thiện, lúc đó ông Hiệu đang là: “Chủ Tịch Ủy Ban Tranh Đấu Giải Phóng Tù Nhân Chính Trị”. Có thể nói ông Hiệu là Chủ tịch của một ủy ban cũng thuộc loại “chống Cộng”, nhưng không hiểu vì lý do gì Cộng sản Hà Nội lại để cho ông Hiệu đi vào, đi ra Việt Nam tiếp xúc với nhiều người (nhất là Nguyễn Chí Thiện) mà không ai làm khó dễ gì ông Hiệu cả. Nhưng điều quan trọng là ông Hiệu và thi sĩ Phùng Cung có thể “biết rõ” về Nguyễn Chí Thiện, cũng như biết Nguyễn Chí Thiện không phải là tác giả của tập thơ Vô Đề như ông Hiệu đã tiết lộ rằng: “lúc đó tôi cảm phục Nguyễn Chí Thiện. Sau này tôi có hiểu khác đi.”. Ông Nguyễn Hữu Hiệu đã gặp Nguyễn Chí Thiện vào năm 1993, nhưng theo lời Thiện kể, thì Thiện gặp ông Hiệu vào năm 1994 và có chụp hình lưu niệm được đăng trong tập “Hạt Máu Thơ” của Nguyễn Chí Thiện. (hình chụp mùa đông năm 1994: Nguyễn Hữu Hiệu, Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Hữu Đang, Bác sĩ Lân, Phùng Cung). Nhưng dù sao chúng ta cũng phải cảm ơn ông Nguyễn Hữu Hiệu đã “dám” nói ra sự thật sau bao nhiêu năm dấu kín. Hy vọng trong những ngày tới cũng sẽ có nhiều người trong cuộc cho chúng ta biết thêm những sự thật khác mà bao lâu nay chúng ta chưa được biết.]

(*) Báo Người Việt của Đỗ Ngọc Yến có được tập thơ Vô Đề từ ông Nguyễn Hữu Hiệu và từ đây báo Người Việt và Đỗ Ngọc Yến đã “đẻ” ra nhân vật Minh Thi, để sau đó Minh Thi lại phịa ra “tập thơ Vô Đề là của Nguyễn Chí Thiện?!”, vì vậy sau một lần xuất hiện trên báo Người Việt, số 32 ngày 24 tháng 11 năm 1980 cho đến nay, không ai còn thấy nhân Vật Minh Thi đâu nửa cả. Vậy cả tòa soạn báo Người Việt nên bạch hóa nhân vật Minh Thi!

***

Và tiếp theo dưới đây là các bài viết của một số “nhà văn” cũng như các cuộc “Gặp gỡ, Phỏng vấn, Nói chuyện, Diễn đàn, Hội luận, Hội thảo, Đại hội” đã có dịp đối diện với Nguyễn Chí Thiện cũng như để phỏng vấn Thiện. Chúng ta thấy rất nhiều điểm “không thuộc bài” của Nguyễn Chí Thiện. Bài trước có nói, Triệu Lan tôi đã thâu thập rất nhiều dữ kiện về Nguyễn Chí Thiện. Nay không thể viết ra trong khuôn khổ một tờ báo hay một vài số báo với hàng ngàn trang giấy. Nên Triệu Lan xin phép cùng quý độc giả trong loạt bài này chỉ nêu lên với một số chi tiết nhỏ trong hàng trăm chi tiết mà Triệu Lan đang nắm trong tay (kể cả các cuộn băng video bằng hình ảnh), để chúng ta cùng so sánh những cái không có thật đã được nói ra từ chính nhân vật Nguyễn Chí Thiện. Có lẽ vì đi quá nhiều nơi và nói quá nhiều chuyện Không Có Thật nên Nguyễn Chí Thiện đã quên những điều chính Thiện đã nói ra. Nhưng tệ hại nhất là những người đã viết báo, viết bài “bốc thơm” những điều không có thật về con người của Nguyễn Chí Thiện mà họ không cần kiểm chứng. Đây là một vấn đề vô cùng tai hại cho chính danh dự của họ, cũng như cho công cuộc đấu tranh chung trong vấn đề giải thể bọn cầm quyền Việt Gian Cộng sản đem phúc lợi cho toàn thể dân Việt trong nước.

Chính một số người tự cho mình là “nhà văn” hay nhà báo đã vì một lý do vô tình hay cố ý nào đó, họ cũng đã a tòng theo những điều bất chính để đánh lừa niềm tin của đồng bào người Việt tị nạn Cộng sản. Đây được xem như là một trọng tội nếu từ đây về sau họ không biết ăn năn hối cãi hay đoái công chuộc tội và mạnh dạn dám nói lên những điều đúng với lương tâm nghề nghiệp của họ. Thì thiết nghĩ các cộng đồng người Việt ở hải ngoại hiện nay chúng ta nên có những hành động thiết thực để chận đứng các trò hề rẻ tiền này của bọn tình báo văn hóa Cộng sản đội lốt dưới chiêu bài người Quốc Gia tị nạn Cộng sản.

Trong những ngày tháng tới đây sự thật về nhân vật Nguyễn Chí Thiện đã “cầm nhầm” tập thơ Vô Đề phải được bạch hóa. Người Việt chúng ta không thể để cho bọn bất lương coi thường hay lừa bịp chúng ta mãi được. Như đã nói quý vị trí thức, nhà báo, nhà văn, các giáo sư, các nhà nghiên cứu về lãnh vực văn hóa, chúng ta nên có trách nhiệm chung để đưa ra ánh sáng về con bài Nguyễn Chí Thiện. Thiết nghĩ đây là một điều phải làm và nên làm. Vậy quý vị nào đã không am tường sự việc lại lỡ “bốc thơm” cho Nguyễn Chí Thiện quý vị sẽ nghĩ gì và sẽ làm gì? hay quý vị tiếp tục giữ thái độ im lặng?. Nếu quý vị không tự mình đứng ra bạch hóa những điều chính quý vị biết mình đã bị cả một tập đoàn gian trá lừa bịp trong nhiều năm qua, thì ai là người sẽ giúp quý vị “giải oan” cho quý vị đây?!. Chính ta phải tự cứu ta trước. Vì đây là Danh Dự và Thể Diện của chính quý vị vậy. Đây cũng là lời cuối cùng để quý vị bình tâm suy nghĩ mình nên làm gì ? Trong những loạt bài tới Triệu Lan sẽ đưa tất cả tên của những người có liên hệ trong con bài Nguyễn Chí Thiện lên mặt báo để rộng đường dư luận. Những người khi đã bị điểm mặt chỉ tên thì lúc đó không ai có thể nhân nhượng được nửa

***

Dưới đây là một số buổi; Gặp gỡ, Phỏng vấn, Nói chuyện, Hội luận, Hội thảo, Đại hội được các báo chí, thân hữu, bè bạn ghi lại qua lời kể của Nguyễn Chí Thiện như sau:

1) – Hồi cuối năm 1991, khi sắp được thả, tôi nằm ở bệnh-viện 19-8, một bệnh-viện của Công-an. Tôi mượn được bản dịch Truyện Kiều ra Pháp-ngữ của Nguyễn Khắc Viện. Một hôm, Cục-trưởng cục An-ninh Quốc-gia tới phòng tôi, thấy có quyển sách đó, hỏi tôi: “Thằng Viện dịch có được không”? Tôi trả lời: “Có khoảng 30 chỗ sai nghiêm-trọng, thí-dụ như câu Thành xây khói biếc mà dịch là Thành-phố dựng lên những cột khói mầu xanh; câu Ðiếc tai lân-tuất mà dịch là Hàng xóm giả điếc, ..v.v..”. Y nói ngay với tôi: “Anh viết ngay một bài phê-bình đi, tôi sẽ cho báo Nhân-Dân đăng”. Thực lòng, tôi rất khinh Nguyễn Khắc Viện, y đã làm cái loa bỉ-ổi tuyên-truyền cho Ðảng bao năm. Nhưng giai-đoạn đó, y đang phê-phán độc-tài, đòi dân-chủ. Tôi thấy không nên tham-gia vào việc hạ-nhục y, trái lại, còn phải khuyến-khích. Tôi từ-chối không viết. [NCT dien van dai hoi Paris 2000 (phần 1)].

1) Thắc mắc của Triệu Lan – Hàng triệu người Việt chúng ta đã từng nếm mùi “cải tạo” của bọn Cộng sản, kể cả những đảng viên của chúng bị “kỷ luật”. Ai có những “tiêu chuẩn tù” như Nguyễn Chí Thiện ?!. Một tù nhân “chửi” chế độ thậm tệ như Nguyễn Chí Thiện mà lại được “Cục-trưởng cục An-ninh Quốc-gia tới phòng tôi”.

Thưa quý vị đọc giả. Ngay trên nước Mỹ quý vị đang sống đây là một nước tự do, dân chủ hàng đầu trên thế giới, quý vị có bao giờ thấy ông hay bà Bộ trưởng hay Thứ trưởng “an ninh quốc gia” của Mỹ đến thăm bất cứ một tù nhân nào không? Và lại càng không thấy ông hay bà Bộ trưởng hay thứ trưởng nào khuyên tên tù nhân “nguy hiểm” như Nguyễn Chí Thiện rằng: “Anh viết ngay một bài phê-bình đi, tôi sẽ cho báo “New York” (nhân dân) đăng”. Chuyện Tề Thiên tưởng đâu chỉ có mỗi một mình Ngô Thừa Ân có thể phóng tác, ấy vậy mà chuyện Tề Thiên đã đến thật, có thật. Tề Thiên đã “hóa phép” nhập vào với riêng con người “rất thật” của Nguyễn Chí Thiện. Đúng là “thiên đường xã hội chủ nghĩa” có khác. Cả một đại hội Paris 2000 như trên, đến nay đã 8 năm qua chưa thấy ai lên tiếng về chuyện “Tề thiên Nguyễn Chí Thiện” này!. Tại sao?!.

***

* – Dưới đây là những đoạn so sánh để chúng ta thấy rằng mỗi nơi đi qua Nguyễn Chí Thiện đều tự đặt chuyện nói ra, nên mỗi nơi Thiện đều nói mỗi khác nhau.

2) – Ngày 10 tháng 7 năm 1979 ông đi lên Hà Nội. Mặc dù có một bà chị ruột ở Hà Nội, ông đến nhà một người bạn, ngồi trên gác nhà ấy và viết ra 4000 câu thơ trong ba ngày ròng rã mà ông nhớ trong đầu sau hai mươi năm tù đầy. [Tran Viet Dai Hung – Hoa thiet Hoa gia – bai 4&5 – 04-25-2003]

2) Tối hôm thứ Sáu 13.7, trước ngày 14.7 là ngày Quốc khánh Pháp, sứ quán có chiêu đãi. Tôi đã lên Hà Nội trước đó ba hôm, lên nhà thằng cháu gọi tôi bằng cậu. Bây giờ nó chết rồi. Vợ nó, bây giờ tôi nói thật ra là vợ nó gọi thiếu tướng Quang Phòng là cậu, ông ấy là Cục trưởng An ninh Quốc gia phụ trách về văn hoá. Nhà đó thì công an rất nể, không ai dòm ngó đến cái nhà đó cả. Thế là tôi mới lủi vào nhà đó tôi viết. Vợ nó đi làm thì tôi mới viết, khi vợ nó về thì không viết nữa. Một ngày có 8, 9 tiếng ở nhà để viết, viết gấp rút, chỉ có thằng cháu biết thôi vì tôi nói nó đóng cho tôi một cái tủ hai ngăn, để giấu tập thơ. Nó giỏi thợ mộc nên làm được ngay. Tôi dặn nó tuyệt đối không được mở ra. Viết xong nó đóng hộ tôi thành ra quyển sách vì tay tôi yếu. Giấy viết hai mặt, đôi lúc thiếu bút, vì thế nguyên bản có nhiều trang viết bằng mực đỏ. Cũng may trước khi đóng, nó khuyên tôi: “Cậu phải viết một cái thư, chứ gửi nguyên thế này đâu được, ai biết chuyện gì”. Tôi nói nó đưa bút, ngồi ngoáy chớp nhoáng lá thư bằng tiếng Pháp. Kí tên, đề thẳng là 136 Rue de la Gare, Nguyễn Chí Thiện, địa chỉ nhà tôi ở Hải Phòng. Dưới lá thư đó tôi đề: “Hoa Địa Ngục”, mở ngoặc đóng ngoặc: Fleurs de l’Enfer, đề tên tác giả hẳn hoi. [Bui van Phu: 2 gio voi NCT 11-19-02]

***

3) Người đầu tiên công bố tác giả tập thơ là ông Minh Thi, hiện sống tại Santa Ana. Ông Minh Thi là bạn tù của nhà thơ Nguyễn chí Thiện từ năm 1970 đến 1977 tại trại tù Phong Quang. [Tran Viet Dai Hung – Hoa That Hoa Gia – bài 1 – 04-25-2003]

3) – Lần thứ ba ông bị giam từ 1967 đến 1977 đúng vào thời gian có “vụ án xét lại chống đảng”. Trong 10 năm tù lần này … “tôi nằm xà lim hơn 8 năm, sống bẩn thỉu hôi hám như một con chuột cống, có điều thua con chuột cống ở chỗ đói, rét, ốm, đi không vững.” Khi được ra khỏi xà lim ông có bị giam cùng với Vũ Thư Hiên hơn một năm.[DVC Minh Vo: Nguyen Chi Thien 2006]

3) Nguyễn Chí Thiện: Tôi có bị giam ở trại tù Phong Quang, Lào Cay và tôi đã gặp Vũ Thư Hiên trong vòng ba năm. Sau đó, Vũ Thư Hiên được thả ra về trước tôi. Tôi đã nếm đủ mùi gian khổ. [DCV Nguyen Van Luc pv NCT 06-07-07]

***

4) Nguyễn Chí Thiện: Theo tôi thì họ nhắm nhiều mục đích. Trước hết, họ nghi tập thơ do nhiều người viết… Nếu do nhiều người viết, họ sẽ tìm cách truy lùng những người khác đã viết. Cho nên, bằng cách nào, họ cũng muốn tôi viết lại… Tôi tìm cách trì hoãn nói rằng nay sức yếu, thiếu ăn uống, không đủ sức để ngồi tập trung tinh thần để nhớ hết … Tôi xin họ cho gia đình tiếp tế. Sau đó, tôi đã nhận được sự tiếp tế của gia đình gồm một bao lớn, chỉ có chăn màn và mấy kí lô mì rang và đường đen. Phần họ, họ chấp thuận cho bồi dưỡng tôi mỗi ngày có chè tầu, thuốc lá hai bữa cơm ăn tươm tất có thịt, giò chả. Đấy là món chi tiêu khá lớn cho một tên tù. Trà hai đồng một ngày, thuốc lá Sông Cầu hai đồng nữa, vị chi 4 đồng trong khi lương cán bộ chỉ có 2 đồng một ngày … Nhưng cũng nhờ chuyện viết lại này mà tôi lên được khoảng 5 kí lô. [DCV Nguyen Van Luc pv NCT 06-07-07]

[(Thắc mắc của Triệu Lan: Theo lời kể của Nguyễn Chí Thiện ở trên thì tiêu chuẩn “bồi dưỡng cho Nguyễn Chí Thiện rất cao “vị chi 4 đồng trong khi lương cán bộ chỉ có 2 đồng một ngày”, cao gấp 2 lần lương cán bộ để Nguyễn Chí Thiện có thể ngồi chép lại một tập thơ Vô Đề khác.

Như vậy quả đúng như lời của Triệu Lan đã có nói trong bài viết trước là: Tập thơ Vô Ðề có đến Hai (2) bản viết tay!:

* Tập thơ Vô Đề bản số Một (1) nguyên thủy do chính tay tác giả Vô Danh viết ra và ông Vô Danh ghi rõ “Ðây là công trình làm việc trong suốt hai mươi năm (20) trời của tôi” (ông Vô Danh), tập thơ Vô Ðề này không có hình ảnh của tác giả Vô Danh cũng như hình ảnh gia đình của ông đi kèm và tập thơ không có tựa đề (Vô Ðề).

* Bản số Hai (2) do chính tổng cục phản gián Yết Kiêu dàn dựng cho Nguyễn Chí Thiện ngồi học cách viết (giả dạng chữ viết của tác giả Vô danh), Thiện viết ra từ nguyên bản tập thơ Vô Đề. Bản này có tựa đề là “Hoa Ðịa Ngục” và một số hình ảnh Cha, Mẹ, Anh, Chị, Cháu (hay con?) của Nguyễn Chí Thiện trong bản viết tay này. Đây cũng là lý do để giải thích tại sao từ năm 1980 tập thơ Vô Đề ra đời và Đỗ Ngọc Yến cũng như báo Người Việt có được bản copy tập thơ Vô Đề từ ông Nguyễn Hữu Hiệu gởi cho như ông Hiệu đã xác nhận và dĩ nhiên sau đó Yết Kiêu cũng có nguyên bản copy này, nhưng mãi đến năm 1995 (15 năm sau) Nguyễn Chí Thiện mới được đảng cho ra hải ngoại.

Nguyễn Chí Thiện đã chép tập thơ Vô Đề từ bản nguyên thủy ra bản số 2, điều này do chính Nguyễn Chí Thiện tiết lộ bên trên (xin xem mục số 4 được tô đậm trong bài này) do Nguyễn Văn Lục phỏng vấn ở mục số 4 “Cho nên, bằng cách nào, họ cũng muốn tôi viết lại” (tập thơ Vô Đề). Vì lẽ có công chép lại tập thơ Vô Đề ra bản số 2 nên Thiện mới được Yết Kiêu ưu đãi như Thiện đã kể: “Phần họ, họ chấp thuận cho bồi dưỡng tôi mỗi ngày có chè tầu, thuốc lá hai bữa cơm ăn tươm tất có thịt, giò chả. Đấy là món chi tiêu khá lớn cho một tên tù. Trà hai đồng một ngày, thuốc lá Sông Cầu hai đồng nữa, vị chi 4 đồng trong khi lương cán bộ chỉ có 2 đồng một ngày …”. Chúng ta vì đã quá thờ ơ nên chúng ta đã bị lừa trong một thời gian quá dài và khi hiểu ra sự thật chúng ta có còn để Nguyễn Chí Thiện lừa bịp chúng ta nửa hay không ?!.

Đến đây chúng ta có thể khẳng định 100% rằng: Những trang thơ viết tay đủ màu như Nguyễn Chí Thiện đã kể trong mục số 2 ở trên và nay đã được in ra trong quyển “Hoa Địa Ngục” [phụ bản số 4 trang 400 và 401 do Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ năm 2006 phát hành. Nhà in Printed and Bound, Republic of China First Edition, 2006. Bản quyền của Nguyễn Chí Thiện và Nguyễn Ngọc Bích – Copyright 2006 by Nguyen Chi Thien and Nguyen Ngoc Bich – Bích và Thiện lấy tư cách gì để làm chủ bản quyền của tập thơ Vô Đề ?] là cả một sự dàn dựng công phu cũng như rất nhiều thời gian để đạo tào ra con bài Nguyễn Chí Thiện. Và cũng chính từ các bài thơ Nguyễn Chí Thiện đã chép lại từ bản nguyên thủy của tập thơ Vô Đề mà bọn nằm vùng hải ngoại đã có một phong trào thổi phồng cho Thiện “chính danh” trở thành tác giả của tập thơ Vô Đề trong nhiều năm qua. Như chúng ta đã biết Nguyễn Chí Thiện không phải là tác giả của tập thơ Vô Đề nên nhiều lần có sang Anh Quốc nhưng chưa bao giờ Thiện dám đến tòa Đại sứ Anh để xin lại tập thơ, một “công trình làm việc trong suốt 20 năm trời” như trong lá thư viết bằng tiếng Pháp tác giả Vô danh đã xác định.

Như vậy câu chuyện Nguyễn Chí Thiện kể lại Thiện vào trong sứ quán Anh (Thiện kể trong 4 lá thơ viết tay đã có đăng trong báo Saigon Nhỏ tuần qua) tại Hà Nội “cởi quần” móc ra … tập thơ vào năm 1979 cũng phải được “điều nghiên” lại xem có đúng với sự thật hay không?. Hiện nay nhiều người đang có copy bản chép tay (Thiện chép từ bản nguyên thủy) tập thơ số 2 của Nguyễn Chí Thiện, nhưng chúng lại cho người phịa ra là: “do tòa đại sứ Anh gởi trả lại cho Nguyễn Chí Thiện”. Chuyện này sẽ nói sau.

Triệu Lan tôi (bỏ tiền túi) đang liên lạc với ban giảo tự (giảo nghiệm chữ viết) của cơ quan Tư pháp Hoa Kỳ (ban Forensic science), để có thể nhờ họ so sánh dạng chữ viết tay của Nguyễn Chí Thiện và thủ bút của tác giả tập thơ Vô Đề. Triệu Lan tin rằng với kỹ thuật hiện đại (high tech) máy móc tinh vi có thể kiểm chứng và phân loại các dạng chữ viết khác nhau nếu không phải do một người viết ra. Vì ngoài cách so sánh 3 chiều (3D) các loại máy này còn đo được sức đè (pressure) từ chính bàn tay người viết một cách chính xác. Và còn nhiều kỹ thuật giảo nghiệm khác (chưa tiện nói ra) ngoài sự hiểu biết của Thiện cũng như nhóm người đứng sau lưng Thiện. Khi có kết quả thì sẽ công bố cho đọc giả khắp nơi được rõ.)]

***

5) – Nguyễn Chí Thiện: …Vừa ra khỏi cổng tôi bị hai công an nắm cổ đi luôn, họ đưa tôi lên xe hơi, chở tôi vào thẳng Hỏa Lò. Dù tôi có ngồi xe hơi sứ quán chạy ra cũng không thoát được…. Vào Hỏa Lò tôi bị thẩm vấn ngay. Tôi khai tôi chạy vào sứ quán xin tị nạn, bọn công an trong sứ quán nghe được câu tôi nói lúc đầu với ba người Anh là tôi có tài liệu quan trọng muốn đưa, nên họ vặn hỏi tôi đưa tài liệu gì vào Sứ Quán Anh. Tôi nói tiếng Anh của tôi loại giả cầy, tôi nói tôi có chuyện quan trọng muốn nói chứ tôi có nói tài liệu gì đâu. Những ngày đầu bọn thẩm vấn rất ngọt với tôi, chúng nói “Anh có đưa tài liệu gì cứ nói, chúng ta sẽ lấy lại tài liệu đó cho tổ quốc không bị thịệt hại, chúng tôi hứa sẽ trả tự do cho anh ngay”. Tôi vẫn nói tôi không có đưa tài liệu gì cả.

[NSVN Cong Tu Ha Dong pv NCT 2001]

5) – Hỏi: Sau khi lọt vào Sứ Quán Anh họ đã tiếp ông như thế nào? Ông bị bắt lại trong trường hợp nào?

Nguyễn Chí Thiện: Họ đã tiếp tôi, tôi trình bày chi tiết, nhưng vì vấn đề bang giao họ không thể cho tôi tị nạn chính trị. Khi tôi trở ra thì công an vây bắt ngay, và bắt cả đứa cháu của tôi. Tôi bị đưa vào giam ở Hỏa Lò. Ở trong Hỏa Lò, họ đã đối xữ tử tế với tôi cho ăn uống đàng hoàng, trà đường thuốc lá ..v.v.. [Radio VNHN Vuong ky Son pv NCT 10-12-2003]

* Thắc mắc: Hai (2) cuộc phỏng vấn ở trên. Với Công Tử Hà Đông Nguyễn Chí Thiện nói “bị bắt một mình. Với Vương Kỳ Sơn Nguyễn Chí Thiện “bị bắt” cùng với đứa Cháu.

***

Bốn (4) người dưới đây trong 4 cuộc phỏng vấn Nguyễn Chí Thiện đã có cùng 1 câu hỏi. Nhưng Nguyễn Chí Thiện đã trả lời cho Bốn (4) người đều hoàn toàn khác nhau.

6-1) – Nguyễn Chí Thiện: “ … Mãi đến 16 tháng sau, tháng 10, 1980, lần ấy ra làm việc tôi được đưa vào một phòng lớn, trong có ba bốn tên công an bự chờ sẵn, tôi hồi hộp biết là có chuyện mới. Lần này họ cho tôi thấy tập thơ của tôi được xuất bản ở Hoa Kỳ. Họ cho tôi xem bức thư chữ Pháp viết tay của tôi, tôi nhận đó là chữ tôi, nhận thư đó tôi viết và thơ trong tập là thơ tôi … Lúc ấy tôi biết tác phẩm Hoa Địa Ngục của tôi đã được xuất bản, và đến lúc ấy tôi mới nhận tôi vào sứ quán Anh là để trao cho nhân viên sứ quán tập thơ ấy. Sự việc sau đó diễn ra như tôi đã kể…[NSVN Cong Tu Ha Dong pv NCT 2001]”.

6-2) – Nguyễn Chí Thiện: “Một hôm, lúc đó tôi đã bi quan lắm rồi, vào tháng 10 năm 1980, họ cũng gọi cung như mọi lần, nhưng lần này họ đưa vào phòng lớn, không phải phòng hỏi cung. Những nhân viên vẫn hỏi cung cũ biến mất, giờ có mấy ông ở bộ sang, mặc quần áo dạ mùa đông, đi giầy bóng, tuổi hơn 50. Tôi đoán có chuyện gì rồi, mừng thầm vì có thể có kết quả. Quả nhiên đúng. Họ mời trà, hút thuốc lá đâu đấy, rồi họ mới giở quyển sách ra, họ không giơ bìa ra mà chỉ cho coi bức thư viết bằng tiếng Pháp bên trong. Họ hỏi, có phải chữ của anh không? Tôi nói đúng. Mình mừng hơn bố sống lại chứ không phải là không. Vì đợi mãi mà.

Bùi Văn Phú: Có phải đó là cuốn “Tiếng Vọng Từ Đáy Vực”?.

Nguyễn Chí Thiện: Tôi không biết. Vì họ đâu có cho mình coi bìa sách. Họ mở ra, gấp cong bìa lại, chỉ cho mình thấy trang có in lá thư chữ viết tay của mình thì mình đâu có nhìn được tên sách. [Bui van Phu: 2 gio voi NCT 11-19-2002]”

6-3) – Jean Libby: “… Ông ta biết là thơ của ông được phát hành vì tên công an cầm tờ báo Việt ngữ in ở Hoa Kỳ năm 1980 có hình của ông. Ông cười mím và không phủ nhận điều đó [Jean Libby: May 21, 2006 – JANCT tr.7.]”.

6-4) – Nguyễn Chí Thiện: “Thoạt tiên khi được biết tập bản thảo được in ra, chúng mời tôi lên làm việc. 15 tháng sau, 4, 5 tên đã đưa ra trước mặt tôi tập thơ đã được in … Họ hỏi tôi có nhận ra tập thơ này là của tôi không? Tôi nhận ngay là của tôi sau khi đọc mấy bài. Sau đó, bọn họ yêu cầu tôi viết lại tất cả các bài thơ tôi đã viết. [DCV Nguyen Van Luc pv NCT 06-07-2007]”.

***

7) – Lần thứ tư ông bị giam 12 năm 3 tháng. Đó là khi ông xông vào tòa đại sứ Anh ở Hà Nội để trao tập thơ Hoa Địa Ngục như đã nói trên. Lần này ông bị giam ở Hải Phòng 6 năm sau đó bị chuyển về Hỏa Lò ở Hà Nội. Ông được tha ngày 22 tháng 10 năm 1991, cùng dịp với nhà văn nữ Dương Thu Hương, nhà văn Doãn Quốc Sĩ và linh mục dòng tên Lê Đan Quế. [DVC Minh Vo: Nguyen Chi Thien – 2006]

7) – “… Cuối cùng tôi hỏi họ có thể lưu tôi trong sứ quán Anh được không. Họ nói việc vào đã lộ, công an đã vây ở ngoài ở lại sẽ khó khăn … Họ đưa tôi thẳng vào Hỏa Lò và hỏi cung ngay … Tôi ở Hỏa Lò tới năm 1985 thì chuyển về xà lim bộ ở xã Thanh Liệt, Huyện Thanh Trì”. [Nguyen Chi Thien 4 trang la thu viet tay ngay 7 thang 11, 1995].

Sau đây là “văn phong” của Nguyễn Chí Thiện viết cho thi sĩ Phùng Cung khi Thiện nghe tin Phùng Cung qua đời vào tháng giêng năm 1997, được trích đăng trong tập nhật ký của bà Jean Libby năm 2006.

– “văn sĩ” Nguyễn Chí Thiện: “tháng giêng, 1997 tôi ở Hoa kỳ …. Nhà thơ Lê Quang Dũng thông báo là Phùng Cung đã chết tại nhà anh vào ngày thứ sáu, sau hai tuần bạo bệnh. Phùng Cung là người bạn tù với tôi. Và họ đang chuẩn bị tang lễ. Tôi nghe nữa.

* “văn sĩ” Nguyễn Chí Thiện: “ … Tôi hiểu là cái chết là điều không thể tránh được, nhưng tôi không kềm chế được cảm giác mất mát lớn lao và tôi đã khóc. Đêm ấy, khi nằm ngủ tôi quay mặt vào vách. Hồi tưởng lại lần đầu gặp nhau tại Phong Quang vào một ngày mùa đông ảm đạm. Anh đứng bên cạnh cây ớt đỏ. Anh đưa mắt nhìn bầu trời nặng trĩu cũng nặng buồn như khuôn mặt của anh. Và sau đó, trong ngày chia tay từ giả tôi vào Sài gòn để đáp chuyến bay đi Hoa kỳ, anh nắm đôi bàn tay tôi bịn rịn không rời, nước mắt anh lưng tròng. Sáng hôm sau tôi chập chờn giấc mơ tôi thấy những vì sao, tôi thấy những cánh buồm xanh biếc quyện bay với gió trong dãy ngân hà đem linh hồn anh đến nơi vĩnh hằng. Ngày nào đó, khi trở về Việt Nam tôi không làm gì hơn bằng im lặng đứng trước mộ anh nằm ở mô đất trâu cày dẫm nát ở cuối làng.” [Jean Libby. ANCT tr.10]

Khi viết văn người ta có thể tả cảnh trời trăng mây nước, hoa cỏ hữu tình. Nhưng cổ kim chưa từng thấy “văn sĩ” nào lại tả cảnh “trong dãy ngân hà” bao giờ và hay hơn nửa là “trong dãy ngân hà” lại có cả “gió” và “những cánh buồm xanh biếc”. Rồi đến “ngày mùa Đông ảm đạm” thì cây ớt mới Đỏ. Và vì có “cây ớt đỏ” (không phải Cây Ớt Xanh) nên ông Phùng Cung mới ra “đứng bên cạnh cây ớt đỏ”, để “văn sĩ” Nguyễn Chí Thiện có cảm hứng mà viết văn hay “chép thơ.” Những bằng chứng trên chứng tỏ Nguyễn Chí Thiện không biết viết văn, nếu Thiện có viết thì cũng chỉ là viết Láo như đoạn “văn” ở trên.

Về thơ thì người ta có thể nhớ trong một thời gian ngắn, một số lượng nhỏ các bài thơ do mình sáng tác, chứ không thể nhớ một số lượng lớn nhiều bài thơ mà gần như cả đời mình làm trong một thời gian kéo dài mấy chục năm. Với nhiều người đã có kinh nghiệm tù đày Cộng sản, thì chỉ riêng tội “làm thơ cực kỳ phản động”, đã xúc phạm lãnh tụ, nhục mạ đảng và bôi đen chế độ. Nếu bị bắt, dù chỉ một bài truyền miệng thôi, thì đương sự cũng đủ bị xử nghiêm ngặt bằng án tử hình mà không cần phải xét xử gì cả. Trong hơn 60 năm qua kể từ khi Cộng sản cai trị đất nước cho đến nay, duy nhất chỉ có “Một Tù Nhân” Nguyễn Chí Thiện dám “chép thơ” “chửi đảng”, xúc phạm lãnh tụ “bác Hồ”, phê bình cả “đồng chí” Nguyễn Khắc Viện mà “tù nhân” Nguyễn Chí Thiện vẫn được đảng “ưu ái” cho Thiện ăn tiêu chuẩn “gấp hai lần cán bộ”. “Trà hai đồng một ngày, thuốc lá Sông Cầu hai đồng nữa, vị chi 4 đồng trong khi lương cán bộ chỉ có 2 đồng một ngày”.

Khi Thiện “bị” tù thì được cả “đồng chí” “Cục-trưởng cục An-ninh Quốc-gia tới phòng” và yêu cầu. “Anh viết ngay một bài phê-bình đi, tôi sẽ cho báo Nhân-Dân đăng” để phê bình “đồng chí” Nguyễn Khắc Viện. Ôi! “thiên đường xã hội chủ nghĩa” sao lại có những tên Đại Láo như thế này?. Ba (3) triệu người Việt Quốc Gia tị nạn Cộng sản chúng ta phải làm gì với tập đoàn Đại Bịp Nguyễn Chí Thiện?!. Chúng đã dùng đủ mọi mánh khóe để đánh lạc hướng, làm cho người Quốc Gia không nhận ra được ý nghĩa chân thực của tập thơ trên, chúng dùng chiến thuật “lượng chống phẩm” kiểu hát hay không bằng hay hát. Sự nhắc lại nhiều lần bởi nhiều tên bịp, chúng nghĩ rằng cuối cùng sẽ làm quần chúng yên trí mà tin theo chúng! Nhưng kết quả cho thấy chúng đã nhầm.

Nguyễn Chí Thiện và đồng bọn tưởng có thể dùng trò tiểu xảo lừa bịp mọi người được mãi, đối với đại khối quần chúng việc nhận ra sự kiện hay nhân sự thường chậm vì phải thông qua một tiến trình suy luận dùng đủ các phương thức như phân tích và tổng hợp, diễn dịch hay căn cứ trên số dữ kiện có sẵn. Nếu thơ “văn là người” do xem thơ, văn mà biết được khí chất, trình độ tư tưởng, chí hướng của một người được coi là nguyên tắc phổ quát, thì điều kiện cần và đủ để nhận ra tác giả tập thơ Vô Đề này phải là người có quá trình “hành động” cách mạng. Càng đọc hay nghe những điều từ Nguyễn Chí Thiện nói ra, chúng ta lại càng khẳng định là Nguyễn Chí Thiện bằng xương bằng thịt đang sống và đang sinh hoạt trong cộng đồng chúng ta Không Phải Là Tác Giả của Tập Thơ Vô Đề và với một số điều đã nêu trong 3 bài viết này ai cũng đồng ý rằng: Nguyễn Chí Thiện là người đã nhận vơ tập thơ Vô Đề của tác giả Vô Danh. Vì sau 3 bài viết thiết nghĩ Triệu Lan đã thừa dữ kiện cũng như bằng chứng để chứng minh cho lập luận của mình mà không bao giờ sợ nhầm lẫn được nửa.

Một điểm nửa cũng cần nêu ra ở đây là: Bọn cộng sản (Nguyễn Chí Thiện) vì không có tên nào có học hay chuẩn bị học tập gì, mà do một sự trớ trêu rất ngẫu nhiên chúng được ngồi vào “chính trường”, nói chuyện chính sự kiểu “bần cố nông” nên chức vụ “to” nhưng tài năng thì không có nên bọn này phải dùng “tiểu xảo” để lừa bịp. Đây chính là lý do đúng nhất để giải thích tại sao trong gần 13 năm qua Thiện đi Đông, đi Tây cố dùng những trò “tiểu xảo” để làm sao tạo cho Thiện được cái “mác thi sĩ”. Nhưng hỡi ôi! Thiện đã không có khả năng và cũng không ai có thể thổi con ếch Thiện to bằng con bò. Người ta đã nhìn thấy Thiện quá kém cỏi trong mọi lãnh vực, nghe Thiện nói chuyện hay đối đáp người ta rất dễ dàng nhìn ra trình độ học vấn và con người thật của Thiện. Những sĩ phu Việt Nam hải ngoại và trong nước họ không Mù như Thiện và đồng bọn nghĩ. Nhiều năm qua họ chưa nói bởi vì chưa đúng lúc thế thôi. Hiện nay thời điểm năm 2008 này có lẽ bọn cầm quyền Việt Gian Cộng sản cũng đã hết thời và tất cả bọn chúng đều là những tên tội đồ của dân tộc, sẽ bị xét xử theo luật cách mạng và đời đời chịu sự phê phán nghiêm khắc của lịch sử.

Sĩ Phu Việt họ là những người đồng chất, có cùng một tần số rung động, nên nhận ra nhau và chấp nhận nhau thật dễ, chẳng cần biện bạch rườm rà, chỉ qua một câu nói gọn, ngắn, một cử chỉ nhẹ nhàng, trầm tĩnh, là họ đã hiểu nhau, như đã từng quen biết từ một tiền kiếp xa xưa lắm! Với cùng một vấn đề, họ thường có cùng một giải đáp. Do đó, họ chỉ trao đổi với nhau những gì thực sự quan trọng, vì chuyện đất nước là chuyện dài lâu. Đó là lý do để giải thích tại sao các sĩ phu Việt họ không vội vã trong ván bài Nguyễn Chí Thiện.

Đây là cơ hội cuối để cho những ai đã từng lầm tưởng và tin theo nhóm của tên Nguyễn Chí Thiện để thích nổi danh và nổi tiếng. Hôm nay diễn viên Nguyễn Chí Thiện thật sự đã được bạch hóa, màn kịch Nguyễn Chí Thiện cũng đã từ từ hạ xuống, giới “hoạt động văn hóa” Mỹ cũng như các quốc gia khác họ đã biết từ lâu. Chỉ có những người thích nổi danh và nổi tiếng đang ồn ào bênh vực cho Nguyễn Chí Thiện vẫn chưa biết. Tiếc thay!. Từ thời điểm này quý vị nên tự mình nói lên những điều chân thật nhất từ lý trí của mình. Vì “đất” của Saigon Nhỏ vẫn đang còn dành chổ cho quý vị. Cộng đồng người Việt hải ngoại vẫn còn dành nhiều cảm tình cho những ai biết lẽ phải và còn thương yêu đất nước.

* Lỗi lầm tại ai ? xét ra tất cả

* Mấy ai người đem hết tâm can?

* Trước quân thù hung hiểm gian ngoan

* Biết bao kẻ mơ hồ mong hưởng lạc!

* Nghĩ tới ngày mai lòng ta tan tác

* Đến bao giờ lấy lại được giang san!

Triệu Lan

A) Chấm dứt phần I

B) Xin dành bình luận cho Ban điều hành báo Saigon Nhỏ

C) Xin đón xem phần II

http://www.hon-viet.co.uk/TrieuLan_SuThatVeLaoSiNCThien_3.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

NHỮNG KHÁC BIỆT về QUAN ĐIỂM và THÂN THẾ giữa TÁC GIẢ TẬP THƠ VÔ ĐỀ và NHÀ THƠ NGUYỄN CHÍ THIỆN

Posted by tudodanchu trên Tháng Chín 28, 2008

TinParis. Chúng tôi đăng lại bài viết dưới đây của ký giả Thế Huy trích từ Bán Nguyệt san Văn Nghệ Tiền Phong số 512 tháng 5/1997 . Thế Huy là một cây viết bình luận chánh trị nổi tiếng tại Paris.

NHỮNG KHÁC BIỆT về QUAN ĐIỂM và THÂN THẾ giữa TÁC GIẢ TẬP THƠ VÔ ĐỀ và NHÀ THƠ NGUYỄN CHÍ THIỆN

– Thế Huy –

Từ ít lâu nay một số người đã đề cập tới quan điểm đấu tranh của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, xuyên qua những bài nói chuyện của ông tại các nơi, trong hơn một năm qua. Các lời khen, chê đưa ra thật nhiều và rất mâu thuẫn với nhau, nhưng đa số sự khen, chê đó chưa dược dẫn chứng rõ ràng hoặc thiếu dữ kiện chứng minh để có thể đi đến những kết luận được coi là chính xác, nên đã làm nhiều người hoang mang, không rõ lập trường và thân thế nhà thơ Nguyễn Chí Thiện ra sao? Việc đả kích hoặc yểm trợ nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã gây rạn vỡ ít nhiều trong cộng đồng người Việt hải ngoại và đã khiến một số người trong hàng ngũ đấu tranh có những ý kiến xung đột và trở nên hiềm khích với nhau.

Trước sự kiện đó, chúng tôi thấy cần phân tích và nhìn vấn đề một cách khách quan tối đa, nhằm nêu ra những gì được gọi là chưa sáng tỏ hoặc mâu thuẫn giữa quan điểm của thi sĩ Vô Danh, tác giả tập thơ Vô Đề (được trao cho tòa đại sứ Anh ở Hà Nội ngày 16.7.1979) và quan niệm đấu tranh của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện hiện nay. Sở dĩ việc phân biệt đó được đặt ra, vì một số người đoan chắc rằng nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đang có mặt tại hải ngoại không phải là thi sĩ Vô Danh, tác giả tập thơ Vô Đề, mà hầu hết chúng ta đã được đọc qua ít nhiều từ 17 năm qua. Mổ xẻ để tìm hiểu về sự kiện đó là một công việc tế nhị, khó khăn và có thể sẽ có người cho là người viết có ý đánh phá nhà thơ Nguyễn Chí Thiện. Nhưng vì mục đích muốn cho sự thật được sáng tỏ, để từ đó, tất cả chúng ta đánh giá đúng về con người và nhìn đúng sự việc, nên chúng tôi nghĩ đến việc đưa ra những điểm được coi là bất thường và mâu thuẫn, đã làm một số người thắc mắc, để chúng ta cùng nhau suy nghĩ, góp ý và thảo luận một cách vô tư, nghiêm chỉnh, hầu đưa đến một kết luận công bình và hữu lý nhất. Bởi, mọi sự lầm lẫn trong công cuộc đấu tranh sẽ đem lại những tai hại lớn lao không những cho chúng ta mà còn di họa cho tương lai của đất nước.

Chúng tôi quan niệm rằng khi nhận định về bất cứ một sự kiện hay một nhân vật nào, người làm công việc phân tích phải bỏ ra ngoài mọi thứ tình cảm cá nhân, mọi thứ “vị tình” mà chỉ mổ xẻ sự việc với sự vô tư tối đa để bảo đảm tính chất xác thực của nó.
Những chi tiết nêu ra không hề là những lời cáo buộc hay bắt bẻ mà là những điều cần được soi sáng, nếu cá nhân của người được nói đến, thấy trong đó có sự sai lầm hoặc ngộ nhận. Mọi người sẽ nói chuyện với nhau một cách chân thành, công bằng, bình tĩnh và tương kính để mọi khúc mắc được giải tỏa, mọi việc sẽ rõ trắng, đen.

I. MÂU THUẪN về THÂN THẾ
1. Khác biệt về tuổi tác

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cho hay ông sinh ngày 27.2.1939. Theo đó thì biến chuyển Mùa Thu năm 1945, khi CS cướp chính quyền tại Hà Nội thì NCT mới 6 tuổi. Nếu NCT là thi sĩ Vô Danh thì vô lý, vì trong tập thơ Vô Đề, tác giả Vô Danh lúc đó đã vào tuổi 20. Nhớ lại biến chuyển đó, thi sĩ Vô Danh viết:

“Tuổi hai mươi, tuổi bước vào đời
Hồn lộng cao, gió thổi chơi vơi…
…Tuổi đôi mươi nhìn đời thơ dại
Ngỡ cờ sao rựng rỡ [ghi chú: cờ VC]
Tô thắm xứ sở yêu thương
Có ngờ đâu giáo giở đã lên đường
Hung bạo phá tan bờ kim cổ.”

Giả dụ thi sĩ Vô Danh là thi sĩ NCT, và dù lúc ấy mới 6 tuổi, nhưng tự đặt mình vào tuổi tráng niên để nói lên niềm vui của thế hệ trẻ thời ấy khi thấy đất nước được Độc Lập (nhưng thực ra đã thoát từ ách thống trị của Thực Dân để đi vào một gông cùm khác còn nghiệt ngã hơn). Giả thuyết này không vững vì chính tác giả Vô Danh đã nói rằng thơ của ông là tất cả sự thật, là cùm kẹp, là máu ho lao, chứ không vẽ vời thêm bớt gì cả. Điều đó có nghĩa là nếu nhà thơ NCT là thi sĩ Vô Danh thì ít nhất ông phải sinh vào khoảng 1925, chứ không thể là 1939.

Cũng trong việc tìm hiểu tuổi tác của thi sĩ Vô Danh, người ta thấy trong bài “Tôi Đã Đi” sáng tác năm 1963, ông viết:

‘Tôi đã đi hơn nửa đoạn đường đời
Mà chưa gặp bao la và ngớt tạnh!
Buổi cất bước hồn tôi là rượu mạnh
Giờ rượu kia nhạt loãng tựa hơi sương
…Nửa đời trước đã đi vào mất mát
Của ước mơ vụn vỡ tới chân nền
Liệu ai còn can đảm gan bền
Xây lại giấc mơ vàng vụn nát!”

(trang 136, bản dịch Hoa Địa Ngục của Nguyễn Ngọc Bích)

Bài thơ này làm năm 1963, khi nhà thơ NCT 24 tuổi. Với tuổi ấy, nhà thơ không thể nghĩ là mình đã sống hơn nửa đời người được. Đời một người thường được tính là 70 tuổi. Tâm trạng trên chỉ đúng nếu ông sinh vào khoảng 1925 như giả thuyết đã nêu ra ở trên vì năm đó (1963) ông đã 38 tuổi. Với tuổi xấp xỉ 40 ấy, tác giả mới có thể nói là mình sống hơn nửa đời người được.

Tập thơ Hoa Địa Ngục 2, trong một bài rất dài từ trang 46 đến trang 48, nhà thơ NCT viết về kỷ niệm và những hình ảnh an bình khi ông còn ở tuổi thanh niên, đã biết uống rượu, có bạn gái và uống cà phê pha rượu mạnh:

“Ta nhớ những buổi tối mùa đông
Đi xi nê về ăn phở ấp chảo
Phở nóng, rượu cay, tỏi ớt càng cay!
… Ta ngồi bên ly cà phê pha rượu mạnh
Nhìn dòng người, dòng xe khoe tươi lộng lẫy
…Quanh hồ Gươm ta mặc toàn đồ trắng dạo chơi
…Mùa hè, ăn bánh tôm bên hồ Tây
Cô bạn ngồi bên như nàng tiên vậy”
(1986)

Năm 1986 nhà thơ NCT hồi tưởng quá khứ và làm bài thơ này. Người ta tự hỏi: Cái thời vàng son, thanh bình đó là thời điểm nào? Trước khi CS chia đôi đất nước? Tối đa, năm 1952/1953, nhà thơ NCT mới 13, 14 tuổi. Ở ngoài Bắc, thời đó, người thanh niên có học, gia đình nề nếp, biết uống rượu, có bạn gái phải là tuổi trên dưới 20. Ông NCT 20 tuổi năm 1959. Chẳng lẽ vào năm 1959 hoặc vào đầu thập niên 1960, dưới thời CS, mà ở Hà Nội có người công tử mặc toàn đồ trắng dạo chơi quanh Hồ Gươm nhàn hạ, thanh bình, sung túc và sang trọng như thế sao? Những năm ấy mà khung cảnh Hà Nội còn nhộn nhịp, lộng lẫy và nhiều xe hơi đến thế sao? Hình ảnh đó chỉ có thể có được trước năm 1954. Nếu quả thật khi nhà thơ NCT ở vào tuổi 20 (1959) mà ông còn được sống như thế thì hẳn ông phải thuộc vào thành phần được ưu đãi. Nhà thơ NCT khẳng định rằng những gì được nói đến trong thơ, ông không thêm bớt mà còn “theo sát sự thật tới độ tỉ mỉ”. Nếu tại Hà Nội những năm 1959/1960 mà còn cảnh ấy thì điều đó làm nhiều người rất ngạc nhiên.
Nhà thơ cũng cho biết rằng ông tốt nghiệp trung học năm 1955, tức là năm 1954 mới 15 tuổi ông đã đậu tú tài 1, nghĩa là ông phải làm đơn xin miễn tuổi để dự thi? Nghề nghiệp chính thức của ông là dạy Anh văn và Pháp văn. Ông đi tù lần đầu từ tháng 5.61 đến tháng 11.64, lần thứ nhì từ tháng 2.66 đến tháng 7.77. Trong thời gian được thả từ tháng 11.64 đến tháng 2.66 thì ông dịch sách và cư trú tại Hải Phòng.

2.Về gia đình

Thi sĩ Vô Danh là người con độc nhất trong gia đình, không vợ, không con. Trong tập thơ Vô Đề ông viết:

“Tôi, một kẻ không gia đình, bè bạn
Sống một mình, bệnh hoạn, xanh xao
Chủ nhật, ngày thường tôi thấy như nhau
Những khi buồn tôi đem điếu ra lau
Hoặc khe khẻ ngâm vài câu thơ cổ.”

Bài thơ này cho chúng ta thấy hình ảnh một người có thể lớn hơn nhà thơ NCT một thế hệ, biết khá nhiều về thơ cổ, chịu ảnh hưởng, của văn hóa Trung Hoa, và cũng còn là người theo Tây học, có đủ khả năng để viết bức thư kèm theo tập thơ Vô Đề, nhờ Toà Đại Sứ Anh phổ biến.
Qua hơn 100 bài sáng tác suốt thời gian đi tù, in trong tập thơ Vô Đề, thi sĩ Vô Danh không hề đề cập đến ai trong thân quyến, ngoại trừ cha mẹ ông, khiến người ta cho rằng ông không còn người thân ruột thịt nào khác.
Trong khi đó, nhà thơ NCT cho hay ông có hai người chị, một người tên là Hảo và một người anh theo quân đội Quốc Gia, di cư vào Nam năm 1954, tên là Nguyễn Công Giân, cựu trung tá P2/TTM hiện nay ở Mỹ.

Hoa Địa Ngục tập 2, trang 144 ông viết:

Ba chục năm trời không thấy mặt nhau
Non nuớc chia đôi, rồi tù lao thăm thẳm
Em vẫn mơ ngày tay anh em nắm
Nước mắt sẽ trào ra sung sướng, thương đau
Ruột thịt chia lìa đớn đau
Gặp nhau anh chị em mình sẽ khóc
Chìm đắm giữa lao tù chết chóc
Em vẫn cầu trời cho bốn anh chị em mình
Có ngày được ăn bữa cơm đoàn tụ bên nhau…”

Ngoài ra trong tập HĐN 2, nhà thơ cũng nhiều lần vọng tưởng đến ngày cũ, trong đó có hình ảnh của anh chị, qua các bài thơ in ở các trang 43, 47… Tuy nhiên, người ta cũng có thể cho rằng, sau này với tuổi đời chồng chất, con người nghĩ đến tình ruột thịt nhiều hơn, và tâm tư đó được thể hiện qua tập thơ HĐN 2.

3.Bệnh lý

Thi sĩ Vô Danh bị bệnh lao nặng, ho ra máu sau nhiều năm bị cùm kẹp, đày ải. Ông viết:

Thơ của tôi không có gì là đẹp
như cướp vồ, cùm kẹp, máu ho lao
như chết chóc, mồ hôi, báng súng!
Thơ của tôi là những gì kinh khủng
như Đảng, Đoàn, như Lãnh Tụ, Trung Ương
thơ của tôi kém phần tưởng tượng
nó thật như tù, như đói, như đau thương!
thơ của tôi chỉ để đám dân thường
nhìn thấu tim đen phường quỷ đỏ.”

Khi được hỏi là có bị bệnh lao hay không, nhà thơ NCT trả lời rằng ông không bị lao mà bị suy yếu thần kinh. Nếu ông là tác giả tập thơ Vô Đề và bị ho lao, bị đày đọa trong tù CS thêm 12 năm, khổ sở, thiếu thuốc men thì người bệnh khó sống sót được đến nay. Tóm lại là thi sĩ Vô Danh bị lao nặng, còn nhà thơ NCT thì không, và hai người không thể là một, nếu cả hai đều nói đúng sự thật.

4. Tấm hình chụp nhà thơ NCT trong văn phòng giám thị trại Ba Sao

Ngay trang bìa của tập thơ HĐN2, xuất bản tại Mỹ năm 1996, nhà thơ NCT đã cho in tấm hình chụp ông trong văn phòng trại tù. Qua đó, người ta thấy dù ở tù nhà thơ vẫn ăn mặc tươm tất, ngồi uống trà với tên giám thị trại Ba Sao như trong một cuộc mạn đàm an nhàn, thoải mái. Người ta ghi nhận văn phòng có cả sa lông, khá lịch sự so với một trại giam. Điều đó làm cho một số người có cảm tưởng là trong chế độ lao tù CS, tù nhân cũng được đối xử khá nhân từ và tử tế. Tuy nhiên, việc đó vẫn chưa quan trọng. Việc đáng nói ở đây là: ai đã chụp tấm hình ấy? Có lẽ là nhân viên trại tù chụp? Vì chắc chắn họ mới có quyền đó! Nếu vậy, tại sao nhà thơ NCT lại có một tấm để đem in cho chúng ta xem? Nếu đó là tấm hình nhằm tạo một bộ mặt sạch sẽ, “đạo đức giả” cho chế độ lao tù CS thì tại sao nhà thơ NCT lại có thể thờ ơ cho in vào bìa sách? CS đưa tấm hình này và ép ông in vào tập thơ ấy chăng? Nhà thơ NCT có vô tình khi cho in nó ngay ở trang bìa như thế không?

Ông Nguyễn Công Giân, anh của nhà thơ NCT, sĩ quan Phòng 2/TTM, có thể làm chứng rằng: ngay dưới thời VNCH, những hình chụp trong trại giam cũng không bao giờ lọt được vào tay tù nhân, nếu không vì một mục đích liên quan nào đó! Dĩ nhiên, dưới chế độ công an trị, VC còn nghiêm ngặt và cẩn thận ngàn lần hơn nữa. Thế thì, tại sao nhà thơ có tấm ảnh ấy?

5. Khả năng sinh ngữ

Trong Lời Nói Đầu của tập thơ HĐN 2, nhà thơ NCT tiết lộ rằng người dân chỉ cần ca ngợi hàng hóa Pháp, Mỹ hay chê bai sản phẩm của Nga, Tàu cũng đủ đi tù. Từ sự kiện ấy, tôi tự hỏi: Trong tình thế đó, người ta có thể mang từ điển, sách vở chữ Pháp và chữ Anh vào để tù nhân trau dồi, học thêm không? Chắc là không! Vì cũng trong Lời Nói Đầu, nhà thơ NCT cho hay là trong tù công an khám xét và kiểm soát thường xuyên! Vậy thì, ông chỉ có thể học Anh, Pháp trước 1954.

Với tuổi 15 nhà thơ NCT đã thuộc rất nhiều thơ cổ, thuộc nhiều chuyện Tàu, điển tích; khá giỏi Hán văn mà còn làu thông cả hai sinh ngữ Anh, Pháp; để nhiều chục năm sau đó, ra khỏi tù còn có thể dịch sách hoặc dạy học được thì ông học tất cả những thứ đó hồi nào? Ông học chữ Pháp ở đâu để có đủ khả năng viết lá thư kèm theo tập thơ Vô Đề đưa vào Toà Đại Sứ Anh? Vả lại, sinh ngữ rất dễ quên, nếu không thường xuyên sử dụng. Có người nói rằng ông học trường Lycée Albert Sarraut ở Hà Nội trước đây. Hiện nay, tại Paris có Hội Cựu Học Sinh Lycée Albert Sarraut, do một người Pháp làm chủ tịch nên chỉ cần biết là nhà thơ học tại đó năm nào thì người ta sẽ rất dễ dàng kiểm chứng. Đọc bức thư thi sĩ Vô Danh gửi cho Tòa Đại Sứ Anh, người ta phải nhận rằng một người nhiều chục năm không sử dụng chữ Pháp như ông mà viết được như thế thì trình độ Pháp văn của ông phải vững lắm! Nhưng người lớn tuổi càng không thể quên rằng thời điểm 1945-1949 là những năm ở miền Bắc, hầu hết mọi người đều phải tản cư rồi hồi cư, nên dĩ nhiên, việc học của giới trẻ bị gián đoạn và chậm trễ rất nhiều. Nhiều người bằng tuổi nhà thơ NCT mà khi di cư vào Nam mới bắt đầu học lớp Nhất để thi tiểu học.

Năm 1954, ngay sau thời buổi loạn ly ấy, nhà thơ mới 15 tuổi, học trường Tây mà đã có bằng tú tài 1, thì có lẽ thanh niên cả Hà Nội lẫn Hải Phòng đều ít nhiều nghe tiếng. Có người cho hay là nhà thơ NCT chỉ được người chị ruột tên Hảo, dạy tiếng Pháp cho ông khoảng 6 tháng. Nếu điều đó đúng thì chắc chắn ông không thể viết được một lá thư suông sẻ, gẫy gọn và súc tích bằng tiếng Pháp, nguyên văn như sau:

“Monsieur,
C’est au nom des millions de victimes innocentes de la dictature , déjà succombèes ou subissant encore une mort lente et douloureuse dans les bagnnes communistes, que je vous prie de faire publier ces poèmes dans votre pays libre. C’est le fruit de mes vingt ans de travail. La plupart en ont été nées dans mes années de détention. Je pense qu’à nous, les victimes, il appartient plus qu’à personne d’autre de montrer au monde les souffrances incroyables de notre peuple opprimé et torturé à merci…
De ma vie brisèe, il ne reste qu’un seul rêve, c’est de voir le plus grand nombre possible d’hommes prendre conscience de ce que le communisme est un grand fléau de l’humanité. Veuillez agréer, Monsieur, l’expression de ma profonde reconnaissance ainsi que celle de mes compatriotes infortunés!.”

Tạm dịch:

“Thưa ông,
Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải kéo dài cái chết chậm chạp và đau đớn trong ngục tù CS, tôi xin ông vui lòng cho xuất bản tập thơ này tại phần đất tự do của quý quốc. Đây là kết quả hai muơi năm làm việc của tôi. Phần lớn được sáng tác trong những năm tôi bị giam cầm. Tôi nghĩ rằng hơn ai hết, chính chúng tôi, những nạn nhân, có trách nhiệm phơi bày cho thế giới thấy sự đau đớn không thể tưởng tượng nỗi của dân tộc tôi đang bị áp bức và hành hạ thẳng tay…
Cuộc đời tan nát của tôi chỉ còn một ước mơ, đó là được thấy nhiều người ý thức rằng chủ nghĩa CS là một tai họa khủng khiếp cho nhân loại. Xin ông nhận nơi đây lòng biết ơn sâu xa của tôi, cũng như của đồng bào bất hạnh của tôi”
[Bức thư không ký tên]

Nếu cho rằng ông nhờ ai sửa chữa hoặc viết hộ thì lại càng vô lý hơn vì trong chế độ VC kìm kẹp, mọi người phải nghi ngờ và báo cáo lẫn nhau ấy, không ai điên rồ đến độ nhờ người khác viết hộ, và cũng chẳng ai muốn dính líu vào một bức thư bị coi là “phản động” như thế.

6. Sinh quán và trú quán

Nếu người viết không lầm thì nhà thơ NCT sinh quán ở Hà Nội, và năm 1959 về sống tại Hải Phòng. Trong chuyến đi gặp gỡ người Việt tại Âu Châu vào giữa năm 1996, ông được mời nói chuyện và dùng cơm ở vùng St. Quentin-en Yvelines, thuộc ngoại ô Paris . Trong cuộc mạn đàm giữa bữa cơm, ông Giác, một người quê quán tại Hải Phòng, sinh năm 1936, hiện cư trú tại Ivry/Seine, hỏi thăm nhà thơ về một số người có tiếng tại địa phương, và nhất là về một số địa danh ở Hải Phòng trước sự có mặt của một số người ngồi chung bàn, nhưng nhà thơ NCT có vẽ ngỡ ngàng, ậm ừ, hầu như không biết, khiến ông Giác rất ngạc nhiên. Ông Giác cũng cho biết thêm rằng năm 1954, ông đậu bằng tú tài 1, lúc 18 tuổi đã được coi là sớm lắm vì hầu hết những người bạn cùng lứa tuổi với ông mới học lớp đệ ngũ, và nhà thơ NCT còn kém hơn ông tới 3 tuổi.

7. Nhà thơ NCT và Phong Trào Nhân Văn Giai Phẩm

Không hiểu có lúc nào nhà thơ NCT xác nhận là ông ở trong số các nhà văn dính líu đến Vụ Án NVGP hay không, nhưng chẳng hiểu vì đâu, dư luận hầu hết cho rằng ông có tham gia phong trào này.

Cũng cân nhắc lại là trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất được CS phát động từ năm 1954 tới 1956 tại miền Bắc, đã gây hoang mang kinh hoàng không những trong dân chúng mà còn làm chấn động hàng ngũ VC, bởi nhiều tên cán bộ rất có công với Đảng cũng vẫn bị đấu tố và sát hại vì họ bị xếp vào thành phần tư sản. Do đó, Hồ Chí Minh bắt buộc phải trấn an bằng cách truất chức Tổng bí thư Đảng của Trường Chinh, người chỉ huy cuộc cải cách. Song song với việc gọi là Sửa Sai ấy, cuối năm 1956, HCM đưa ra một cái bẫy khác để triệt gọn mầm mống chống đối của thành phần trí thức còn ngấm ngầm bất mãn. HCM kêu gọi trí thức thẳng thắn phê bình các khuyết điểm và sai lầm của Đảng để Đảng sửa sai. Một số nhà văn, nhà thơ tin vào sự biết điều của y. Đó là lý do thành hình Phong Trào và của các số báo NVGP với các bài viết nói lên nỗi bất bình của một số người tiêu biểu cho giới sĩ phu miền Bắc nói chung. Việc gài bẫy này đã đưa nhiều chục nhà thơ, nhà văn và trí thức trong cũng như ngoài đảng vào tù, trong đó có Nguyễn Mạnh Tường và Trần Đức Thảo, là hai người có bằng tiến sĩ, từ Pháp về tham gia kháng chiến. Sau khi HCM đoạt được mục đích, phong trào bẫy sập này bị dập tắt ngay.

Nếu nhà thơ NCT tham gia phong trào này, thì tại sao không ai tìm thấy bài viết nào có tên ông? Vả lại, thời đó NCT mới 17/18 tuổi, hẳn rằng chưa mấy tiếng tăm. Hơn nữa, người ta cần hiểu rằng ngôi thứ trên các chiếc chiếu văn học VN, nhất là ở Bắc Hà, vô cùng khó khăn, nghiệt ngã. Một thanh niên trẻ mới vào đời, ở tuổi ấy (ngoại trừ là thần đồng) dù tài giỏi tới đâu cũng khó được các bậc truởng thượng, danh vọng cho ngồi chung chiếu.

Tác giả Nguyễn Hưng Quốc, trên VNTP số ra mới đây, tiết lộ rằng có người đã hỏi hai ông Nguyễn Mạnh Tường [còn sống] và Trần Đức Thảo [mới chết ở Pháp vài năm nay] thì cả hai đều không biết ai là NCT trong nhóm NVGP cả. Sự kiện ấy chẳng biết sai, đúng ra sao? Riêng về thi sĩ Vô Danh, tác giả tập thơ Vô Đề [sinh khoảng 1925] thì với khả năng và tuổi tác ấy, rất có thể có tên trong phong trào này, nhưng thật ra, người ta cũng chưa biết rõ tên tuổi thật của ông ra sao, để tiện việc tra cứu!

8. Thi sĩ Vô Danh đã có thời lầm tưởng CS là nguời yêu nước

Ngoài việc năm 1945, khi nhìn cờ đỏ sao vàng của VC đã tưởng rằng đó là lá cờ đã tô thắm màu xứ sở yêu thưong, thi sĩ Vô Danh “hình như” đã có thời đi theo cái Đảng bạo tàn ấy vì lầm lẫn. Ông viết:

“Mỗi lầm lỡ, một mảnh lòng rạn vỡ
Song thời gian hàn gắn được đôi phần
Riêng cái lầm nơi đất đỏ [ý nói CS] dung thân
Thời gian khoét to và sâu bất tận!
Cuộc đời tôi có nhiều lầm lẫn
Lầm nơi, lầm lúc, lầm người
Nhưng cái lầm to uổng phí cả đời
Là đã ngốc, nghe và tin CS”
[1963]

Nếu nhà thơ NCT là thi sĩ Vô Danh thì ông quá nhỏ vào năm 1945 nên chẳng biết gì để lầm lỡ. Năm 1954-1956, khi VC giết hàng trăm ngàn người một cách tàn bạo thì nhà thơ mới 15/17 tuổi. Không lẽ, sau biến cố kinh hoàng ấy, khi vào tuổi trưởng thành [khoảng 1957-1960] ông NCT còn tin CS để rồi năm 1963 phải thốt ra qua lời thơ đau đớn trên?

9. Năm 1960 thi sĩ Vô Danh đã bị tù nhiều lần

Tập thơ Vô Đề, trong một bài thơ đề năm 1960, thi sĩ Vô Danh viết:

Đời Tôi Sẽ
Đời tôi rồi sẽ tới đâu?
Lòng tôi cũng chẳng tìm câu trả lời!
Nhà lao nay bước chân rời
Ngày mai có thể như chơi lại vào
Đất này là thế biết sao?
Tội hay vô tội luật nào xét cho?
………………
Nhiều khi tôi tự nhủ mình
Phải phòng lúc bất thình lình bị tôm
Áo quần sắp sẵn sớm hôm
Để khi bị bắt là ôm đi liền!
Cuộc đời kể cũng hơi phiền.
[1960]

Nội dung của bài thơ cho thấy thi sĩ Vô Danh đã ra vào nhà tù VC đôi lần, trước khi làm bài thơ này năm 1960. Ngược lại, nhà thơ NCT cho hay là ông bị tù lần đầu vì lệnh tập trung cải tạo từ tháng 5/1961 đến tháng 11/1964. Lần thứ hai từ tháng 2/1966 đến tháng 7/1977 và lần thứ ba từ tháng 7/1979 đến tháng 10/1991. Điều đó làm người ta ngạc nhiên, vì nếu nhà thơ NCT là tác giả của tập thơ Vô Đề thì ông đã bị VC bỏ tù từ trước năm 1960, như bài thơ vừa dẫn chứng, chứ không phải đến tháng 5/1961 mới đi tù lần đầu như sự tiết lộ của ông!

II. NHỮNG ĐIỂM ĐÁNG GHI NHẬN VỀ QUAN ĐIỂM CỦA NHÀ THƠ NCT
1. Về vấn đề Hòa Hợp Hòa Giải với VC

Nhận định về v/đ HHHG Quốc/Cộng, nhà thơ nói ngụ ý rằng: không thể nói truyện HHHG khi VC cỡi lên đầu, lên cổ, bịt miệng kẻ khác, ngồi ở trên mà vỗ xuống được. Muốn HHHG thì họ phải tuột xuống, nói chuyện bình đẳng để bàn việc xây dựng đất nước.

Câu nói gợi hình đó được nhiều người tán thưởng, nhưng ý nghĩa đích thực của nó là: Chấp nhận nói chuyện, bàn thảo, thương lượng với nhà cầm quyền CS, nhưng với điều kiện là VC chấm dứt việc bắt bớ, kìm kẹp như từ trước tới nay. Chủ trương này trái ngược với lập trường của tác giả tập thơ Vô Đề vì thi sĩ Vô Danh quan niệm là phải tận diệt mọi mầm mống CS, chứ không thảo luận hay hợp tác với chúng được.

Bình thường, trước khi hai phía đối nghịch ngồi vào bàn hội nghị thì cả hai đều nghĩ rằng mình không thể đè bẹp nỗi đối phương nên phải thương lượng, nhân nhượng nhau tới một mức độ nào đó có thể chấp nhận được. Nếu chúng ta yếu thì nhất định VC chẳng đếm xỉa! Ngược lại, nếu chúng ta nắm nhiều ưu thế thì cứ tiếp tục phát triển để sau đó triệt tận gốc bọn tội đồ bất lương đã đày đọa cả dân tộc suốt mấy chục năm qua, chứ tại sao lại phải bàn chuyện xây dựng đất nước với bọn người chắc chắn là không bao giờ nghĩ đến việc ấy?

Ngoài ra, khi nói đến thảo luận là nghĩ đến việc sẽ đi đến một giải pháp êm đẹp và hòa bình, chấp nhận lẫn nhau. Qua ý nghĩa của lời phát biểu trên, nhà thơ NCT đặt điều kiện là VC phải chấm dứt việc áp chế, đàn áp thì mới nói đến chuyện HHHG được. Điều đó có nghĩa là: Các cuộc thảo luận ấy có thể sẽ đi đến kết quả là VC vẫn cầm quyền, hay ít ra, VN sẽ có một chính quyền hỗn hợp Quốc/Cộng, chứ không có việc VC thảo luận với người Quốc Gia để rồi bó tay chịu chết hoặc lặng lẽ ra đi. Nếu vậy, VC chẳng dại gì làm việc ấy, nhất là trong tình thế hiện nay.

2. Vấn đề dân chủ đa nguyên

Một số người, có lẽ dựa vào các bài nói chuyện của nhà thơ để đi đến kết luận rằng ông ủng hộ vấn đề đòi hỏi VC chấp nhận cho thành lập các đảng phái và hoạt động tự do ở VN. Thật ra, đây là hình thức sinh hoạt mà các nước tự do, dân chủ đã áp dụng ngót một thế kỷ qua, không có gì mới lạ, đáng nói. Tuy nhiên, trong bối cảnh chính trị ở VN hiện nay, khi vấn đề này được một số người Việt thiên tả ở hải ngoại đưa ra và cổ súy thì chiêu bài này đã làm nhiều người dị ứng vì người ta hiểu rằng nó hàm chứa ý nghĩa việc dọn đường cho VC tái lập một số đảng ma mãnh như đã từng lập ra các đảng tay sai và bù nhìn trước đây, để CS vẫn nắm quyền. Dĩ nhiên, trong trường hợp chẳng đặng đừng, để tô điểm bộ mặt dân chủ giả tạo, VC sẽ cho các đảng như Đại Việt, Quốc Dân Đảng hoạt động, nhưng do những người ở trong nước, ít nguy hiểm đối với chúng, chỉ huy. Hơn nữa, trong mấy chục năm bị truy lùng, đàn áp, đảng viên của hai đảng ấy còn lại bao nhiêu người, ở tuổi nào, còn đủ nhiệt tình, đủ sức khỏe và lực lượng để đuơng đầu với tình thế không? Vả lại, với tư thế của kẻ nắm quyền và với con số hơn hai triệu đảng viên dù chỉ vì cơm áo, VC dư sức đè bẹp bất cứ đảng phái nào, dù các đảng phái ấy có liên minh với nhau cách nào chăng nữa.

Với quá khứ lịch sử và với kinh nghiệm đã xảy ra, người ta cho việc đòi VC áp dụng dân chủ đa nguyên trong lúc này là để “trù liệu một lối thoát cho VC” nếu chẳng may, trong tương lai chúng bị rơi vào một thế yếu, và đó là kế hoạch do chính VC đề xướng để đứng đàng sau chỉ huy. Chống “chiêu bài dân chủ đa nguyên trong khi VC vẫn cầm quyền” vì người ta coi đó là kế hoạch lùi một bước dể tiến ba bước của VC. Dụng tâm của việc đòi VC áp dụng chế độ Dân Chủ Đa Nguyên trong lúc này là nhìn nhận VC như một “thực thể hữu quyền”, “có chính danh” để từ đấy, đúng chung và đòi chia chác chút quyền uy, bổng lộc với chúng, dù biết rõ chúng vẫn là thứ phản trắc, bất nhân.

Một số người tán đồng việc áp dụng nguyên tắc Dân Chủ Đa Nguyên ở VN [nghĩa là mọi chính đảng đều được hoạt động tự do], nhưng đảng CS phải bị cấm vì đó là một đảng có tội với đất nước trong quá trình lịch sử suốt mấy chục năm qua.

3. Văn học phản kháng là có thật

Trong các cuộc gặp gỡ có tính cách tâm sự với nhà thơ, chỉ có vài người khác hiện diện, tôi kể lại việc ngày Nhân Quyền năm 90, tôi được mời nói chuyện tại PZEN trước hơn 1.000 người thuộc thành phần lao động hợp tác và nghiên cứu sinh do VC gửi sang Tiệp. Đó là những người “tỏ ra” có chiều hướng chống nhà nước VC và muốn xin tỵ nạn chính trị, đúng lúc Tiệp vừa thoát ách CS và kịch tác gia Vaclav Havel vừa được bầu làm Tổng thống. Dạo ấy, người viết phân tích về một số vấn đề, trong đó có “phong trào Văn Học Phản Kháng” đang là một hiện tượng nóng bỏng và được nhiều người ca ngợi. Người viết kể với nhà thơ rằng đã vạch ra cho họ thấy các điểm chưa tích cực của những nhà văn như Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Trần Mạnh Hảo… vì những người ấy chỉ đề cập đến các tệ trạng có tính cách cục bộ, địa phương của các cá nhân mà chưa dám đụng tới những sai lầm căn bản của chế độ và nhất là của chủ nghĩa. Chính những thứ đó mới là nguồn gốc căn bản của nỗi đau thương mà con người trong xã hội ấy phải chịu đựng. Những sai lầm đó chẳng khó khăn gì để tìm ra, nhất là với các nạn nhân sống nhiều chục năm ngay trong môi trường ấy. Vả lại, trước phong trào Văn Học Phản Kháng ở VN, các nhà văn Nga lưu vong đã đề cập tới những nguyên nhân đó từ nhiều chục năm trước. Người viết cho là việc đả kích của giới cầm bút ở quốc nội vẫn nằm trong “vòng phấn giới hạn và được cho phép của chế độ”, bởi lẽ nó chỉ được bắt đầu sau khi Nguyễn văn Linh, TBT Đảng ra lệnh cởi trói văn học. Nó không là sự tự phát mà chỉ là việc “thực hiện chỉ thị và kế hoạch” của đảng CS mà thôi.

Sư thiếu khâm phục, được coi là ghẻ lạnh về hiện tượng được đánh giá là can trường đó đã khiến một số nghiên cứu sinh VN ấm ức, bởi đối với họ, Dương Thu Hương, Nguyễn HuyThiệp và các người tham gia phong trào ấy là những thần tượng . Tôi nói với nhà thơ rằng hôm ấy tôi giải thích là tôi không chỉ trích những người tham gia phong trào, mà là chỉ cho họ và mọi người thấy sự kém tích cực của họ và vạch cho họ nhìn rõ điểm cốt lỏi cần phải đả kích và khuyến khích họ đi xa hơn nữa mà thôi. Người viết kết luận là: Nhóm Văn Học Phản Kháng chỉ dám nói tới những gì được đảng CS “cho phép” nói. Nhà thơ trả lời rằng hai chữ “cho phép” nên sửa lại là “có cơ hội”. Theo đó, ý kiến của nhà thơ NCT được hiểu là: Văn Học Phản Kháng mấy năm trước đây tại VN là một phong trào tự phát sau khi giới cầm bút ở trong nước được cởi trói, chứ không do CSVN đạo diễn. Nhân dịp này nhà thơ cũng cho hay rằng Dương Thu Hương sau chuyến đi Pháp và một vài nước Âu Châu về thì bị nhà nước gây khó khăn và phiền phức lắm! Nếu quả thật như thế, thì một câu hỏi khác được đặt ra là: Với kinh nghiệm bất lợi khi cho Dương Thu Hương đi Pháp như thế, tại sao mới đây VC lại gởi Nguyễn HuyThiệp, một người cũng thuộc khuynh hướng ấy, đi Mỹ. Họ không sợ ông này trở chứng hay sao?

4. Sự chống đối của giới cầm bút ở trong nước vẫn tiếp tục

Từ nhận định ấy của nhà thơ, người viết hỏi lại rằng nếu việc gọi là phản kháng ấy không được đạo diễn thì tại sao khi Đảng ra lệnh “hết cởi trói” thì không một ai dám hé môi hay viết lách, nói năng chi nữa? Nhà thơ NCT cho hay là sự phản kháng đó vẫn còn, nhiều người vẫn viết. Và để chứng minh điều đó, ông tiết lộ rằng hiện nay trong ngăn kéo ở tủ của ông, ở Mỹ, còn rất nhiều bản thảo các tác phẩm của một số văn nghệ sĩ gửi cho ông để nhờ xuất bản. Họ vẫn liên lạc để nhắc nhở, thúc hối ông cho in và họ sẵn sàng chấp nhận mọi tai họa về các tác phẩm ấy. Dĩ nhiên người viết không hỏi thêm là các tác phẩm gì, do ai viết, nhà thơ đem theo khi qua Mỹ hay nó mới được gửi sang vì đấy là việc tế nhị và là vấn đề liên quan đến sự an toàn của những người còn ở lại. Tuy nhiên, qua sự tiết lộ ấy, người viết khuyến khích nhà thơ cho xuất bản càng sớm càng tốt để đồng bào hải ngoại và mọi người đánh giá đúng mức thiện chí, tâm tư của giới cầm bút và của khuynh hướng chống đối ở VN. Vì nếu họ chống đối thật mà bị mọi người ghẻ lạnh, đả kích thì đó không những là điều bất công , vô lý mà còn vô tình gây phân hóa, làm giảm hiệu năng, bất lợi cho nổ lực lật đổ CS nói chung.

III. NHỮNG SỰ KIỆN BẤT THƯỜNG VÀ NGHỊCH LÝ
1.Tự do trong chế độ CSVN hiện nay

Nhà thơ cho biết là đã gặp ông Hoàng Minh Chính chuyện trò, tâm sự nên đã nói thẳng với HMC rằng, tại sao đương sự cứ lảm nhảm về vụ án “xét lại, chống Đảng” làm gì, lẽ ra phải nói về những điều khác quan trọng hơn. Nhà thơ kể là đã bảo HMC rằng: Nếu y làm Tổng bí thư Đảng thì có lẽ y cũng tàn ác chẳng thua gì những tên đầu sỏ CS đâu. Nhận xét này rất đúng. Nhưng người ta thắc mắc rằng: nếu Hoàng Minh Chính và Nguyễn Chií Thiện đều bị VC xếp vào loại chống đối, bị theo dõi thường xuyên thì không lẽ, hệ thống công an VC thờ ơ tới độ để hai người tự do gặp nhau, để rất có thể, bàn nhau chống đối hoặc làm phản nữa chăng?

Ông NCT cũng cho hay là có đến thăm viếng hoặc gặp gỡ một số nhân vật hay văn nghệ sĩ hữu danh trên lầu của Hội Nhà Văn. Ông cũng chụp hình với các nhà thơ Nguyễn Hữu Đang, Phùng Cung, Phùng Quán, Lê Dũng… có thể với nhiều người khác nữa… và cả với Việt kiều Nguyễn Hữu Hiệu, em ruột của nhà thơ Viên Linh [trong khi đó VL giữ chức Chủ tịch Văn Bút VNHN, thành phần mà VC cho là Biệt Kích Văn Hóa] từ Mỹ về thăm. Điều đó làm người ta suy nghĩ. Bởi nếu ông là người, dù được thả, nhưng vẫn bị VC theo dõi, thì ông có được phép đi lại, gặp gỡ tùy tiện như thế không? Người được ông đến thăm, phỏng chừng họ có tiếp và chụp cả hình với ông không, khi việc đến thăm đó chỉ có thể có hại chứ không lợi ích gì cho họ? Tuy nhiên, nếu sự thật là thế, phải chăng đã đến lúc chúng ta phải xét lại toàn bộ việc đánh giá về CS, vì trong chế độ ấy, một cựu tù nhân được coi là phản động như nhà thơ NCT mà còn được tự do giao tiếp, gặp gỡ những người có thành tích chống Đảng như HMC hoặc một số cán bộ hay văn nghệ sĩ khác? Ngay trong chế độ dân chủ Tây phương, sự đi lại, liên lạc của những thành phần được coi là nguy hiểm và bị quản thúc cũng vẫn luôn luôn được giới an ninh canh chừng, theo dõi.

Sự kiện trên cũng nói lên một điều đáng quan tâm khác là: Sự liên hệ, giao tiếp giữa hai thành phần làm việc cho chế dộ và những người có thành tích chống phá chế độ [như ông NCT] hài hòa và tự nhiên đến thế hay sao? Điều đáng nói thêm nữa: Đâu là lằn ranh, chiến tuyến, sự phân biệt giữa Bạn và Thù khi hai bên thường xuyên chuyện trò và lui tới với nhau?

2. Tình người giữa những kẻ trước đây ở hai chiến tuyến đối nghịch

Tháng 10/96, nhà thơ đến thăm tôi tại Paris và sau đó hai ngày, ông ăn cơm với tôi tại nhà một người bạn của tôi, cũng ở Paris . Trong các cuộc mạn đàm riêng rẽ đó, tôi nói đến sự ảnh hưởng của xã hội CS đối với con người, để đi tới kết luận là: Nếu con người phải sống nhiều chục năm trong một xã hội mánh mung, lường đảo, đói khổ và tàn ác như xã hội CS, “nếu không có ý chí mạnh mẽ” thì sẽ bị ảnh hưởng và sẽ cuốn theo, nên khó lòng tin được. Lý do là: Sống trong môi trường ấy, con người tất nhiên phải hội nhập và tàn nhẫn, lường gạt và mánh mung để tranh sống và dần dần sẽ trở thành cá tính, dù họ cũng chỉ là nạn nhân của chế độ và những người đáng thương mà không đáng trách. Qua đó, nhà thơ tâm sự rằng nhận xét đó không đúng, vì ngay khi bị tù đày, ông vẫn được “những người CS bị tù” chung giúp đỡ và an ủi.. Nếu không, ông không thể sống sót được đến nay. Người viết rất ngạc nhiên nhưng không quả quyết rằng nhà thơ nói sai, vì không ở trong hoàn cảnh ấy. Từ lâu, hầu hết chúng ta đều cho rằng: Đã theo VC thì con người sẽ mất dần nhân tính, sẽ bị ép buộc phải tàn ác, tố cáo và kiểm soát lẫn nhau và lâu dần sẽ trở nên thói quen hoặc cá tính. Lời tâm sự và câu trả lời của nhà thơ khiến người viết nghĩ ngợi rất nhiều. Cảnh đói khổ, tranh cướp trong tù VC, giết nhau vì một củ sắn, củ khoai đã được thi sĩ Vô Danh, nhà thơ NCT và cả hàng trăm tác giả khác nói đến. Lời tiết lộ ấy đi ngược lại các khung cảnh cay nghiệt mà chính ông đã viết tại trang 164, trong HĐN 2 mới xuất bản:

“Tù tội bây giờ nghĩ mà đau khổ
Chỉ vì mẫu sắn, cọng rau
Đã sẵn sàng hãm hại chém đâm nhau
Cái chuyện cùng cảnh, giúp nhau, thương nhau đã thành truyện cổ!”

Câu hỏi được đặt ra, phải chăng trong hai lần bị tù trước đây, người CS bị tù chung có một số giúp đỡ, an ủi nhà thơ, nhưng lần bị bắt sau cùng, khi làm bài thơ này thì tình thế đã đổi thay? Lời tâm sự của nhà thơ trong cuộc mạn đàm làm người ta liên tưởng tới một điểm khác: ở tù con người dễ thông cảm với nhau, dù trước đây người ta ở hai chiến tuyến khác nhau? Từ sự kiện ấy, người ta nghĩ thêm rằng: “Người CS” bị chế độ bỏ tù, một ngày nào đó có thể đứng chung hàng ngủ với những kẻ mà trước đây họ coi là kẻ thù không? Chúng ta, những nạn nhân của CS, có thể chấp nhận HHHG với nhóm cựu đảng viên VC bị chế độ bạc đãi và lợi dụng không? Đây là một vấn nạn lớn, tế nhị và phức tạp nhưng bài viết này không có mục đích mổ xẻ sự kiện đó mà chỉ nhằm nói đến quan điểm của nhà thơ nên không thể đi vào chi tiết. Người viết sinh quán tại một nơi ráp gianh với Liên Khu Tư của CS nên đã được phụ huynh kể lại cho nghe về những cuộc đấu tố của VC tại vùng Thanh Hóa đầu thập niên 1950, với các cảnh vu vạ, quy chụp, phản trắc, hành hạ con người thảm thương tới chết giữa đấu trường và cả các cuộc chôn sống nạn nhân rùng rợn, man rợ hơn cả thời trung cổ. Những điều này cũng đã được mô tả phần nào trong cuốn “Tình Người Bên Kia Chiến Tuyến” của tác giả Đỗ Quốc Anh Thư! Đó là những dấu ấn không nhòa phai được về hình ảnh và về nhân tính của người CS nói chung.

3. Trong cấp lãnh đạo của CSVN nhiều người muốn trở thành Yeltsin

Cũng trong các cuộc mạn đàm chỉ có một vài người khác tham dự, nhà thơ đã cho biết nội bộ VC nát bét, chứ không hợp nhất như một số người suy nghĩ! Tình hình có thể nổ tung bất cứ lúc nào vì bọn chúng, một số khá đông, có máu “Thủy Hử” trong người, nhiều tên có thể trở thành Yeltsin như Tổng thống hiện nay tại Nga. Nhận xét đó có nghĩa là rất có thể trong bọn đầu sỏ VC sẽ có kẻ đứng lên làm đảo lộn tình thế, để VN thoát khỏi cảnh ngục tù, bế tắc hiện nay, như Yeltsin đã làm trước đây. Tưởng cũng cần nhắc lại rằng Yeltsin cũng là một đảng viên kỳ cựu của CS Nga, nhưng sau nhiều chục năm mê muội, ông xé thẻ đảng và ít lâu sau, là người đã cứu nước Nga ra khỏi ách CS. Có thể nhà thơ ở trong nước nên nhìn rõ vấn đề và có liên hệ rộng rãi nên đánh giá tình hình sát với thực tế hơn chăng? Riêng đồng bào hải ngoại ít ai tin tưởng là việc ấy có thể xảy ra. Nếu niềm hy vọng ấy có thể thành sự thật, phải chăng người Việt hải ngoại nên tạo thêm cơ hội để nó sớm xảy ra và sẵn sàng trong tư thế yểm trợ những vị Yelsin VN ấy cho dễ thành công?

Trong các cuộc nói chuyện trước cử tọa, nhà thơ cũng nói ngụ ý là Cộng Đồng NgườI Việt HảI NgoạI yểm trợ cuộc đấu tranh ở trong nước. Câu hỏi đặt ra là: Đó là cuộc đấu tranh nào? Do ai khởi xướng? Yểm trợ cuộc đấu tranh của Phật giáo hay Đoàn Viết Hoạt? Nguyễn Đan Quế? Hoặc yểm trợ Nguyễn Hộ, La văn Liếm? Lê Hồng Hà? Tiêu Dao Bảo Cự? Hà Sĩ Phu? Dương Thu Hương? Hay yểm trợ tất cả? Bất cứ ai gọi là đấu tranh mình cũng yểm trợ, không cần để ý vì lý do nào mà họ chống đối? Nếu thế, vấn đề sẽ trở nên phức tạp, vì NgườI Việt HảI Ngoại không nắm đủ chi tiết về những việc xảy ra ở trong nước nên việc yểm trợ, cổ võ hoặc nghi ngờ, đả phá phong trào này, phe cánh khác cũng đã và sẽ còn tiếp tục gây đổ vỡ trong khối Người Việt Tiị Nạn CS nói chung.

Nếu ghép hai sự việc được nêu ra trong tiểu mục vừa được đề cập đến ở trên, người ta tự hỏi: Phải chăng nhà thơ nhắn chúng ta yểm trợ những Yeltsin VN sẽ xuất hiện ở quốc nội? Với cái nhìn có thể mang ít nhiều tính cách chủ quan, một số người tự hỏi: Chả biết ông Yeltsin VN tương lai nào đó có thật tâm không, hay lại là con bài của Bộ Chính Trị VC, nhằm đưa đất nước vào cảnh khốn cùng khác nữa không?

Trong khi đó, tập thơ HĐN 2, trang 168, nhà thơ viết:

“Hờn căm năm tháng nấu nung sôi
Sôi mãi cũng bốc hơi rồi cạn
Phải sử dụng hờn căm, ôi các bạn
Đúng vào lúc nó sục sôi!”

Và trang 171:

“Đảng viên Đảng rèn không còn nhân tính
Nhường chỗ cho thú tính phát sinh
Năm rồi năm, thú tính tăng dần
Tăng mãi, tới khi thành đảng tính”

Không biết câu này được sáng tác năm nào vì không đề ngày, nhưng chắc chắn nó được làm khi nhà thơ còn uất hận, hờn căm còn sôi, nên ông cho là ai đã theo VC thì chỉ còn thú tính. Nhận xét ấy trái ngược với quan điểm khi ông được tự do rồi ra hải ngoại “hận thù đã cạn” nên mới tin là bọn VC cao cấp còn có một số người muốn trở thành Yeltsin?

Nhà thơ cũng nhận định rằng bọn cán bộ VC chẳng còn ai tin tưởng vào Chủ Nghĩa Cộng Sản mà chỉ vì tiền và lợi nhuận mà thôi! Đúng ra, việc họ có còn vọng tưởng chủ nghĩa của họ nữa hay không, vẫn không là vấn đề làm chúng ta bận tâm. Họ hết tin nhưng họ vẫn cầm quyền, vẫn áp dụng một chế độ khắc nghiệt, vẫn đày đọa và đàn áp thì người dân vẫn khổ, tương lai đất nước vẫn tối tăm, và chúng ta vẫn có bổn phận phải hất đổ chúng xuống. Nay chưa làm nỗi, nhưng chúng ta phải nuôi quyết tâm ấy.

4. Ai muốn làm người lãnh đạo cuộc chống Cộng thì về VN mà làm

Ông Phạm Công Q., một người có lòng và thiện chí, cách đây 14 năm hoạt động tích cực trong Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đã rút lui và hiện ở Paris. Năm 1996, khi mới hay tin nhà thơ tới Mỹ, ông Q. đã viết một bức thư ngỏ gửi cho nhiều người, nhiều tổ chức, ở nhiều nước khác nhau để gợi ý về việc tất cả nên kết hợp với nhau, tìm một khuôn mặt đáng tin tưởng là nhà thơ NCT, nhằm thành hình một cơ cấu thống nhất, có đường lối, để làm sống lại khí thế đấu tranh hầu lật đổ VC. Khi nhà thơ tới Paris , ông này đã gặp gỡ, bàn thảo về ý kiến trên. Trước sự khẩn khoản ấy, nhà thơ trả lời rằng, việc đó không thể thực hiện được vì chắc chắn sẽ bị nhiều người đánh phá, vì lý do này hay lý do khác. Nhà thơ nói ngụ ý là ở hải ngoại mà làm lãnh tụ thì ai cũng làm được, và việc đó sẽ gây ra cảnh không ai chịu ai và hiềm khích lẫn nhau, mà chẳng làm được gì. Muốn lãnh đạo phải về trong nước, mà ở trong nước thì ngo ngoe là VC thịt ngay. Nhà thơ nhắc ông Q. là “Dục tốc bất đạt” nghĩa là không nên vội vàng, việc có thể làm được lúc này là thành hình một tờ báo có chất lượng và một đài phát thanh để gửi tiếng nói về trong nước! Điều này làm ông Q. thất vọng, vì theo ông, đã hơn 20 năm lưu vong mà chưa làm được gì đáng kể thì bây giờ phải làm mạnh hơn, chứ làm báo hay đài phát thanh cũng khó đi đến kết quả được coi là thực tiễn.

Điều đáng ghi nhận là: Theo nhà thơ thì NVHN chỉ đóng một vai trò yểm trợ thuần túy. Nếu vậy việc then chốt là ở VN. Nhưng ông cũng cho hay là tại quốc nội, nếu ta có một ngàn quân, VC sẽ huy động hàng chục sư đoàn đến tiêu diệt ngay. Ai ngo ngoe là bị bắt liền. Vậy chúng ta yểm trợ ai? Yểm trợ những người Q’G bị bắt? Yểm trợ bằng cách đòi VC thả họ ra? Hay yểm trợ các người VC khó giam cầm như Nguyễn Hộ, Lê Hồng Hà, La văn Liếm? Vai trò của chúng ta dừng lại ở đấy sao?. Nếu vì một lý do nào đó, VC thả họ sau khi đã bày binh bố trận để đốt cháy họ, như làm cháy nhiều người khác, thì chúng ta nghĩ gì?. Sợ “Dục tốc bất đạt” nên chúng ta cứ chờ đợi mãi sao? Chờ đợi, nhưng chờ ai? Và đợi gì? Chờ đợi Yeltsin VN đứng lên? Hay chờ cho CS tự nó hủy diệt và xâu xé lẫn nhau? Vai trò của chúng ta chỉ nên thụ động như thế chăng?
Trong HĐN 2, trang 166, nhà thơ viết:

“Đảng như hòn đá tảng
Đè lên vận mạng quê hương
Muốn sống trong hòa hợp yêu thương
Việc trước nhất phải tìm phương hất xuống
Nếu không tiêu diệt nỗi những thế lực bạo tàn man rợ nhất
Chúng mãi mãi đây thời nòi giống nguy nan!
Không! Chúng sẽ tự cắn xé lẫn nhau, sẽ tự lụi tàn
Như một lò than, dù không ai dập tắt!”

Ý nghĩa của hai đoạn này mâu thuẫn với nhau vì đoạn đầu theo ý nhà thơ, mọi người muốn sống trong hòa hợp yêu thương thì phải hất bọn tội ác CS xuống, nhưng đoạn hai, ông lại nghĩ là dù không lật đổ thì với thời gian, chúng cũng cắn xé, tranh giành nhau rồi tự lụi tàn. Thế thì người ta để nó tự hủy diệt, có thể sẽ lâu nhưng nhàn hạ, ít nguy hiểm hơn. Điều mâu thuẫn đó khiến một số người cho rằng hai đoạn thơ trên phải do hai người có hai cái nhìn khác nhau sáng tác.

Theo tin tức từ các tạp chí Việt ngữ tại Hoa Kỳ, thì tháng 11/1995, trong cuộc gặp gỡ hơn 150 văn thi hữu, ký giả và chủ tịch các hội đoàn do ông Chữ Bá Anh và một số người khác tổ chức ở Trung Tâm Eden, thành phố Fall Church, Virginia, nhà thơ nói:
“…Tôi có một điều day dứt mà bấy lâu không bộc lộ được là có một số người nói chuyện Hòa Hợp Hòa Giải với CS tức HHHG Dân Tộc. Trò này thì CS đã nói từ năm 1945. Từ năm 1945, HCM đã hô hào HHHG. Ông Hồ kêu gọi các nhà tư sản có tiền thì giúp tiền, có vàng thì góp vàng. Các điền chủ, phú nông có lúa, có ruộng thì giúp vào để kháng chiến. Tất cả cùng đứng lên đánh Pháp, nhưng sau đó tư sản và địa chủ đều bị thanh toán. Họ chết dần mòn trong ngục tù. Tài sản, ruộng đất thì bị tước đoạt. Trong suốt quá trình 50 năm qua, lúc nào người CS cũng kêu gọi H`HH`G, nhưng trên thực tế thì họ chẳng HHHG với ai cả! Điều này thì chắc chắn các bạn đều đã biết rõ. Nhưng tôi phân vân không hiểu tại sao lại có một số người Việt ở hải ngọai lại đi hô hào cho việc HHHG?…”

Nhưng sau đó nhà thơ lại nói tiếp:

“Về bản chất thì CS không bao giờ có thể hòa hợp với chúng ta được vì điều kiện đầu tiên để hòa hợp là phải bình đẳng. Bình đẳng có nghĩa là phải đa nguyên, đa đảng, cùng nhau bàn chuyện xây dựng đất nước. Chỉ khi nào CS chấp nhận dân chủ đa nguyên thì chúng ta mới có thể bỏ qua những tội ác của họ và mới có thể nói đến chuyện hòa hợp, chung lưng, chung sức xây dựng lại đất nước VN của chúng ta”

Lời phát biểu của nhà thơ trong dịp này mang cùng một ý nghĩa với hình ảnh mà ông đưa ra trước đó, tức là không thể nói chuyện với VC nếu họ cứ tiếp tục đàn áp, tiếp tục ở trên đè xuống. Theo ý ông, chúng ta có thể HHHG với VC khi nào họ không đàn áp nữa, chấp nhận bình đẳng và áp dụng nguyên tắc dân chủ đa nguyên. Theo ông nghĩ thì VC không thể và không khi nào chấp nhận cho các đảng phái tự do hoạt động…nên ông đặt vấn đề đa nguyên, đa đảng như một hình thức “thách đố”. Tuy nhiên, trong tương lai, giả dụ VC vì xâu xé lẫn nhau mà lâm vào thế yếu, biết đâu lúc ấy chúng chẳng đổi chiều, giả vờ chấp nhận hòa hoãn với các thành phần khác như HCM đã áp dụng trong mặt trận Việt Minh để có dịp chỉnh đốn nội bộ, rồi trở mặt tiêu diệt những người đã ngây thơ hợp tác. Cái thế của VC lúc này mạnh hơn thế lực của nhóm HCM trong thập niên 1940 rất nhiều vì hiện nay VC nắm quyền, có đầy đủ bộ máy kìm kẹp, có quân đội, công an và một đội ngũ hơn hai triệu đảng viên hết lòng theo Đảng để bảo vệ bổng lộc và áo cơm. Việc thách thức này là một thái độ dại dột, liều lĩnh của một kẻ đánh phé đang xui mà chơi trò “tháu cáy cạn láng” trước khi bỏ cuộc, đi về… nên đối thủ đang hên, thừa tiền sẵn sàng cười khẩy, bắt ngay…

Nếu quả thật nhà thơ tuyên bố như thế thì tại sao hôm ấy cử toạ 150 người, gồm toàn những thức giả, các nhà báo, những vị chủ tịch các đoàn thể có thành tích và kinh nghiệm đấu tranh, không ai lên tiếng, và sau đó cũng không ai bình luận hay có ý kiến gì? Người viết không muốn tin là nhà thơ có lập trường và chủ trương như thế!

Hơn nữa, nếu người ta nhớ không lầm thì cũng khoảng thời gian cuối năm 1995, nhà thơ đã ngụ ý nói rằng, người CS sẽ phải trả lời về những gì họ đã làm trong suốt 50 năm gây toàn bộ tội ác. Nhưng qua bài tường thuật vừa được chép lại một phần như trên, người ta lại nhìn thấy ông không những muốn ân xá, bỏ qua tội ác của VC mà còn có ý định hợp tác để xây dựng đất nước. Hai lập trường này mâu thuẫn với nhau. Vả lại, qua kinh nghiệm sống mấy chục năm với VC, chắc chắn nhà thơ không thể nghĩ rằng mọi người có thể bàn chuyện làm việc nghĩa, “xây dựng” với bọn lưu manh cả đời ăn cướp, bởi đấy là việc viễn vông, điên rồ và vô ích! Bản chất của CS trong trường hợp đó phải chăng đã bị bỏ quên?

5. Những khúc mắc trong liên hệ giữa ông Trần Nhu và nhà thơ

Nhiều người không rõ ông Trần Nhu, người bạn tù của nhà thơ, ra hải ngọai trong trường hợp nào, từ năm nào, nhưng trước khi nhà thơ đi Mỹ, ông Trần Nhu đã in một cuốn sách, phân tích, dẫn giảng thơ NCT với tất cả lòng khâm phục. Khi nhà thơ tới S.Francisco, ông Trần Nhu đã ra phi trường đón, chụp rất nhiều hình kỷ niệm và nghe nói ông là người đã góp phần vào việc vận động cho nhà thơ qua Mỹ. Trước đây chính ông Nhu xác nhận rằng tác giả tập thơ Vô Đề là nhà thơ NCT. Theo chúng tôi biết thì chỉ hơn 1 tháng, sau khi nhà thơ tới Mỹ, ông TN đã xung khắc với nhà thơ và nặng lời khi nói về nhà thơ với một số người thân. Tuy nhiên, ông Nhu vẫn quả quyết rằng NCT là người đã đưa tập thơ Vô Đề vào Tòa Đại Sứ Anh ở Hà Nội năm 1979. Điều đáng nói hơn nữa là: Ông Nhu tiết lộ rằng tháng 7.79, chính ông cùng với nhà thơ NCT từ Hải Phòng ra Hà Nội làm công việc ấy! Nếu sự kiện này đúng thì điều đó có nghĩa là: hai người cùng bàn với nhau về chuyến mạo hiểm này. Việc đó chứng tỏ ông Nhu quen với nhà thơ ở trong tù, có lẽ trước 1979 và hai người có sự gần gũi, thân tình và tin tưởng tuyệt đối với nhau.

Người viết cũng được tin là cuối năm 1995 hoặc đầu năm 1996, khi nhà thơ trở lại gặp gỡ đồng bào vùng Bắc Cali, ông Nhu đã soạn sẵn một bài viết để giới thiệu ông Thiện nhưng sau đó ông Nhu bất mãn và cáo bệnh, không đến dự buổi nói chuyện ấy! Việc bất bình, đổ vỡ đó nếu vì quyền lợi hoặc cá nhân thì đó là việc riêng giữa hai người, chúng ta không nên đề cập tới, nhưng nếu nó bắt nguồn từ những lý do khác thì người ta muốn biết nguyên nhân và sự lên tiếng của mỗi bên, vì rất có thể từ đấy, người ta biết rõ hơn về thân thế của hai người và về những khúc mắc quanh việc ai là tác giả của tập thơ Vô Đề. Nếu nó là tác phẩm của nhà thơ NCT thì: Sự khác biệt về thân thế, về quan điểm xuyên qua những sự kiện được nêu ra ở trên sẽ được giải thích ra sao? Ông Nhu là bạn tù của nhà thơ, thì đó là giai đoạn nào? Trong chế độ ấy mà nhà thơ tin ông đến thế sao? Ông Nhu sang Mỹ bằng cách nào? Vượt biển? Được gia đình bảo lãnh, thuộc diện HO hay được VC cho đi chính thức? Việc ông tháp tùng nhà thơ ra HN để đem tập thơ Vô Đề vào TĐS Anh có đúng không? Một người có tên là Minh Thi cũng nhận là bạn tù với nhà thơ, trước đây nghe nói đã góp tiền gửi về giúp nhà thơ, nhưng hơn một năm nay, vì đâu ông này không xuất hiện, lên tiếng?

Các yếu tố đó nếu được làm sáng tỏ sẽ là những chi tiết giúp mọi người suy nghĩ để tìm ra những kết luận được xem là có căn bản về các vấn nạn liên quan đến nhà thơ, môt người ngót hai chục năm qua vẫn coi là biểu tượng của tinh thần chồng Cộng kiên trì, dứt khoát.

IV. KHẨU KHÍ TRONG HAI TẬP THƠ VÔ ĐỀ VÀ HOA ĐỊA NGỤC 2
Trong suốt mấy trăm bài được in trong tập thơ Vô Đề, người ta thấy tác giả Vô Danh có lời lẽ phẩn nộ, cay đắng VC tới cực điểm. Trong bài “Không Có Gì Quý Hơn Độc Lập Tự Do” thi sĩ Vô Danh gọi HCM là “thằng” và “nó” vào năm 1968, hơn một năm trước khi HCM chết:

“Không có gì quý hơn độc lập, tự do!
Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó!
Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó!
Việc nó làm, tội phạm nó ra sao?
Nó đầu tiên đem râu nó bện vào hình xác lão Mao lông lá
Bàn tay Nga đầy băng tuyết giá,
cũng ngoài, qua lục địa Trung Hoa
Không phải xoa đầu, mà túm tóc nó từ xa
Nó đứng không yên, tất bật điên đầu
Lúc rụi vào tàu, lúc rúc vào Nga
Nó gọi Tàu Nga là cha anh nó
và tình nguyện làm con chó nhỏ
xông xáo giữ nhà, gác ngõ cho cha anh!
Nó tận thu từng quả trứng, quả chanh
học lối hung tàn của cha anh nó
Cuộc chiến tranh chết vội hết thanh niên
đương diễn ra triền miên ghê gớm đó
cũng là do Nga giật, Tàu co,
tiếp nhiên liệu, gây mồi cho nó!
Súng, tăng, tên lửa, tàu bay
nếu không, nó đánh bằng tay?
Ôi đó! Thứ độc lập không gì quý hơn của nó
Tôi biết rõ, đồng bào miền Bắc này biết rõ
việc nó làm, tội phạm nó ra sao!
Nó là tên trùm đao phủ năm nào
hồi cải cách đã đem tù ra bắn,
độ nửa triệu nông dân rồi bảo là lầm lẫn!
Đường nó đi trùng điệp bất nhân
hầm hập trời đêm nguyên thủy!
Đói khổ dựng cờ đại súy!
Con cá, lá rau nát nhàu quản lý!
Tiếng thớt, tiếng dao vọng từ hồi ký!
Nó tập trung hàng chục vạn ngụy quân
nạn nhân của đường lối “khoan hồng chí nhân” của nó!
“Tự do” không thời hạn đi tù!
Mắt nó nhìn ai cũng hóa kẻ thù
Vì ai cũng đói mòn, nhục nhằn cắn răng tạm nuốt.
Hiếm có gia đình không có người bị nó cho đi tàu suốt
Đất có thầm câm cũng chẳng được tha
Tất cả phải thành loa!
Sa sả ngày đêm ca tụng nó và đảng nó!
Đó là thứ tự do không gì quý hơn của nó!
Ôi độc lập tự do
Xưa cũng vì quý hai thứ đó
Đất Bắc mắc lừa mất vào tay nó
Nhưng nay mà vẫn có người mơ hồ nghe nó
Nó mới vạn lần cần nguyền rủa thật to.”
(1968)

Tuy nhiên cũng có lúc thi sĩ Vô Danh gọi HCM là Bác, nhưng ý nghĩa của chữ “Bác” ấy cũng không kém phần miệt thị. Bài này làm ngày 19.5, đúng vào dịp sinh nhật thứ 74 của HCM:

“Hôm Nay 19.5
Hôm nay 19.5
Tôi nằm
Toan làm thơ chưởi Bác
Vần thơ mới hơi phang phác
Thì tôi thôi
Tôi nghĩ Bác
Chính trị gia sọt rác
Không đáng để tôi
Đổ mồ hôi
Làm thơ
Dù là thơ chửi Bác
Đến thằng Mác
Tổ sư Bác!
Cũng chưa được tôi nguệch ngoạc vài câu!
Thôi hơi đâu
Mặc thây bọn văn sĩ cô đầu
Vuốt râu, xoa đầu, mơn trớn Bác
Thế rồi tôi đi làm việc khác
Kệ cha Bác”
(1964)

Trong HĐN 2, nhà thơ NCT khi nói đến HCM, cũng gọi y là Bác, cũng nói đến sự vô tình, bất nhân, bất nghĩa của y, nhưng kém phần cay độc, ít sâu sắc và nhẹ nhàng hơn, có thể vì HCM đã chết? Bài “Bác Hồ” sáng tác năm 1981, trang 34, nhà thơ viết:

“Mấy chục năm xa nước, Bác
không viết phong thư nào về thăm gia đình trong nước.
Cách mạng thành công,
Bác vịn cớ bận, bất cần
Bác Hồ ơi, Bác không yêu nhà, Bác làm sao yêu được nước!
Không yêu người thân,
Bác làm sao yêu được nhân dân!
Chỉ những kẻ ngu đần
Bị mê lóa bởi tuyên truyền điêu trá
Mới tin Bác là đạo cao đức cả
Yêu nước thương nòi, có nghĩa, có nhân
Đến chị ruột Bác kia, khi còn sống ở dương trần
Cũng từ Bác, coi là không có Bác
Vì Bác đối với thâm tình quá bạc
Chị Bác…bà Thanh … nói vậy nhiều lần
Bác vu cho bà là bị tâm thần!
Bác ranh ma, Tây không bắt nỗi một lần
Làm cách mạng ở nước ngoài thoải mái
Bác xứng đáng được tôn là cáo quái
Bác quái hơn nhiều so với lũ tay chân!”
(1981)

Người ta cũng ghi nhận là trong tập thơ mới xuất bản, nhà thơ đăng nhiều bài thuộc các thể thơ mà thi sĩ Vô Danh không xử dụng trong tập thơ Vô Đề trước đây, đó là thể thơ 3 và 4 chữ, khiến một số người cho là thơ vè hoặc sớ táo quân. Vài bài tiêu biểu như sau:

“Cuộc Đời
Cuộc đời xán lạn
Cuộc đời khốn nạn
Tình yêu tình bạn
Hạnh phúc khổ oan
Cười hát than van
Ngọt bùi tâu toan
Tỉnh táo mê man
Hào hùng chán nản
Thủy chung lứa phản
Giàu có nghèo hèn
Vinh hiển lầm than
Tướng lĩnh vua quan
Tất cả đều tàn
Tất cả đều tan
Theo giòng thời gian
Vang mãi vô hạn
Tiếng lòng chứa chan!
Sáng mãi vô hạn
Ngọn lửa tâm can!”
(1988, HĐN 2, trang 94)
Hoặc như trang 72/73:
“Dù đầu bạc,
Dù đói rạc,
Dù lực tàn
Vẫn bền gan
Vẫn sáng tác
Việc sống thác
Là việc khác
Không thể cản
Không làm nản
Không cần bàn”
(1988)

Dã tâm Đảng
Quá rõ ràng
Để vững vàng
Ngồi làm chủ
Để dễ dàng
Hút máu mủ
Dân phải mụ
Dân phải ngu
Dân phải mù
Phải bỏ tù
Những thằng sáng
Dám phỉ báng
Đảng sói lang
Dám nói toang
Những sự thực
Dù khốn cực
Vẫn tích cực
Chống lại Đảng!
(1986)

Mỗi nhà thơ, nhà văn có một khẩu khí và một văn phong khác nhau. Dù tác giả một bài viết hoặc một bài thơ có đổi bút hiệu hay ký tên gì chăng nữa, nếu tinh ý, người ta cũng không mấy khó khăn nhận ra, vì văn là người. Mỗi tác giả có một sắc thái khác nhau. Kẻ viết bài này không có khả năng của một người làm công tác phê bình văn học, nên chỉ nêu một vài điểm đã được một số người đề cập tới mà không đưa ra nhận xét về trình độ thơ văn của thi sĩ Vô Danh và của nhà thơ NCT, cũng như về việc thật hay giả trong khía cạnh này. Việc đó xin dành cho độc giả và các vị có kinh nghiệm chuyên môn trong lãnh vực ấy.

V. THAY LỜI KẾT
Người viết thấy cần nhắc lại là các sự kiện được đề cập, không có ý quyết đoán, khẳng định hoặc cáo buộc nhà thơ hay bất cứ ai. Một phần là những suy nghĩ của cá nhân mình và một phần khác, người viết nói lên ý kiến của một số người cũng rất băn khoăn, thắc mắc, nhưng không có cơ hội và phương tiện để nói ra. Bài này cũng được gửi cho nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, vì người viết, dù đã hai lần gặp riêng nhưng vẫn chưa đủ thời giờ thảo luận với nhà thơ về những khúc mắc được nói đến ở trên.

Người viết cũng hiểu là: Trong việc giao tế, những gì được coi là lời tâm sự, tiết lộ riêng giữa các cá nhân thì không nên nhắc lại với người khác, và nhất là trên báo,. Tuy nhiên, trong trường hợp này, nội dung của các điều nói riêng ấy lại là việc chung, liên quan đến các sự thật rất cần thiết cho cuộc đấu tranh hiện nay. Vả lại, những chi tiết của lời tâm sự đó sẽ giúp chúng ta giải tỏa được một phần các vấn nạn và thắc mắc của một số người về quan điểm của nhà thơ. Chúng tôi đã suy nghĩ, đắn đo rất lâu khi tiết lộ những điều ấy. Đó là một sự lựa chọn và là một quyết định khó khăn làm người viết băn khoăn và áy náy.

Nêu các vấn nạn liên quan đến một nhân vật đang được quần chúng nể phục là một việc rất tế nhị và rất dễ bị ngộ nhận. Chúng tôi cũng biết rằng khi đặt vấn đề, người viết dù cố gắng, cũng khó tránh được những điều có thể bị coi là bắt bẻ, hạch sách, hoặc thiếu thiện cảm, về những người được nói đến. Công việc phức tạp và nhiêu khê là ở đó, nhưng nếu ngại như thế, thì không lẽ chúng ta cứ yên lặng, để vô tình nuôi dưỡng sự hoài nghi, chia rẽ, xói mòn sự đoàn kết vốn dĩ rất mong manh, trong khối người Việt chống Cộng nói chung?

Chúng tôi hy vọng rằng mọi người sẽ suy nghĩ, thảo luận một cách thẳng thắn và vô tư để soi sáng những gì được coi là mâu thuẫn, khúc mắc đang cản trở sự đồng tâm và hăng say cần thiết trong cuộc đấu tranh rất chênh lệch giữa chúng ta và kẻ thù CS hiện nay. Khi mọi việc đã rõ ràng, minh bạch, những người có thiện tâm sẽ vững lòng, tin tưởng lẫn nhau để mở đầu cho một khúc quanh mới khởi sắc hơn, hầu góp phần nhỏ bé của mình vào việc tháo bỏ ách thống trị CS và phục hưng đất nước.

Thế Huy

[Trích Văn Nghệ Tiền Phong số 512 tháng 5.1997, trang 9, 10, 11, 12, 13, 70, 71, 72,73, 74 ]

http://tinparis.net/vn_index.html

Posted in Uncategorized | Tagged: | 3 Comments »