Tudodanchu's Weblog

Freedom, Democracy, Human Rights, No Communism For Vietnam

Archive for Tháng Năm 23rd, 2009

CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu "BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!" (4)

Posted by tudodanchu trên Tháng Năm 23, 2009

CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu “BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!”

(4)

Bách Linh

oo0oo

9. Người Mỹ dung túng cho sinh viên Cộng sản nằm vùng được xuất ngoại đi học tại Hoa Kỳ.

Trong thời gian từ 1960 đến 1975, sinh viên các đại học Sài Gòn cũng chia làm nhiều phe tranh đấu. Người thì theo chính phủ, người thì theo GHPGVNTN. Nổi nhất là Tổng Hội Sinh Viên, nhưng hội này đã bị cán bộ Cộng sản nằm vùng cầm đầu để trờ thành một công cụ hỗ trợ cho GHPGVNTN Ấn Quang.

Những sinh viên có lý lịch Cộng sản và không quốc gia như Nguyễn Thái Bình và sinh viên đại học Vạn Hạnh và các đại học khác tại Sài Gòn… thường được người Mỹ cho đi Hoa Kỳ du học và tha hồ hoạt động chính trị chống quốc gia và phản chiến tại Hoa Kỳ. Nguyễn Thái Bình sau này bị giết vì tội không tặc trên một chuyến máy bay về Việt Nam, lúc đó đã gần ngày 30/4/1975. Có lẽ Nguyễn Thái Bình quá cuồng tín, không chịu “theo” Mỹ, và có thể sẽ phanh phui câu chuyện bị Mỹ dụ dỗ, nên phải bị giết để diệt khẩu!

Nhiều sinh viên Cộng sản nằm vùng khác, cũng từ Mỹ về, thì được yên ổn tiếp tục hoạt động Cộng sản ngay trong các trường đại học với tư cách giáo sư. Chúng giữ bí mật đảng tịch và chức vụ gián điệp, phản gián trong đảng Cộng sản. Đảng bộ đại học Vạn Hạnh, Hòa thượng Thích Minh Châu là một cán bộ Cộng sản vào hàng thâm niên, trên 60 tuổi đảng. Thích Minh Châu cũng làm viện trưởng Học viện Phật ho.c. Đại Học Vạn Hạnh và Học Viện Phật Học được tổ chức tinh vi để đào tạo cán bộ Cộng sản loại “có học” để đưa vào hàng cán bộ lãnh đạo Giáo hội PGVNTN quốc doanh trong âm mưu thay thế đảng Cộng sản.

Cộng sản Hà Nội rất sợ CIA (Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ). Ta có thể nói rằng Cộng sản Hà Nội bị “hội chứng CIA” (the CIA syndrome). Cộng sản Hà Nội nhìn ai cũng thấy là kẻ thù của chúng. Và chúng nhìn bất cứ ai cũng nghi là nhân viên CIA nhất là những người làm cho Mỹ, có quốc tịch Mỹ, sinh viên học bên Mỹ hoặc từ Mỹ về. Thành thử cán bộ sinh viên đi du học và trở về hoạt động Cộng sản, đều phải là thứ đảng viên trung kiên nhất, sắt máu nhất.

Đoàn Viết Hoạt rất thận trọng trong điểm này. Khoảng năm 1970, khi đang đi học cùng với Trần Thị Thức. Hoạt làm đám cưới với Thị Thức. Khi vợ y có bầu, Hoạt cương quyết buộc vợ phải về Việt Nam sinh con rồi sang Mỹ trở lại. Hoạt không muốn con mình sinh ở Mỹ và lấy khai sinh người Mỹ.

Tuy nhiên vấn đề và mức độ hoạt động của CIA tại Việt Nam rất tinh vi và khó biết. Cộng sản thiếu cán bộ “có học” nên miễn cưỡng dùng bọn sinh viên cán bộ từ Mỹ về. Nhưng chúng vẫn canh chừng bọn này rất kỹ. Manh nha có gì khác ý là chúng thủ tiêu ngay. Cộng sản canh chừng những tên cán bộ thuộc băng Vạn Hạnh như Thích Quảng Độ, Thích Trí Siêu, Thích Tuệ Sỹ rất chặt chẻ không cho tiếp xúc với bất cứ ai bên ngoài. Những tên này đều mang cấp bậc cao trong Trung Ương Đảng. nếu những tên này phản thùng tiết lộ điều gì cho CIA thì kể như đảng Cộng sản sẽ chết với người Mỹ.

Từ sau khi công bố bang giao tháng 7/1995, một số sinh viên du học trong đó có cán bộ, gián điệp, con cán bộ giàu được đi Mỹ dưới danh nghĩa du học sinh. Các “tổ đảng” (party cells) được tổ chức trong các đại học Mỹ có sinh viên từ Việt Nam Cộng sản. Các “phòng liên lạc” thay cho Lãnh sự quán cũng được đặt tại Los Angeles, San Diego, Washington D.C… Tất cả đều kiểm soát chặt chẻ các sinh viên du học từ Việt Nam. Khi Trần Trường làm nổ vụ treo cờ và ảnh cộng sản tại quận Cam thì “tổ đảng” tại đại học Syracuse, New York, cũng ra chỉ thị cho các tổ đảng các nơi cũng phải treo cờ treo ảnh cộng sản.

Các “tổ đảng” có dụng ý và mục đích “đường dài” (long-term purposes). Chúng sẽ lan rộng và hầu hết sinh viên gốc Việt Nam tại Mỹ. Trong vài thế hệ, các sinh viên này sẽ trở thành bị bắt buộc phải làm việc như gián điệp kỹ thuật cho Cộng sản Hà Nội trong các ngành điện tử và quốc phòng Hoa Kỳ.

Làm chó săn loại “trí thức” cho cộng sản thật là nguy hiểm. Chúng phải cố gắng hết sức để tỏ lòng trung thành với đảng Cộng sản. Nhưng Cộng sản không bao giờ hoàn toàn tin cậy bọn này. Chúng chỉ dùng những tên tốt nghiệp đi học Mỹ về cho nhu cầu kỹ thuật nào đó, nhưng không bao giờ giao cho các chức vụ quan tro.ng. Trước sau gì thì bọn này cũng bị Cộng sản loại bỏ hay giết chết. Giả thử người quốc gia tiêu diệt Cộng sản thì bọn sinh viên, sư tăng quốc doanh làm chó săn Cộng sản cũng bị giết trước tiên.

Một vài giới chức Hoa Kỳ cũng giả bộ thân mật với bọn cán bộ Cộng sản “học Mỹ” này. Nhưng họ có nhiều dụng ý khác nhau, và uyển chuyển thay đổi theo thời thế. Điểm rõ ràng là người Mỹ biết rõ mọi hoạt động của Cộng sản Hà Nội tại Hoa Kỳ. Họ để yên cho cán bộ Cộng sản hoạt động để tiện dò xét. Họ hiểu rằng những hoạt động này chỉ gây được tiếng vang nho nhỏ kéo dài được vài ba ngày và không có chiều sâu, trong dư luận báo chợ Việt Nam hải ngoa.i.

*

Trong những năm từ 1972 đến 1978… các cán bộ sư quốc doanh như Thích Quảng Độ, Thích Trí Siêu, Thích Tuệ Sỹ… của đảng bộ Vạn Hạnh được đề cao với hải ngoại là những người có học, có bằng cấp Hoa Kỳ , để gây uy tín “trí thức” cho GHPGVNTN Ấn Quang. Cán bộ Cộng sản hải ngoại tạo ra cảnh tượng bịp bợm rằng Trí Siêu và Tuệ Sỹ bị Cộng sản “xử tử hình” nhưng không có lý do và cũng không chết. Chúng hô hoán rằng bị “tù” mấy chục năm nhưng không tù thâ.t. Tóm lại chúng không hề hoạt động gì gọi là chống Cộng để đến nỗi bị tử hình hay bị tù.

Cộng sản gian ngoan ở điểm vẫn sống nhăn, vẫn làm việc bóp méo lịch sử, vẫn bình an vô sự nhưng miệng vẫn hô rằng bị tử hình “oan” bị xử án “oan” và bị xử tù “oan” mà thật ra không có gì xảy ra! Khôi hài hơn nữa là bọn cò mồi, báo và đài của bọn cán bộ Cộng sản hải ngoại vẫn trơ tráo trắng trợn tung hô, tâng bốc và đề cao rằng đó là những nhà “tranh đấu” nhân quyền, những người “giám” dấn thân tranh đấu với Cộng sản! Chúng tưởng như vậy là đã đánh lừa được người hải ngoại phải tôn vinh bọn nhà quê này, và người Mỹ phải đổi hướng chính sách, chính trị.

Bộ máy tuyên truyền báo chí thân Cộng và tuyên vận Cộng sản ở hải ngoại loan truyền những chuyện bịa đặt này. Nhưng ở trong nước hoàn toàn yên lặng , không ai nghe thấy những tên Quảng Độ, Tuệ Sỹ, Trí Siêu và Đoàn Viết Hoạt là ai? Chúng nhằm gây uy tín và tiếng tăm với quốc tế và hải ngoại để tạo một cái “vốn chính trị”. Cái vốn chính trị này sẽ giúp GHPGVNTN an toàn, xóa tên “quốc doanh” không sợ người quốc gia sẽ giết chúng vì tội làm Cộng sản. Một mặt khác là chúng thấy Cộng sản sớm muộn gì cũng sụp đổ như Cộng sản Liên Xô. Chúng làm ra vẻ không dính líu gì đến Cộng sản. Nhưng không ai thấy chúng nói năng một chút xíu gì đến tội ác Cộng sản. Chúng không hề đả động đến vấn đề Cộng sản cai trị bạo tàn trong hơn 50 năm qua. Chúng đánh lừa, muốn làm cho mọi người Việt hải ngoại quên hẳn các hoạt động và thành tích Cộng sản của chúng.

Giả thử Cộng sản sẽ bị tiêu diệt nay mai thì bọn sư “trí thức quốc doanh Cộng sản Vạn Hạnh” này có thể thoát nạn để tiếp tục hoạt động gây uy tín và lãnh đạo GHPGVNTN. Chúng tin với thành tích bịp bợm “đã” bị Cộng sản “xử tử hình”, có thành tích bị Cộng sản “bỏ tù” lại có tiếng tăm với hải ngoại quốc tế, thì chính quyền mới sẽ không dám giết chúng. Nhân dân trong nước đã biết rõ ràng mặt thật của chúng, và sẽ thẳng tay xử bọn này, không phải người hải ngoa.i. Vả lại khi thời thế thay đổi, thì chính sách Hoa Kỳ sẽ thay đổi. Lòng người Việt Nam cũng sẽ thay đổi. Họ sẽ vùng lên tiêu diệt những gì dính líu đến Cộng sản Nội Xâm, Nội Thù.

Thật là tiện lợi khi chính các giáo sư thân Cộng lại khéo léo dụ dỗ các sinh viên nhẹ dạ hoạt động trong các tổ chức và phong trào tranh đấu Cộng sản. Nói đến Đại Học Vạn Hạnh, người ta hiểu ngay là tập thể giáo sư tại đó, từ Viện trưởng Thích Minh Châu trở xuống và các Khoa trưởng, và hầu hết Ban Giảng Huấn và một số sinh viên đều là cán bộ quốc doanh hoạt động cho Cộng sản hoặc đã bị tuyên truyền nhồi sọ để theo Cộng sản.

Có lẽ vì vậy mà trong năm 1974 sang đầu 1975, Viện trưởng Thích Minh Châu, Chính ủy Nguyễn Trực, Viện Phó Đoàn Viết Hoạt và Ban Giáo sư Giảng Huấn Vạn Hạnh đã thành lập được 1 sư đoàn Đặc Công với hơn 7,000 sinh viên và thanh niên Phật tử hăng hái, cuồng tín, chống chính quyền quốc gia và căm thù Mỹ Ngụy với hơn 6,000 khẩu súng, để chuẩn bị tiếp ứng cho bộ đội Cộng sản và bắn sau lưng quân đội Việt Nam Cộng Hòa, khi Cộng sản tiến quân vào thành phố Sài Gòn.

Một số cán bộ nằm vùng và tăng ni quốc doanh được Cộng sản cài cho đi Mỹ trước và sau 30/4/1975, trong dịp di tản, theo các diện vượt biên, đoàn tụ gia đình, ODP, HO,… và vẫn được hoạt động Cộng sản công khai tại Mỹ cho đến ngày nay. Các cán bộ quốc doanh và tuyên vận Cộng sản đã có đủ hậu thuẩn tiền bạc, thế lực để ra báo, ra đài, lập hàng ngàn chùa chiền trong mấy chục năm qua tại Hoa Kỳ. Họ vẫn có vẻ bình yên, bình chân như va.i. Nhưng thật khó mà biết rằng ai là Cộng sản giả, ai là Cộng sản thật, ai là quốc doanh và ai là gián điệp nhị trùng? Cũng không ai có thể đoán rằng sự nghiệp của bọn cán bộ nằm vùng sẽ kết thúc thê thảm tới mức nào?

* * *

10. Tại sao GHPGVNTN Ấn Quang lại nguy hiểm hơn đảng Cộng Sản?

Đến ngày nay, Cộng sản Hà Nội vẫn không dám nhắc đến vụ thảm sát Tết Mậu Thân. Chúng không dám nhắc đến vụ thảm sát trên đường 7B và Tuy Hòa. Chúng ra vẻ không trực tiếp ra lệnh đó. Thật ra đó là “tiêu lệnh” (Standing order) quen thuộc của Cộng sản: mỗi khi cướp chính quyền hay chiếm được địa phương nào, hay trong bất cứ trường hợp nào có thể, thì phải tàn sát tất cả thành phần công chức, thương gia, tôn giáo, quân đội, cảnh sát… để làm sạch guồng máy chính trị địa phương, để cướp đoạt tài sản, và để tiêu diệt mọi mầm mống có thể lãnh đạo dân chúng nổi loạn hay chống đối.

Bọn sư quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang chính là bọn cán bộ Cộng sản nằm vùng nguy hiểm nhất cho toàn dân Việt Nam. Chúng nằm ngay trong dân chúng, chúng nghe ngóng, dò la bất cứ nhân sự hay hoạt động nào chống Cô.ng. Chúng rỉ tai tuyên truyền phật tử. Chúng làm như là chúng tu hành, hiền lành, đạo đức lắm. Từ thập niên 1990s, bọn tăng ni quốc doanh GHPGVNTN chuẩn bị mạnh mẽ để có thể tồn tại khi Cộng sản bị thay đổi hay tiêu diê.t. Chúng sẵn sàng thay thế Cộng sản và nắm chính quyền.

Bọn tăng ni GHPGVNTN Ấn Quang rất sợ dân tộc Việt Nam “không thể quyên” nguồn gốc, nòi giống Lạc Việt, và nhìn thấy rõ bộ mặt ma quỷ quốc doanh của chúng. Tinh thần Lạc Việt chắc chắn sẽ trở lại và phục hoạt mạnh mẽ trong mỗi người Việt ngay sau khi Cộng sản bị tiêu diê.t. Mỗi người Việt đều nhớ công ơn tổ tiên Âu Lạc, các vua Hùng Vương đời Hồng Bàng. Truyền thống Lạc Việt đã giúp cho dân tộc Việt Nam, nòi giống Việt Nam, tồn tại hơn 5 ngàn năm qua cho đến ngày nay. Do truyền thống Lạc Việt mà mọi người Việt nhìn thấy ngay sự vong bản của tăng ni GHPGVNTN Ấn Quang khi chúng muốn bóp méo lịch sử, Khoe rằng chính Giáo hội Phật Giáo Quốc Doanh đã có công “mở nước, dựng nước trong hơn 2 ngàn năm qua” (Kiến Nghị 9 điểm của Tăng Thống quốc doanh Thích Huyền Quang ngày 25/61992).

Muốn thay thế Cộng sản thì bọn tăng ni GHPGVNTN phải xóa bỏ truyền thống Lạc Việt để thay thế bằng lý thuyết Phật giáo. Chúng không đợi đến khi dân tộc Việt Nam diệt xong Cộng sản. Chúng hoạt động ngay từ đầu thập niên 1990s để thay thế chủ thuyết cộng sản bằng giáo lý Phật giáo, với nhân sự Cộng sản nguyên ve.n.

Nếu ta nghiên cứu hoạt động của Thích Quảng Độ, Thích Trí Siệu, Thích Tuệ Sỹ và báo chí, sách vở của tăng ni GHPGVNTN trong nước và hải ngoại, ta thấy chúng có giọng lưỡi viết lại, bóp méo lịch sử Việt Nam để “tẩy não” người Việt. Chúng hy vọng các thế hệ người Việt sau này sẽ tin tưởng “lịch sử” Việt Nam theo ý chúng viết. Chúng không bao giờ dám viết lịch sử về tội ác đẫm máu của Cộng sản đối với cả nước Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ. Chúng không bao giờ dám viết lên những sự kiện lịch sử như việc Giáo hội PGVNTN hoạt động Cộng sản đánh phá các chính quyền quốc gia, và đón rước cộng sản vào chiếm miền Nam từ năm 1963 đến 1975. Chúng không dám nhắc đến hơn 2 triệu người Việt đã phải bỏ nước ra đi để tị nạn Cộng sản. Vì nếu nói ra thì phải kể rằng Cộng sản quá tàn ác nên dân chúng đều muốn bỏ nước ra đi. Chúng hy vọng các thế hệ trẻ hải ngoại và trong nước sẽ không biết đến quá khứ đẫm máu, đầy tội ác Cộng sản của chúng.

Bọn tăng ni quốc doanh và cán bộ tuyên vận cò mồi nhân quyền ở hải ngoại vô cùng thận tro.ng. Ta thấy chúng không bao giờ dám nói đến tội ác Cộng sản. Chúng chỉ “đòi” nhân quyền một cách bịp bợm vì cộng sản làm gì có “nhân quyền” mà cho ai? Thành thử mà ta có thách thức, chúng cũng không dám chửi Cộng sản hay nói đụng đến lãnh tụ Cộng sản đương quyền. Với tư cách cán bộ Cộng sản, chúng chỉ sai lầm một câu nói, một câu viết là có thể bị trừng trị và giết chết. Chúng làm bộ làm đơn, thỉnh nguyện, kiến nghị (nhưng không bao giờ gởi cho chính quyền Cộng sản) để khoe với người hải ngoại rằng chúng khiếu nại, ăn mày ăn xin này nọ để có dịp khéo léo đề cao và công nhận chế độ, tên tuổi, chức vị các lãnh tụ Cộng sản của chúng.

Cộng sản cũng không dám nói rằng tăng ni, cư sĩ và một số thanh niên phật tử của GHPGVNTN vùng Thừa Thiên Huế đã giết người với tính cách địa phương. GHPGVNTN vùng Thừa Thiên Huế, Liên Khu 5 và toàn thể Việt Nam với toàn bộ hơn 10,000 chùa chiền vẫn là một công cụ được việc, một ổ công an chìm của chế độ Cộng sản, và Cộng sản cần phải duy trì để có dịp xử dụng sau này.

Khi tiêu diệt Cộng sản thì hãy quét sạch sẽ các chùa chiền. Phải thu hồi toàn bộ chùa chiền trả lại cho chính quyền nhân dân quản lý. Phải đặt các tăng ni quốc doanh của GHPGVNTN và Giáo Hội Quốc Doanh, vì tuy 2 nhưng vẫn là 1, và các “nhân sự”, cán bộ trong các tổ chức ngoại vi Cộng sản trong Mặt Trận Tổ Quốc ra ngoài vòng pháp luâ.t.

* * *

11. Biến Đảng thành Đạo và Biến Đạo thành Đảng Cộng Sản Hà Nội và GHPGVNTN liên tay tìm cách tồn tại dưới hình thức GHPGVNTN công an trị để thành thế Cộng sản công an trị. Cộng sản và tăng ni quốc doanh âm mưu xử dụng nhiều phương án khác nhau để tồn ta.i.

Khi tính trước thấy tình hình sẽ nguy hiểm, Đảng Cộng sản sẽ thoát xác đội lốt thành “đạo” hay là GHPGVNTN, để bảo toàn nguyên vẹn chủ lực, ta gọi đó là “Biến Đảng thành Đạo” . Đảng Cộng sản sẽ “bị” GHPGVNTN “tiêu diệt”, “tha hóa”, và cán bộ cao cấp của đảng sẽ thành tăng ni tuốt luốt. Nhưng chúng chưa ngưng ở đó. Bọn cán bộ cộng sản giả tăng ni sẽ mau chóng “Biến Đạo thành Đảng” để tiếp tục hoạt động khủng bố công an trị, cướp chính quyền và khống chế cả nước, dưới chiêu bài “tôn giáo Phật”.

Ngay từ năm 1990-1991, Cộng sản Hà Nội và Phật giáo VNTN đã phối hợp tìm phương án ẩn nấp và tồn tại trong trường hợp chế độ Cộng sản bị lật đổ như ở Rumani. Nhân dân và cả công an đã phẫn nộ đi tìm vợ chồng tên Tổng Bí Thư Ceaucescu và nhiều cán bộ cao cấp khác để giết tại chỗ. Vì bất ngờ, bọn này không có đường chạy trốn và không biết chạy đi đâu nên đã bị đám đông cuồng nộ giết chết hết. Một số lớn công an, cán bộ Cộng sản cũng hùa theo nhân dân để tìm giết lãnh đạo Cộng sản.

Lãnh đạo Cộng sản Hà Nội đã bàn tính với Thích Trí Quang và đầu não GHPGVNTN chuẩn bị chạy trốn trong các chùa. Từ tháng 11/1981, GHPGVNTN đã họp đại hội kỳ 1 để “cải tạo tiêu diệt” 21 Giáo hội Phật giáo khác và chiếm đoạt hơn 10,000 chùa chiền (tự viện) trên toàn quốc, và đã trở thành giáo hội quốc doanh chính thức của Hà Nô.i. Để chuẩn bị đối phó với nhân dân nổi loạn, các chùa cần phải dự trử lương thực, vàng bạc, đôla và kể cả máy vi tính, máy in, truyền tin, điện thoa.i. Khi có biến loạn các cán bộ cao cấp sẽ chạy trốn trong các chùa. Chúng sẽ cạo đầu xuống tóc giả làm sư. Chúng sẽ đứng nhởn nhơ ngay trước chùa để xem đám đông cuồng nộ đang đi tìm giết những tên Cộng sản và công an cấp nhỏ địa phương.

Với tư cách “tăng ni” Phật giáo, bọn sư giả hiệu này sẽ mau chóng ra “lãnh đạo” nhân dân nổi dậy để làm một cuộc “cách mạng” chống Cộng ! Lúc này không có lãnh đạo nào khác nắm các đám đông ngoài các tăng ni GHPGVNTN! Không ai, trừ người Mỹ có thể ngờ rằng chính cán bộ Cộng sản làm cách mạng tiêu diệt Cộng sản để xóa tên Cộng sản!

Cuộc cách mạng “Phật giáo” này thành công thì GHPGVNTN cũng xóa luôn được tên “quốc doanh” và được đi vào lịch sử là đã tiêu diệt được Cộng sản vì vậy mà tội ác cuộc thảm sát Tết Mậu Thân vẫn được che đậy để duy trì hệ thống chùa chiền quốc doanh do sư công an GHPGVNTN quản lý. Mọi người đều ngậm miệng và không ai nói ra thủ pha.m.

Sau khi thỏa thuận dùng PGVNTN và chùa chiền làm một thứ cách mạng kiểu mới hay là đảo chánh giả, Cộng sản Hà Nội và tăng ni quốc doanh và GHPGVNTN ra nhiều phương án khác nhau để tùy cơ, tùy thời hành đô.ng.

Một phương án là cho Thích Huệ Đăng (Nguyễn Ngọc Đạt) chuẩn bị biểu tình với khoảng 200,000 người để làm cách mạng, đảo chánh giả bất cứ lúc nào, khi lòng dân phẩn nộ lên cao và xuống đường, biểu tình, bạo động, nổi loa.n. Vào năm 1990-1991, Cộng sản Hà Nội tưởng rằng sẽ có tòa Đại Sứ Mỹ tại Hà Nội rất sớm. Thích Huệ Đăng sẽ cho biểu tình ngay trước tòa Đại sứ Mỹ để biểu diễn làm “cách mạng” như ở Đông Âu. Nhưng vì Hoa Kỳ chậm trễ gởi đại sứ Mỹ đến Hà Nội nên phương án này không được xử du.ng. Vì tin đồn lộ liễu ra đến ngoài nên Thích Huệ Đăng phải bị bắt “giả” và bỏ tù giả để làm ăng ten dò tin những tù nhân chống Cộng khác và được tiếng là sư tăng GHPGVNTN chống chính phủ.

Một phương án khác là cho cán bộ cầm đầu Đại Học Vạn Hạnh, ta gọi “băng Vạn Hạnh”, ra mở màn diễn đàn tự do, tù nhân lương tâm nhân quyền Cộng sản với các sư Thích Quảng Độ, Thích Tuệ Sỹ, Thích Trí Siêu, Phó viện trưởng Đoàn Viết Hoa.t. Phương án này có nhiều mục đích gây tiếng vang với hải ngoại là có “chống đối” ngay trong nước. Che khuất cuộc tranh đấu “một mình” của bác sĩ Nguyễn Đan Quế. Tiếng Anh gọi thủ đoạn này là “ăn cắp ánh đèn sân khấu” (to steal the limelight) của bác sĩ Quế.

Cũng cùng “ăn cắp” luôn cả sự tranh đấu chống Cộng thầm lặng của toàn dân Việt Nam bằng cách làm cho quốc tế và mọi người hải ngoại chỉ chú ý tới chúng, mà quên hẳn dân tộc Việt Nam, quên hẳn sự cai trị tàn ác của Cộng sản tại Việt Nam.

Bộ máy tuyên vận Cộng sản cố gắng tạo tên tuổi và nổi danh tại hải ngoại cho các cán bộ tăng ni, giáo sư Vạn Hạnh mà từ trước tới nay chưa ai biết tên tuổi. Chúng tính thu hút quần chúng hải ngoại và đưa những tên tuổi này lên thành “lãnh tụ” người hải ngoại cho mục đích hòa giải hòa hợp với Cộng sản, đòi Cộng sản phải dân chủ hóa, phải giải thể nhằm mục đích xóa bỏ mọi mưu toan dùng vũ lực tiêu diệt Cộng sản Hà Nô.i. Luận điêu tuyên truyền tung ra hải ngoại là vấn đề dùng vũ lực chiến tranh chống Cộng đã lỗi thời, không được Hoa Kỳ và quốc tế hưởng ứng. Vậy chỉ còn cách duy nhất là tranh đấu hòa bình và tìm cách sống chung với Cộng sản trong tinh thần dân chủ đa nguyên, với diễn tiến hòa bình và hy vọng Cộng sản sẽ thay đổi, đổi mới.

Bộ máy tuyên vận Cộng sản và quốc doanh hải ngoại hoạt động rất uyển chuyển. Chúng đe dọa rằng chúng mạnh và được người Mỹ ủng hộ, trước sau gì thì cũng nắm chính quyền. Chúng gây “uy tín” với khủng bố đe dọa ngầm làm cho các trí thức hay chính trị gia hải ngoại, và các tôn giáo khác, kể cả Công giáo, phải hùa theo chúng và liên minh, liên hiệp với chúng.

Vì không thể đoán trước được thời thế sẽ biến chuyển ra sao, và vì không hề có sự ủng hộ của người Mỹ, nên bọn tăng ni quốc doanh GHPGVNTN và bộ máy tuyên vận Cộng sản hải ngoại rất lo âu ví chúng không có bước đi rõ rê.t. Chúng không biết ai sẽ làm lãnh tụ quốc gia tiêu diệt Cộng sản? Chúng không biết những ẩn số chính trị của người Mỹ. Chúng không bao giờ được tiếp xúc với quyền lực Hoa Kỳ. Chúng quá ngu dốt thấp kém nên không thể hiểu nổi các tính toán siêu chiến lược và hoạt động, hành động hay nước cờ mà người Mỹ sẽ đi trong tương lai. Chúng không dám hoạt động Cộng sản công khai hay lộ liễu vì tuy người Mỹ công bố bang giao với Cộng sản Hà Nội nhưng họ vẫn giữ thái độ lạnh lùng dửng dưng.

Bọn tăng ni quốc doanh và tuyên vận Cộng sản vẫn gây ấn tượng với người Mỹ và người Việt hải ngoại rằng trong nước vẫn có tự do phát biểu, chống đối và đối lập với các “tù lương tâm nhân quyền Cộng sản”. Có chống đối mà nhà nước Cộng sản vẫn khoan hồng độ lươ.ng. Gây chú ý quốc tế vào những cán bộ trá hình thành tù nhân nhân quyền và lương tâm Cộng sản mà không nhìn thấy hàng ngàn trại tù và hàng triệu tù nhân khác.

Chúng gây ấn tượng Việt Nam không còn là một cái nhà tù khổng lồ, và những người chống đối vẫn được đối xử tử tế… gây ấn tượng là Cộng sản đã thay đổi vì “sợ” bị lật đổ như ở Đông Âu. Gây ấn tượng rằng chính Cộng sản cũng muốn xóa bỏ Cộng sản để thành dân chủ và có nhân quyền. Tạo bộ mặt cải tổ và thay đổi thành dân chủ để được Mỹ công nhận và bang giao. Tạo phương tiện điển hình và lý do cho cán bộ tuyên vận hải ngoại hoạt động với mục đích lái các hoạt động chống Cộng sắt máu sang hướng hòa giải hòa hợp, bất bạo đô.ng…

Nhưng chúng không ngờ rằng người Mỹ và quốc tế vô cùng khôn ngoan. Họ đóng kịch rất khéo. Họ làm ra vẻ tin tưởng màn kịch bịp bợm của chúng. Họ ra vẻ tin tưởng chúng, thân mật với chúng, và lơ là người quốc gia, lơ là vấn đề chống Cộng hay tiêu diệt Cộng sản. Nếu nhìn kỹ, ta thấy chính quyền Mỹ rất ít nói và rất dè dă.t. Trái lại, những “dư luận” mà ta thấy trên các báo lá cải, báo chùa, báo chợ và đài phát thanh rẻ tiền thì chỉ là muối bỏ biển, hay là tiếng chó tru trong đêm vắng, không có ảnh hưởng gì đến chính trị và chiến lược của Hoa Kỳ.

http://www.chinhnghia.com/conduongdao4.htm

Posted in CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu "BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!" | Tagged: , | Leave a Comment »

CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu "BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!" (3)

Posted by tudodanchu trên Tháng Năm 23, 2009

CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu “BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!”

(3)

Bách Linh

oo0oo

7. Dâm tăng quốc doanh của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Trích một đoạn khác trong báo Saigon Nhỏ số ra ngày 16/10/1998:

… Chưa hết, hồ sơ Saigon Nhỏ nhận được, khiếu nại về sự bao che hạnh kiểm xấu của hàng tăng ni Phật giáo (GHPGVNTN) từ quần chúng phật tử nhiều vô kể. Khi các vị tự nhận, tự xưng là lãnh đạo Phật giáo VNHN (Việt Nam Hải Ngoại), thì khi quần chúng khiếu nại là để quý vị giải quyết, chứ không phải để quý vị bao che…

Bên cạnh đường lối chính trị không phân minh còn là những hoạt động dâm ô được các vị lãnh đạo Phật giáo dùng hành động cả vú lấp miệng em để bao chẹ Hiện nay cảnh sát San José đang điều tra một vụ cưỡng hiếp trẻ nam ngay trong ngày “đại giới đàn” quy tụ đông đảo tăng nị Phụ huynh của chú Điệu này đã đưa nội vụ ra cảnh sát. Hiện nay tên thầy chùa dâm dục Mỹ lai này đã bỏ miền Bắc Cali chạy về miền Nam Cali và tiếp tục lẩn quất trong các chùa, nơi có nhiều trẻ thuộc các Gia Đình Phật Tử sinh hoạt.

Gia đình trẻ bị cưỡng hiếp uất ức vì các thầy vẫn tiếp tục bao che thì được vị thầy trụ trì trả lời rằng: “Có con mà không biết giữ, cho đi lung tung như thế thì trách aỉ”

Được biết chú điệu này đi theo một vị sư để thụ đại giới đàn (nhập tu, thí phát, quy y tập thể với đông người). Khi đến nơi, vị sư này ốm nên giao hai chú điệu cho một vị sư khác trông coị Sau khi tai nạn xảy ra, một vị sư còn đi đến bót cảnh sát làm chứng về sự kiện xảy rạ Tuy nhiên các vị lãnh đạo khuyên gia đình nạn nhân vì danh dự của… Phật giáo, của chùa mà bỏ quạ Sau đó tên sư hổ mang dâm dục này từ miền Bắc Cali bỏ xuống miền Nam, xuất hiện nhởn nhơ bên cạnh những trẻ ngây thơ mà các phụ huynh nghĩ rằng đến chùa là nơi an toàn nhất.

Một tín nữ khác tố cáo cô bị một vị “sư” có hàng giáo phẩm cao trong GHPGVNTN xâm phạm tiết hạnh của cô nhiều lần. Vị “sư” này lại còn công khai bảo: “Nếu thầy không rờ thì người khác rờ cũng vậy!” Hiện nay tên sư này cũng rắp tâm đem những tên sư Việt Cộng ra thuyết pháp tại hải ngoạị.

Ngoài ra, sau 4 tháng nín thở kể từ khi báo Saigon Nhỏ lột mặt nạ sư Trí Dũng là sư Việt Cộng, ông Vũ Bình Nghi của Thời Báo-San José mới nghĩ ra được cách để trả lờị Ông Nghi cho rằng báo chí hải ngoại đánh sư Thích Trí Dũng, đăng bài của báo Việt Cộng ca ngợi thành tích nằm vùng của sư Trí Dũng là làm nhục QLVNCH (Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) vì chùa Bắc Việt Nghĩa Trang (Phổ Quang) của sư Trí Dũng nằm sát cạnh Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH mà chúng ta không hay, vẫn để cho sư Trí Dũng hoạt động, không phải làm nhục quân đội là gì?… (Saigon Nhỏ ngày 16/10/1998).

Trong thời gian 1960 đến 1975, ni sư Huỳnh Liên của GHPGVNTN đã dùng chiếc xe hơi nhỏ (2CV) để chuyên chở các cán bộ cao cấp Cộng sản ra vào thành phố Sài Gòn. Huỳnh Liên đã tổ chức Làng Cô Nhi Long Thành để lợi dụng các cô nhi cho các mục đích Cộng sản, chống chính quyền quốc giạ Huỳnh Liên đã được mọi người đặt cho một cái hỗn danh (nicknamed) là “con quỷ cái nặc nô Cộng sản”. Huỳnh Liên có miệng lưỡi nặc nô rắn độc đến mức Thích Trí Quang cũng không chịu nổị Năm 1978, Huỳnh Liên và Thích Thiện Minh đều bị Thích Trí Quang ra lệnh thủ tiêu vì hai tên này tỏ vẻ bất mãn, lăm le tổ chức tự thiêu để chống Cộng sản Bắc Kỳ.

Tháng 6/1999, một tên dâm tăng quốc doanh khác đã trên 70 tuổi mà còn dâm dục cực kỳ khả ố với các thiếu nữ phật tử và Gia đình phật tử. Thích Hành Lạc, đã bị cảnh sát Mỹ bắt không cho được đóng tiền “beo” (bail) để được tại ngoạị

Sau khi tiêu diệt xong Cộng sản, cần phải điều tra tường tận các tội ác, làm tiền, dâm dục, hủ hóa, nằm vùng và hoạt dộng Cộng sản của tập thể tăng ni Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Ấn Quang và các tổ chức ngoại vi như Gia Đình Phật Tử, Tăng Đoàn Bảo vệ Chánh Pháp, Phòng Thông Tin Phật Giáo…

* * *

Các tăng ni của GHPGVNTN Ấn Quang không phải là “tu thật”, lại có nhiều tiền bạc do thập phương cúng dường, nên rất dễ bị lôi cuốn vào con đường tà dâm, dâm dục. Có lẽ cửa Phật thánh thiện thiêng liêng nên khi ma quỷ tu giả vờ, đã mau chóng hiện nguyên hình với các tính nết ma quỷ, dâm ô, ham tiền bạc, ham dâm dục và tham lam vô kể, hơn cả bất cứ người phàm tục nàọ Tăng ni quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang chuyển tiền ở Mỹ rồi về Việt Nam mua nhà mua cửa lu bù.

Dưới đây là một đoạn về thủ đoạn dâm ô của dâm tăng Thích Thiện Dũng:

“… có tất cả 8 nạn nhân ở các địa phương khác nhau đã đứng ra tố cáo “thầy” Thiện Dũng tấn công tình dục ho.. Có người đã đi khám bác sĩ để xin giấy chứng nhận về các vết thương do hành động của “thầy” gây nên. Khi họ đi tố cáo, cảnh sát (Mỹ-Pomona, California) đã bảo từng người trở lại gặp “thầy” Thiện Dũng, trong người có đeo một cái microphone rất nhỏ nhưng cực ma.nh. Cảnh sát đậu xe xa xa ở ngoài để ghi âm lại các cuộc đối thoại giữa “thầy” và các cô nàỵ Sự việc xảy ra được lập đi lập lại trong thời gian từ 1990 đến 1996 tại chùa Pháp Vân ở Pomonạ “Thầy” Thích Thiện Dũng không biết chuyện đó nên cứ tiếp tục làm bậy như thường, coi như không có chuyện gì xảy ra!

Trong phiên tòa ngày 2/4/1998 vừa qua, “thầy” Thiện Dũng với tên thật là Khuất Hữu Dũng, 58 tuổi, được thông báo cho biết sau khi lấy lời khai 3 nhân chứng, một cô 13 tuổi, 1 cô 19 tuổi và 1 cô 27 tuổi vào thời gian xảy ra vụ tấn công tình dục, tòa quyết định truy tố “thầy” về 2 tội danh “đưa vật lạ vào người nạn nhân” (penetration with a foreign object) và một tội danh làm tình bằng miệng và có hành động dâm dục, khiêu dâm đối với trẻ vị thành niên (oral copulation and lewd and lascivious acts with minor). Đối với 5 nạn nhân còn lại, tòa sẽ quyết định tội danh sau khi lấy lời khai xong. Phiên tòa do Thẩn Phán Gary A.Feess ngồi ghế chánh án, bà Christina Weiss ngồi ghế Công tố, còn luật sư Tom Wolfsen biện hộ cho “thầy” Thiện Dũng. Đây là một luật sư đã hành nghề khoảng 30 năm và được coi là chuyên viên điều đình nhận tội (cho nhẹ án).

Ba nạn nhân đã khai với tòa rằng “thầy” Thiện Dũng đã trùm một cái khăn lên đầu họ, sờ và hôn họ, bôi dầu lên họ, vuốt ve họ, và trong một trường hợp đã yêu cầu một người trong họ vuốt ve ông tạ (Khuat draped their heads in scarves, touched and kissed them, rubbed oil on them, fondled them and in one case asked one of them to fondle him). Những lời khai thác còn tục tĩu kinh tởm hơn nữa nên không tiện ghi ra đâỵ

Trước bản cáo trạng sơ khởi, luật sư Tom Wolfsen đã ra hành lang gặp “thầy” Thiện Dũng và nói với “thầy” rằng nếu sau khi lấy lời khai của tất cả 8 nạn nhân rồi mới truy tố và xét xử, “thầy” sẽ bị tù rất lâu, không dưới 14 năm. Ông không cách gì chứng minh “thầy” vô tội được. Tốt hơn cả là “thương lượng nhận tội” (plea bargain) để được hưởng trường hợp khoan hồng. Sau khi suy nghĩ, “thầy” Thiện Dũng đã đồng ý tiến hành thủ tục nhận tộị (kết quả Thiện Dũng bị 3 năm tù ở về mặt hình sự).

… Ngày 6/4/1998, thượng tọa Thích Chơn Trí, Pháp chủ chùa Pháp Vân ở Pomona (nơi “thầy” Thiện Dũng tu và hành nghề “chữa bệnh” bằng cách trùm khăn) và Hòa thượng Thích Hộ Giác, Chủ tịch Hội đồng Điều Hành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Hoa Kỳ ở Houston (TX), đã nhận được đơn kiện của luật sư đại diện cho 3 nạn nhân đòi bồi thường 30 triệu Mỹ kim về các hành vi của “thầy” Thiện Dũng gây rạ

Một nữ phật tử ngụ tại vùng Pomona kể chuyện rằng có một lần đến thăm chùa, đã được “thầy” Thiện Dũng kéo vào phòng cho coi… kinh Playboy và đăm đăm nhìn cô này để dò xét thái đô.. Cô này vốn là một tay từng trải việc đời nên tỏ thái độ bực mình và bỏ ra về ngay, không trở lại chùa nữạ Giả thử cô nào tỏ vẻ chịu chơi, tươi cười thích thú thì “thầy” làm tới ngay trong phòng vắng vẻ.

Quý vị có con em, trẻ nhỏ gia nhập các tổ chức và giáo hội phụ thuộc của GHPGVNTN Ấn Quang hay tổ chức phụ thuộc gọi là Gia Đình Phật Tử, thanh niên phật tử, tăng đoàn nầy nọ, hoặc sinh hoạt tại các chùa chiền, hãy coi chừng. Nếu chúng bị tai nạn dâm tăng thì kể như chúng bị ảnh hưởng và ám ảnh tinh thần đến mức khủng hoảng suốt cuộc đờị

Kiện cáo thì vô cùng lôi thôi, tốn tiền và mọi người thường không có mồm miệng gian ngoa, đểu cán như tăng ni quốc doanh! Muốn đưa ra đủ bằng chứng buộc tội cũng rất khó khăn và rất tốn tiền, và tốn rất nhiều thì giờ. Những vụ kiện loại này có khi kéo dài hàng chục năm. Tiền luật sư có khi gần hết tiền bồi thường.

Trong hơn 10 năm qua, Thiên Chúa Giáo Hoa Kỳ đã giàn xếp đền tiền bên ngoài tòa án khoảng nửa tỷ đôla cho các nạn nhân trẻ nhỏ bị sờ mó (Child molestation). Mỗi vụ thường kéo dài hàng chục năm trở lên. Nhưng giáo hội Thiên Chúa Giáo Hoa Kỳ có nhiều tiền và có thiện chí hối hận và đền bù thiệt hạị Họ muốn chứng tỏ là chỉ có một vài cá nhân làm bậy và không muốn cả giáo hội phải mang tiếng xấụ Tăng ni quốc doanh hải ngoại tại Hoa Kỳ sẽ chối là không tiền để quỵt luôn cả án tòạ

* * *

8. Cuộc thảm sát Mậu Thân 1968 tại Huế. Các cuộc tắm máu của Cộng sản trong giai đoạn đầu năm 1975.

Trong trận đánh Tết Mậu Thân, Việt Cộng đã chiếm Thừa Thiên-Huế trong nhiều ngày, khoảng 20 ngày đầu tháng 2/1968. Trước khi tấn công, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất vùng Thừa Thiên-Huế đã có mật hiệu cho các gia đình phật tử phải treo cờ Phật giáo ăn tết. Bộ đội Cộng sản sẽ xâm nhập những nhà “không” treo cờ Phật giáo để bắt những người trong chính quyền quốc gia. Trong kế hoạch, Việt Cộng muốn chiếm giữ Thừa Thiên-Huế lâu dài để làm “thủ đô” và để chứng tỏ rằng Hoa Kỳ đã thua vì không giữ nổi Huế. Lập tức chúng khởi sự bắt bớ và “tắm máu” những quân nhân, công chức, các dân biểu nghị sĩ, giáo sư thuộc thành phần quốc gia mà không có “chân” trong tổ chức GHPGVNTN. Chúng bắt khoảng 10,000 người, công chức, quân nhân, dân biểu, nghị sĩ người quốc gia giam giữ họ trong các chùa và trường học.

Khi quân đội Hoa Kỳ và VNCH phản công đánh chiếm lại Huế vào trung tuần tháng 2/1968, thì bọn tăng ni GHPGVNTN tính rằng không giữ được Huế thì phải giết sạch đám tù nhân, nạn nhân này để bảo vệ bí mật Cộng sản nằm vùng của chúng. Giả thử quân đội quốc gia có chiếm Huế trở lại thì cũng không còn người nào sống sót để tố giác lực lượng tăng ni Cộng sản nằm vùng là GHPGVNTN.

Chính bọn tăng ni Cộng sản trong GHPGVNTN vùng Thừa Thiên-Huế đã dẫn đường cho Việt Cộng giết nhiều sĩ quan, công chức và dân biểu, nghị sĩ, giáo sư người quốc giạ Chúng bắt nhiều ngàn người và bốn vị giáo sư người Đức giam trong chùạ Một số bị giam và bị thủ tiêu tại trường học Gia Hộị Hàng trăm xác chết đã bị chôn tập thể ngay trong khu vực trường Gia Hộị

Bọn tăng ni GHPGVNTN đã lập “tòa án quân sự” với những tên Cộng sản nằm vùng như Lê văn Hảo, anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Đắc Xuân, Tiêu Dao Bảo Cự, các hòa thượng Thích Đôn Hậu, Thích Trí Tịnh, Thích Thiện Siêu… làm chánh án. Tòa án của chúng ở trong các chùa và chỉ xử tử hình. Các nạn nhân đều bị buộc tội “Việt gian phản quốc”. Các nạn nhân “tử tội” bị mang ra sau chùa bắn theo kiểu hành quyết KGB với một viên đạn vào đầụ Thiếu tá Từ Tôn Khoáng bị chúng ra lệnh bắn nát thây với hơn 200 viên đạn!

Hoàng Phủ Ngọc Tường ngày nay đổi tên là Nguyễn Khoa Điềm, giữ chức vụ Bộ Trưởng Văn Hóa (1999) trong chính quyền Cộng sản Hà Nội. Tiêu Dao Bảo Cự chính là đệ tử ruột của Hoàng Phủ Ngọc Tường và cùng nằm vùng đánh phá chính quyền quốc gia vào những năm 1964-65 trở về sau tại vùng Thừa Thiên-Huế. Chính Hoàng Phủ Ngọc Tường đã chế tạo những bản văn, bài viết,, thông bạch rồi ký tên Thích Huyền Quang. Cục Phản Gián đã gởi ra hải ngoại bằng điện thư (fax) những văn bản cho các báo chợ, báo đảng, báo chùa đăng tải, và đài phát thanh của đảng phỏng vấn phát thanh. Võ văn Ái và Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế của y cũng tung ra những bản tin bịa đặt rằng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ và GHPGVNTN “tranh đấu” và nói rằng từ trong nước gởi ra.

Khi quân đội Việt-Mỹ phản công mạnh mẽ vào trung tuần tháng 2/1968, để tái chiếm Huế thì bọn tăng ni quốc doanh và thanh niên phật tử đã áp giải hơn 4,000 nạn nhân của chúng từ các chùa ra khe Đá Mài ở phía Tây thành phố Huế. Chúng vận động hơn 300 thanh niên và thanh nữ phật tử đi theo áp giải tù. Chúng dùng lưỡi lê đâm thủng bàn tay các nạn nhân rồi dùng kẽm gai xuyên qua, từng xâu từ 5 đến 10 người một, rồi kéo đị Chúng tính sẽ giết các nạn nhân nên coi họ như những tử tội, không cần phải đối xử nhân đạọ

Bốn vị giáo sư người Đức bị bọn sư Cộng sản xử tử bằng lối hành quyết của KGB với một viên đạn súng AK bắn vào đầu! Rồi chúng vùi xác 4 người Đức sau chùa Tường Vân. Bọn sư Cộng sản GHPGVNTN hiểu rằng chúng phải tiêu diệt các nạn nhân do chúng bắt và giam giữ trong chùa để diệt khẩu và để bảo toàn bí mật nằm vùng của chúng.

Tại khe Đá Mài ngày 22/2/1968, Thích Đôn Hậu và thiếu tướng Lê Chưởng, chính ủy mặt trận Thừa Thiên-Huế (Trần văn Quang là Tư lệnh), đã ra lệnh cho khoảng 150 tên sư áp giải mượn súng bộ đội Cộng sản, bắn giết, thủ tiêu hơn 4,000 nạn nhân. Hơn 300 thanh niên, thanh nữ phật tử đi theo áp giải các nạn nhân cũng bị Thích Đôn Hậu ra lệnh giết luôn để diệt khẩụ Bộ đội Cộng sản người Bắc đã từ chối bắn các nạn nhân. Chúng nói chúng chỉ biết đánh nhau, không biết giết người theo kiểu xử tử những nạn nhân còn đang bị trói.

Sau cuộc thảm sát, bọn tăng ni Cộng sản trở về các chùa ở Huế và làm bộ không biết chuyện gì đã xảy ra cho đến ngày naỵ Vì những người biết mặt chúng đã bị giết hết nên không còn ai tố giác bọn tăng ni Cộng sản nằm vùng nàỵ Bọn tăng ni Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất giữ bí mật tội ác giết người của chúng đến mức từ năm 1968 đến nay, các chùa ở Huế không nhận thêm người ở ngoài vào tu (giới đàn). Chúng chỉ nhận đảng viên và công an Cộng sản. Có lẽ chúng sợ rằng nếu nhận người ngoài vào tu thì bí mật giết người năm Mậu Thân sẽ bị lô..

Thích Đôn Hậu và Lê Chưởng đi thẳng ra Hà Nội báo cáo với Hồ Chí Minh và Bộ Chính Trị về thành tích chiến thắng oanh liệt vùng Thừa Thiên-Huế và con số địch quân bị tiêu diệt, và được hoan hô nồng nhiệt. Đôn Hậu được ở lại Hà Nộị Năm sau 1969, Hồ Chí Minh chết. Thích Đôn Hậu được vinh dự đứng canh quan tài Hồ cùng với những tên đầu sỏ Cộng sản khác như Phạm văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Đặng Xuân Khu, Lê Đức Tho….

Phải đến sau 1975, Thích Đôn Hậu mới trở lại chùa Linh Mụ, Huế, và ở đó cho đến khi chết cuối tháng 4/1992. Chính quyền Cộng sản ra lệnh làm lễ Quốc táng 7 ngày cho Thích Đôn Hậu. 2 Phó Thủ tướng Cộng sản Nguyễn Quyết và Nguyễn Hữu Thọ về tận chùa Linh Mụ làm chủ lễ tang. Thích Huyền Quang thay thế Thích Đôn Hậu làm Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và gởi các bản tranh đấu bịp bợm bằng điện thư ra hải ngoại, đó là chuyện sau.

Lê Chưởng được Lê Duẫn phong chức Bộ Trưởng Giáo Dục để thưởng công cho vụ tàn sát và chiếm được thành phố Huế. Khi Chưởng quay lại Bình Trị Thiên để bàn giao chức vụ thì bị tai nạn xe, với một chiếc xe tăng tại Quảng Bình. Cây chống kính xe tăng đã đâm thủng sọ Lê Chưởng khiến y chết ngay tại chỗ.

Sở dĩ tìm được các xác chết tại khe Đá Mài là do oan hồn một thanh nữ phật tử bị thủ tiêu để diệt khẩu, đã chết oan uổng, tức tưỡi, nên đã báo mộng cho mẹ đi tìm xác và đưa đẩy bà mẹ này đến khe Đá Màị

Thích Đôn Hậu nắm rất nhiều chức vụ cao cấp Cộng sản. Y nắm những chức vụ như Phó Chủ tịch Liên Minh Dân tộc Dân Chủ Hòa Bình, Ủy viên chủ tịch, chủ tịch đoàn Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng (Cộng sản) Miền Nam, Ủy viên Hội Đồng Cố Vấn Chính Trị chính phủ Cộng sản miền Nam, mang quân hàm Tướng Tổng Cục Phản Gián, Ủy viên chủ tịch đoàn Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc (sau 1975) kiêm Đại Biểu Quốc Hội Cộng sản đơn vị Bình Trị Thiên, Tăng Thống kiêm Viện Trưởng lưỡng viện Tăng Thống và Hóa Đạo của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.

Sau khi Thích Đôn Hậu chết ngày 25/4/1992, thì GHPGVNTN đôn Thích Huyền Quang lên thay thế. Cục Phản Gián đã cho xe ô tô về tận chùa Hội Phước tỉnh Quảng Ngãi để đón Thích Huyền Quang lên chùa Linh Mụ nhận lãnh mũ áo tăng thống. Nhân dịp này, Thích Huyền Quang cũng bàn thảo với thượng tướng công an phản gián kiêm phó thủ tướng Nguyễn Quyết về vấn đề khởi động chiến dịch Hoa Sen Đỏ, tung ra hải ngoại, đẻ xóa tên “quốc doanh”, để tỏ vẻ “bị” Cộng sản đàn áp và để cải chính “khéo” với người hải ngoại rằng chúng “chưa bao giờ” làm sư quốc doanh Cộng sản.

Bản văn đầu tiên của chiến dịch Hoa Sen Đỏ do Hoàng Phủ Ngọc Tường soạn thảo, ký tên Thích Huyền Quang, gọi là “Kiến Nghị 9 điểm” và được Cục Phản Gián gửi bằng điện thư (fax) cho báo Người Việt và các báo chùa đăng tải nguyên văn. Kiến Nghị 9 điểm đề ngày 25/6/1992 thật ra chỉ là một bản “thỉnh nguyện” với sự cung kính dâng lên các cấp lãnh đạo Cộng sản Hà Nộị Sau này Cộng sản Hà Nội có đường dây “vận động hành lang” đi thẳng với Mỹ và được bãi bỏ cấm vận, được bang giao, nên chúng từ từ bỏ rơi con bài sư quốc doanh GHPGVNTN. Nhưng tập thể tăng ni quốc doanh đã lòi mặt thật Cộng sản của chúng, không cách nào chối cãị

* * *

Trước ngày 30/4/1975, Tổng Thống Ford đã báo động là coi chừng sẽ có tắm máu nếu Cộng sản chiếm được Miền Nam. Phải chăng Tổng Thống Ford ngụ ý vụ thảm sát Tết Mậu Thân có thể tái diễn khắp Miền Nam, hay ông được báo cáo trước là Cộng sản có tiêu lệnh thanh toán tất cả những người làm việc trong guồng máy chính quyền quốc giả

Ngày 30/12/1974, Việt Cộng khởi sự tấn công và chiếm Phước Long. Chúng tàn sát tập thể khoảng 5,000 quân nhân và công chức VNCH các cấp bị kẹt trong vòng vây, không thể thoát rạ Ngày 2/1/1975, Tổng thống Thiệu quyết định bỏ Phước Long, không tiếp viện.

Sau khi mất Ban Mê Thuột ngày 9/3/1975, ngày 15/3/1975, theo lệnh của Tổng thống Nguyễn văn Thiệu, tướng Phạm văn Phú, tư lệnh quân đoàn II, đã ra lệnh triệt thoái khỏi Cao Nguyên theo liên tỉnh lộ số 7B, một con đường nhỏ dài 260 cây số xuyên rừng núi để xuống Tuy Hòạ Khoảng 40 vạn dân các tỉnh Pleiku, Kontum, Phú Bổn và khoảng 60,000 quân vùng II đã đi trong 13 ngày về tới tỉnh Phú Yên. Dọc đường, nhiều sư đoàn Cộng sản chận đường, tấn công tàn sát hơn 300,000 dân, phần lớn là đàn bà và trẻ nhỏ gia đình binh sĩ, và khoảng 40,000 quân sĩ. Đây có thể là cuộc thảm sát kinh hoàng và dã man với nhiều nạn nhân nhất của Cộng sản tại miền Nam trong suốt cuộc chiến.

Vùng I cũng bị chết rất nhiều, có thể đến 100,000 quân quốc gia và khoảng 50,000 dân và gia đình binh sĩ. Tổng cộng riêng trong hai tháng 3 và 4/1975, miền Nam đã bị Cộng sản tàn sát hơn nửa triệu thường dân và binh sĩ. Tuy Cộng sản tàn sát những người này nhưng Tổng Thống Thiệu cũng có “công” góp vào cái chết của họ.

Ngày 28/3/1975, Cộng sản chiếm tỉnh Tuy Hòa, Phú Yên. Lập tức chúng gom tất cả công chức, quân nhân toàn tỉnh được khoảng 15,000 người và sửa soạn cho họ tắm máu ngay lập tức. Một số người này là những người mới thoát nạn trên con đường máu, tử lộ số 7B, từ Pleiku về. Đêm hôm đầu chúng tàn sát khoảng 2,000 ngườị Đêm hôm sau hơn 6 ngàn người. Chúng giải nhiều nạn nhân đến bờ sông Đà Rằng đập vào đầu bằng búa và bắn chết rồi ném xác xuống sông. Tại các nơi tập trung khác, máu người bị giết chết chảy như suối hay thành vũng. Những người chưa bị chúng giết phải đào hố chôn xác tập thể. Đến ngày hôm sau, viên chánh án tòa án Nhân Dân Cộng sản (tên là Chiêu) và một sĩ quan quân đội Bắc Việt, thấy sự tàn sát quá thảm khốc, dã man, vội báo cáo cho Lê Tuấn, lúc đó đang ở Ban Mê Thuột.

Tuấn vội họp tham mưu và quyết định ra lệnh cho tỉnh ủy Tuy Hòa phải ngưng vụ thảm sát. Vì nếu tin thảm sát lộ ra ngoài thì quân dân miền Nam sẽ tử chiến đến cùng. Một nhân chứng trong vụ này và cũng quen biết chánh án Chiêu chính là dân biểu “hai chế độ”, hay là cán bộ Cộng sản nằm vùng tên là Nguyễn Công Hoan. Hoan đã đắc cử Dân Biểu Việt Nam Cộng hòạ Sau khi Cộng sản chiếm miền Nam, Hoan lại đắc cử đại biểu Quốc hội Cộng sản. Hoan vượt biên sang Mỹ khoảng tháng 4/1978.

http://www.chinhnghia.com/conduongdao3.htm

Posted in CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu "BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!" | Tagged: , | Leave a Comment »

CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu "BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!" (2)

Posted by tudodanchu trên Tháng Năm 23, 2009

CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu “BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!”

(2)

Bách Linh

oo0oo

4.Tổ chức sư công an để làm giám tự coi chùa. Chùa chiền trở thành cơ sở bí mật của đảng Cộng sản để theo dõi nhân dân, phật tử.

Sau đại hội kỳ I ngày 4 và 5/11/1981, của GHPGVNTN Ấn Quang, 21 giáo hội Phật giáo khác bị “cải tạo” để thống nhất làm mô.t. Thích Minh Châu, Thích Quảng Độ, Thích Tuệ Sỹ, Thích Trí Siêu và toàn “băng Vạn Hạnh” đã đào tạo và cung cấp cho GHPGVNTN Ấn Quang khoảng 20 ngàn sư công an để làm “giám tự” (pagoda managers), chiếm giữ hơn 10,000 chùa chiền toàn quốc. Các vị chân tu của 21 giáo hội đều bị đuổi về nhà tu tại gia.

Trong chiến dịch xóa tên quốc doanh Cộng sản với người hải ngoại, bọn sư Cộng sản Ấn Quang tung ra những tên mới lạ như Thích Trí Tựu, Thích Hải Tạng, Thích Hải Chánh, Thích Trí Lư.c. Thích Hạnh Đức, Thích Huệ Đăng, Thích Không Tánh, Thích Nhật Ban… đều là sư “công an giám tự” do Thích Minh Châu, Thích Quảng Độ, Thích Tuệ Sỹ, Thích Trí Siêu thuộc đảng bộ Vạn Hạnh đào ta.o.

Năm 1998, Thích Minh Châu và GHPGVNTN Ấn Quang hải ngoại tại Hoa Kỳ hân hoan loan báo khánh thành Phật Học Viện Vạn Hạnh thật vĩ đại với 5 tầng lầu, tọa lạc tại Phú Nhuâ.n. Chúng tưởng rằng người hải ngoại không biết cơ sở “Phật học” này chính là để đào tạo “cán bộ sư quốc doanh Cộng sản” trong kế hoạch “Biến Đảng thành Đạo”, một khi đảng Cộng sản không thể tồn tại hoặc bị tiêu diê.t. Các chùa chiền sẽ trở thành trụ sở Cộng sản núp dưới chiêu bài tôn giáo Phâ.t. Bọn sư Cộng sản “hải ngoại tại Hoa Kỳ” và bọn Võ văn Ái sẽ nỏ mồm hỗ trợ cho chúng. Chúng sẽ tiếp tục xuống đường đánh phá các chính quyền Quốc Gia trong tương lai cho đến khi chúng cướp được chính quyền trở la.i. Lúc đó “Đạo” sẽ lại biến thành “Đảng” hay đảng núp dưới bóng tôn giáo hay là chính thể Phật giáo công an trị. Chủ thuyết Phật giáo được viết lại để thay thế chủ thuyết Cộng sản. Mọi hoạt động chính trị, tranh đấu, tuyên truyền bịp bợm, gian ngoa, giảo quyệt, khủng bố công an trị, thủ tiêu người Quốc Gia, vẫn “nguyên chất” Cộng sản.

Trong giai đoạn “tranh đấu cướp chính quyền”, các chùa chiền đương nhiên trở thành ổ gián điệp, những trụ sở đặc công, phá hoại, tuyên truyền. Từ đó sẽ phát xuất ra những cuộc xách động quần chúng, phật tử để xuống đường, biểu tình, bạo động, đánh phá các chính quyền Quốc Gia cho đến cùng.

Trong tất cả những bản văn do Cục Phản Gián gởi ra hải ngoại ký tên Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Tuệ Sỹ, và những bài viết của Trần Chung Ngọc, Lý Khôi Việt, Phan Quang Độ, Lý Đại Nguyên trên các báo chùa, chúng đều viết “lại”, bẻ cong lịch sử là chính GHPGVNTN Ấn Quang đã có công mở nước và dựng nước từ Luy Lâu đến Sài Gòn.

Hòa Thượng kiêm Tướng công an phản gián Thích Trí Quang, tên thật là Phạm văn Quang, tên cầm đầu Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Ấn Quang hiện nay, và cũng là “quốc sư Cộng sản”, đã công khai tuyên bố là ý muốn của y là thành lập một triều đại Phật giáo (công an trị) như đời nhà Lý xưa kia.

Bất cứ chính quyền Quốc Gia nào trong tương lai nếu muốn tồn tại thì phải tiêu diệt mọi mầm mống Cộng sản trong các tổ chức tôn giáo ngoại vi trong Mặt Trận Tổ Quốc. Bọn cán bộ sư công an phải ra đầu thú hoặc phải bị tiêu diê.t. Các chùa chiền phải sạch sẽ không còn sư quốc doanh. Các chính quyền địa phương sẽ phải quản lý các chùa chiền.

Nhân dân miền Nam thấy tăng ni GHPGVNTN Ấn Quang lòi bộ mặt thật Cộng sản, họ đã chửi “mấy thằng trọc sư công an, sư quốc doanh, đeo súng lục kè kè, nhậu rượu đế, thịt chó như điên!” danh từ “quốc doanh” (state-owned) ngụ ý GHPGVNTN là của đảng Cộng sản tổ chức như một công ty quốc doanh Cộng sản. Danh từ “quốc doanh” đã bám chặt vào tăng ni GHPGVNTN cho đến ngày nay. từ năm 1992 đến 2000, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất mở chiến dịch tranh đấu ra hải ngoại bằng điện thư, bằng báo chí, tìm đủ cách để xóa tên “quốc doanh”, thành tích Cộng sản và cái mặt Cộng sản, nhưng không có kết quả.

Năm 1998 và 1999, GHPGVNTN tính đưa gia đình phật tử Việt Nam ra mặt, thay thế hoạt động chính trị để tránh cái tên “quốc doanh”!

* * *

Sư quốc doanh công khai hoạt động Cộng sản và chửi người Quốc Gia tại Hoa Kỳ.

Ngày 12/5/1999, tại Santa Ana, Thích Mãn Giác, nguyên Tổng Vụ Trưởng GHPGVNTN, hiện nay tự xưng là “Hội Chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ” đã nói thẳng rằng y “thương” HT Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ bao nhiêu thì cũng thương HT Thích Thiện Siêu, Thích Trí Tịnh (2 tên này là sư Cộng sản cấp tướng của Tổng Cục Phản Gián và là đại biểu quốc hội Cộng sản) như vậy… (Việt Báo Kinh Tế ngày 15/5/1999)

Cùng một lò GHPGVNTN Ấn Quang, thì Thích Mãn Giác “thương” mấy tên sư quốc doanh Cộng sản cấp cao là phải. Thích Đôn Hậu (đã chết năm 1992), Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Minh Châu, Thích Trí Dũng, Thích Trí Tịnh, Thích Thiện Siêu Thích Trí Quang, Thích Trí Quảng, Thích Minh Nghị, Thích Quảng Liên… đều là cấp tướng công an phản gián Cộng sản. Chúng cũng là ủy viên chủ tịch đoàn trung ương mặt trận tổ quốc, ủy viên Trung Ương Đảng, kiêm Đại biểu Quốc Hội Cộng sản. Thích Mãn Giác cũng nên cho biết rõ cấp bậc thật sự của y hiện nay trong GHPGVNTN?

Thích Mãn Giác cũng “thương” cả Hồ Chí Minh nữa chứ. Ngày 19/5/1975, Thích Trí Quang ra lệnh Thích Mãn Giác tổ chức mừng sinh nhật Hồ Chí Minh vô cùng trọng thể ngay tại chùa Ấn Quang. Sau đó Thích Mãn Giác vượt biên sang Mỹ để tiếp tục công tác đánh phá người Quốc Gia chống Cộng hải ngoa.i. Thích Mãn Giác gọi cờ Quốc Gia một cách sỏ lá là “cờ ba que”. Đến ngày nay Thích Mãn Giác vẫn còn cay cú chửi các chính quyền Quốc Gia là “đàn áp và chia rẽ Phật giáo của y”. Như vậy tại sao Thích Mãn Giác không ở lại với Cộng sản mà lại vượt biên sang Mỹ làm gì?

Thích Mãn Giác cũng khoe rằng y không kỳ thị Trung Nam Bắc: Trong hội trường, HT Mãn Giác kể chuyện khi HT ra phi trường đón đại lão Hòa Thượng “đại dâm tặc Cộng sản” Thích Trí Dũng từ Việt Nam sang thăm Hoa Kỳ (5/1998), và sau đó đã bị một số người kết án là “sư quốc doanh”. HT Mãn Giác cho biết HT nhận xét thấy những người ra đón, chỉ riêng HT Mãn Giác là Phật giáo miền Trung, trong khi tất cả còn lại là Phật giáo miền Bắc. (Thích Mãn Giác quả nịnh Phật giáo quốc doanh Cộng sản Bắc Kỳ hết mình khi khoe rằng y là người miền Trung duy nhất đã ra đón và tỏ tình đoàn kết với dâm tặc Cộng sản Bắc Kỳ Thích Trí Dũng).

HT Mãn Giác chỉ nói rằng “tất cả mọi chia rẽ đều là giả tạo, dù đó là Bắc, Trung, Nam hay mọi chế độ chính trị tạm thời”! Thích Mãn Giác nói rất đúng. Bọn tăng ni hải ngoại chỉ giả bộ chia rẽ với bọn sư quốc doanh trong nước. Nhưng tất cả chỉ là giả tạo giai đoa.n. Đến khi cần, chúng sẽ nhập lại với nhau làm một để cho được mạnh mẽ và tiếp tục sự nghiệp đánh phá Quốc Gia Việt Nam.

Ngày Chủ nhật 20/6/1999, Thích Mãn Giác làm lễ kỹ niệm 36 năm sư Thích Quảng Đức “tự” thiêu, nhân dịp này y lại ra sức đánh phá chính quyền Quốc Gia. Thích Mãn Giác nói: “Đó là ngọn lửa đã khiến cho thế giới cùng nhìn về Việt Nam để thấy rõ một sự thật: Phật giáo Việt Nam bị (chính quyền Quốc Gia) đàn áp, bị đối xử một cách kỳ thị, bất công. Nhưng sự kiện có ý nghĩa hơn, khi ngọn lửa soi sáng lương tâm của con người để khiến cho các thế giới bấy giờ bàng hoàng xúc động mà nhận ra một sự thật cao quý hơn ở con đường đấu tranh của Phật giáo Việt Nam là: Đó là Phật giáo Việt Nam đã không lấy hận thù để đáp lại hận thù, không kêu gọi bạo động để trả lời những đàn áp bạo đô.ng. Phật giáo Việt Nam chỉ muốn lấy cái khổ đau của mình để thức tỉnh lương tâm của những người gây khổ lấy chính thân mình làm ngọn đuốc để soi sáng đường đi cho dân tộc… vì vậy mà ngọn lửa được thắp lên để, nếu có thiêu đốt hận thù bạo ác, thiêu đốt cuồng vọng si mê, chứ không phải là thiêu đốt sự sống của ai, kể cả của những kẻ bạo tàn (ngụ ý không giết Cộng sản)… (Việt Báo Kinh Tế ngày 21/6/1999).

Ôi! Thật quý hóa thay những lời lẽ “từ bi” nhưng rất “hổ mang” của HT.Thích Mãn Giác, Hội Chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam. Khi Thích Mãn Giác nói câu trên, y đã quên hẳn những năm tháng “đấu tranh” đẫm máu tới mức nội chiến tại miền Trung và tại Sài Gòn. Mãn Giác đã quên ngày vinh quang đại thắng khi đánh đổ Đệ Nhất Cộng Hòa và giết chết TT Ngô Đình Diệm ngày 2/11/1963. Mãn Giác đã quên những ngày tăng ni GHPGVNTN của y cầm cờ Phật giáo ra đón bộ đội Cộng sản vào chiếm miền Nam từ Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Nha Trang, Đà Lạt, Sài Gòn và Cần Thơ… trong tháng 3 và 4/1975.

Nhưng chắc chắn Thích Mãn Giác không quên ngày 15/5/1975, khi y cầm cờ đỏ sao vàng đi cùng với mấy ngàn tăng ni GHPGVNTN diễn hành mừng Cộng sản đại thắng chiếm miền Nam!

Trong bài “Đạo từ” của y, Mãn Giác không bao giờ dám nhắc đến “Cộng sản” đang bạo tàn dày xéo quê hương! Có lẽ Mãn Giác sợ phạm húy chăng? Hay là Mãn Giác không bao giờ chống Cộng nên không dám gọi thẳng tên Cộng sản ra mà chửi? Phải chăng Mãn Giác sợ nhắc đến từ “Cộng sản” thì sẽ phải nói lên lập trường “không” chống Cộng của y? Mãn Giác quả khôn khéo không nhắc đến “từ” Cộng sản trong suốt bài “Đạo từ” của y. Thích Mãn Giác chỉ chú trọng đến chửi các chính quyền Quốc Gia mà thôi trong bất cứ dịp nào y có thể lên tiếng!

Mãn Giác không chống Cộng đã đành. Mãn Giác cũng không muốn bất cứ người Quốc Gia chống Cộng nào tiêu diệt Cộng sản. Ta hãy coi Mãn Giác chơi chữ rất khéo léo trong sự “hành văn” của y: “vì vậy mà ngọn lửa được thắp lên để, nếu có thiêu đốt hận thù bạo ác, thiêu đốt cuồng vọng si mê, chứ không phải thiêu đốt sự sống của bất cứ ai, kể cả của những kẻ bạo tàn!” Mãn Giác quả là khéo nói khi y giải thích rằng tại sao trong 10 năm qua, trong chiến dịch xóa tên “sư quốc doanh Cộng sản”, không một tên sư quốc doanh GHPGVNTN Ấn Quang nào dám đứng ra tự thiêu chống Cộng và để chứng tỏ rằng mình không phải là sư quốc doanh!

Mãn Giác gọi bâng quơ là “kẻ bạo tàn” khiến cho người nghe thấy Mãn Giác ngụ ý người Quốc Gia đã đàn áp Phật giáo quốc doanh Cộng sản. Tiện đây, xin nhắc cho Mãn Giác biết là những người Quốc Gia sẽ tiêu diệt bọn Cộng sản bạo tàn, sẽ chiếu cố kỹ càng đến cái gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Ấn Quang do các “tổ sư” Thích Trí Quang, Thích Huyền Quang, Thích Minh Châu, Thích Quảng Độ, Thích Trí Quảng, Thích Trí Tịnh, Thích Thiện Siêu, Thích Tuệ Sỹ, Thích Trí Siêu… cầm đầu với mấy chục ngàn sư quốc doanh công an giám tự khác.

Ngày 12/12/1999, nữ dân biểu Loretta Sanchez cùng với 29 dân biểu Mỹ khác, đã đề nghị Thích Quảng Độ cho giải Hòa Bình Nobel năm 2000. Nhân dịp này, Thích Nguyên Trí tuyên bố rằng đây là một vinh dự lớn mặc dù mới chỉ là đề cử, bởi vì Việt Nam trước giờ vẫn chưa ai có thể thắng giải Nobel nào. Thích Nguyên Trí nhấn mạnh đây còn là vinh dự lờn nhất cho Phật giáo Việt Nam, đây còn là một “thắng thế” lớn cho công cuộc đấu tranh cho nhân quyền tại Việt Nam…

Mặc dù bị bắt bớ tù đầy, quản chế, HT Thích Quảng Độ vẫn kêu gọi từ bi và khoan dung trước bạo quyền. HT Thích Quảng Độ đã chọn con đường đấu tranh bất bạo động trước chính sách đàn áp. Phần cuối lá thư (giới thiệu giải Nobel) nhắc lại lời nói của HT Thích Quảng Độ: “cái ác sẽ không tồn ta.i. Lịch sử đã luôn luôn chứng minh chân lý ấy” Ta hiểu ngay Quảng Độ không bao giờ muốn có đấu tranh vũ trang tiêu diệt Cộng sản. Quảng Độ không bao giờ nhận y là người Quốc Gia , không bao giờ y nói lên một câu chống Cộng!

Bọn sư Cộng sản quốc doanh Ấn Quang, Vạn Hạnh phải bị tiêu diệt cùng với đảng Cộng sản thì “cái ác” mới thật là hết ở Việt Nam. Đây mới thật là chân lý của dân tộc Việt Nam. Chân lý của dân tộc Việt Nam trong lịch sử là luôn luôn tiêu diệt ngoại xâm, nội xâm và nội thù.

Nếu muốn phục hồi 21 giáo hội Phật giáo của những vị chân tu đã bị GHPGVNTN cải tạo và giải tán ngày 5/11/1981, để cướp chùa, thì đương nhiên tập thể sư quốc doanh Ấn Quang, Vạn Hạnh và Thừa Thiên Huế, các gia đình phật tử, tăng đoàn bảo vệ chánh pháp, phải được đưa ra trước tòa án dân tộc để trả lời về các tội phản dân hại nước, hoạt động Cộng sản nằm vùng để đánh phá tổ quốc Việt Nam. Biện pháp nhanh chóng nhất là phải đặt chúng ra ngoài vòng pháp luâ.t.

Ta còn nhớ những năm 1969-1970-1971 khi đi qua Viện Hóa Đạo của GHPGVNTN, ta thấy những bản vẽ đuổi Mỹ, chửi Mỹ, đả đảo Mỹ thật là rùng rợn, kinh tởm mà người Mỹ vẫn tỉnh bơ! Họ thản nhiên chụp ảnh và tuyệt đối cấm chính quyền Cộng Hòa đàn áp biểu tình.

Thủ đoạn thông thường của bọn cán bộ tăng ni quốc doanh của GHPGVNTN và các giáo hội tổ chức phụ thuộc, là xách động phật tử, hoặc thuê người biểu tình, xuống đường, hò hét đánh phá, tự thiêu tuyệt thực… để đàn áp chính quyền, đòi hỏi, yêu sách đủ thứ. Chúng buộc chính quyền phải điều đình và nhượng bộ chúng, chấp thuận mọi điều chúng yêu cầu nếu muốn được yên ổn, ổn đinh. Chúng sử dụng báo chí, thông tin để làm lợi khí tuyên truyền. Chúng đốt phá tòa báo, đánh phá báo chí hay người viết bài chống lại chúng.

Về phần của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, chúng gọi đó là “tranh đấu” vì bị chính quyền đàn áp, bất công. Trong khi sự thật thì chúng đàn áp, đánh phá chính quyền nhưng mồm loa mép giải theo kiểu vừa đánh trống, vừa ăn cướp. Trong khi bị Cộng sản bao vây bên ngoài, lại có sự đồng lõa, hỗ trợ ủng hộ của báo chí, truyền thông quốc tế và người Mỹ, nên các chính quyền miền Nam đều bất lực không thể bịt mồm bịt miệng chúng, và phải chịu thua.

Vì bọn tăng ni GHPGVNTN quá gian ngoan và tàn độc như vậy, các chính quyền Quốc Gia sau này phải cảnh giác đề phòng. Cộng sản có thể bị tiêu diê.t. Nhưng một đầu não Cộng sản khác trá hình là GHPGVNTN Ấn Quang sẽ tiếp tục đánh phá quốc gia dân tộc Việt Nam với mưu đồ tái lập khủng bố công an trị. Bọn tăng ni quốc doanh của Giáo hội PGVNTN Ấn Quang, Vạn Hạnh và các tổ chức phật tử, cư sĩ, tăng đoàn, thanh niên, gia đình phật tử, và các giáo hội phụ thuộc dưới bất cứ hình thức, tên tuổi nào cũng cần phải tiêu diệt đến tận gốc rễ.

Tất cả các tội ác và thủ đoạn gian manh của chúng phải được nhân dân tố giác, tìm tòi, sưu tầm, ghi chép, viết thành sách để giáo dục cả nước trong nhiều thế kỷ tới. Tất cả sách vở của bọn này nhằm mục đích mê hoặc phật tử, phá hoại tôn chỉ Phật giáo, bóp méo lịch sử đều phải bị hủy diê.t.

Tất cả chùa chiền sẽ trả về cho nhân dân, phật tử. Chùa chiền, tự viện là do đông đảo phật tử, cư sĩ, bá tánh đóng góp công góp của xây dư.ng. Tăng ni không có quyền nhận chùa là của mình và xưng là chủ chùa, viện chủ. Phật giáo sẽ chỉ có những người tu hành, mộ đạo chân thật và không còn tham, sân, si.

6. Những câu chuyện điển hình về cán bộ Cộng sản giả sư nằm vùng để hoạt động chính trị và giao liên tiếp ứng cho Cộng sản ngay trong thành phố Sài Gòn. Các dâm tăng quốc doanh Cộng sản của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Ấn Quang.

Một đoạn trích từ báo (Cộng sản) Thế Giới Mới, số 220, xuất bản tại Sài Gòn ngày 20/1/1997, để vinh danh Hòa Thượng Thích Trí Dũng (tài liệu của báo Saigon Nhỏ Ờ Xin cảm tạ báo Saigon Nhỏ):

Phóng viên báo Thế Giới Mới hỏi: “Thực chất chùa Một Cột (Thủ Đức) có phải là một điểm liên lạc của cách mạng (Cộng sản)?”

Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Dũng: “Năm 1964, tại chùa Một Cột Thủ Đức, qua trung gian là anh Bùi Kỳ Vân, anh Nguyễn văn Lộc (chính trị viên đội Biệt Động Thủ Đức), tôi gặp anh Nguyễn văn Bá, ông Nguyễn văn Tăng, hiện đều là anh hùng quân đội Nhân Dân (Cộng sản), và đều ở đội Biệt Động Sài Gòn-Gia Định ngày ấy. Họ đã nhờ tôi tạo điều kiện cho lực lượng Biệt Động Sài Gòn (thuộc lữ đoàn 316) xây dựng cơ sở bí mật tại chùa Một Cột và chùa Phổ Quang (ở gần sân bay Tân Sơn Nhất) Ờ một ngôi chùa do tôi kiến tạo và trụ trì. Tôi đồng ý, thế là hai ngôi chùa trở thành hai cơ sở hoạt động bí mật của Biệt Động Sài Gòn cho đến ngày 30/4/1975.”

Hỏi: “Trong Tết Mậu Thân 1968, chùa Phổ Quang là điểm khai hỏa đánh sân bay Tân Sơn Nhất. Ở đây, bằng cách nào Hòa thượng đã qua được mắt địch, để che dấu một số lượng vũ khí và lực lượng Biệt Đô.ng?”

ĐLHT Thích Trí Dũng: “Chùa Phổ Quang cũng là nơi ở của thiếu tướng Trần Hải Phụng và anh hùng các lực lượng vũ trang Nguyễn văn Bá. Chùa thường xuyên bị địch lùng su.c. Để che mắt địch (VNCH), chúng tôi đã cậy nắp mồ Ngô Đình Cẩn (em ruột TT Ngô Đình Diệm chôn trong chùa Phổ Quang) để dấu vũ khí. Chính vì vậy, địch không ngờ tới. Còn sự di chuyển của các chiến sĩ Biệt Động thì đích thân tôi đã lái xe hơi chở họ nên địch cũng không thể ngờ đươ.c. Vì thế, vũ khí và con người được giữ gìn (an toàn) cho đến giờ chót.”

Chúng tôi (báo Thế Giới Mới) rời chùa Nam Thiên Nhất Trụ (Một Cột) cũng là lúc có đoàn khách nước ngoài đến thăm. Nhìn họ đang trầm trồ trước lối kiến trúc độc đáo của chùa, tôi chợt nghĩ ngôi chùa thật đẹp nhưng tấm lòng (Cộng sản) của người kiến tạo ra nó còn đẹp hơn. HT Thích Trí Dũng quả là một nhà sư biết kết hợp giữa đạo (GHPGVNTN) và đời (Cộng sản).

(Thế Giới Mới, số 220, ngày 20-1-1997.)

Chú thích: Thích Trí Dũng hiện nay (1998) 93 tuổi, là Đại Lão Hòa thượng của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất . Từ tháng 4/1998 Thích Trí Dũng từ trong nước đi ra và đã đến các chùa của GHPGVNTN hải ngoại tại Hoa Kỳ để thu “hụi” chết cho Hà Nội (Cục Phản Gián?), khoảng 2 triệu đôla. Đây không phải là lần đầu. Mỗi năm Cục Phản Gián cử một “sư tăng” loại trung kiên tín nhiệm nhất ra hải ngoại để thu “hụi chết” tại các chùa quốc doanh, từ 1 triệu đôla trở lên. Bọn sư này, kể cả Thích Trí Dũng thường ở rất lâu, một tuần hay nhiều tuần, trong mỗi chùa cho đến khi thu đủ số phần tiền của chùa đó rồi mới đi sang chùa khác. Năm 1996, Chánh Văn Phòng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN (trong nước) là Thích Minh Nghị đã ra hải ngoại thu tiền như vâ.y. Khi Thích Minh Nghị đến chùa Việt Nam, quận Cam, California, do lời “mời” của Thích Pháp Châu, cũng bị đồng bào đến tận chùa chất vấn. Người ta nhận diện Thích Minh Nghị đeo quân hàm Thượng tá Cộng sản năm 1975. Thích Minh Nghị phải bỏ cha.y.

Khi đến thăm chùa sư nữ Đức Viên tại San José, California, tháng 5/1998, sư nam Thích Trí Dũng đã nghỉ ngơi ngay trong chùa sư nữ cho tiê.n. Các ni sư Đàm Lựu, Đàm Nhật và Như Nguyện đã hạ lá cờ quốc gia xuống cho Đại Lão Hòa thượng Thích Trí Dũng đỡ ngứa mắt và để chứng tỏ tăng ni trong chùa không phải là người quốc gia, và chưa bao giờ đứng về phe quốc gia. Việc này làm phật tử San José phẫn nộ và biểu tình tại bãi đậu xe chùa Đức Viên đến 2 giờ sáng ngày 18/5/1998. Các ni sư Đàm Lựu, Đàm Nhật và Như Nguyện đã kêu Cảnh sát Mỹ bắt giam 6 người biểu tình và đưa họ ra tòa truy tố vì quấy rối chùa.

Nhưng Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ vẫn bênh vực dâm tăng Thích Trí Dũng đến cùng, và tôn vinh tên sư hổ mang Cộng sản nằm vùng này là “Trưởng thượng cao tăng”!

Thông Bạch của hàng Giáo Phẩm Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Chúng tôi ký tên dưới đây là hàng Giáo Phẩm đứng đầu các tổ chức Phật giáo Việt Nam đang hành đạo tại Hoa Kỳ minh định rằng:

Đại lão Hòa thượng Thích Trí Dũng, 93 tuổi, là một bậc đạo hạnh chân tu, ấu niên xuất gia, đã di cư hành đạo tại miền Nam Việt Nam từ năm 1954. Đại lão Hòa thượng luôn luôn hướng về Phật sự, từ thiện, xã hội, lập chùa mở cản. Ngài đã tạo một ngôi chùa “Nam Thiên Nhất Trụ” tại làng Đại Học Thủ Đức từ năm 1972. Hiện nay ngôi chùa này là một danh lam mang sắc diện Văn Hóa Lịch Sử Phật giáo hưng thịnh từ đời nhà Lý. Đại Lão Hòa thượng Thích Trí Dũng trong chuyến viếng thăm Phật giáo các nước Á Châu do Cộng đồng Phật giáo Á Châu thỉnh mời. Ngài có ghé thăm các Pháp hữu Sơn Môn tại các tu viện, Phật cảnh Già Lam tại Hoa Kỳ. Ngài không hề tham gia bất cứ tổ chức chính trị nào từ năm 1954. Chúng tôi luôn luôn tôn kính Ngài là một bậc Trưởng Thượng Cao Tăng.

Ngày 27 tháng 5 năm 1998.

Đồng ký tên:

HT Thích Thanh Cát

Tăng thống Giáo hội Liên tông Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.

HT Thích Mãn Giác

Hội chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.

HT Thích Hộ Giác

Tăng thống, giáo hội Tăng Già Nguyên Thủy VN hải ngoa.i. Chủ tịch Hội đồng Điều hành Văn phòng II Viện hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam hải ngoại tại Hoa Kỳ.

HT Thích Giác Nhiên

Pháp chủ Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới.

TT Thích Minh Thông

Tổng Thư ký Hội đồng Phật giáo Á Châu tại Hoa Kỳ.

Thích Thanh Cát từ trước đến nay vẫn không bao giờ chịu treo cờ quốc gia và cương quyết không tham gia bất cứ hoạt động hay biểu tình chống Cộng nào của người Việt hải ngoa.i. Năm 1979, Thích Thanh Cát đã bảo đảm Đàm Lựu sang Mỹ. Đầu tháng 4/1999, Đàm Lựu đã chết tại San José.

http://www.chinhnghia.com/conduongdao2.htm

Posted in CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu "BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!" | Tagged: , | Leave a Comment »

CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu "BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!" (1)

Posted by tudodanchu trên Tháng Năm 23, 2009

CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu “BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!”

(1)

Bách Linh

oo0oo

Con rắn Đỏ vô cùng hung hiểm

Lạy lục Nga Tầu không nề điếm nhục

Con rắn Hồng dù lột xác cũng không

Thoát khỏi lưới trời lồng lộng mênh mông.

Lẽ cùng thông huyền bí vô cùng……

Có những con người giả đui, điếc thầm câm

Song rất thính và nhìn xa rất tốt.

Tập thơ Vô Đề & Khuyết Danh

Nực cười cho lũ bàng quan

Cờ tan lại muốn hai hàng sang xe,

Lại còn áo mũ xum xoe

Còn ra xe ngựa màu mè khoe khoang.

Thôi thôi mặc lũ thằng hề!

Gió mây ta lại đi về gió mây

Cơ Bút của Linh Mẫu Chúa Liễu

o0o

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hoạt động nằm vùng đánh phá các chính quyền quốc gia để tiếp tay hỗ trợ cho Cộng sản. Thích Minh Châu cầm đầu Phật Học Viện Vạn Hạnh, chuyên môn đào tạo cán bộ công an sư quốc doanh để làm “giám tự” cai quản các chùa chiền quốc doanh. Cần phải tiêu diệt đảng viên cán bộ Cộng sản trá hình làm sư quốc doanh cùng lúc với sự tiêu diệt chế độ và đảng Cộng sản.

1. Năm 1963 đến 1975, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) đã đánh phá Quốc Gia và chính quyền miền Nam bằng đủ kiểu, đủ cách, bằng vũ trang, nội chiến, đảo chính, nằm vùng cho đến khi miền Nam sụp đổ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Trong hai tháng 3 và 4 năm 1975 và cho đến sáng ngày 30/4/1975, tăng ni GHPGVNTN từ Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Đà Lạt, Cần Thơ; những Miền Vạn Hạnh, Vĩnh Nghiêm và Ấn Quang đã cầm cờ Phật giáo ra đón bộ đội Cộng sản Bắc Kỳ từ Huế vào đến Sài Gòn, Cần Thơ, để chiếm miền Nam.

Sau ngày 30/4/1975, GHPGVNTN đã “hiện nguyên hình” là đảng Cộng sản trá hình, hay là một công cụ gián điệp, nằm vùng, đặc công Cộng sản, cực kỳ nguy hiểm cho Tổ Quốc Việt Nam.

Năm 1990, Cộng sản Đông Âu rồi Liên Xô sụp đổ. GHPGVNTN quýnh quáng, cuống cuồng âm mưu trở lại thành “Đạo Phật” và xóa bỏ vết tích Đảng Cộng sản. Nhưng hỡi ơi! Các thành tích hoạt động Cộng sản thắng lợi vẻ vang của GHPGVNTN đã đi vào lịch sử. Nhân dân Việt Nam cũng đặt cho cái tên “quốc doanh Cộng sản”. Lại còn chức tước địa vị trong Mặt Trận Tổ Quốc và Trung Ương Đảng Cộng sản và các cấp bậc quan trọng trong Tổng Cục Phản Gián… thì làm sao xóa bỏ?

Sau cuộc đảo chính và Tổng Thống Diệm bị giết chết ngày 2/11/1963; Liên Phái Phật Giáo họp tại chùa Xá Lợi hai ngày 31 tháng 12/1963 và 1 tháng 1/1964 để “thống nhất” thành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN). Sau đó tăng ni quốc doanh xúc tiến mọi hoạt động và kế hoạch tranh đấu chính trị và bạo lực thật nhanh để đuổi Mỹ và cướp chính quyền trước khi tình hình quân sự chuyển mạnh và Mỹ có thể mang quân vào miền Nam.

Ngày 14/1/1964, Chủ tịch nước Dương Văn Minh ký giấy phép hoạt động cho GHPGVNTN. Hai ngày sau, Dương văn Minh ra lệnh thả hết tù Cộng sản. Trong số này có gián điệp nằm vùng Vũ Ngọc Nhạ ở trong tổ tình báo chiến lược bí số A-22, thiếu tướng Bảy Liếm, chỉ huy Biệt Động Nội Thành Sài Gòn Ờ Chợ Lớn, Một đội đặc công chuyên ám sát và phá hoại.

Người Mỹ hoảng hồn vì thấy Thích Trí Quang các tăng ni của GHPGVNTN ra tay quá nhanh, muốn đảo chính luôn cả Hoa Kỳ! Họ liền mời tướng Nguyễn Khánh từ Quân Đoàn 2 về Sài Gòn làm một cuộc đảo chính, sau gọi là Chỉnh Lý; ngày 30/1/1964, để lật đổ Dương văn Minh và dẹp bỏ các tướng thân với GHPGVNTN Ấn Quang như Đỗ Mậu, Tôn Thất Đính và các tướng thân Pháp như Trần văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê văn Kim. Chính trong dịp này, người Mỹ đã biết rõ Dương văn Minh là Cộng sản nằm vùng là tay sai, dưới quyền chỉ đạo của Thích Trí Quang. Nhưng họ tính có thể lợi dụng được Minh bằng cách giả bộ như không biết gì!

Thích Trí Quang và tập thể tăng ni GHPGVNTN tức tối lồng lộn như điên cuồng. Chúng thấy lật đổ Tổng Thống Diệm thành công và sắp cướp chính quyền chiếm được miền Nam đến nơi, mà nay bị người Mỹ làm cho hư hỏng hết. Chúng liền chỉa mũi dùi tấn công vào chính quyền miền Nam và người Mỹ bằng biểu tình, tranh đấu, xuống đường, kể cả xúi dục quân đội ly khai nội chiến.

2. Một số tài liệu dưới đây được trích từ cuốn “Việc Từng Ngày” của học giả Đoàn Thêm. Tác giả xin cảm tạ học giả Đoàn Thêm đã có công ghi chép nhiều sự kiện lịch sử.

Ngày 27/3/1964, Thích Trí Quang ra lệnh thành lập “Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc” tại Huế và ra báo Lập Trường Đấu Tranh. Sau đó lại lập thêm Lực Lượng Tranh Thủ Cách Mạng (LLTTCM), nhằm đấu tranh vũ trang bạo động cho đến khi chiếm được vùng Thừa Thiên-Huế với sự hỗ trợ của lực lượng quân đội Bắc Việt từ bên kia vĩ tuyến 17, chỉ cách Huế khoảng 100 cây số. LLTTCM đã hoạt động bí mật từ trước, nhưng đến nay mới ra công khai.

Thích Trí Quang cũng xúi dục được một số sĩ quan và quân đội, cảnh sát VNCH, kể cà Thị Trưởng Đà Nẵng, theo về phe nổi loạn của y. Chính nhờ số quân nhân vũ trang này mà cuộc tranh đấu đánh phá chính quyền Quốc Gia đã trở thành nội loạn, nội chiến, như Thích Trí Quang mong muốn. Y muốn chứng tỏ với Hoa Kỳ và thế giới rằng miền Nam hoàn toàn bất ổn và ung thối chính trị và nhân dân không ủng hộ chính quyền Quốc Gia . Chính quyền Quốc Gia hoàn toàn bất lực, không được lòng dân và không đủ khả năng cai trị.

Ngày 20/11/1964, các sư GHPGVNTN Thích Trí Quang, Thích Tâm Châu, Thích Pháp Tri, Thích Thiện Hoa khởi sự tuyệt thực để kích động phật tử biểu tình kéo đến trước tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn với khẩu hiệu “Hãy để cho dân tộc Việt Nam tự quyết”.

Đêm 23/11/1964, LLTTCM chỉ huy một đoàn biểu tình gồm thanh niên, sinh viên phật tử kéo đến Phòng Thông Tin Mỹ tại Huế và đốt cháy Thư viện Mỹ với hơn 5,000 cuốn sách. Phó Lãnh sự Mỹ tại Huế Anthony Lake ( sau này là cố vấn An Ninh cho Tổng Thống Bill Clinton ), đến chữa cháy cũng bị ném đá.

Ngày 8/3/1965, trong khi các toán quân Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đầu tiên đổ bộ Đà Nẵng thì thượng tọa Thích Quảng Liên “thuyết pháp” ở chùa Ấn Quang giải thích về chủ trương của phong trào Bảo Vệ Hòa Bình và hạnh phúc dân tộc: các lực lượng Bắc Việt phải rút về Bắc, các lực lượng Mặt Trận Giải Phóng miền Nam giải giới và chấm dứt chiến tranh, quân đội Mỹ phải rời khỏi Việt Nam, vấn đề thống nhất Việt Nam sẽ do dân tộc Việt Nam tự giải quyết.

Ngày 9/4/1965, hội thảo tại Dinh Gia Long Quốc Trưởng, Thủ Tướng, Chủ Tịch Hội Đồng Quốc Gia Lập Pháp về cuộc khủng hoảng chính trị do GHPGVNTN Ấn Quang gây ra.

Hơn 3 tháng sau khi quân đội Mỹ đổ bộ thì người Mỹ mạnh tay thành lập chính quyền quân sự. Ngày 14/6/1965, Hội Đồng Quân Lực thành lập một chính quyền quân sự do Trung Tướng Nguyễn văn Thiệu giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia “tổng thống”. Thiếu tướng quân sự Nguyễn cao Kỳ giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương “thủ tướng”. Thích Trí Quang và GHPGVNTN tức tối, giận dữ như điên cuồng. Nhưng cũng phải sang đầu năm 1966 GHPGVNTN mới được… Mỹ (?) bật đèn xanh, cho phép tranh đấu mạnh mẽ để đuổi Mỹ và gọi đó là hình thức tranh đấu dân chủ!

Thích Trí Quang không biết cái bẫy chính trị đa diện, nhiều mặt của người Mỹ. Thích Trí Quang cũng không hiểu ẩn ý chiến lược của người Mỹ. Người Mỹ bật đèn xanh cho Trí Quang tha hồ đánh phá chính quyền Quốc Gia và người Mỹ. Nhưng đồng thời họ cũng quan sát thái độ và hoạt động Cộng sản và chống Mỹ, chống người Quốc Gia của GHPGVNTN Ấn Quang.

Từ ngày 21/3/1966, các sinh viên, học sinh và phật tử của GHPGVNTN ở Huế, Đà Nẵng biểu tình xuống đường liên miên để chống “quân phiệt” Nguyễn Cao Kỳ, chống Mỹ “can thiệp” vào nội bộ Việt Nam (đánh Cộng sản), và đòi thành lập chính phủ dân sự (theo ý kiến của GHPGVNTN).

Ngày 13/3/1966, Viện Hóa Đạo GHPGVNTN họp báo xác định lập trường và ra lệnh cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa: “các tướng nào có công với cách mạng (lật đổ Đệ Nhất Cộng Hòa và giết Tổng Thống Diệm) dù ở trong nước, ngụ ý các tướng Tôn Thất Đính, Trần văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê văn Kim hay ngoại quốc, ngụ ý Dương văn Minh, phải được trả lại quân đội để lập chính phủ đoàn kết!”

Ngày 23/3/1966, tại Huế, Đà Nẵng và nhiều tỉnh miền Trung xảy ra liên tiếp những vụ đình công bãi thị và bài Mỹ. Nhiều trụ sở Mỹ tại Huế đóng cửa đề phòng sự phá phách. Hàng vạn sinh viên và thanh niên biểu tình ở Huế dưới sự tổ chức và động viên của LLTTCM.

Ngày 28/3/1966, thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ hội đàm với các thượng tọa Thích Tâm Châu, Thích Thiện Minh và Thích Hộ Giác về việc thành lập cơ cấu dân chủ.

Ngày 31/3/1966. Giỗ Tổ Hùng Vương, GHPGVNTN Ấn Quang tổ chức biểu tình trước chợ Bến Thành chừng vài ngàn người. Gắn bảng đồng vào tượng Quách Thị Trang. Nhiều biểu ngữ chống chính phủ (Quốc Gia) và Hoa Kỳ như: Down with U.S. Obstruction, We Want Independence, Đả đảo chủ trương bóp nghẹt báo chí… Hình nộm các tướng Thiệu, Kỳ, Có bị treo lên pháp trường cát trước chợ Bến Thành.

Cùng ngày này, tại Đà Nẵng, Huế, vẫn có biểu tình tuần hành, với những biểu ngữ: Nước Việt Nam của người Việt Nam Ờ Người Mỹ gây rối cho nhân dân Việt Nam. Có khá nhiều binh sĩ và một số cảnh sát tham gia biểu tình.

Ngày 2/4/1966, sau buổi “thuyết pháp” của Đại đức Thích Hộ Giác tại Viện Hóa Đạo, vài trăm người biểu tình kéo đến Phủ Chủ Tịch đường Thống Nhất Sài Gòn và đài phát thanh đường Phan Đình Phùng (để cướp phá) nhưng bị binh sĩ ở đây ngăn cản. Nhóm biểu tình hô “Đả đảo Thích Tâm Châu”, “Hoan Hô Hồ Chí Minh”. Nhóm biểu tình ném đá vào cảnh sát và bị giải tán bằng lựu đạn cay.

Ngày nay, 1999, Đại Đức Thích Hộ Giác đã thành Hòa Thượng Thích Hộ Giác, hiện làm chủ chùa tại Houston, Texas, là Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Hải Ngoại, kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng Điều hành Văn Phòng II, Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ.

Ngày 3/4/1966, thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ cho biết: “Thị trưởng Đà Nẳng (Bác sĩ Nguyễn văn Mẫn) đã dùng tiền công quỹ thuê người biểu tình (cho LLTTCM), lại dọa nạt dân chúng bắt họ phải đình công, bãi thị, sẽ bị bắt và xử tử.” Thủ tướng Kỳ còn giải thích sự có mặt của Hoa Kỳ và trả lời những người bị tuyên truyền bài Mỹ: Cộng sản (GHPGVNTN và LLTTCM) muốn ly gián để cô lập Việt Nam Cộng Hòa và làm nản lòng Đồng Minh.

Từ ngày 3 đến ngày 7/4/1966, LLTTCM tổ chức sinh viên và thanh niên phật tử biểu tình tại Sài Gòn, Đà Nẵng và Huế hô to khẩu hiệu “Đuổi Mỹ về nước! Phản đối Mỹ can thiệp vào Việt Nam.”

Ngày 4/4/1966, LLTTCM biểu tình đốt cháy đài phát thanh Đà La.t. Buổi tối chừng 500 người từ đường Trần Quốc Toản (Viện Hóa Đạo kéo đến Bộ Thông Tin nhưng bị giải tán bằng lựu đạn cay mắt. Sau đó họ kéo đến nhà Văn Hóa đường Tự Do nhưng cũng bị giải tán. Họ đốt một xe jeep quân đội tại đường Cao Thắng.

Ngày 5/4/1966. Tại Huế và Đà Nẵng, nhiều người với dao gậy của LLTTCM chận đường vào thị xã Đà Nẵng. Bác sĩ Mẫn, thị trưởng Đà Nẵng, đóng bản doanh tại chùa Phổ Đà, có 400 binh sĩ ly khai theo LLTTCM bảo vệ. Máy bay chính phủ lượn trên thành phố rải truyền đơn kêu go.i. Dưới đất, các chùa rung chuông báo động inh ỏi. Dân chúng Đà Nẵng bị xách động đã chuẩn bị dao búa, gậy gộc chống lại quân chính phủ. Hoa Kỳ đã cho di tản các cơ quan nằm trong thị xã.

Cùng ngày 5/4/1966, bác sĩ Nguyễn văn Mẫn, thị trưởng Đà Nẵng, bị cách chức và thay thế bằng trung tá Mã Sanh Nhơn, tỉnh trưởng Bình Long.

Ngày 6/4/1966, nhiều sinh viên Huế được sư đoàn 1 Bộ Binh (thiếu tướng Phan Xuân Nhuận chỉ huy), huấn luyện tập bắn, phòng thủ Huế chống quân đội chính phủ.

Ngày 8/4/1966. Các nhóm tranh đấu ở Huế (LLTTCM) tuyên bố không thừa nhận những điểm thỏa hiệp giữa Viện Hóa Đạo và chính phủ và nhất định đòi hỏi chính phủ Nguyễn Cao Kỳ phải rút lui.

Ngày 8/4/1966. Thứ trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ William Bundy tuyên bố: “Thượng tọa Thích Trí Quang đang muốn thao túng chính trường Việt Nam song mục đích không rõ rê.t.” (ông Bundy ngụ ý Thích Trí Quang giấu kỹ dụng ý hoạt động tranh đấu cho Cộng sản của y.)

Ngày 8/4/1966. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất lập “Ủy Ban Tranh Đấu Chống Chính Phủ (Quốc Gia)”. Thượng tọa Thích Thiện Minh thông cáo: “Các tướng lãnh nhất là tướng Nguyễn văn Thiệu không giữ lời cam kết (với GHPGVNTN nên Phật giáo (GHPGVNTN) phải chống đến cùng, dù phải đổ máu!”

(Nhà chùa quốc doanh GHPGVNTN chắc bị tướng Thiệu hứa cuội cho qua nên mới cay cú thế. Không biết tướng Thiệu lúc đó có hứa cho tiền không, nhưng các tướng Nguyễn Khánh đã cho Thích Trí Quang (10 triệu đồng), tướng Kỳ đã cho Thích Trí Quang (50 triệu), và Ngô Đình Cẩn, em út ông Diệm, đã giúp đỡ Thích Trí Quang rất nhiều, kể cả việc cứu y cho ở lại Huế, thay vì bị giải ra Bắc cùng với nhóm Phong Trào Hòa Bình. Là một cán bộ cao cấp và cực kỳ trung kiên của Cục Phản Gián Hà Nội nên Thích Trí Quang đã nhận tiền nhưng vẫn phản bội tất cả những người đã giúp y và lấy lòng y. Cá tính của cán bộ Cộng sản là gian ngoan, phản bội, lật lọng, nuốt lời hứa và tàn bạo giết luôn cả những người cho chúng ăn, cho chúng tiền và tử tế với chúng. Ngạn ngữ Mỹ có câu: “Con chó cắn cái bàn tay cho nó ăn”! Câu này biểu lộ cá tính của Thích Trí Quang và tập thể sư quốc doanh GHPGVNTN.)

Ngày 9/4/1966, trung tướng Tôn Thất Đính được cử ra Huế thay thiếu tướng Nguyễn văn Chuân làm tư lệnh vùng I và đại biểu chính phủ tại Huế.

Ngày 17/4/1966, Thích Trí Quang bay từ Sài Gòn ra Huế để trực tiếp chỉ đạo cuộc tranh đấu của LLTTCM hoạt động mạnh mẽ tại Huế và Đà Nẵng.

Cùng ngày 17/4/1966, để lập thành tích dâng lên Thượng tọa chính ủy Thích Trí Quang, Lực Lượng Tranh Thủ Cách Mạng ở Huế và Đà Nẵng đã bắt giữ tỉnh trưởng Quảng Nam Nguyễn Hữu Chí cùng quận trưởng Hòa Vang và một số người được coi là thân chính quyền Quốc Gia .

Ngày 16/5/1966, tướng Đính vắng mặt không có lý do, bỏ nhiệm sở cũng có nghĩa là đào ngũ trong thời chiến. Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ phải điều tướng Huỳnh văn Cao ra thay tướng Đính. Ngày 17/5/1966, khi trực thăng chở tướng Huỳnh văn Cao vừa đáp xuống thì một thiếu úy phật tử (Nguyễn Đại Thức) cầm súng bắn. Viên thiếu úy này bị xạ thủ trực thăng người Mỹ bắn hạ ngay tại chỗ.

Hai ngày sau, ngày 18/5/1966, Thích Trí Quang ra lệnh cho mấy ngàn sinh viên, phật tử khiêng xác thiếu úy Thức đi khắp thành phố Huế để biểu tình tuần hành đả đảo người Mỹ là đã giết thiếu úy Thức, để gây căm thù với Hoa Kỳ. Một máy bay quan sát L-19 bị quân đội ly khai theo GHPGVNTN bắn trúng tại Đà Nẵng và bắt buộc phải hạ cánh xuống bãi cát.

Ngày 20/5/1966, Chính phủ ra lệnh hai tướng Nguyễn Chánh Thi và Tôn Thất Đính phải ra trình diê.n. Tướng Phan Xuân Nhuận, tư lệnh sư đoàn I Bộ Binh, phải dứt khoát tư tưởng (theo hay không theo LLTTCM?).

Ngày 20/5/1966. Buổi sáng, quân chính phủ và quân “tranh đấu” từ chùa Tỉnh Hội, Đà Nẵng, nổ súng. Một số chết và bị thương trước chùa.

Ngày 20/5/1966. 52 quân nhân “tranh đấu” về trình diện với vũ khí. 5 ổ súng của phe tranh đấu đã bị phá hủy.

Thượng tọa Thích Trí Quang lại kêu gọi TT Johnson can thiê.p. Lực Lượng Tranh Thủ đòi Thủy Quân Lục Chiến Mỹ can thiệp bênh vực họ, nếu không sẽ phá phi trường Đà Nẵng.

Thượng tọa Thích Trí Quang đòi: Chính phủ phải rút quân khỏi Đà Nẵng (cho chúng chiếm); thiếu tướng (Thủ Tướng) Nguyễn Cao Kỳ phải từ chức ngay.

Ngày 21/5/1966. Cảnh sát tịch thu nhiều truyền đơn đòi thượng tọa Thích Trí Quang lên làm Quốc Trưởng và giáo sư Trần Quang Thuận làm Thủ Tướng.

Theo Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan, có bắt được 4 Việt cộng với súng lục trong đám biểu tình trước Viện Hóa Đa.o.

Số thanh niên, thiếu nhi biểu tình 3 lần quanh Viện Hóa Đạo, ném đá vào cảnh sát, bị giải tán bằng lựu đạn cay. Đám biểu tình đốt lốp xe cũ để ngăn chận cảnh sát và đốt cả 2 xe của Mỹ ở đường Trần Quốc Toản.

Ngày 22/5/1966. Phật tử biểu tình nhiều lần trước Viện Hóa Đạo và xung đột với cảnh sát. Nhiều đơn vị Nhảy Dù và TQLC phải tới tăng cường lực lượng an ninh và bao vây khu Trần Quốc Toản, Sài Gòn.

Tại Đà Nẵng, hai bên vẫn nổ súng. Một số chết vì bị thương tại khu chùa Phổ Đà. 30 nhà báo ngoại quốc bị nhóm nổi dậy (LLTTCM) bắt làm con tin, song một số chạy thoát.

Phi trường Đà Nẵng bị phe nổi dậy bắn phá: một phi cơ bị hư hại, vài lính Mỹ bị thương. Nhiều phi cơ Mỹ tạm dời đi căn cứ khác. Giới quân sự Mỹ tuyên bố sẽ dùng vũ lực tự vệ nếu bị tấn công ở căn cứ Đà Nẵng.

Ngày 23/5/1966. 2 quân xa Mỹ chạy qua Viện Hóa Đạo Sài Gòn. Có tiếng súng nổ từ một đám đông đang biểu tình bắn vào quân xa Mỹ. Binh sĩ Nguyễn Văn Ngọc bị trúng đạn chết. Rất đông thiếu niên 14, 15 tuổi biểu tình ném đá vào cảnh sát và quân đội bị giải tán nhiều lượt bằng lựu đạn cay. Đại Tá Văn Văn Của, Đô trưởng Sài Gòn ra thông cáo kêu gọi các gia đình (Phật tử) giữ con em ở nhà, đừng để bị lôi cuốn đi biểu tình.

Ngày 23/5/1966. Nhóm nổi dậy LLTTCM tại chùa Tỉnh Hội, Đà Nẵng chịu buông súng. Hàng trăm binh sĩ trở về với quân đội. Hàng ngàn súng các loại tìm thấy trong chùa với 30 xác chết sặc mùi hôi thối. 4 phóng viên UPI và UP được giải thoát. Bác sĩ Nguyễn văn Mẫn, Thị trưởng Đà Nẵng ly khai theo Giáo Hội PGVNTN bị bắt và bị giải về Sài Gòn. Theo Chuẩn tướng Dư Quốc Đống, phía quân đội có 20 người chết và hơn một trăm bị thương trong vụ dẹp nổi dậy trong tuần qua.

Ngày 25/5/1966. Thượng tọa Thích Trí Quang lần thứ ba yêu cầu Tổng Thống Johnson và Quốc hội Mỹ ủng hộ GHPGVNTN Ấn Quang và “đừng” ủng hộ chính phủ Nguyễn Cao Kỳ nữa.

Tội nghiệp cho Thích Trí Quang! Lạy Mỹ đến 3 lần mà Mỹ vẫn không thèm nghe “lệnh” của ngài thượng tọa. “Ngài” Trí Quang tức mình liền ra lệnh cho phật tử làm dữ, tự thiêu và đánh phá tòa Lãnh sự Mỹ.

Vài ngàn người cả công chức và quân nhân biểu tình tại Quảng Ngãi đòi rút quân quốc gia khỏi Đà Nẵng, chống Cộng và tri ân Hoa Kỳ. Tướng Nguyễn Hữu Có nói đại tá Đàm Quang Yên và thiếu tá Tôn Thất Tường là hai người nhận lệnh Thích Trí Quang cầm đầu vụ nổi loạn Phật giáo Đà Nẵng bị bắt và bị đưa về Sài Gòn.

25/5/1966. Đại đức Thích Nhất Chí bị cảnh sát bắt đã cung khai là cán bộ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tu ở Bạc Liêu và có nhiệm vụ sửa soạn chiến dịch “Nước Lũ” của Việt cộng, kéo phật tử ùa về Sài Gòn cướp chính quyền.

Ngày 26/5/1966. Sinh viên Huế (trong LLTTCM) biểu tình bài Mỹ; đốt phòng Thông Tin Mỹ và Thư Viện với vài ngàn cuốn sách. Ngoại trưởng Trần văn Đỗ gởi thư cho Bộ Ngoại Giao Mỹ ngỏ ý rất tiếc vụ đốt phòng Thông Tin Mỹ ở Huế.

Ngày 27/5/1966. 76 sư tăng và 39 ni cô tuyệt thực 48 giờ trước tòa Lãnh Sự Mỹ, Huế và trao một huyết thư viết bằng mảnh tre để chuyển cho TT Johnson. Thư này đòi TT Johnson rút quân Mỹ để khỏi đổ máu người Việt Nam (Việt Cộng) nữa.

Trung tá Phan văn Khoa, Thị trưởng Huế đem 1 ngàn quân “trung thành” (với chính phủ) ra đóng tại quận Hương Thủy và bị các đoàn thanh niên LLTTCM phản đối.

75 thường dân Mỹ tản cư khỏi Huế vì bị LLTTCM đe dọa.

Ngày 27/5/1966. Viện Hóa Đạo biểu quyết và thông cáo: Từ nay tập thể chỉ huy (theo lối Cộng sản), Viện trưởng Thích Tâm Châu chỉ là người thừa hành. TT Thích Tâm Châu từ ngày 15/5/1966 không gởi điện văn can gián gì trái với tin đăng trên VN Press và các báo.

Đây chính là một cuộc đảo chính Thích Tâm Châu. Bọn sư Cộng sản nghĩ rằng Thích Nhất Chí bị bắt là do phe Thích Tâm Châu báo cho cảnh sát bắt. Từ điểm này Giáo Hội PGVNTN chia làm hai phe gọi là Việt Nam Quốc Tự do Thích Tâm Châu cầm đầu, và Ấn Quang do Thích Trí Quang, Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thích Quảng Liên… chỉ huy.

Gần 30 năm sau, ngày 26/6/1994, hai phe kết hợp lại tại Calgary, Canada ký kết giữa Thích Tâm Châu và Thích Hộ Giác.

Ngày 29/5/1966. Sáng nay ni cô Thích Nữ Thanh Quang, 55 tuổi, tự thiêu trước chùa Diệu Đế, Huế, để phản đối TT Johnson không chịu rút sự ủng hộ chính phủ Nguyễn Cao Kỳ. Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tỏ ý buồn tiếc về vụ tự thiêu của ni cô Thanh Quang.

Ngày 1/6/1966. Sinh viên thuộc lực lượng Tranh Thủ Cách Mạng Huế tràn tới đốt tòa Lãnh sự Mỹ. Nhân viên Mỹ đã rút lui từ trước vào căn cứ MACV và phi trường Phú Bài.

Một xe jeep của quân nhân Mỹ chạy qua Viện Hóa Đạo đã bị đốt cháy trước Viện.

Tại Viện Hóa Đạo, Sài Gòn, mặt dù có lời “can gián” của Đại Đức Thích Hộ Giác, trên ngàn người vẫn kéo đi biểu tình tối nay và bị cảnh sát giải tán. Thượng tọa Thích Pháp Siêu, Phó Vụ Trưởng Vụ Thanh Niên, phản đối giải pháp “ôn hòa” của Thượng tọa Thích Tâm Châu và toan tự thiêu “ngay” nhưng “được” phật tử ngăn chận.

(Sau khi mang cờ Phật giáo ra đón bộ đội Cộng sản vào chiếm miền Nam ngày 30/4/1975, cho đến ngày nay 1975, Thượng tọa Thích Pháp Siêu GHPGVNTN đã hoàn toàn “ôn hòa”. Ta không bao giờ thấy các “ngài” Pháp Siêu, Huyền Quang, Quảng Độ, Trí Quang, Minh Châu, và các “ngài” sư quốc doanh GHPGVNTN khác mang bàn thờ Phật xuống đường hoặc tự thiêu tranh đấu “chống” Cộng! Phải chăng vì Cộng sản là “phe ta” chăng?)

Ngày 3/6/1966. Lễ Phật Đản không được tổ chức trọng thể như mọi năm theo chỉ thị của Viện Hóa Đa.o. Không thấy treo đèn và cờ Phật giáo.

Ngày 3/6/1966. Đại đức Thích Nhất Hạnh do các tổ chức Hòa Bình Mỹ mời sang Hoa Kỳ đã tuyên bố chủ trương 5 điểm của Phật giáo: Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ từ chức, quân đội Mỹ rút lui, ngừng oanh tạc Bắc Việt, Mỹ phải giúp lập chánh thể “dân chủ” và tái thiết miền Nam không điều kiện.

Ta thấy ngay sự hỗn láo và tham lam lố bịch của Thích Nhất Hạnh. Vừa ra điều kiện Mỹ rút, lại đòi Mỹ phải giúp sư quốc doanh lập chính thể dân chủ kiểu Cộng sản, rồi lại đòi Mỹ phải chi tiền viện trợ tái thiết “không điều kiện”!

Ngày 3/6/1966. Một nhóm tăng ni phật tử phản đối chánh sách ôn hòa của Thượng tọa Thích Tâm Châu. Thượng tọa Thích Tâm Châu từ chức cùng với Đại Đức Thích Hộ Giác.

Ngày 3/6/1966. Thượng tọa Thích Trí Quang ở Huế cải chính các tin theo đó quân đội chính phủ đã tái chiếm và kiểm soát Huế, đồng thời tuyên bố tẩy chay cuộc bầu cử do chính quyền Nguyễn Cao Kỳ sắp tổ chức.

Mục đích của Thích Trí Quang chỉ là gây xáo trộn bạo động. Do đó y phải chống đối bất cứ điều gì chính phủ quốc gia thi hành. Vì nếu đồng ý, thỏa thuận thì không còn lý do để đánh phá tranh đấu nữa.

Thích Tâm Châu phải từ chức vì nhà sư này “không phải cán bộ Cộng sản trung kiên”, không hiểu âm mưu Cộng sản của phe Thích Trí Quang, nên đã thật thà ngay tình muốn thỏa hiệp với chính phủ quốc gia. Do đó Thích Tâm Châu bị loại. Thích Hộ Giác vẫn trung thành với Thích Trí Quang và GHPGVNTN từ ngày đó cho đến nay (1999…)

Ngày 3/6/1966. Ni cô Thích Nữ Bảo Luân, người Huế, 24 tuổi, tự thiêu tại sân Viện Hóa Đạo lúc 2 giờ 30 sáng.

Ngày 3/6/1966. Theo tạp chí Time, uy tín của TT Johnson bị giảm sút, còn được 55%. Hiện nay chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam bị công kích càng dữ, và 54% dân chúng Mỹ, theo viện Thống Kê Gallup, đòi hỏi Mỹ rút quân nếu có nội chiến tại Việt Nam.

Tăng ni quốc doanh GHPGVNTN đã thành công phần nào khi khích động phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ và khiến cho dư luận Mỹ đòi Mỹ phải rút quân. Nhưng biết đâu người Mỹ đã lợi dụng chúng để đưa Cộng sản lao đầu vào cái bẫy sập miền Nam năm 1975?

Ngày 5/6/1966. Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm và Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận họp báo tại Đà Nẵng và cho biết: Lực Lượng Tranh Thủ Cách Mạng của Bửu Tôn đã nộp 320 vũ khí. Trung tá Khoa tái lập an ninh Huế, các chùa bỏ ngỏ, 3,000 quân với chiến xa đã từ Đà Nẵng tới Huế.

Ngày 6/6/1966. Thượng tọa Thích Trí Quang vẫn phát động phong trào chống chính phủ (Quốc Gia) và kêu gọi phật tử đem các bàn thờ Phật bầy ra đường để chắn lối đi trong thành phố Huế.

Theo Chuẩn tướng Phan Xuân Nhuận Tư lệnh Sư đoàn 1 tại Huế, 8 lãnh tụ LLTTCM còn lẩn trốn, 72 người bị bắt trong đó có 52 quân nhân.

Ngày 7/6/1966. Các bàn thờ Phật vẫn bầy chật nhiều ngã đường và ngăn cản sự chuyên chở. Nhiều đám đông dân chúng đứng chắn không cho quân xa Mỹ di chuyển.

Thấy GHPGVNTN làm cho tình hình quá loạn dẫn tới nội chiến và ly khai trong khi quân đội Bắc Việt chuẩn bị tấn công vào thành phố, một thiếu tá an ninh quân đội đã có sáng kiến phải bắt Thích Trí Quang giải về Sài Gòn thì mới có thể ổn định tình hình. Lúc này chỉ có người Mỹ biết rõ ý đồ của Thích Trí Quang là chiếm vùng I để làm Thủ Đô và lãnh địa của “nước” Cộng sản Việt Nam. Ông đề nghị với Tướng Nguyễn Ngọc Loan để ông bắt Thích Trí Quang và giải về Sài Gòn. Tướng Loan chấp thuận ngay.

Ngày 21/6/1966, vị sĩ quan này đến bệnh viện Huế bắt Thích Trí Quang và nói có lệnh bắt y và giải về Sài Gòn. Thích Trí Quang ngơ ngác vì y không ngờ có người dám bắt y. Y hỏi lại: “Ai dám ra lệnh bắt tôi?” Sự bất ngờ khiến y lúng túng không biết đối phó ra sao. Vị sĩ quan nói nếu y bướng bỉnh thì buộc ông phải dùng võ lực. Sự sợ hãi vì tưởng rằng sẽ mang đi bắn, đã khiến Thích Trí Quang “vãi” ra đầy quần. Thích Trí Quang được “tôn” là đang “tuyệt thực” tại bệnh viện Huế. Xét ra thì y chẳng có tuyệt thực gì hết. Y vội xin phép viên sĩ quan này vào nhà tắm. Phải hơn nửa giờ sau y mới sạch sẽ và diu díu theo viên sĩ quan này lên máy bay vào Sài Gòn.

Về đến Sài Gòn, vị sĩ quan này giải Trí Quang đến bệnh viện bác sĩ Tài ở đường Duy Tân để tạm giam với tư cách chữa bệnh, trong khi cảnh sát vẫn canh gác ở bên ngoài. Nhờ giam lỏng được Thích Trí Quang ở Sài Gòn nên tình hình náo loạn và nổi loạn ở Huế và Đà Nẵng đã bị dập tắt. Một điểm đáng chú ý là khi Trí Quang bị bắt giải về Sài Gòn thì báo chí ngoại quốc biết ngay và họ đã đến phỏng vấn TT Thiệu. Ông Thiệu trả lời là ông không biết gì xảy ra và ông không hề ra lệnh bắt Thích Trí Quang. Ông Thiệu có vẻ sợ sư quốc doanh hơn là giận dữ vì bị qua mặt. Nhưng chuyện đã rồi và tình hình tại Huế, Đà Nẵng đã yên ổn trở lại. Vị sĩ quan này nói lại rằng sau chuyện đó, có một lần ông gặp một vài người Mỹ không quen biết, nhưng họ nháy mắt và nói với ông rằng “này, các ông sư thích ông lắm đấy nhé!”

Nhưng rồi các sư GHPGVNTN Ấn Quang cũng tìm ra vị sĩ quan này. Chúng thuê một người lính ám sát. Nhưng không may cho một thiếu tá cảnh sát, đúng ngày hôm đó (tháng 10/1968) lại mượn xe jeep của ông này và đã bị bắn chết trên xe. Vị sĩ quan bắt Thích Trí Quang sau này bị bắt giam tù học tập cải tạo hơn 10 năm. Năm 1993, ông sang Mỹ theo diện HO. Ông từ trần vì bệnh tháng 12/1999. Tên thật của ông là đại tá Chu văn Sáng.

Ngày 2/2/1968, trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân mới khởi đầu được 3 ngày, thì chùa Ấn Quang bị trúng đạn B-40 do Việt cộng bắn lầm và phát hỏa. Một tướng và 1 Thượng tá Việt cộng bị tử thương. Chùa Ấn Quang ở đường Sư Vạn Hạnh Sài Gòn là trụ sở chính của GHPGVNTN và là nơi Thích Trí Quang cư ngụ cho đến ngày nay. Chùa Ấn Quang đã được dùng làm Hành Dinh của Bộ Chỉ Huy Việt cộng để tấn công Sài Gòn, dưới quyền tư lệnh của các tướng Trần Độ, Cao Đăng Chiếm, Mai Chí Thọ….

Ngày 2/3/1968, cảnh sát Quốc Gia khám phá 6 hầm bí mật đã chứa chấp đặc công Cộng sản trong phòng ngủ của sư tăng tại tịnh xá Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ, đường Nguyễn Trung Trực, Gia Định.

Tập thể tăng ni GHPGVNTN quả là khôn khéo. Không tỏ vẻ ra mặt thân Cộng hay hoạt động Cộng sản. Nhưng chỉ đòi Mỹ rút quân là đương nhiên Cộng sản thắng! Hoạt động Cộng sản của chúng khá rõ rệt là trong thời gian từ 1963 đến 1975, chúng đánh phá các chính quyền Quốc Gia , nhưng không bao giờ đưa ra một nhân vật Quốc Gia nào để thay thế và lãnh đạo miền Nam chống Cộng.

Trong hai tháng 3 và 4/1975, tăng ni GHPGVNTN đã mang cờ Phật giáo ra đón quân đội Cộng sản tại Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Cam Ranh, Đà Lạt. Ngày 30/4/1975, tập thể sư tăng và cư sĩ, giáo sư, sinh viên, thanh niên phật tử GHPGVNTN, đại học Vạn Hạnh, Miền Vĩnh Nghiêm và các giáo hội phụ thuộc khác đã phấn khởi hồ hởi mang cờ Phật giáo ra đón bộ đội Cộng sản vào chiếm Sài Gòn và miền Nam.

Ngày 15/5/1975, khoảng 2,000 tăng ni GHPGVNTN đi diễn hành chiến thắng trước dinh Độc Lập cùng với bộ đội Cộng sản Bắc Việt. Đến tối ngày 15/5, trong tiệc liên hoan vĩ đại mừng chiến thắng tại khách sạn Majestic, Thích Trí Quang và Phật giáo Việt Nam Thống Nhất đã được thưởng huân chương Sao Vàng.

Thích Trí Quang và một số cán bộ cao cấp khác, trọc đầu và không trọc đầu, chánh phó Viện trưởng Hóa Đạo Ấn Quang, Vạn Hạnh, Vĩnh Nghiêm… cũng được thăng lên các cấp tướng công an gián điệp và phản gián.

Thích Trí Quang, Thích Huyền Quang, Viện trưởng Vạn Hạnh Thích Minh Châu được đặc cách thăng chức tướng công an phản gián. Vũ Ngọc Nhạ được phong thưởng quân hàm đại tướng phản gián 4 sao. Huỳnh văn Trọng thì trở thành Bí Thư Đảng phường I, quận I, thuộc khu vực đường Tự Do Sài Gòn.

Ngày 19/5/1975, để dương cao tinh thần Cộng sản, biểu dương lực lượng và ăn mừng đại thắng, Thích Trí Quang ra lệnh cho Thích Mãn Giác tổ chức mừng sinh nhật Hồ Chí Minh thật long trọng ngay tại khuôn viên chùa Ấn Quang. Khoảng 40,000 tăng ni Ấn Quang và phật tử đã tụ tập đông đảo và tràn ra ngoài chùa, đông nghẹt đường Sư Vạn Hạnh và tràn sang đường Minh Mạng, Lý Thái Tổ… (ngày nay Thích Mãn Giác đã vượt biên sang lập chùa tại Los Angeles, Hoa Kỳ, và xưng danh là Hòa Thượng Hội Chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam.)

* * *

Biến Đạo thành Đảng vì Đảng Cộng sản đã thành công, đại thắng. Các tăng ni Cộng sản không cần phải núp trong áo cà sa. Chúng công khai ra mặt làm sư công an cho chế độ. Người dân miền Nam gọi chúng là “mấy thằng trọc sư quốc doanh”.

Sau ngày 30/4/1975, GHPGVNTN Ấn Quang được coi là tổ chức đầu não Mặt Trận Tổ Quốc, nhưng lại được coi ngang bằng đảng Cộng sản và Mặt Trận Tổ Quốc. Phật giáo Việt Nam Thống Nhất được họp đại hội 5 năm một lần như Đảng Cộng sản và Mặt Trận Tổ Quốc.

Lần đầu, đại hội kỳ I họp tại chùa Quán Sứ Hà Nội trong hai ngày 4 và 5 tháng 11/1981 với 165 đại biểu của 22 giáo hội Phật giáo. Tại đại hội kỳ I, GHPGVNTN đã “cải tạo” và tiêu diệt 21 giáo hội Phật giáo khác, và chiếm đoạt toàn bộ chùa chiền, hơn 10,000 tự viện, trên toàn quốc cho đến ngày nay. Các vị chân tu bị đuổi ra khỏi chùa và về nhà tu tại gia. Chùa chiền do cán bộ sư công an quản lý, gọi là “giám tự” (Pagoda Managers). Đại hội kỳ I đã bầu Thích Đức Nhuận làm Tăng thống, Thích Trí Thủ làm Chủ ti.ch.

Năm 1984, Thích Trí Thủ chết, Thích Trí Tịnh thay thế.

Trong vấn đề thay thế các vị chân tu và chiếm giữ chùa chiền bằng sư công an, ta phải nhắc đến Đại lão Hòa Thượng Thích Minh Châu và tập thể đảng bộ Vạn Ha.nh. Minh Châu là đảng viên Cộng sản cốt cán từ năm 1943. Ngay từ lúc này, Cộng sản đã không bỏ qua Phật giáo. Minh Châu được cử đi Ấn Độ học về Phật giáo trong kế hoạch uyển chuyển “Biến Đảng thành Đạo Phật và Biến Đạo Phật thành Đảng”. Cán bộ công an phản gián của đảng sẽ tùy tiện cạo đầu làm sư. Các chùa chiền sẽ trở thành trụ sở hoạt động bí mật và ngoại vi của đảng Cộng sản.

Khi đảng Cộng sản nắm chính quyền thì GHPGVNTN Ấn Quang sẽ trở thành một thứ “quốc giáo” và là một tổ chức ngoại vi Cộng sản, nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc. Khi đảng không nắm chính quyền hoặc có thể bị lật đổ như trong thập niên 1990, sau khi đế quốc Cộng sản Liên Xô sụp đổ, thì GHPGVNTN Ấn Quang liền chuẩn bị biến Đảng thành Đạo. Đảng viên cao cấp nòng cốt sẽ cạo đầu giả sư trốn trong chùa. Chùa chiền sẽ trở thành trụ sở hoạt động từ bí mật đến công khai để đánh phá các chính quyền Quốc Gia cho đến khi cướp được chính quyền.

Năm 1964, sau khi TT Ngô Đình Diệm bị Trung tướng Dương văn Minh cầm đầu phe đảo chánh ra lệnh cho sĩ quan tùy viên của y là đại úy Nhung hạ sát, thì GHPGVNTN Ấn Quang công khai ra mặt đánh chiếm miền Nam. Đúng lúc này Thích Minh Châu trở về nước và thành lập Viện đại học Vạn Hạnh. Viện đại học Vạn Hạnh cũng là đảng bộ Cộng sản Vạn Hạnh với Nguyễn Trực làm “chính ủy” (Political Commissar). Đến năm 1970, Đoàn Viết Hoạt và vợ là Trần Thị Thức đi Mỹ về mới làm Phó Viện trưởng Vạn Hạnh cho Thích Minh Châu.

Viện Đại học Vạn Hạnh đã mau chóng trở thành cơ sở huấn luyện cán bộ Cộng sản từ các sinh viên. Cuối năm 1974, Thích Minh Châu và Nguyễn Trực đã có thể báo cáo ra Trung Ương Cục Miền Nam rằng chúng đã chuẩn bị xong 1 sư đoàn đặc công Vạn Hạnh với hơn 6,000 khẩu súng các loại và đạn dược với hơn 7,000 sinh viên và thanh niên phật tử. Sư đoàn đặc công này chuẩn bị chiến đấu trong thành phố, bắn vào sau lưng quân đội Việt Nam cộng hòa để tiếp tay cho bộ đội tiến công đánh vào thành phố Sài Gòn.

Sáng ngày 30/4, Thích Minh Châu, Nguyễn Trực, Đoàn Viết Hoạt và toàn bộ ban giảng huấn Đại Học Vạn Hạnh đã cầm đầu sư đoàn đặc công và cán bộ sư Cộng sản, đeo băng đỏ nơi cánh tay, và cầm cờ Phật giáo lên tận ngã tư Bảy Hiền đón quân đội Cộng sản.

Không khí đại học Vạn Hạnh, Miền Vĩnh Nghiêm và chùa Ấn Quang lúc này vui như tết, với các sư công an Cộng sản đeo súng kè kè, mặt mũi nghiêm trọng, canh gác, giữ an ninh trật tự khắp nơi, và mở đường, dẫn đường cho bộ đội Cộng sản vào chiếm đóng các cơ sở, các trọng điểm hành chính, quân sự, ngân hàng quan trọng trong thành phố.

http://www.chinhnghia.com/conduongdao.htm

Posted in CON ĐƯỜNG ĐẠO Hay Âm Mưu "BIẾN ĐẢNG THÀNH ĐẠO! và BIẾN ĐẠO THÀNH ĐẢNG!" | Tagged: , | Leave a Comment »

Tưởng Niệm Bốn Mươi Năm Cuộc Thảm sát Mậu Thân: 1968-2008

Posted by tudodanchu trên Tháng Năm 23, 2009

http://www.humyo.com/FJWFqjq/freedom4vn/HueMassacre1968.wmv?a=oeFKBZqbDA8

http://vimeo.com/19278268

http://vimeo.com/hochiminhancut

LTS.- Lịch sử cận đại của nước nhà đã bị bọn việt-gian cộng-sản làm tay sai, tuân lệnh Nga, Tàu đem súng đạn về bắn phá quê hương, trong đó đã không ít kẻ lợi dụng dưới nhiều chiêu bài, hình thức của đảng phái, tổ chức, tôn giáo… để tiếp tay cho việt-gian cộng sản giết dân hại nước.

Một trong những biến cố bi thảm nhất mà bọn việt-gian cộng-sản đã tàn sát, chôn sống tập thể hàng ngàn người dân Việt tại cố-đô Huế vào dịp Tết Mậu Thân 1968.

Hồn Việt trân trọng giới thiệu đến quý bạn đọc bài viết dưới đây của tác giả Hàn Giang Trần Lệ Tuyền.

Tưởng Niệm Bốn Mươi Năm Cuộc Thảm sát Mậu Thân: 1968-2008

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Bây giờ là những ngày cuối năm; chỉ còn chưa đầy hai tuần nữa là Xuân Mậu Tý lại trở về trên đất nước. Nhìn vào các trang báo, nhất là trên mạng lưới toàn cầu đã xuất hiện rất nhiều những bài viết về Tết Mậu Thân, 1968. Tại quốc nội, đã có rất nhiều những bài viết để ca tụng cuộc thảm sát là: « Kỷ Niệm Bốn Mươi Năm Chiến Thắng Mậu Thân »; hoặc « Kỷ Niêm Bốn Mươi Năm Cuộc Tổng Công Kích và Nỗi Dậy của Đồng bào Miền Nam ». Qua những bài viết ấy, các tác giả đã viết trong niềm vui và kiêu hãnh được gọi là « chiến thắng ».

Nhưng, đối với những người dân của Miền Nam Tự Do cái mà CSVN gọi là « Cuộc Tổng Công Kích… Tổng Nỗi Dậy … » là một cuộc thảm sát, là nỗi đau đớn khôn cùng và mãi mãi không bao giờ có thể quên được; khi nhìn lại những hình ảnh, qua những đoạn phim với những bộ xương trắng lạnh vừa được quật lên từ những hố, hầm tập thể, những vành khăn tang phủ trắng mái đầu, những tiếng nấc nghẹn, những dòng huyết lệ chảy dài trên má của những người mẹ, người vợ, khóc chồng, khóc con; những tiếng khóc làm đau xé đến tận tâm can, những tiếng khóc như thấu đến Trời cao! Những nỗi đau mà ngôn ngữ của nhân loại không thể nào diễn đạt!!!

Trong những đớn đau trùng trùng chất ngất ấy, kể từ Tết Mậu Thân: 1968- 2008, suốt bốn mươi năm qua, đáng lẽ chính những người đã gây ra, đã gieo rắc tang thương trên khắp mọi miền của đất nước; chính họ phải nói lên những lời tạ tội. Nhưng không, bởi mù lòa tận trong tâm trí, nên họ đã không biết được những hành vi tội ác của chính họ đã gây ra. Chẳng những thế, mà họ còn công khai viết lại những hành vi tàn ác, bất nhân của bốn mươi năm về trước.

Nhân dịp tưởng niệm bốn mươi năm cuộc thảm sát Mậu Thân. Trước khi viết lại những tội ác của những kẻ đã nhúng tay vào máu của đồng bào vô tội; tôi xin phép các bậc phụ huynh, để xin được có lời thành kính chia xẻ muộn màng đến các gia đình và các nạn nhân trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, 1968, kể cả những gia đình và cũng là nạn nhân của miền Bắc Việt Nam; bởi chính họ hay người thân cũng đã là nạn nhân của cái gọi là « Sinh Bắc tử Nam » đã bị Hà Nội đẩy vào Nam, để rồi đã phải bỏ mình hoặc trở thành tàn phế trong trận chiến Mậu Thân. Một trận chiến đáng lẽ không nên để xảy ra, nếu Cộng sản Hà Nội không có một quyết định sai lầm để rồi nó đã trở thành một đại tội đối với dân tộc, mà đời đời khó xóa nhòa trong tâm khảm của người dân Việt.

Người Cộng sản Việt Nam thường biện minh rằng: « Quyết định cuộc Tổng công kích Mậu Thân của chúng ta cũng như quyết định của vua Quang Trung … ». Tôi không biết cái đầu của những người Cộng Sản Việt Nam nó chứa những thứ gì mà họ lại đem so sánh như vậy. Bởi, ngày xưa vua Quang Trung đánh quân nhà Thanh, quân Tàu, là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc; vì thế, người Việt Nam có quyền tận dụng tất cả những thủ đoạn hầu để chiến thắng quân thù, vì giặc Tàu là đội quân xâm lăng. Còn « Cuộc tổng công kích tết Mậu Thân » là CSVN đã quyết định xuống tay giết hại đồng bào miền Nam trong những ngày thiêng liêng là Tết cổ truyền của dân tộc, chưa nói đến chuyện vi phạm Hưu Chiến trong ba ngày tết.

Những kẻ đã nhúng tay vào máu của đồng bào trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, 1968:

* Tại Sài Gòn – Hòa Thượng Thích Trí Dũng:

Và bây giờ, tôi xin phép quý độc giả để trở lại với những tên đồ tể trong cuộc thảm sát kinh hoàng này:

Trước hết, phải kể rõ cho mọi người cùng biết đến những hành vi làm giặc của một «Vị Cao Tăng » của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất ( Ấn Quang) đó là « Hòa thượng » Thích Trí Dũng, hiện đương còn sống tại Việt Nam, qua những lời kể của chính « Hòa thượng » Thích Trí Dũng về những công lao từng nuôi giấu Lực lượng Biệt động Sài Gòn-Gia Định, thuộc Lữ đoàn 316, trong đó có Thiếu tướng Việt Cộng Trần Hải Phụng và một số lượng vũ khí lớn lao được chính Thích Trí Dũng đã cạy nắp mộ của ông Ngô Đình Cẩn, một người yêu nước và chống cộng, rồi đem bỏ tất cả súng đạn vào, để bắt cái xác chết của ông Ngô Đình Cẩn phải giữ súng đạn của Việt cộng từ năm 1964 cho đến ngày 30-4-1975. Đặc biệt, trong cuộc thảm sát tết Mậu Thân, Thích Trí Dũng đã là một tên đồ tể, đã từng xuống tay sát hại dân lành. Tôi xin mời quý vị cùng đọc những lời giới thiệu của « nhà báo » Việt Nhân cùng lời kể của chính Thích Trí Dũng bằng giấy trắng mực đen trên tờ Thế Giới Mới số 220, xuất bản ngày thứ hai 20-1-1997 tại Sài Gòn, nơi trang 66-67 và 68. Sau đó in thành sách: « Tài Trí Việt Nam: Người Dựng Chùa Một Cột ở Miền Nam ». Tôi xin trích lại nguyên văn như sau:

* « Hòa Thượng Thích Trí Dũng đã đóng góp cho cách mạng rất nhiều, ông là nhà sư được Hồ Chủ Tịch viếng thăm và mời cơm… Tên tuổi ông được gắn liền với quá trình xây dựng Chùa Một Cột ( Nam Thiên Nhất Trụ) ở miền Nam …. Chùa Nam Thiên Nhất Trụ ( NTNT) hiện tọa lạc tại số 1/90 đường Nguyễn Du, thị Trấn Thủ Đức, ( TP Hồ Chí Minh), được khởi công xây dựng theo mẫu chùa Một Cột tức chùa Diên Hựu- một công trình văn hóa nỗi tiếng có từ thời Lý, ở thủ đô Hà Nội.

Hòa Thượng Thích Trí Dũng kể lại:

« Khi xây dựng chùa Nam Thiên nhất Trụ ( Chùa Một Cột tại miền Nam) chính quyền Ngô Đình Diệm đã nhiều lần ngăn cản vì sợ chùa sẽ khơi dậy trong lòng người dân đang sống ở nữa miền đất nước bị người Mỹ chiếm đóng, ý thức dân tộc, sự mong muốn đấu tranh cho nước nhà thống nhất, độc lập và tự do. Lúc đó, đại diện văn phòng phủ Tổng Thống Sài Gòn bảo rằng: Hòa thượng muốn làm gì thì làm nhưng không được xây Chùa Một Cột. Tôi hỏi tại sao, họ trả lời: « Nếu Chùa Một Cột được xây dựng thì sau này cộng sản Bắc Việt sẽ vào cư ngụ ở đây ». ( Ôi! Tổng Thống Ngô Đình Diệm là vị đã Tiên Tri được tất cả mọi sự, lời người viết). Nhưng bất chấp tất cả, chùa Nam Thiên Nhất Trụ vẫn được xây dựng. Chính trong quá trình đào hồ Long Nhẫn để định móng xây chùa, những người thợ đã phát hiện ra tảng đá lớn dài 1,3m, dày 0,2m. Nhờ mãnh vỡ, mọi người mới biết đây không phải là đá, khi đập ra, họ thấy bên trong có một cổ vật bằng bạch kim, hình tròn, đường kính 0,38m, dày hơn 1cm, nặng 6,2kg, trên mặt khắc 4 chữ Hán « Ngũ Tử Đăng Khoa » và 21 hoa văn đặc sắc, cổ vật này được nhà tư sản người Hoa là Lý Long Thân đòi mua với giá 4 triệu đồng ( bốn triệu đồng) và 200 lượng vàng (hai trăm lượng vàng) thời giá lúc đó. Người Mỹ khi khảo sát cổ vật cũng đã ngõ ý được đổi bằng một bệnh viện 3 tầng với 600 giường, có đầy đủ dụng cụ Y khoa. Cả Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi biết cũng đã cử người xuống thương lượng xin được lấy cổ vật ấy, hứa sẽ đáp ứng mọi yêu cầu, nhưng tôi ( HT Thích Trí Dũng) là người chủ trì việc xây cất chùa vẫn một mực chối từ và đem giấu cổ vật đi. Cho đến khi nước nhà thống nhất tôi đã tình nguyện hiến cổ vật cho nhà nước: Ngày 25-8-1988, Phó Thủ tướng Phan Văn Khải, Thượng tướng Trần Văn Trà, Thiếu tướng Trần Hải Phụng, giáo sư Trần Văn Giàu cùng các nhà nghiên cứu khảo cổ đã đến tiếp nhận cổ vật đem vế trưng bày ở phòng « Sài Gòn xưa » của Bảo tàng cách mạng TP. Hồ Chí Minh.

* Hòa Thượng Thích Trí Dũng kể về những thành tích cách mạng:

« Năm 1947, hơn 2000 nhân sĩ, trí thức yêu nước bị phái Công Giáo phản động bắt giam ở nhà hầm Phát Diệm. Lúc đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông Hồ Tử Du với lá thư riêng của Hồ Chủ Tịch đã đến Đồng Đắc ủy nhiệm cho tôi- trên cương vị Đại diện Phật giáo Cứu quốc Trung ương- bằng mọi cách phải giải thoát. Nhờ sự hậu thuẫn của cách mạng, việc giải thoát đã thành công. Với thành tích này, tôi được Hồ Chủ Tịch khen thưởng và được tướng Nguyễn Sơn mời làm cố vấn. Sau khi giải thoát cho 2000 nhân sĩ, trí thức, tôi bị bọn Công Giáo phản động tuyên án tử hình. Để tránh sự trả thù và thể theo yêu cầu của một số Phật tử Nam Kỳ, năm 1953 tôi vào miền Nam.

Từ khi vào Nam tôi đã xây chùa Linh Giác ở Đà Lạt, chùa Phổ Chiếu, Phổ Minh ở Gò Vấp, chùa Phổ Quang ở Tân Bình, tôi quyết đinh xây dựng Chùa Một Cột tại làng Đại Học Thủ Đức, phỏng theo mô hình Chùa Diên Hựu (Một Cột) ở Hà Nội. Bị chính quyền Ngô Đình Diệm cản ngăn, tôi về mướn người rào kín khu đất định xây chùa lại, thuê thợ đến làm từ 4 giờ chiều đến 11 giờ đêm. Biết được sự kiện tôi lén xây dựng chùa, chính quyền Diệm sai người đến yêu cầu tôi phá ngay vì lý do chính trị. Tôi nói với họ: Tôi chỉ biết xây chứ không biết phá. Cản ngăn không được, họ lại đưa tiền cho tôi để tôi xây dựng chùa khác, nhưng tôi không chịu. Thế là họ đành để tôi xây dựng chùa mà không lấy tiền lại.

Năm 1964, tại Chùa Một Cột ( Nam Thiên Nhất Trụ) Thủ Đức qua trung gian là anh Bùi Kỳ Vân, anh Nguyễn Đức Lộc là Chính trị viên đội Biệt động Thủ Đức, tôi gặp anh Nguyễn Văn Bá, ông Nguyễn Văn Thăng hiện đều là anh hùng Quân đội Nhân dân Việt Nam và đều ở Đội Biệt động Sài Gòn-Gia Định ngày ấy. Họ đã nhờ tôi tạo điều kiện cho Lực lượng Biệt động Sài Gòn-Gia Định thuộc Lữ đoàn 316 xây dựng cơ sở bí mật tại Chùa Một Cột và Chùa Phổ Quang ở gần sân bay Tân Sơn Nhất-là hai ngôi chùa do tôi kiến tạo và trụ trì. Tôi đồng ý, thế là hai ngôi chùa này trở thành hai cơ sở hoạt động bí mật của Biệt động Sài Gòn-Gia Định cho đến ngày 30-4-1975.

· Trong cuộc Tổng công kích Mậu Thân 1968, Chùa Phổ Quang là điểm khai hỏa đánh sân bay Tân Sơn Nhất; ở đây tôi đã qua mắt địch, để che giấu một số lượng lớn vũ khí và Lực lượng Biệt động Sài Gòn-Gia Định thuộc Lữ đoàn 316. Chùa Phổ Quang cũng là nơi ở của Thiếu tướng Trần Hải Phụng và anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Văn Bá, chùa thường xuyên bị địch để ý. Để che mắt địch, chúng tôi đã cạy nắp mồ Ngô Đình Cẩn em ruột Ngô Đình Diệm, chôn trong chùa Phổ Quang để giấu vũ khí. Chính vì vậy, địch không ngờ tới. Còn sự di chuyển của các chiến sĩ Lực lượng Biệt động thì đích thân tôi đã lái xe hơi chở họ nên địch không thể ngờ được. Vì thế, vũ khí và con người được giữ gìn cho đến giờ chót. »

Quý vị vừa đọc qua những lời kể của chính « Hòa Thượng » Thích Trí Dũng, từng là thành viên lãnh đạo Trung ương Phật giáo cứu quốc từ năm 1946; với những thành tích thâm niên làm cộng sản. Đặc biệt trong cuộc thảm sát Mậu Thân 1968, như đã trích ở trên, là một bằng chứng không thể chối cãi, tôi nghĩ rằng không cần phải viết thêm điều gì nữa cả.

Tuy nhiên, có một điều đáng nói là trước đây vào tháng 4 năm 1998, Thích Trí Dũng sang Hoa Kỳ để làm công tác ngoại vận, khi đến các chùa Thích Trí Dũng đã bị đông đão Phật tử phản đối thì tất cả các hàng tăng lữ có mặt tại Hoa Kỳ đã ra « Thông bạch-Bạch thư » gồm có nhiều chữ ký của các sư sãi nội dung nguyên văn như sau:

Thông Bạch của hàng Giáo Phẩm Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.

Chúng tôi ký tên dưới đây là hàng giáo phẩm đứng đầu các tổ chức Phật giáo Việt Nam đang hành đạo tại Hoa Kỳ minh định rằng:

Đại lão Hòa thượng Thích Trí Dũng, là một bậc đạo hạnh chân tu, ấu niên xuất gia, đã đi hành đạo tại miền Nam Việt Nam từ năm 1954. Đại lão Hòa thượng luôn luôn hướng về Phật sự, từ thiện, xã hội, lập chùa mở cảnh. Ngài đã tạo một ngôi chùa « Nam Thiên Nhất Trụ » tại làng Đại Học Thủ Đức từ năm 1972. Hiện nay ngôi chùa này là một danh lam mang sắc diện Văn Hóa Lịch Sử Phật Giáo hưng thịnh từ thời nhà Lý. Đại lão Hòa thượng Thích Trí Dũng trong chuyến viếng thăm Phật Giáo các nước Á Châu do cộng đồng Phật Giáo thỉnh mời; Ngài có ghé thăm các Pháp hữu Sơn Môn tại các tu viện, Phật cảnh Già Lam tại Hoa Kỳ. Ngài không hề tham gia bất cứ tổ chức chính trị nào từ năm 1954. Chúng tôi luôn luôn tôn kính Ngài là bậc Trưởng Thượng Cao Tăng.

Ngày 27 tháng 5 năm 1998.

Đồng ký tên:

– HT Thích Thanh Cát: Tăng thống Giáo hội Liên Tông Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.

– HT Thích Mãn Giác: Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.

– HT Thích Hộ Giác: Tăng Thống Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam hải ngoại- Chủ tịch Hội đồng điều hành Văn Phòng II Viện Hóa Đạo, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Hoa Kỳ.

– HT Thích Giác Nhiên: Pháp chủ Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ Thế Giới.

– HT Thích Minh Thông: Tổng thư ký Hội đồng Phật giáo Á Châu tại Hoa Kỳ.

Một lần nữa quý độc giả lại đọc thêm những lời lẽ của các « cao tăng » trong cái « Thông Bạch của hàng giáo phẩm đứng đầu các tổ chức Phật giáo Việt Nam đang hành đạo tại Hoa Kỳ minh định » như trên đây; tôi nghĩ rằng quý độc giả đã thấy mọi vấn đề đều chẳng có một tí nào minh bạch cả. Bởi thế, nên tôi thấy không cần phải viết thêm điều gì mà xin dành sự phán xét cho quý vị. Ngoài ra, Thích Trí Dũng cũng cho biết: Cả Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi biết cũng đã cử người xuống thương lượng xin được lấy cổ vật ấy, hứa sẽ đáp ứng mọi yêu cầu, sau khi không ngăn cản được việc xây chùa, nên đành phải đưa tiền cho Thích Trí Dũng xây chùa Nam Thiên Nhất Trụ. Như vậy, ngay từ đầu Thích Trí Dũng đã ngang nhiên chiếm đất rồi tự ý làm chùa và Nam Thiên Nhất Trụ đã do chính tiền bạc của Tổng Thống Ngô Đình Diệm mà có. Nhưng không riêng chùa Nam Thiên Nhất Trụ mà tất cả các chùa từ ba miền Nam-Trung-Bắc, kể từ thưở xa xưa là do các Triều đình, các Chúa Nguyễn … các quan, đến hàng lý trưởng, trùm trưởng đã xây dựng. Rồi đến hai nền Cộng Hòa Việt Nam cũng đã do tiền bạc của chính phủ, của các Tỉnh trưởng, Thị trưởng, Quận trưởng, xă trưởng… cung cấp để xây dựng và Phật giáo cũng đã ngang nhiên chiếm dụng đất làm chùa, chứ chẳng có một tờ giấy gì để làm bằng chứng là chủ quyền-sỡ hữu. Như thế, những ngôi chùa tại Việt Nam hết thảy đều vĩnh viễn thuộc về di sản của Quốc Gia. Vì vậy, không một phe phái nào có thể tranh giành được cả.

Riêng Hòa thượng Thích Tâm Châu không ký vào cái « Thông Bạch » này mà chỉ nói: « Chỉ biết trước kia Hòa thượng Thích Trí Dũng có tham gia vào Hội đồng Liên tôn và Trung ương Phật giáo cứu quốc » ngoài ra không nói gì thêm. Mặc dù vậy, nhưng nhiều người đã nói rằng Hòa thượng Thích Tâm Châu biết rõ nhưng không chịu nói.

Nhưng, bất cứ kẻ nào ngoại cuộc muốn nói bất kể điều gì, cũng không bằng những lời của chính « Hòa thượng » Thích Trí Dũng bằng giấy trắng mực đen công khai trên sách- báo với cái tựa đề: « Tài Trí Việt Nam: Người dựng Chùa Một Cột ở Miền Nam ».

* Thượng Tọa Thích Trí Quang:

Ttriquang

Khi nhắc đến « Thượng tọa » Thích Trí Quang, là nói đến một « nhà sư » đã vi phạm hết tất cả những điều mà trong « Ngũ Giới » của nhà Phật đã nghiêm cấm. Thích Trí Quang đã từng gieo máu lữa trong các cuộc bạo loạn trên khắp Miền Nam Tự Do; nhưng kinh hoàng nhất vẫn là cuộc « đấu tranh bàn Phật xuống đường » tại miền Trung. Đã có quá nhiều những bài viết về Thích Trí Quang. Song có nhiều điều tôi không thấy vị nào nhắc đến, tôi có nhiều tài liệu chứng minh. Vì thế, nhân đây tôi chỉ nói đến một điều như sau:

Khi hay tin Hồ Chí Minh chết, « Thượng tọa »Thích Trí Quang đã tổ chức lễ cầu siêu-lễ truy điệu ngay tại chùa Ấn Quang, có nhiều « phật tử » tham dự. Trong buổi lễ truy điệu này Thích Trí Quang đã sữ dụng những bông hoa màu đỏ, và bông hoa màu vàng đặt ở giữa, tượng trưng cho cờ đỏ sao vàng của đảng cộng sản, làm thành một vòng hoa, hai bên treo đôi câu đối:

· « Nam-Bắc toàn dân quy thượng chính;

· Á-Âu thế giới kính tu mi ».

Hai chữ cuối của hai câu đối là chữ « Chính » và chữ « Mi », đọc lái hay ngược lại là Chí Minh. Và trong bài điếu văn Thích Trí Quang đã đọc trong lễ truy điệu có đoạn như sau:

· « Nhớ đến Bác càng thương càng khóc, thấy bọn giặc thêm hận thêm thù. Khóc là khóc đấng thiên tài lỗi lạc, đuổi xâm lăng đòi độc lập tự do, trọn đời mãi âu lo cho dân tộc, quê hương đó, nước non còn đó, uất hận thay, vật đổi sao dời. Thương tiếc bấy! Hoa trôi nước chảy. Nghĩ mấy đoạn lệ tràn chan chứa, nhớ công ơn cảm động can tràng … Thù là thù bọn tàn bạo dã man, mong cướp nước hại người, làm những việc bất lương vô nghĩa … »

Trên đây, chỉ là một trong những việc làm của Thích Trí Quang. Chỉ chừng ấy thôi, mọi người chắc không một ai kể cả Thích Trí Quang có thể chối cãi được. Vì không thể ghi chép hết, nên tôi đành phải xin gác lại để viết tiếp về những « cao tăng » khác.

* Cuộc Thảm Sát Tại Huế và Hòa Thượng Thích Đôn Hậu:

HTDonHau_2

Trước đây, tôi đã nói qua về Thích Đôn Hậu, bởi những hành vi cộng sản, đăc biệt là trong cuộc bạo loạn bàn Phật xuống đường tại thành phố Đà Nẵng; vì thế, dân Đà Nẵng đã thường gọi là « Thích Đâm Hậu-Thích Đoản Hậu ».

Tại miền Trung, đặc biệt là tại Đà Nẵng, từ trước ngày 30/4/1975, đã có rất nhiều sư sãi Ấn Quang từng gieo rắc tang thương, máu lữa cho đồng bào vô tội; song có lẽ ít ai biết được những “tăng sĩ” đó gần hết là người Quảng Trị- Huế, đã được Thích Đôn Hậu đưa vào Đà Nẵng để “xây dựng cơ sở”, đã tìm mọi cách để nắm giữ những chức vụ quan trọng để chuẩn bị cho những cuộc nỗi loạn cướp chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, trong số này có những tên nỗi tiếng sắt máu quen thuộc như: Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Vùng 1, Quân khu 1.Kiêm Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo Đà Nẵng… Tôi sẽ viết đầy đủ về những hành vi độc ác của những sư sãi cộng sản này ở một bài khác. Riêng Thích Minh Chiếu hiện nay đương là chủ:

“Chùa Phật GiáoViệt Nam” tại 1651 S. King St. Seattle, WA. 98144, USA. Điện thoại số: (206) 323-2269. ( Địa chỉ và số điện thoại này cho đến nay vẫn không thay đổi).

trai

TT Thích Minh Chiếu Trưởng Ban HDPT tỉnh phát biểu khai mạc

gdp3

Thích Minh Chiếu đã đứng đầu hầu hết các cuộc thảm sát tại Đà Nẵng; từ cuộc thảm sát tại Thanh bồ-Đức Lợi- 24/8/1964- Cuộc “đấu tranh” bàn Phật xuống đường mùa hè 1966 và Tết Mậu Thân, 1968, trong cuộc tấn công của cộng quân vào thành phố Đà Nẵng … Sau ngày 30/4/1975, Thích Minh Chiếu sang Hoa Kỳ cũng liên tục được “suy cử” vào “Viện Hóa Đạo II ”. Ngoài ra còn nhiều “tăng sĩ” nữa như : Thích Minh Tuấn: Hiệu trưởng trường Trung học Bồ Đề, Đà Nẵng, Phó Đại diện Tỉnh hội Đà Nẵng. Ngày 30/4/1975, Thích Minh Tuấn đã cùng một số sư sãi Phật giáo Ấn Quang đã đưa từng đoàn xe ra tận núi rừng để rước bộ đội Bắc Việt vào thành phố Đà Nẵng như tôi đã từng viết và sẽ tiếp tục viết thêm vì chưa đầy đủ.

ht7

Đại đức Thích Minh Tuấn

Nói đến cuộc thảm sát tại Huế, tôi biết có nhiều vị nào còn lưu giữ được những tài liệu về Huế. Riêng tôi, hiện vẫn có trong tay những tài liệu và hình ảnh chính xác về những tên đồ tể trong cuộc thảm sát này. Đứng đầu là một « cao tăng » của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất:Hòa thượng Thích Đôn Hậu, người nắm giữ nhiều chức tước trong hàng giáo phẩm của Ấn Quang và là người nắm tất cả quyền sinh sát trong trận chiến Mậu Thân tại Huế; đồng thời HT Thích Đôn Hậu còn có một số đông đồ đệ nỗi tiếng có máu lạnh, giết người không biết gớm tay; những kẻ đó gần hết là dân Quảng Trị-Huế, sống tại Huế, hoặc gốc Quảng Trị-Huế nhưng đã được Thích Đôn Hậu đưa vào Thành phố Đà Nẵng để hoạt động cộng sản và xây dựng cơ sở, đa số hiện vẫn còn đương sống ở trong và ngoài nước.

Trước đây, tôi đã có viết qua về Thích Đôn Hậu; song đây là một bài viết để tưởng niệm bốn mươi năm cuộc thảm sát Mậu Thân, 1968-2008. Vì vậy, một lần nữa, tôi tự thấy cần phải nêu lên tất cả những chứng tích và cũng là những tội ác của Thích Đôn Hậu như sau đây:

· Hòa thượng Thích Đôn Hậu, tên thật là Diệp Trương Thuần, sinh năm Ất Tỵ ( 16/2/1905) tại làng Xuân An, xã Thiện Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

· Năm 1945: Chủ tịch Hội Phật giáo cứu quốc Trung Bộ, kiêm Chủ tịch Hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên, trụ trì chùa Thiên Mụ (Huế).

· Năm 1947: Cố vấn Đạo hạnh Hội Phật giáo Trung phần.

· Năm 1949: Chánh Hội trưởng Tổng trị sự Hội Phật giáo Trung Việt.

· Năm 1952: Tại Đại hội giáo hội Tăng già toàn quốc được « suy cử » làm Giám luật Giáo hội Tăng già toàn quốc.

· Năm 1963: « Cố vấn Phong trào đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm ».

· Năm 1968 ( Tết Mậu Thân ): Với những chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam – Ủy viên Hội đồng cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam- Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Miền Vạn Hạnh ( tức miền Trung) Thích Đôn Hậu đã ra lệnh cho những đồ đệ như: Lê Văn Hảo, hiện có mặt tại Paris ( Pháp quốc), Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Phan Xuân Huy … và cả lũ cộng sản nằm vùng tại Huế đã mở « Tòa án nhân dân » ở trong « chùa » Tường Vân và « chùa » Quang Tự, để lần lượt bắt hàng trăm người ra « xử tội »bằng cách chém, giết vô cùng dã man và tàn ác, rồi chôn xác của đồng bào ngay tại sân chùa. Sau đó, đã tiếp tục mở thêm những phiên tòa khác để chỉ tuyên án tử hình hàng ngàn đồng bào vô tội ở nhiều nơi khác, trong đó có bốn vị giáo sư ngoại quốc, Linh Mục Bửu Đồng cùng đông đảo giáo dân; nhưng tuyệt đối không hề có một sư sãi nào của Phật giáo Ấn Quang bị trầy sướt một tí gì cả. Khi Quân đội VNCH tái chiếm thành phố Huế, Thích Đôn Hậu đã cùng Việt công chạy ra chiến khu. Sau đó, Thích Đôn Hậu ra Bắc và đã được và « lấy làm vinh dự vì đã được gặp, được ngồi ăn chung và chụp hình chung với Chủ tịch Hồ Chí Minh » (chúng tôi đang có trong tay những tấm hình đó, chúng tôi sẽ lần lượt đưa những tấm hình của những tên thầy chùa đầu trọc, mặc áo cà sa, nhưng trên ngực lại đeo lủng lẳng những tấm Huân chương, Huy chuong do cộng sản Hà Nội trao gắn). Trở lại với Thích Đôn Hậu, mặc dù ra chiến khu; nhưng Thích đôn Hậu đã để lại hai « nhà sư » thân cận vì nghĩ rẵng chính phủ không biết, hoặc không thể nghi ngờ gì về họ; bởi đã nhiều năm hai « nhà sư » này là người được Đức Từ Cung vì không biết họ là cộng sản, nên đã giao cho công việc hàng ngày lo chăm sóc các lăng mộ của Hoàng tộc, đó là Hòa thượng Thích Như Ý, tọa chủ chùa Trà Am và là Phụ tá Pháp sự Chánh Đại diện miền Vạn Hạnh; và Thượng tọa Thích Quảng Lợi là Tùy viên của Chánh Đại diện miền Vạn Hạnh ( Thích Đôn Hậu) cùng hơn hai trăm cơ sở nằm vùng; mục đích để hoạt động cộng sản hợp pháp. Nhưng, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã bắt được quả tang và tịch thu rất nhiều tài liệu quan trọng. Vì vậy, cả hai người này đã bị bắt giam. Sau đó, được Đức Từ Cung vì nghĩ đến công lao của hai « vị sư » đã nhiều năm chăm sóc các lăng mộ của Hoàng tộc, nên đã nhờ đến một người lãnh đạo chính trị tại miền Trung can thiệp với Đại tá Lê Văn Thân tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên, kiêm thị trưởng Huế. Vì vậy, hai « vị sư » này không bị đưa ra Tòa án Quân sự Mặt trận mà chỉ bị xử phạt hành chánh.

HTNhuY

Hòa Thượng Thích Như Ý
(Khai Sơn Tổ Đình Linh Sơn Pháp Bảo, TP Nha Trang)

htp2

Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Lợi, Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bích.

thichducnhuan

HT. THÍCH ĐỨC NHUẬN

HTThichTriThu

Đại Lão Hòa Thượng THÍCH TRÍ THỦ

· Tuy nhiên, vì những bằng chứng làm cộng sản quá lớn nên chính quyền không thể tha bỗng được; vì thế, sau những lần truy xét, Ủy ban An ninh tỉnh Thừa Thiên-Huế đã kết án « Thượng tọa » Thích Quảng Lợi: « An trí và lưu đày Côn Đảo »; khi ra Côn Đảo Thích Quảng Lợi đã ở chung với « Hòa thượng » Thích Minh Nguyệt tại chùa Sơn Hòa Tự. Thích Minh Nguyệt sau năm 1975, trở về Sài Gòn là một nhân vật sát cánh, kề vai với Hòa thượng Thích Đức Nhuận trong « Giáo hội Phật giáo Việt Nam », nhìn vào tấm hình của « Hòa thượng » Thích Minh Nguyệt mặc áo cà sa, đầu trọc lóc, với những tấm Huân chương-Huy chương đỏ chói đã được Hà Nội trao gắn trên ngực, ai mà không khiếp đảm trước những « vị cao tăng » ngày nay!!!

· Năm 1973, Thích Quảng Lợi được trao trả nhân viên dân sự tại Lộc Ninh; song Thích Quảng Lợi đã xin ở lại trên lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa theo thủ tục Chiêu Hồi.

· Riêng « Hòa thượng » Thích Như Ý, chỉ bị xử phạt 10 năm đồ lưu; không bị ngồi tù nhưng phải ra khỏi Thừa Thiên-Huế và ngược lại không được trở lại Thừa Thiên-Huế. Trong thời gian chịu án đồ lưu Thích Như Ý khi thì vào Sài Gòn ở chùa Già Lam cùng Hòa thượng Thích Trí Thủ, lúc ra Đà Nẵng thì ở trong chùa Pháp Lâm với Hòa thượng Thích Quang Thể. Cho đến năm 1974, cả hai « vị sư » Thích Như Ý và Thích Quảng Lợi đã được sự vận động của vị ân nhân đã nói ở trên để cả hai được về chùa Khuôn hội Phật giáo Sơn Trà, phường Thọ Quang, quận 3, Đà Nẵng. Tại đây, Thích Quảng Lợi là Trụ trì, Thích Như Ý là cố vấn pháp sự.

· Trở lại với những « công lao » của Thích Đôn Hậu cả đạo lẫn đời như đã kể, Thích Đôn Hậu đã từng nắm giữ những chức vụ quan trọng như nhiều người đã biết, nên ngày 28/2/1969: Thích Đôn Hậu đã nhân danh « Đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam » ra Bắc gặp Hồ Chí Minh và Tôn Đức Thắng, nhìn vào những tấm hình chụp trong buổi « tiếp kiến » này cho thấy Thích Đôn Hậu ngồi đối diện Hồ Chí Minh, bên cạnh là Tôn Đức Thắng, tất cả có mặt 12 người, trong đó có Phùng Văn Cung.

· Do những « công lao » to lớn đối với « cách mạng » Thích Đôn Hậu đã được Hà Nội đưa đi thăm nhiều nước như: Nga, Tiệp Khắc, Mông Cổ …và đi dự nhiều hội nghị quốc tế cộng sản.

· Năm 1975: Như một hung thần, Thích Đôn Hậu đã ra lệnh cho đồ đệ khắp nơi đưa xe ra tận núi rừng để rước bộ đội miền Bắc vào miền Nam. Tại Đà Nẵng ngày 18/5/1975, Thích Đôn Hậu đã ra lệnh cho Phật tử và đồng bào: « Mỗi gia đình phải có ít nhất một người đi diễn hành, khi đi mọi người phải cầm đèn gió trên tay để đốt sáng trong đêm cho thêm hồ hởi, phấn khởi và vừa đi vừa hô khẩu hiệu,đến sáng ngày 19/5/1975, tất cả phải tập trung về chùa Pháp Lâm tức chùa Tỉnh Giáo hội Phật giáo Quảng Nam-Đà Nẵng để mừng lễ sinh nhật của Hồ chủ tịch vĩ đại ». Tôi sẽ viết về cuộc diễn hành tại Đà Nẵng trong một bài khác; và Thích Đôn Hậu đã chủ trì lễ sinh nhật của Hồ Chí Minh tại « chùa » Pháp Lâm ở số 500, đường Ông Ích Khiêm, Đà Nẵng.

· Năm 1976: Đắc cử đại biểu Quốc hội cộng sản khóa VI đơn vị Bình-Trị-Thiên, và là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

ht08

Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh và Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ

ht02

Đại lão Hòa thượng Thích Trí Tịnh và Hòa thượng Thích Thanh Tứ tại phiên họp của Hai Hội đồng trước Đại hội

HTThichThienSieu

htts

htthanhtu0254

HT.Thích Thanh Từ

cxl0833

Chân dung cố HT.Thích Thiện Hào

· Năm 1981: Tại Đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam, dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Trí Thủ, Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Hòa thượng Thích Thiện Siêu, Hòa thượng Thích Thanh Từ, Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, Hòa thượng Thích Thiện Hào … Thích Đôn Hậu đã được « suy cử » vào Hội đồng chứng minh và giữ chức Phó pháp chủ kiêm giám luật. Đã được Hà Nội trao tặng những phần thưởng như sau:

· Huân chương Hồ Chí Minh- Huân chương Độc lập- Huy chương vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân …

· Ngày 23/4/1992, lúc 19 giờ 55 phút ( nhằm ngày 21-3 âm lịch ) Thích Đôn Hậu đã chết tại chùa Thiên Mụ, Huế. Chấm dứt một kiếp người chỉ biết gieo tai họa, đau thương, tang tóc cho đồng bào vô tội.

Tại Đà Nẵng:

Theo như các bài viết trên các trang báo ở trong nước như tờ An ninh Thế giới thì «… Cuộc tổng công kích tết Mậu Thân 1968 là phải đánh chiếm các thành phố Sài Gòn-Đà Nẵng-Huế … »; nhưng lại không cho biết tại sao khi đánh vào Đà Nẵng thì quân Bắc Việt đã phải thất bại ngay từ đầu, không chiếm nỗi thành phố Đà Nẵng, dù chỉ một giờ. Mặc dù, Thích Minh Chiếu đã trang bị vũ khí cho « Phật tử » sẵn sàng tiếp ứng tại « chùa » Phổ Đà ở số 340 đường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng. Nhưng rồi cả thầy trò Thích Minh Chiếu không thể hành động được vì Quân Đội đã bám sát chùa Phổ Đà cũng như các chùa khác. Vì thế, sau một trận giao tranh thì một số tàn quân đã phải bỏ chạy, một số đông cán binh Bắc Việt đã chết nằm dọc theo cầu Trình Minh Thế và phía Đồ Xu; hai cánh quân này đã tấn công vào Trại Nguyễn Tri Phương: Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1, Quân Khu 1.

small_1196441073_nv

Chùa Phổ Đà

Tuy nhiên, dù cộng quân đã thất bại, nhưng cũng gây thương vong cho một số đồng bào vô tội, như tôi đã nói là trên đường chạy loạn, bà chị dâu tôi đã bảo tôi « phải chạy vào chùa Phổ Đà vì gần và an toàn nhất ».Nhưng khi vào đến sân chùa Phổ Đà chị em tôi đã thấy Thích Minh Chiếu mang súng, nên quá hoảng sợ phải quay trở về nhà. Trên đường về tôi đã nhìn thấy những xác bé thơ nằm rãi rác bên cầu Trình Minh Thế, dù đã chết, nhưng trên tay vẫn còn đôi viên pháo chưa kịp đốt!!!

Trở lại với các bài báo trong nước, theo tôi, không phải khi người ta không nói có nghĩa là không biết, mà vì không muốn nói hay không được nói. Chính vì vậy, nên nhân đây tôi xin nói giúp về những nguyên nhân đã khiến cho cuộc tấn công của cộng quân vào thành phố Đà Nẵng đã phải thất bại một cách thê thảm:

Tại sao Cộng Sản không chiếm nỗi thành phố Đà Nẵng dù chỉ một giờ?.

Sau khi Nền Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ, ấp chiến lược bị phá bỏ. Vì thế, cộng quân dễ dàng đánh chiếm những quận miền núi, cũng như dễ dàng xâm nhập vào những thôn làng đã có sẵn những cán bộ cộng sản nằm vùng hoạt động hợp pháp. Tại Quảng Nam- Đà Nẵng trên tuyến đường Tam Kỳ-Đã Nẵng hàng ngày các loại xe chở khách chạy ngang qua Duy Xuyên và Điện Bàn là hai quận bị mất an ninh, và cũng là hang ổ của Việt cộng nằm vùng. Đặc công cộng sản thường xuyên đặt mìn, làm nỗ tung các loại xe chở khách, hoặc núp ở hai bên đường để nhắm bắn vào những chiếc xe chạy trên đường, gây thương vong cho rất nhiều hành khách. Vì vậy, chính quyền đã có lệnh các loại xe chỉ được chạy từ 9 giờ sáng sau khi quân đội đồng minh đã rà mìn và có cảnh sát kiểm soát; và đến 4 giờ chiều các loại xe phải ngưng không được chạy nữa để bảo toàn sinh mạng cho đồng bào. Nhưng, những biện pháp ấy vẫn không có hiệu quả; bởi cảnh sát không bao giờ dám kiểm soát những chiếc xe của các ông « nghị viên » và « tăng sĩ ». Đặc biệt tại thôn Thanh Quýt, quận Điện Bàn ( quê hương của Nguyễn Văn Trỗi), tại đấy có một vùng đất rộng lớn là nghĩa địa của chùa Khuôn hội Phật giáo Thanh Quýt, thường được gọi là « Gò Phật », nằm sát phía trái Quốc lộ 1. Nhưng vô cùng ác hại là cái nghĩa địa này không phải chỉ chôn những người chết mà lại còn được « chôn » những « người sống ». Nhưng những người sống này « bị chôn » mà không chết. Vì họ không phải là dân thường mà là những đặc công- du kích Việt Cộng đã tự đào những hầm, hố, rồi tự « chôn » mình để ôm mìn, chất nỗ TNT nằm chờ cơ hội thuận tiện là đem đặt xuống mặt đường để làm nỗ tung tan xác cả xe lẫn người.

Tôi xin nhắc lại để các vị mà ngày xưa từng biết đến một vụ ám sát tại Gò Phật hồi tưởng về một cái chết vô cùng thương tâm. Tôi không nhớ được ngày tháng; nhưng tôi nhớ vào cuối năm 1967, và biết nạn nhân đó là Trung tá Lê Bá Trừng, Trưởng ty An ninh Quân đội Đà Nẵng. Trong lúc về thăm quê tại làng Bảo An, Điện Bàn, Quảng Nam. Trên đường trở về Đà Nẵng trước 4 giờ chiều nhưng ông đã bị VC bắn bể bánh xe rồi dùng dao găm đâm nát bấy cả thân thể, Trung tá Lê Bá Trừng đã chết ngay giữa Gò Phật. Sau đó, chính cuộc hành quân để lấy xác của Trung tá Lê Bá Trừng mà quân đội VNCH đã khám phá ra Gò Phật là sào huyệt của đăc công-du kích Việt cộng và đã bắt sống nhiều « Phật tử » đang nằm dưới những hầm, hố để chờ cơ hội giết người.

Ấy thế mà có một «ông Nghị viên » tại Đà Nẵng, hàng ngày cứ ra vào Gò Phật rồi về Đà Nẵng có nhiều đêm ngủ luôn tại Thanh Quýt mà vẫn bình an vô sự. Đó là « Nghị viên » Nguyễn Hiếu « ông » này có lai lịch và những thành tích như sau:

Nguyễn Hiếu có một người em ruột tên Nguyễn Để, người Huế, đệ tử của Thích Đôn Hậu, mồ côi cha từ nhỏ, mẹ tái giá, vào Đà Nẵng lúc còn thiếu niên học nghề may. Sau đó lập gia đình, rồi chẳng biết làm sao cả hai anh em trở nên giàu to, cả hai mỗi người làm chủ một nhà may lớn nỗi tiếng tại Đà Nẵng. Nguyễn Hiếu làm chủ nhà may Đồng Tân, đường Độc Lập, đối diện chùa Long Thơ, sinh hoạt tại chùa, rồi làm Ủy viên trong Ban đại điện Tỉnh hội Đà Nẵng, được Phật giáo đưa ra tranh cử Nghị viên và đắc cử, còn Nguyễn Để làm chủ nhà may Bảo Toàn tại đường Đồng Khánh, cả hai đều là Phật tử đều làm công việc « Phật sự » rất đắc lực tại « chùa » Pháp Lâm ở số 500 đường Ông Ích Khiêm, tức chùa Tỉnh Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Quảng Nam-Đà Nẵng.

Được sự sắp xếp của đồng hương là Thượng tọa Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo Vùng 1- Quân khu 1. Kiêm Chánh Đại điện tỉnh Giáo hội Phật giáo Đà Nẵng. Nghị viên Nguyễn Hiếu trở thành người tình của Nguyễn Thị Thùy Trang là chủ nhà may Thùy Trang, chuyên may áo dài nỗi tiếng tại đường Khải Định. Thùy Trang quê quán ở Thanh Quýt là chị họ của Nguyễn Văn Trỗi, sinh hoạt tại chùa Pháp Lâm. Có điều lạ là ai cũng biết Thùy Trang là nhân tình của Thích Minh Chiếu lại bỗng nhiên trở thành tình nhân của Nguyễn Hiếu. Điều này dân Đà Nẵng thường suy luận như sau:

« Cái con Thùy Trang là bồ của Thích Minh Chiếu, nó chỉ đóng vai bồ thằng Hiếu theo sự chỉ đạo của Minh Chiếu, chứ thằng Hiếu không dám đụng cái lông chân của con Thùy Trang đâu ».

Nhưng có người lại nói: « Cho dù có đóng vai bồ của thằng Hiếu đi nữa, thì bắt buộc con Thùy Trang cũng phải cho thằng Hiếu « tí xíu » chứ, thì thằng Hiếu nó mới chịu tự tay lái xe chở súng đạn cho con Thùy Trang một thời gian dài, rồi những đêm chúng nó chở nhau về ngủ lại ở gia đình con Thùy Trang ở Gò Phật, chẳng lẽ thằng Hiếu nó chịu « ngủ chay » hay sao? Có thằng nào ngu mà chịu vậy ».

Song ai cũng biết về vụ án nỗi tiếng này. Sau khi Hiếu được trả tự do, và cho đến năm 1975, Thùy Trang đã ở tù được 8 nãm mới được ra tù, trở về Đà Nẵng làm « Chủ tịch Ủy ban Chấp hành Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng », lúc này Thích Minh Chiếu thì đã sang Hoa Kỳ, mà Thùy Trang vẫn không « nối lại tình xưa » với Hiếu. Chuyện Hiếu- Thùy Trang có « tí xíu » hay không, có lẽ Thích Minh Chiếu cũng không biết được, chỉ có hai người là Thùy Trang tại Đà Nẵng, và Nguyễn Hiếu đương có mặt tại Hoa Kỳ mới biết được mà thôi.

Trở lại với vụ án trên, tôi xin thuật lại vụ án Nguyễn Hiếu-Thùy Trang, để quý độc giả cùng suy gẫm. Tôi không nhớ chính xác ngày giờ; song nhớ thời gian này là vào cuối năm 1967, cận Tết Mậu Thân 1968, bởi thời gian này tình hình an ninh trên tuyến đường Đà Nẵng-Tam Kỳ mỗi ngày càng bất an. Vì thế, nên nút chặn tại ngã ba Huế, ở đấy giữa tuyến đường Tam Kỳ-Đà nẵng lại giáp với tuyến đường chạy ra đèo Hải Vân để đi Huế; nút chặn sinh tử này đã được giao cho Liên Đoàn Biệt Động Quân, Bộ chỉ huy đặt tại Phú Lộc, Đà Nẵng kiểm soát thay cho cảnh sát, nhưng Nguyễn Hiếu không hề hay biết nên vẫn an nhiên như thường lệ, cứ hàng ngày Hiếu chở Thùy Trang trên xe của Hiếu về quê Thùy Trang ở Gò Phật, Thanh Quýt có khi ngủ lại hôm sau mới về Đà Nẵng để chở thuốc lá cho Thùy Trang. Một điều ít có là chủ một nhà may áo dài lớn nỗi tiếng lại có nhan sắc, giàu có mà đi buôn thuốc lá, ( loại thuốc lá chỉ mới vừa thu hoạch, bó lại từng bó, còn nguyên cả cuống và lá, có mùi hôi nồng nặc) chẳng biết Hiếu có hiểu được chuyện ngược đời này đã khiến cả hai sa vào lưới hay không?

Thực ra, Nguyễn Hiếu và Thùy Trang đã ỷ vào ba lá bùa hộ mệnh đã có trong tay đó là: Sự vụ lệnh của Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo Vùng 1- Quân khu 1- Kiêm Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tại Đà Nẵng; Sự vụ lệnh thứ hai là của ông Ngô Đức Đường, Chủ tịch Hội đồng Thành phố Đà Nẵng cấp cho Nghị viên Nguyễn Hiếu để đi lại và sự vụ lệnh thứ ba là của Đại tá Lê Chí Cường, Thị trưởng Đà Nẵng. Bởi vậy, nên mỗi lần có cảnh sát chặn xe thì Hiếu cứ đưa ba cái Sự vụ lệnh đó ra, thì chẳng có cảnh sát nào dám kiểm soát xe của Hiếu cả. Nhưng « đi đêm có ngày gặp ma ». Hiếu đã không dè cái nút chặn ngã ba Huế đã thuộc quyền kiểm soát của Biệt Động Quân, để rồi một chiều cuối năm 1967, khi ông nghị viên Nguyễn Hiếu đang cùng Thùy Trang trên một chiếc xe tải chạy về Đà Nẵng, lúc xe vừa trờ đến ngã ba Huế thì bất ngờ có một Trung đội Biệt Động Quân, trong Quân phục chỉnh tề, súng gươm lấp lánh với tiếng hô: « Dừng xe lại ». Không còn cách nào khác hơn là theo lệnh của Quân đội;song Hiếu vẫn xuất trình ba cái sự vụ lệnh đã nói ở trên. Nhưng,« Biệt Động Quân- Sát » mà. Vì vậy, Hiếu và Thùy Trang đã hồn vía lên mây khi nghe các chiến sĩ Biệt Động Quân hét:

« Chúng tôi không cần xem giấy tờ gì cả, chỉ cần lục xét tất cả những gì đang có trên chiếc xe này mà thôi ».

Có lẽ đây là lần đầu tiên Hiếu và Thùy Trang biết thế nào là Quân lệnh; nên cả hai chỉ biết bước xuống xe để cho các chiến sĩ thi hành nhiệm vụ, và các chiến sĩ đã mở xét từng bao thuốc lá được bỏ trong những chiếc bao gạo loại sọc xanh 100 ký. Sau khi dỡ những bao thuốc lá xuổng khỏi xe, thì trước mắt các chiến sĩ Biệt Động Quân là cả trăm cây súng đủ loại đang nằm phía dưới. Bị bắt quả tang chở súng cho Việt cộng, cả hai không còn chạy chối vào đâu được nữa.

Sau khi thẩm cung, cả hai bị giam tại nhà giam Kho Đạn, chợ Cồn, Đà Nẵng. Nguyễn Thị Thùy Trang bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận, và đã bị kết án 10 năm tù ở, thụ án tại nhà giam Thủ Đức, cho đến 30/4/1975, Thùy Trang mới được trở về làm « Chủ tịch Ủy ban Chấp hành Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng ».

Riêng « nghị viên » Nguyễn Hiếu chỉ ở nhà giam Kho đạn, Đà Nẵng, chưa đầy 6 tháng thì được trả tự do, không bị đưa ra tòa, không bị kết tội chánh hay tòng phạm, không hiểu vì lý do gì? Nhưng người dân Đà Nẵng thì thường nói với nhau rằng:

« Vì thằng cha Hiếu nó giàu, có nhiều tiền nó chạy cho những ông- bà lớn mới khỏi ra tòa, nên không bị ở tù ».

Bởi tại Đà Nẵng khi nghe đến Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Vùng 1, thì ai cũng biết hai vị nỗi tiếng Thanh – Liêm, khiến cho người dân Đà Nẵng rất quý trọng. Hai vị không bao giờ nhận tiền hối lộ, tôi nhớ đó là Luật sư Võ Nhất Minh. Chánh án Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I; và Thiếu tá Hồ Minh, Ủy viên Chính Phủ ( Công tố ủy viên Tòa Quân Sự Mặt Trận) Hai vị này chẳng những không bao giờ nhận tiền mà còn không bao giờ tha thứ cho bất cứ ai làm cộng sản, hễ đưa ra tòa thì chắc chắn bản án không bao giờ dưới mười năm tù ở. Vì thế, nhiều người nghĩ là phải có việc chạy tiền, bởi ai cũng biết Biệt Động Quân đã bắt quả tang Nguyễn Hiếu lái xe chở Thùy Trang trên xe chứa đầy cả trăm súng đạn của Việt cộng vào Đà Nẵng, mà tại sao Nguyễn Hiếu không bị đưa ra tòa, bởi dù không phải chánh phạm thì cũng là tòng phạm?

Ngoài ra, cũng có nhiều người cho rằng chính quyền sợ Thích Đôn Hậu nên không đưa Hiếu ra tòa, mà cũng chẳng dám đụng đến chính kẻ dẫn lối đưa đường mà ai cũng biết là Thích Minh Chiếu. Điều đáng nói là bởi chính phủ đã ban cho Thích Minh Chiếu cái chức Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo Vùng 1, Quân khu 1; là tạo cơ hội cho Thích Minh Chiếu ra tay thảm sát đồng bào Thanh Bồ-Đức Lợi vào ngày 24/08/1964, rồi đến cuộc bạo loạn bàn Phật xuống đường, mùa hè 1966, tại Đà Nẵng và làm giặc trong Tết Mậu Thân, 1968. Nhưng chính phủ càng khiếp nhược hơn nữa là sau khi biết rõ những hành vi của Thích Minh Chiếu rồi, trong khi Thích Minh Chiếu đang mang lon Thiếu tá, mà chỉ cách chức chứ không dám đưa Y ra Tòa án Quân sự Mặt trận, để Thích Minh Chiếu được sống nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Sau 1975, Thích Minh Chiếu lại sang Hoa Kỳ để làm chủ « Chùa Việt Nam ». Riêng Nguyễn Văn Để em ruột Nguyễn Văn Hiếu chủ nhà may Bảo Toàn, sau 1975, Để có bị giam tại Hội An, Quảng Nam, vì tội vượt biển cũng chưa đầy 6 tháng thì được trả tự do. Hiện cả Hiếu và Để đều đương định cư tại Hoa Kỳ để cùng Thích Minh Chiếu làm công việc « Phật sự ».

Nhà Chùa chứa súng đạn dưới hầm ngay dưới Chánh điện, tượng Phật tổ ngụy trang nắp hầm bí mật:

Và cũng qua điều tra bởi vụ án này mà chính quyền đã huy động một lực lượng gồm An Ninh Quân Đội-Ban II Đặc Khu Quân Trấn- Biệt Động Quân, đột nhập vào ngôi chùa của Khuôn hội Nại Hiên Tây, ( vì cảnh sát không bao giờ dám khám xét chùa) sau lưng Cổ Viện Chàm, trước trường Trung học Sao Mai, phía trái có nhiều kho chứa xăng, bên cạnh có cầu tàu thuộc Quân Cảng dùng để tiếp nhận chiến cụ, thường được gọi là Cầu Đạn, phía trên là cầu Trình Minh Thế, nối liền một quãng đường ngắn khoảng hơn 100 mét là Trại Nguyễn Tri Phương, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1, Quân Khu 1. Và đã khám phá ra được một căn hầm bí mật ngay dưới Chánh điện thờ Phật, phía trên được ngụy trang bằng một pho tượng Phật to lớn là nắp hầm để che giấu hơn hai trăm khẩu súng đạn đủ loại và chất nỗ TNT. Người quản nhiệm ngôi chùa này là một Khuôn hội trưởng- Giáo sư Nguyễn Đình Liệu dạy tại trường Trung học Bồ Đề do « Thượng tọa » Thích Minh Tuấn làm Hiệu trưởng;( ngày 29/3/1975, Thích Minh Tuấn đã công khai đưa cả đoàn xe ra tận núi rừng để rước bộ đội Bắc Việt vào thành phố Đà nẵng). Sau đó ông Nguyễn Đình Liệu bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận và bị kết án 10 năm tù ở, thụ án tại Chí Hòa. Năm 1973, ông Liệu được trao trả nhân viên dân sự tại Lộc Ninh.

Cũng theo đấu vết của hai vụ án trên, các chiến sĩ cũng đã tiếp tục khám xét ngôi chùa của Khuôn hội Tân Ninh nằm gần Đặc Khu Quân Trấn, Đà Nẵng; tại ngôi « chùa » này cũng giống như « chùa » Nại Hiên Tây, cũng hơn hai trăm khẩu súng đạn đủ loại và chất nỗ TNT, nằm dưới hầm bí mật ngay dưới chánh điện; phía trên cũng ngụy trang bằng một pho tượng Phật to lớn. Nhưng may mắn hơn là bắt được hai tên đặc công Việt cộng người Quảng Trị đang ở trong chùa này. Khi thẩm cung hai tên này đã khai là đệ tử của Thích Đôn Hậu từ Quảng Trị vào Đà Nẵng bởi được Lê Thanh Bình là chủ của một chiếc xe vận tải, vợ chết, ngoại hình không được dễ coi, tuổi đời đã già ( nhưng cái đầu không già) có ba người con đã lớn, giàu có, nhà ở tại ngã tư đường Thống Nhất-Khải Định, Đà Nẵng. Lê Thanh Bình lại cũng có trong tay hai lá bùa hộ mệnh, đó là: Sự vụ lệnh của Thích Minh Chiếu, Thiếu tá Trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo Vùng I, Quân Khu I; và một «Lộ Trình Thư » của Thích Đôn Hậu, Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo miền Vạn Hạnh cấp, để trên danh nghĩa là chuyên chở thực phẩm cho Ban Đại diện Phật giáo miền Vạn Hạnh; nhưng thực ra là chuyên chở súng đạn cho Việt cộng, mà đã nhiều năm tháng do Lê Thanh Bình và Lê Thị Dưa, một cô gái trẻ, nhan sắc mặn mà, cả hai đều là người Triệu Phong, Quảng Trị, đệ tử của Thích Đôn Hậu và cũng trên danh nghĩa là tình nhân, nên thường xuyên đi với nhau cùng xe, giống như cặp Hiếu-Thùy Trang và đều là Phật tử sinh hoạt tại chùa Pháp Lâm với Hiếu-Thùy Trang; song khác hơn là Lê Thị Dưa sống chung nhà với Lê Thanh Bình. Và cũng bởi chính lời khai của hai đặc công mà An Ninh Quân Đội- Ban II Đặc Khu Quân Trấn và các chiến sĩ Biệt Động Quân đã vào tận nhà của Lê Thanh bình để lục soát; sau một hồi soát xét, các chiến sĩ đã khám phá ra một căn hầm cũng chứa đầy những súng đạn, nằm ngay dưới giường ngủ của Lê Thanh Bình và Lê Thị Dưa; và đến khi mở tủ áo dài của Lê Thị Dưa thì các chiến sĩ đã phát giác thêm phía sau một lớp áo dài chật ních là những khẩu B.40 được dựng khít dựa vào thành tủ đứng. Trong khi các chiến sĩ lôi những khẩu súng ra thì Lê Thanh Bình bỏ chạy, nhưng không thoát nỗi vòng vây của các chiến sĩ. Cuối cùng, Lê Thanh Bình phải chịu đầu hàng, bị bắt, bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận và đã bị kết án chung thân. Nhưng chẳng hiểu tại sao Lê Thanh Bình không bị đưa đi Chí Hòa hoặc Côn Đảo, như những trường hợp khác bị kết án nhiều năm? Khi thẩm cung cũng như lúc ra tòa nhờ có ông quân tử Tàu Lê Thanh Bình khai nhận hết tội: « Mọi việc làm này do một mình tôi làm, một mình tôi chịu, cô Lê thị Dưa không hề dính dáng, không hề hay biết ». Bởi thế, nên Dưa đã được tha bỗng. Có điều tội nghiệp cho Lê Thanh Bình là khi bị tuyên án chung thân phải ở tù tại nhà giam Kho Đạn, Đà Nẵng; mặc dù từng chung sống với nhau, cùng chở súng cho Việt cộng, nhưng suốt thời gian Lê Thanh Bình ở tù, chỉ có các con của Bình đi thăm cha, còn Dưa không một lần vào nhà giam thăm viếng. Cho đến năm 1975, Lê Thanh Bình được trả tự do, còn Lê Thị Dưa được làm Phó Chủ tịch Ủy ban Chấp hành Phụ nữ Thành phố Đà Nẵng bên cạnh Chủ tịch Nguyễn Thị Thùy Trang; lúc này ông quân tử Tàu Lê Thanh Bình vẫn nhớ đến « tiền cũ vàng xưa » nên có tìm đến với Lê Thị Dưa, song « bà » phó chủ tịch đã ca bài « Tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi ». Và Lê Thanh Bình đã âm thầm, xót xa trở về cùng với các con; bởi « Thấp cơ (nên) thua trí đàn bà ».

Qua những vụ án đã kể ở trên. Theo tôi, không phải chỉ có ở chuyện ngày xưa, mà hiện nay và cả sau này nữa; các « thầy » luôn luôn có rất nhiều những chiếc bẫy Nguyễn Thị Thùy Trang- Lê Thị Dưa; và chắc chắn cũng có vô số những con nai « già » Nguyễn Hiếu –Lê Thanh Bình, hầu để thực hiện cho bằng được cái cuồng vọng tái lập Lý triều. Song tôi nghĩ có rất nhiều người đã hiểu, đã biết cái cuồng vọng này của Phật Giáo Ấn Quang mà tại sao tất cả đều im lặng?; nên tôi, bởi không muốn đất nước phải hứng chịu thêm những cảnh đau thương, tang tóc nào nữa. Vì thế, mười mấy năm về trước, dù chỉ là một phụ nữ bất tài,; nhưng được sự khuyến khích của ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng, Chủ nhiệm Bán Nguyệt San Văn Nghệ Tiền Phong, tôi đã nhiều lần lên tiếng và tôi sẽ còn tiếp tục viết lại tất cả những gì tôi đã biết với những tài liệu vô cùng chính xác, để mong được góp một phần nhỏ bé vào trong công cuộc ngăn chặn những thảm họa đừng xảy ra cho đồng bào yêu quý của tôi.

Đọc qua những vụ án tại Đà Nẵng vào những ngày cuối cùng của năm 1967, cận tết Mậu Thân 1968. Chắc quý vị đã hiểu: Bởi vì mấy ngày cận Tết Mậu Thân các Lực lượng an ninh và quân đội đã tịch thu hàng ngàn khẩu súng và bắt giam hơn một ngàn Đặc công, Biệt động thành và Quân báo của Việt Cộng, trong đó có Hà Kỳ Ngộ và Bác sĩ Lê Minh Triết ông này làm việc tại Bệnh Viện Giải Phẩu ở đường Nguyễn Hoàng Đà Nẵng. Sau khi bị bắt, trong thời gian thẩm cung BS lê Minh Triết đã khai nhận chính ông ta là « Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Đà Nẵng » của Việt Cộng; nếu cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, 1968, thành công thì ông ta sẽ công khai ra làm việc với chức vụ này. Ngoài ra, còn một số cán bộ trực thuộc, đám này hoạt động hợp pháp; tất cả những tên Việt cộng này đều trú ngụ ở trong các « chùa » của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ( Ấn Quang), đồng thời cũng đã khám phá và tịch thu nhiều súng đạn ở trong nhiều nhà của « Phật tử » là đồng hương với Thích Đôn Hậu tại Đà Nẵng; vì quá nhiều vụ án làm cộng sản, nên tôi sẽ viết về những tên thuộc hạ của Hà Kỳ Ngộ và những « Phật tử » này trong một bài khác. Vì giới hạn của một bài viết, nên tôi chỉ nói về Hà Kỳ Ngộ tức Lê Thanh, quê ở Điện Bàn, Quảng Nam là Bí thư Thành ủy Đảng cộng sản tại Đà Nẵng, là người trực tiếp chỉ huy cuộc tấn công thành phố Đà Nẵng,; và Bác Sĩ Lê Minh Triết người Duy Xuyên, Quảng Nam là « Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Đà Nẵng » Sau đó Hà Kỳ Ngộ và BS Lê Minh Triết đều bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận. Hà Kỳ Ngộ bị kết án chung thân. Bác sĩ Lê Minh Triết bị kết án 10 năm. Sau đó, Hà Kỳ Ngộ thọ hình tại Trại An Dưỡng, Côn Sơn, còn ông Ác sĩ Lê Minh Triết thì được làm việc tại Bệnh Viện tại Côn Sơn.

Với những chiến công to lớn của các Chiến Sĩ Biệt Động Quân đã bắt cả ngàn tên Đặc công, Biệt Động Thành và Quân báo của Việt Cộng; vì thế cộng quân mất liên lạc, nên vào đêm Giao Thừa Tết Mậu Thân, khi tấn công vào Đà Nẵng, ngay từ lúc đầu, Việt cộng đã lãnh nhận một thất bại quá nặng nề; và như đã nói là cộng quân không thể chiếm nỗi thành phố Đà Nẵng dù chỉ một giờ. Tôi thiễn nghĩ, tại Huế, vào trước Tết Mậu Thân, nếu cũng được sự kết hợp chặt chẻ của các lực lượng An Ninh và Quân Đội để theo dõi và kiểm soát mọi sự di chuyển của các loại xe, vì là thời chiến; và cũng đưa quân đội vào lục xét các chùa như ở Thành phố Đà Nẵng, thì biết đâu mọi sự có thể đã khác.

Tạm thay Lời Kết:

Viết đến đây, tôi bỗng hồi tưởng lại những cuộc thảm sát tại Việt Nam từ bao nhiêu năm qua: Cứ mỗi lần có một biến cố nào đó xãy ra bất cứ ở nơi đâu, là cũng đều có những bàn tay của sư sãi Ấn Quang nhúng vào. Một bằng chứng không thể chối cãi là trong cuộc tấn công của cộng quân vào Tết Mậu Thân, 1968. Tại Sài Gòn thì Thích Trí Dũng đã nuôi giấu « Lực lượng Biệt động thành Sài Gòn-Gia Định thuộc Lữ đoàn 316 của Việt cộng trong hai ngôi « chùa » Nam Thiên Nhất Trụ -Phổ Quang; và « chùa Phổ Quang đã là nơi khai hỏa để đánh sân bay Tân Sơn Nhất » như lời kể công khai của chính Thích Trí Dũng; rồi đến trước và sau ngày 30/4/1975, Phật Giáo Ấn Quang đã từng đưa xe ra tận núi rừng để rước bộ đội Bắc Việt vào các thành phố trên khắp lãnh thổ của miền Nam tự do. Rồi sau đó, Ấn Quang lại cũng lập « Tòa án nhân dân » ở các chùa tại Đà Nẵng cũng giống như những cái « Tòa án nhân dân » ở chùa Tường Vân và chùa Quang Tự tại Huế vào Tết Mậu Thân,1968, để chỉ xử tử tất cả những Dân-Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa. Nên biết, là trong đám bộ đội Bắc Việt, có tên miệng còn hôi sữa, khi vào các thành phố của miền Nam, nhìn thấy cảnh giàu sang, đẹp đẽ với những tiện nghi mà chúng chưa hề thấy bao giờ, chúng như từ trên cung trăng lạc xuống cõi trần, chúng không biết đường nào mà đi cả; nhưng chúng đã được chính các « thầy » đưa đường, dẫn lối và các « chùa » là những nơi trú đóng của cộng quân. Bởi thế, đám bộ đội Bắc Việt chúng không hề biết ai là Quân-Cán-Chính của Việt Nam Cộng Hòa. Chỉ có Thích Đôn Hậu và những tên đồ đệ đã tưởng rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ không bao giờ tái chiếm nỗi thành phố Huế; nên đã công khai làm cộng sản trước mặt đồng bào, trong đó có trẻ em đã nhìn thấy những hành vi cộng sản của Thích Đôn Hậu và những tên đệ tử. Cho đến lúc Việt cộng và Thích Đôn Hậu biết chắc sẽ thua trận, bắt buộc phải rút lui, nên trước khi cùng Việt cộng chạy ra chiến khu, Thích Đôn Hậu đã ra lệnh cho những tên đồ đệ phải ra tay chặt đầu, cắt cổ những chứng nhân này; nhằm để diệt khẩu, để trả thù và để lập công với đảng cộng sản.

Chính vì thế, cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, 1968, tại Huế, với gần 7000 người đã bị giết chết; với những cách hành quyết vô cùng dã man và tàn ác, cộng thêm với không biết bao nhiêu người đã bị chết oan uổng trong trận chiến này trên khắp mọi miền của đất nước. Vì vậy, đối với cuộc sát hại thảm khốc, kinh hoàng này, dù là bốn mươi năm, bốn trăm năm, hay bốn nghìn năm nữa và cho đến ngày tận thế; thì những tội ác ngập Trời này cũng phải được chia đều cho Phật Giáo Ấn Quang và Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

http://www.hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_TuongNiemBonMuoiNamCuocThamSatMauThan1968_2008.htm

Posted in Tưởng Niệm Bốn Mươi Năm Cuộc Thảm sát Mậu Thân: 1968-2008 | Tagged: , | Leave a Comment »