Tudodanchu's Weblog

Freedom, Democracy, Human Rights, No Communism For Vietnam

Posts Tagged ‘Truyện’

Chuyện Chưa Ai Nhắc Đến

Posted by tudodanchu trên Tháng Bảy 26, 2008

Chuyện Chưa Ai Nhắc Đến

Việt Thường

30-4-1975, cộng sản Hà-nội đã thôn tính trọn vẹn miền Nam Việt Nam. Đó không chỉ là sự bất ngờ của đại bộ phận nhân dân cả hai miền, mà nó cũng bất ngờ ngay đối với những người cầm quyền ở Hà-nội lúc ấy, thông qua lời tự thú của Văn Tiến Dũng trong cuốn “Đại thắng mùa xuân”. Cho nên cộng sản Hà-nội hoàn toàn không có kế hoạch tiếp quản miền Nam. Kẻ xâm lược và người bị xâm lược đều bị đảo lộn trong cái bất ngờ của 30-4-1975.

Người bệnh cạnh giường nhà thơ Tú Mỡ

Khu an dưỡng ở Quảng Bá (Hà-nội) chỉ giành cho cán bộ trung cao của cộng sản nằm dưỡng bệnh. Ngày 30-4-1975, nhà thơ trào phúng, trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn, Tú Mỡ đang nằm dưỡng bệnh. Vì tuổi già cũng có mà còn vì ông ân hận đã đi nhầm vào cửa Tố Hữu cung đình, được Trường Chinh thay mặt chính quyền cộng sản, trao tặng huân chương, và trong phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm, đã xuuất hiện một bài thơ làm cho ông đau lòng, nhớ lại những ngày hạnh phúc khi còn nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Bài thơ ấy như sau :

“Từ ngày ông Tú được mề-đay

Thơ, phú của ông đ… còn hay

Quản bút nay thành ống đu đủ

Đánh ác, trừ gian hết chua cay

Cung đình lưng uốn ngồi một xó

Cái xích văn nô đáng buồn thay

Này này nhắn nhủ cùng bà Tú

Mua giấy xi-măng đắp mặt dày !!!”

Ông đang kể lại cho mấy người nằm cạnh nghe về con đường đi vào dòng thơ trào phúng của ông là nhờ Nhất Linh và nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Bỗng cái loa truyền thanh vang lên, nhắc lại tin “chiến thắng 30-4″ và đọc danh sách những thành viên trong bộ máy quản lý miền Nam của cộng sản. Một ông già, nằm cạnh Tú Mỡ bỗng nhỏm dậy cười ha hả :”Bác sỹ Nguyễn Văn Thủ là tôi đây. Tôi… tôi được có tên trong danh sách uỷ ban tiếp quản miền Nam. Mà… mà… sao chẳng ai bàn gì với tôi cả nhỉ. Ai… ai… đưa tôi vào Sàigòn… à… à… thành phố Hồ Chí Minh bây giờ ?” Mọi người ồ lên, nhưng chẳng ai ngạc nhiên vì tất cả đã quá quen với lối sống được điều hành bởi Nam tào và Bắc đẩu. Chỉ có nhà thơ Tú Mỡ, cười ruồi :

– Bộ ông Sáu Thọ phải bàn xem anh có đồng ý không à ?

Chuyện về Tự Lực Văn Đoàn của Tú Mỡ tạm đóng màn. Ai về giường nấy, giăng mùng nằm cho ruồi khỏi quấy, để suy nghĩ về thân phận sẽ được đẩy lên hay quật xuống. Cả phòng im phăng phắc đến độ tiếng ruồi bay đuổi nhau cũng nghe rõ mồn một.

Từ lúc tiếng loa 30-4-1975 loan tin danh sách uỷ ban tiếp quản miền Nam Việt Nam, cho đến lúc có xe ô-tô đến đón bác sỹ Nguyễn Văn Thủ đi… Nam làm nhiệm vụ cũng mất ba ngày, nghĩa là 4-5-1975. Bác sỹ Nguyễn Văn Thủ lặng lẽ lên xe đi, bẽ mặt vì cán bộ uỷ ban thống nhất đến đón ông cứ bô bô :”Tìm mãi mới biết bác nằm ở cái xó này. Nghe tên mình trên loa sao bác không điện thoại trình diện với uỷ ban thống nhất hay ban tổ chức trung ương. ?”

Chỉ có người thường trực nhà an dưỡng chúc bác sỹ Nguyễn Văn Thủ may mắn !

Mèo mù vớ cá rán

Câu nói trên của các cụ để lại thật đúng vào hoàn cảnh của bí thư trung ương cộng đảng Nguyễn Văn Trân sau ngày 30-4-1975. Bởi vì cái ông bí thư trung ương đảng này đã từng nổi tiếng là chịu chơi và chịu nói. Ngày còn giữ ghế bí thư trung ương đảng kiêm bí thư thứ nhất thành uỷ Hà-nội, ông Trân có một việc làm nổi tiếng và một câu nói nổi tiếng :

+ Việc làm : ông ta bắt nhân tình với cả hai mẹ con một nhà tư sản nổi tiếng, cư ngụ lâu đời tại phố Hàng Bồ (Hà-nội);

+ Câu nói : khi giảng mở rộng nghị quyết 67/TU – tức là nghị quyết về giai cấp công nhân – ông ta đã cao h&ứng nhận xét :”Chưa chắc đảng ta (tức cộng sản) đã dám mở rộng dân chủ như thời nhà Trần mở hội nghị Diên Hồng !”

Ngày về ngồi ghế bộ trưởng bộ công nghiệp nặng, ông Nguyễn Văn Trân có một quyết định thật là “táo bạo” theo kiểu cộng sản. Chẳng là ông đã cưa được cô bé Nguyễn Thị M.,bạn học với con gái của ông, tài không ? Cô bé này cao, đẹp lại thích đánh bóng bàn như ông Nguyễn Văn Trân vậy. Ngày ngày mang vợt mousse đến nhà riêng của ông Trân, tòa biệt thự cực đẹp, liền tường vơí biệt thự của bà Nguyễn Thị Thập, người khai phóng cho bà Nguyễn Thị Bình, đương kim phó chủ tịch hội đồng Nhà nước cộng sản Việt Nam ở phố Hàng Chuối, để có cử dợt tay nghề. Và, để cho người đẹp biết quyền uy ông chủ là gì, ông Nguyễn Văn Trân đã chỉ thị cho cục kiến thiết cơ bản thuộc bộ công nghiệp nặng phối hợp với bộ tài chính (về tiền vốn) và bộ xây dựng (về kỹ thuật) để xây một sân đánh bóng rổ và một hội trường đánh bóng bàn khá hiện đại ngay khu đất thuộc trường Bách Nghệ do Pháp thực dân xây dựng ở đường Hai Bà Trưng – Quang Trung. Vật tư và kỹ thuật cũng như nhân lực đều ưu tiên cho công trình này mặc dù lúc đó các nhà máy đang thiếu vốn và vật tư.

Miền Nam được “giải phóng”, ông Nguyễn Văn Trân được bộ chính trị cộng đảng cử ông phóng vào miền Nam lãnh việc tiếp quản và quản lý các cơ sở kinh tế. Ông làm việc thì ít mà chỉ lo đi bắt… gái điếm : trưa một em, tối một em, công khai dùng xe ô-tô Falcon của Mỹ để lại… đưa đón các em. Ông khoái các em hư hỏng hơn con nhà lành. Nhảy vào Sài-gòn, ông như “mèo mù” (ông cận rất nặng) “vớ cá rán” (các em do Mỹ đào tạo nên vừa thơm nước bông vừa thạo tay nghề). Chỉ tiếc là, đi “trưa” và đi “đêm” nhiều quá nên ông gặp ma… dương – tức là dư&occirc;ng mai và ông phải lén gặp riêng bác sỹ Lê Kinh Duệ, chủ nhiệm khoa da liểu bệnh viện Bạch Mai (cũng lại gặp mai) ở Hà-nội. Để làm gì thì chỉ có ông Nguyễn Văn Trân và bác sỹ Lê Kinh Duệ biết với nhau mà thôi !

Tái ông mất ngựa

May rủi, rủi may xem như chuyện “tái ông mất ngựa” đời xưa, và thời nay là các ông Lê Quý Quỳnh, bí thư tỉnh uỷ Hải-hưng và Vũ Đại, phó chủ tịch, uỷ viên thường vụ thành uỷ Hà-nội.

Chẳng là khi còn làm bí thư tỉnh uỷ Hải Hưng, ông Lê Quý Quỳnh có sáng kiến giao nhiệm vụ cho ty thủy lợi của tỉnh tuyển chọn chị em, có khó khăn mặt này mặt nọ, vào các công trường thủy lợi của tỉnh để mua vui cho ông và các đồng chí thân cận, cũng như khi cấp trên về tỉnh kinh lý. Nói huỵch tẹt ra thì đó là “động quốc doanh” cấp tỉnh. Câu chuyện bị lộ vì sự tranh chấp quyền hành giữa ông và Nguyễn Chương, nguyên bí thư tỉnh uỷ Hải Dương, khi hợp nhất hai tỉnh Hưng Yên và Hải Dương thành Hải Hưng. Đôi bền đều có quan thầy cỡ bộ chính trị, nên ông Quỳnh được đưa về trung ương chờ thời, còn ông Nguyễn Chương thắng trận nhưng lại thua luôn vì cái ghế bí thư tỉnh về tay ông Ngô Huy Đông, bí thư tỉnh uỷ Thái Bình sang… ngồi.

Ông Vũ Đại khi làm phó chủ tịch Hà-nội kiêm thường vụ thành uỷ, trưởng ban nông nghiệp thành ủy, trong lúc về công tác Nam Hà năng ở nhà giao tế, hứng tình gọi một nữ đoàn viên thanh niên, phục vụ nhà giao tế, vào nói chuyện đời. Ông say sưa kể thành tích khi làm bí thư đoàn thanh niên (trước Vũ Quang). Cô nữ đoàn viên say sưa nghe ông kể cứ như Đét-xđi-mô-na nghe Ô-ten-lô. Ông Vũ Đại tưởng bở, chắc tự hào tên mình trùng với tên làng của nhân vật Chí Phèo trong chuyện ngắn của Nam Cao, nên ông diễn màn Chí Phèo say rượu gặp Thị Nở ngủ ở bờ sông. Nào ngờ cô đoàn viên thanh niên la lên, chắc to hơn tiếng la của Thị Nở. Còn ông Vũ Đại chẳng có gan la át giọng Thị Nở như Chí Phèo, cho nên chuyện lộ và ông đành về ngồi cùng phòng với ông Lê Quý Quỳnh ở trung ương, đánh cờ ca-rô hoặc cờ tướng, chờ dịp đới công chuộc tội… với… ông Sáu Thọ.

Thời cơ đó chính là ngày 30-4-1975 !

Ông Lê Quý Quỳnh được bổ sung vào thường vụ thành ủy Sài-gòn, giữ chức chủ nhiệm ủy ban nông nghiệp của thành. Còn ông Vũ Đại, cũng được bổ xung vào thường vụ thành ủy Sài-gòn, giữ chức chủ nhiệm ủy ban kế hoạch của thành.. Hai cái ghế thường vụ thành ủy Sài-gòn này còn béo và thơm hơn ghế bí thư tỉnh ủy Hải Hưng và thường vụ thành ủy Hà-nội rất nhiều. Mỗi ông một vila đẹp, to lớn và tiện nghi bằng “năm, bằng mười hay nhiều hơn nửa” so với dinh cư của hai ông ở Hải -hưng và Hà-nội. Ô-tô thì Méc-xê-đét, đẹp và êm cũng gấp “năm gấp mười hay nhiều hơn nữa” so với xe Volga của Nga-sô. Cái thú vị nhất là hai ông tha hồ xả xú-páp. Đàn em trong đảng hoạt động nội thành rồi “hàng thần lơ láo” kiểu cựu dân biểu Ngô Công Đức, cha đẻ kế hoạch thành lập khu tứ khoái cho lính Mỹ ở Thủ Thiêm (nhưng chưa kịp thực hiện) đã giúp hai ông có máu 35 này hưởng thụ tốc độ một tháng “tam thập dạ đế vương”.

Nghe nói hai ông này đều có cách “đào hoa ngộ thiên không” trong cung mệnh ở tử vi. Đúng là có số thật !

Chuột sa chĩnh gạo

Trước 30-4-1975, đại tá công an cộng sản được biệt phái giữ chức cục trưởng cục phục vụ ngoại giao đoàn là Nguyễn Văn Bút. Tuy ngồi cái ghế này cũng được đấm mõm khá nhiều, nhờ vào số nhân viên người Việt ở các sứ quán Ai-cập, Ấn-độ, In-đô-nê-xia, Algérie, Vương quốc Lào, Đức, tổng đại diện Pháp, lãnh sự Anh v.v…, nhưng cũng chỉ đến cái đồng hồ Seiko, vài chỉ vàng, hộp đá lửa, vài chai Johny Walker là cùng, hoặc vài trăm đô-la Mỹ, mà phải cất dấu thật kỹ, lúc cần bán cho chân tay của ba Tàu làm kinh tài cho Trung-cộng. So với miền Bắc lúc ấy là thuộc loại vớ bẫm.

Trong khi đó, trung úy Phương Nam; phóng viên quân sự biệt phái ở báo Tiền Phong (Hà-nội), một vợ, bốn con nhỏ, ở chui rúc trong một phòng nhỏ đường Nguyễn Trãi, gần chợ Hàng Đa, lương tháng 65 đồng (biên tập 3) không thể đủ ăn dù chỉ là ăn cháo, cho nên hàng tháng phải bán máu ở bệnh viện Việt Đức mỗi lần được 72 đồng, một bát phở tái, một hộp sữa và vào thị xã Hà-đông bán máu cho bệnh viện 354 (của quân đội) được 70 đồng chẵn. Điển hình mức sống của cán bộ sơ cấp của cộng sản. Là người Vĩnh Long, không vây cánh nên trung úy Phương Nam bị tòa soạn báo Tiền Phong đẩy khéo đi B (tức thâm nhập miền Nam). Trên đường Trường-sơn, xe ô-tô bị trúng bom, tất cả bị chết, riêng trung úy Phương Nam sống sót. Thế là được đặc cách lên lon đại úy. Và, được theo Hoàng Anh Tuấn trong phái đoàn quân sự ở trại David, sân bay Tân-sơn-nhất, làm nhiệm vụ người phát ngôn và được đeo lon thiếu tá.

Sau 30-4-1975, đại tá Nguyễn Văn Bút giã từ Hà-nội vào Sài-gòn giữ chức giám đốc sở ngoại kiều và thiếu tá Phương Nam được lên lon trung tá, giữ chức phó giám đốc cho đại tá Bút. Ở vị trí này, đại tá Bút chẳng thèm nhận vài chỉ vàng hoặc vài chai Johny Walker, cũng như trung tá Phương Nam đâu còn phải mỗi tháng hai lần bán máu mua gạo nuôi vợ và các con. Môi giới đưa đến cứ từ dăm chục cây một lần. Trung tá Phương Nam còn có cô bạn lai Âu tóc vàng, mắt màu nước biển, lái xe Peugeot 404 đưa người đẹp đi nhà hàng tri kỷ ăn thịt trúc (tức con tê tê), uống rượu huyết rắn hổ.

Một người có thẩm quyền ở Ban thanh tra bộ công an nói rằng : đại tá bút có tới vài ngàn lượng vàng, chưa kể đô-la Mỹ, Francs Pháp và hạt xoàn. Còn trung tá Phương Nam có thua cũng chẳng thua đại tá Bút là bao. Dù có những thư tố giác về bộ công an và các cơ quan khác, nhưng đại tá Bút và trung tá Phương Nam chỉ phải chuyển công tác mà thôi. Không những thế, Phương Nam còn đeo lon đại tá.

Thì ra :”Nén bạc đâm toạc tờ giấy”.

Các cụ nhà mình ngày xưa giỏi thật !

Kim loại màu vàng

Sau 30-4-1975, tòa nhà ba tầng lầu ngay trước tượng Không-tử ở đường Khổng-tử, Chợ-lớn đã là đối tượng theo rõi của sở an ninh nội chính Sài-gòn – Chợ-lớn, do thiếu tướng công an Mai Chí Thọ làm giám đốc. Tổ theo rõi căn nhà đó do đích thân trung tá Sáu Ngọc, phó giám đốc sở chỉ đạo. Và, một buổi tối tháng 6-1975, nhân viên an ninh đến đọc lệnh khám nhà. Gia chủ là một người Tàu, đóng cửa nhà ngay từ trước ngày 30-4-1975, nằm “chùm chăn”, không đi lại buôn bán làm ăn gì, nghiêm chỉnh chấp hành lệnh và đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc khám xét. Khi kiểm kê các “hàng bất hợp pháp”, trung tá Sáu Ngọc cười toe toét trước các bao vàng lá đủ loại : Kim thành, Sư tử, Ba quả núi – có sọc và không có sọc, đếm được gần hai chục ngàn lượng; lại còn ba hộp biscuit đầy hạt xoàn tất cả đều được lập biên bản rõ ràng, có mặt cả an ninh nội chính quận năm là thiếu tá Phong và đại diện Hội Hoa-liên. Chủ nhà và tang vật được giao về sở an ninh nội chính ở đường Trần Hưng Đạo. Nhưng, chỉ hai tuần lễ sau thì đại sứ Trung-cộng tại Hà-nội, là Trần Chí Phương, gửi thư lên bộ ngoại giao công sản Hà-nội phản đối việc bắt bớ… Vì, căn nhà đó là cơ sở hoạt động gián điệp của Trung-cộng ở Sài-gòn dưới các chính quyền miền Nam từ tổng thống Ngô-Đình-Diệm cho đến Nguyễn Văn Thiệu, và đã ngừng hoạt động trước 30-4-1975 là ngày cộng sản Hà-nội hoàn thành cuộc thôn tính và đặt bộ máy cai trị lên miền Nam Việt Nam. Chủ nhà được hộ tống ra Hà-nội cùng gia đình và về Hoa-lục bằng xe lửa. Còn vàng và hột xoàn ? Khi nhận trao trả, phía Trung-cộng đòi thử lại và phát hiện rằng tất cả là vàng giả và xa-phia chứ không phải hạt xoàn. Đôi bên tranh cãi, nhưng phía Trung-cộng cứ theo biên bản vàng lá và hạt xoàn mới nhận. Nội vụ tạm chuyển ra trung ương giải quyết cũng như tạm ghi sổ là Việt Nam của Lê Duẩn nợ Trung-cộng vậy, chờ hạ hồi phân giải.

Câu hỏi rằng vàng giả và hạt xoàn giả là từ khi còn ở căn nhà đường Khổng-tử hay nó chỉ hóa thân khi vào kho của Mai Chí Thọ còn là một bí ẩn như trăm ngàn bí ẩn khác của xã hội cộng sản Việt Nam.

Sau bài học đó, bộ công an được bộ trưởng Trần Quốc Hoàn cho sáng kiến là khi tich thu vàng và hạt xoàn của nhân dân dù giả hay thật thì cũng chỉ ghi vào biên bản : vàng là kim loại màu vàng, và hạt xoàn là đá quý. Cái sáng kiến này đã giúp công an cộng sản tạm giữ vàng thật và hạt xoàn của dân. Và, nếu đương sự không có vấn đề gì thì phần lớn được trả lại tang vật đúng là kim loại “MÀU VÀNG” và “ĐÁ QUÝ“.

Đúng là khẩu khí của ông Hồ Chí Minh rằng :”Chỉ có người cộng sản mới dám nghĩ, dám làm”. Tài thật !!!

Lá số tử vi và kịch bản sân khấu

Ngay sau ngày 30-4-1975, nhà văn quân đội cộng sản, trung tá Nguyễn Khải (nay là đại tá và là phó tổng thư ký hội nhà văn Việt Nam cộng sản) đã có mặt tại Sài-gòn. Bên cạnh công tác thì ông cũng giành thì giờ làm tư tác, nghĩa là đi thăm bố đẻ ở đường Võ Văn Tấn và vài người họ hàng, trong đó có ông Bùi Tường Huân. Chẳng biết ông Nguyễn Khải nói ra sao mà ông Bùi Tường Huân năn nỉ đưa ngày, giờ, tháng, năm sinh âm lịch để đưa ra Hà-nội xem tử vi giùm (!), chủ yếu xem cung quan lộc còn phát được hay không hay lại bị tù. Sài-gòn bao nhiêu thầy tử vi, chỉ tay, tướng mặt v.v… lại còn có hội thông linh học, thế mà ông Bùi Tường Huân lại nhờ Hà-nội giải đoán giùm lá số tử vi qua trung gian của nhà văn cộng sản Nguyễn Khải, đệ tử thân cận của trưởng ban tuyên huấn trung ương Tố Hữu. Tài thật !

Ăn các món đặc sản của Huế ở nhà ông Bùi Tường Huân rồi, ông Nguyễn Khải còn được ăn cơm thịnh soạn ở nhà bố đẻ, có đông đủ một số họ hàng là “nguỵ”. Chẳng biết ông Nguyễn Khải cao hứng nói thế nào mà một bà cô ngắt lời ông Khải hỏi :

– Anh thấy Sài-gòn có nhiều cột đèn không ?

Nguyễn Khải, gương mặt sáng sủa thông minh vậy mà cũng phải ngẩn ra một lúc mới trả lời được :

– Nhiều lắm…

– Liệu có đủ để mỗi cột đèn treo cổ một tên cộng sản không ?

– Không !

Không khí bữa ăn trầm lại. Bà cô Nguyễn Khải cười mỉa :

Nếu vậy mỗi cành cây treo cổ một đứa !

Trở lại tiếng cười khà khà đúng là của nhà văn quân đội, trung tá Nguyễn Khải lớn tiếng :

Cũng không đủ !

Rồi Nguyễn Khải vui vẻ hỏi móc bà cô :

– Ghét cộng sản như vậy sao cô không đi Mỹ mà còn ở lại đây làm gì ?

Bà cô cười khẩy :

Người Sài-gòn ai cũng muốn đi, chỉ vì mắc kẹt nên tạm ở lại mà thôi. Ngay cột đèn, nếu có chân chúng cũng sẽ đi hết !

Cả cuộc đối thoại trong bữa cơm hôm đó đã được cho lên kịch bản sân khấu do đoàn kịch điện ảnh dàn dựng. Mục đích là để nói lên cái chất “phản động” của dân Sài-gòn.. Dùng văn nghệ để chứng minh cho bài nói chuyện của trung tướng Hoàng minh Thảo ở hội nghị lịch sử quân sự, đại ý :”Cái sai của Nguyễn Huệ, một lỗi lầm chiến lược lớn nhất là không tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn Nguyễn Ánh đã là nguyên nhân gây mầm họa sau này”. Chúng ta cần rút bài học lịch sử để không được phạm sai lầm đó. Kịch đó của trung tá Nguyễn Khải không được Tư Bình – tức Vũ Đình Liệu – chủ tịch Sài-go&øn cộng sản ủng hộ. Cho nên, vở kịch diễn được đúng một đêm ở nhà hát thành phố thì phải gói phông màn, đạo cụ dông về Hà-nội.

Cái ông nhân viên thu thuế muối thời Pháp thuộc ấy, quê ở Nam Định, thật là… tài, chẳng trách được ông Sáu Thọ cho giữ ghế chủ tịch Sài-gòn. Khi sang Nga-sô, ông Tư Bình tức Vũ Đình Liệu này đã gọi Nga-sô là “Tổ quốc thứ hai” và chuyến đi đó là “cuộc hành hương về thánh địa” lúc thì bằng giọng Nam bộ cho ra vẻ Tư Bình, lúc thì giọng Nam… Định cho ra vẻ Vũ Đình Liệu. Thế nhưng, có hai đứa con ông ta đã giải quyết : trai cho sang Pháp học thay vì sang Nga và gái thì vào làm việc ở Seaprodex thay vì vào thanh niên xung phong xây dựng nông trường Lê Minh Xuân.

Đúng là nhờ sự kiện 30-4 mà bao “người tài” lộ mặt. Thật mừng lắm thay !!!

3-1993

http://www.vietthuongonline.com/mainarticles/chuyenchuaainhacden.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

Hai Mùa Xuân

Posted by tudodanchu trên Tháng Bảy 26, 2008

Hai Mùa Xuân

 

Việt Thường

 

 Đầu năm 1967

Chỉ còn một tuần lễ nữa là Tết Đinh Mùi. Hà-nội năm đó lạnh lắm. Bến Phà-đen lại càng lạnh vì gió từ mặt sông Hồng đưa lên. Trong mặc áo bông trấn thủ, ngoài mặc áo bông xanh cổ lông mà tôi vẫn thấy người run bần bật. Bến tàu thủy đi Thái Bình đây rồi, nhưng sao tối thui và im lặng thế. Đường lầy lội, tôi vừa dựng xe đạp thì có bóng đèn pin loáng trên mặt tôi và tiếng cười vui của giám đốc công ty vận tải đường sông Hà-nội:
 
 – Chào anh Trọng Kính*. Anh ra sớm thế. Nửa tiếng nữa mới nhổ neo.

 
 Tôi chào lại và nhìn xuống bến, Chiếc tàu Giải Phóng nằm im lìm. Một thuyền viên nhắc giùm tôi xe đạp lên boong tàu. Thấy tôi chẳng nói gì, ông giám đốc gặng hỏi:

 
 – Anh có nhận xét gì không?

 – Được lắm. Ngoại trừ một ánh đèn pin vừa xong của anh còn thì tối đen như mực.

Giám đốc cười hỉ hả:

 
 – Này, xin báo cáo với anh là hành khách đã xuống hết rồi đấy, thế mà không một ánh lửa, không một tiếng ho. Chúng tôi đã chấp hành triệt để lệnh trên về phòng không nhân dân. Máy bay Mỹ có đến lúc này thì cũng mù tịt chẳng thấy gì hết. Anh nhớ nhấn mạnh điểm này trong bài viết của anh nhé.

 
 Tôi phì cười:

 
 – Các anh yên tâm. Chúng tôi có nhiệm vụ viết để động viên chứ có bao giờ phê bình đâu. Lãnh đạo bộ giao thông, lãnh đạo sở giao thông thành phố và cả bộ biên tập báo bên tôi cũng đã căn dặn rồi. Khác tý chút là khỏi in, anh đừng lo.

 
 ùm… ùm

 
 Còi tàu thủy vang lên trên mặt sông, trầm trầm, loãng dần vào sương mù. Thuyền trưởng Bách từ dưới bến đi lên chào tôi:

 
 – Báo cáo anh, được sự chỉ đạo của đảng ủy và ban giám đốc công ty, được học tập về điều lệnh phòng không nhân dân, tàu Giải Phóng II chúng tôi đã có quyết tâm thư gửi lên Hồ chủ tịch, lên trung ương đảng, lên chính phủ, lên quốc hội, lên đảng đoàn và đồng chí bộ trưởng giao thông vận tải, lên tổng công đoàn, lên đoàn thanh niên lao động, lên thành ủy và ủy ban thành phố, lên đảng ủy và ban giám đốc sở giao thông vận tải thành phố, lên hội đồng phòng không thành phố, lên liên hiệp công đoàn Hà-nội… kiên quyết không để xảy ra thiệt hại về tài sản và… và… về người nếu giặc Mỹ dám đánh vào bầu trời Hà-nội. Tất cả thuyền viên đều có quyết tâm thư hy sinh thân mình cứu tàu, cứu máy nếu tình huống xấu nhất xảy ra.

 
 Tôi không dám cười vì lời chào tràng giang đại hải thế. Đã quen với lối ăn nói “mới” từ sau 1954 đến nay, dù là ở cấp bộ hay cấp tổ; dù là ở cơ quan văn hóa hay đội vệ sinh, thì đều nói, nghĩ và viết theo cái mẫu có sẵn như vậy. Tôi cũng chẳng giận vì cứ phải rét muốn chết mà cũng chưa được xuống tàu tránh gió, tránh lạnh. Cũng như bạn đọc báo, họ cũng phải đọc cái lối viết theo mẫu của chúng tôi, y như ta điền mẫu đơn vậy. Những chỗ chấm chấm thì điền tên người, ngày, tháng, năm sinh; tên cha, tên mẹ và v.v…, chỉ khác nhau ở chỗ đó. Nếu tiêu đề các đơn từ có phần mở đầu là “Việt Nam dân chủ cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc”; thì mở đầu bài báo cũng có cái khuôn chung như vậy: “dưới sự lãnh đạo sáng suốt của đảng và Hồ chủ tịch”.


 
 Thuyền trưởng Bách bố trí cho giám đốc công ty vận tải đường sông Hà-nội – thủ trưởng của anh ta – và tôi ở phòng của thuyên trưởng. Vừa lên boong tàu chưa được vài phút thì tàu rời bến sau một hồi ùm… ùm… ùm. Tiếng còi tàu thủy nghe lúc nào cũng có cái vẻ chia ly, buồn bã. Tôi vào phòng lái xem thuyền trưởng Bách lái tàu đi trong sương mù. Sương bao bọc làm cho sông chẳng có bến, có bờ, có đầu, có cuối. Mùa này nước sông cạn. Tàu chạy chầm chậm, tiếng máy run nhè nhẹ. Tôi nhìn trong đêm cái dáng cao lớn của thuyền trưởng và tưởng như con sông in trong đầu anh. Chợt có tiếng gõ vào kính, ông giám đốc làm hiệu gọi tôi ra. Chẳng cần nghe ông ta nói, tôi cũng hiểu đây là cái khoản “ấm bụng”, nghĩa là tý rượu “quốc lủi” bên Từ-sơn và… món nhậu thì thật là tươm tất, phong phú.

 
 Ca-bin thuyền trưởng rộng hơn chiếc giường cá nhân tý chút, mấy ô kính có rèm vải che kín. Khi cửa mở, ánh đèn vàng yếu ớt hắt ra. Mâm rượu đầy ắp, nào thịt chó luộc, dồi chó, cả một con ngỗng quay đã chặt, xếp đến tận miệng chiếc nồi nhôm, rồi lạc rang và các thứ rau với bánh đa nướng.

 
 Ông giám đốc xoa tay cười khô khan (chắc là nước miếng đang tứa ra):

 
 – Ta chiến đấu đi anh. Thằng Bách còn phải lái tàu.

 
 – Lính vận tải của các anh, cả bộ cả thủy, đều hào phóng thật.

 
 Ông ta ừ à, còn mãi vắt chanh vào chén mắm tôm, rồi chế thêm một thìa rượu. Cái món nước chấm này bốc lên ngan ngát làm dạ dày cồn cào. Rượu uống bằng chén ăn cơm. Nó tê tê, êm êm, nóng ran trong miệng, ấm áp lan xuống họng, xuống bụng; mùa đông đang bị đẩy ra:

 
 Tôi cắn một miếng giềng, cay cay đầu lưỡi. Cắn thêm một miếng ớt, cả miệng nóng lên. Miếng thịt chó luộc, phần má của con chó, ròn mà không quá mỡ; vài cánh rau húng, vài hạt lạc và mẫu bánh đa lớp rớp trong miệng… làm thần kinh lưỡi đê mê, làm đầu dịu lại. Chợt ngửng mặt lên, phía đầu giường của thuyền trưởng, ngay sát trên đầu ông giám đốc ảnh của ông Hồ chí Minh lồng khung kính đặt trên bàn thờ tổ quốc, mặt đỏ au, gần bằng màu cánh hoa hồng cắm trong lọ cạnh đấy. Chỗ nào ông ấy cũng trườn mặt ra, tài thật! Tôi e hèm:

 
 – Này ông giám đốc, ai ở sau lưng anh kìa?

 
 – “Cụ” chứ ai. “Cụ” cũng cảm thông cho lính tráng gian khổ quá nhiều phải “cải thiện” mới có sức phục vụ “Cụ” và cách mạng chứ.

 
 Tôi vờ làm giọng nghiêm:

 
 – Các anh mua rượu ở đâu? Tiền đâu mà các anh ăn tiêu như thế này?

 
 Vẫn cái giọng lúng búng mồm đầy thịt:

 
 – Tất cả đều là “lộc” của “Cụ” cả. Ai bảo “Cụ” cho phép mấy thằng tỉnh ủy Hà-bắc được nấu rượu lậu để nộp cho Ban bảo vệ sức khỏe của trung ương làm rượu thuốc. Ai bảo ban chủ nhiệm các hợp tác xã cho vợ con và tay chân đi buôn chuyến. Và… và… “Cụ” lại cho con quản lý đội tàu này…

 
 Ông ta cười ha hả, hẳn lý thú vì câu nói có duyên của mình, bắn cả thức ăn trong miệng ra. Một mẩu thịt dính vào mặt tôi. Thế là cái hứng “nhậu” của tôi lắng xuống. Hết cơn cười, ông ta lại nói:

 
 – Cánh nhà báo các anh lạ tỏng gì nữa mà giả vờ. Lương thằng Bách mà có bảy chục một tháng thì ăn gì, chưa nói đến thuyền viên, làm sao mà thi đua cho nổi, làm sao động viên chúng nó được. Cho nên tôi lờ đi, một thứ giao kèo ngầm mà, cho chúng nó chở ít hàng lậu, khách lậu, bán trộm ít dầu, nhớt để cải thiện. Miễn là chúng nó phải hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch là được. Anh xem, từ ngày tôi về làm giám đốc ở đây, ba năm liền là đơn vị “lao động xã hội chủ nghĩa” rồi đấy, năm rồi được nhận lẳng hoa của Hồ chủ tịch.
 
 Đúng là tôi biết, còn nhiều hơn nữa, cả cái khoản tàu, các xà-lan tự hành phải “nộp cống” cho ông; rồi ông lại “nộp cống” lên ban giám đốc và đảng ủy của sở và sở lại “nộp cống” lên thành và bộ. Chỗ nào cũng thế cả. Có khác là từ tháng 8-1965, Mỹ ném bom ra miền Bắc, thì cánh vận tải cả ô-tô, tàu thủy, xà-lan và tàu hỏa – là vớ bẫm nhất. Bọn họ giàu nhanh như thổi và dễ… lấy vợ. Giáo sư, bác sỹ và… nhà báo thì vẫn cứ nghèo mạt rệp.
 
 Tôi tụt khỏi giường, quờ chân tìm đôi dép lốp. Ông giám đốc hỏi:

 
 Đi đái hả? Lạnh lắm, hé cửa, ghếch nòng súng đái mẹ nó ra ngoài boong ấy. Tôi vẫn làm thế đấy, không thì cụt hứng vì đi với lại.

 
 – Anh ngồi lai rai đi, tôi tạt xuống xem hành khách sinh hoạt ra sao mới biết đường mà viết chứ.

 
 Cánh cửa ca-bin khép lại mà tôi còn nghe tiếng cười “nịnh” của ông giám đốc đuổi theo. Báo chí tuy nghèo nhưng lúc này lại có sức mạnh, nhất là từ khi ông Hồ chí Minh đề ra việc biểu dương “người tốt việc tốt”, “người thật việc thật”, coi đây là một trong các biện pháp xây dựng “con người mới xã hội chủ nghĩa”. Những người được báo chí biểu dương dễ được nhận huy hiệu của “Hồ chú tịch”, đấy là sự thoát ra ẩn số khỏi cái đám quần chúng, để đứng ở ngõ vào “đại lộ quan lại”. Những đơn vị được biểu dương sẽ đạt thành tích thi đua, toàn đơn vị được nâng quỹ tiền khen thưởng, nâng quỹ phúc lợi và bộ tứ lãnh đạo – đảng, chuyên môn, công đoàn, thanh niên – sẽ được nâng lương, đề bạt ở chức cao hơn hoặc cho phép đơn vị phình to ra. Cho nên các tỉnh, các ngành đua nhau họp báo, chiều chuộng cánh báo chí. Họ tưởng mấy thằng cha viết báo quyền hành lắm đấy. Sự thật thì họ có tiếp đãi nồng hậu hay không cũng chẳng sao… Còn nhà báo chỉ ngồi nhà cũng viết được. Vì tất cả là dựa vào các loại báo cáo của các ngành – do tuyên huấn đảng ủy cơ sở soạn thảo – đã được đảng ủy các cấp thông qua, từ số liệu mọi loại chỉ tiêu, từ các cá nhân tích cực với bản tự khai và sơ yếu lý lịch, hàng chục con dấu đỏ lòe loẹt. “Thực tế” đấy, cứ dựa vào đó mà viết. Đại loại là lúc đầu có khó khăn – hậu quả của xã hội cũ – nhưng rồi có sự lãnh đạo của đảng ủy, mọi người nhớ đến “bác”, không muốn cho “bác” buồn, thế là dựa vào các nghị quyết của trung ương, các văn kiện đại hội đảng, lòng căm thù “Mỹ-Ngụy” mà vươn lên. Kể cả khi viết về các ca mổ gan khô của bác sỹ Ty, đỡ những ca đẻ khó của bác sỹ Thìn ở bệnh viện C, cũng vẫn theo cái công thức chung như thế. Cho nên việc nhà báo đi cơ sở cũng giống như mấy diễn viên hôn gió khán giả, chỉ là tăng thêm phần thân mật mà thôi.

 
 Tổ trưởng thuyền viên Tâm, có biệt danh Châu Xương vì có hàm râu quai nón loại chổi xể, từ hầm hành khách bấm đèn pin cho tôi xuống thang. Đứng sát Tâm, tôi bảo anh cứ để tôi tự nhiên như một khách đi tàu.

 
 Tối quá. Lối đi toàn chân người chìa ra. Tôi đi về mạn đuôi, xin lỗi được tìm một chỗ ngồi. Giọng một bà cụ:

 
 – Chú ngồi đây. Còn rộng chán. Càng đông càng ấm chứ sao.

 
 Tôi ngồi xuống cạnh bà cụ. Bàn tay bà cụ nắm vào tay tôi, lạnh, xương xẩu, sần sùi, hơi run run. Tôi khẽ hỏi cho có lệ:

 
 – Mẹ đi đâu đấy?

 
 – Tôi đi gần đây thôi – Hưng-yên ấy mà. Thế chú đi đâu?

 
 – Con đi Thái-bình

 
 Bà cụ thở dài:

 
 – Nghe nói bên đó mất mùa. Lại đói nữa thôi. Chẳng biết đến bao giờ mới được bữa ăn no. Cũng tại thằng Mỹ cả thôi. Đến cụ Hồ mà cũng bữa cơm chỉ có vài quả cà xứ Nghệ. Thật, nghĩ đến cụ mà chỉ muốn khóc.

 
 Tôi miễn cưỡng “vâng” mà lòng ngao ngán tự hỏi: “ăn cơm với vài quả cà mà ngày càng béo múp đầu múp đuôi. Sao dân chúng còn khờ quá vậy”. Chợt nghĩ mình cũng đang trong bộ máy tuyên truyền xuyên tạc của ông ta, tôi thấy mình quả có tội với những người dân chân thật này. Rồi trong tôi lại nổi lên “thằng bào chữa cá nhân” rằng mình đi nhiều nhưng chỉ viết những thứ vô thưởng vô phạt. Cho dù vậy, tôi vẫn tự véo đùi mình để tự trừng phạt. Bỗng tay tôi chạm phải một cái đùi nóng hôi hổi qua lớp vải mỏng. Chẳng cần quay lại nhìn người ngồi bên, tôi cũng biết đây là một cô gái. Tôi vội rụt tay lại. Và, lúc này thoang thoảng qua mũi tôi một mùi là bưởi, bồ kếp có chút mùi lá sả. Tôi cúi xuống ngửi áo của mình. Mùi nước đái con nít nhưng vẫn khai. Vợ chồng tôi vẫn phải lấy chiếc áo bông này đắp cho đứa nhỏ, mà con bé hay đái dầm quá thế mà áo thì cứ để qua mùa đông mới giặt được. Nhà có mỗi cái chăn bông đắp hai vợ chồng và đứa con lớn. Tôi đi vắng thì ba mẹ con được nằm chung. Nghĩ đến mình hôi hám, tự nhiên ngượng với con người sạch sẽ ngồi bên.

 
 Có tiếng chuông lanh canh, tàu như dừng lại. Hành khách lao xao đứng lên gọi nhau ý ới. Cửa bên hông tàu mở ra, gió lạnh thổi vào cùng với tiếng mời mua quà bánh. Đây là bãi Tự-nhiên (thuộc Hưng-yên), tàu không vào bến trong mùa nước xuống nên khách phải đi đò ra và vào bến. Các thuyền con của nhà hàng vây quanh tàu như một cuộc họp chợ. Tất cả đều làm ăn, trả tiền, thì thào trong bóng tối, không một ánh đèn hay lửa.
 
 Bà cụ ngồi bên tôi lên bến này. Tôi dìu bà cụ dậy, nắm chặt tay bà cụ trong tay, tôi cảm thấy một nỗi tê tái dâng lên. Bàn tay mẹ tôi bây giờ cũng gầy, xương xẩu và sần sùi như vậy, ấy thế mà có thời là hoa khôi kia đấy. Sự khốn cùng và thời gian đã tàn phá hết cả.
 
 Cuộc mua bán, ăn uống, đưa hàng lên tàu, chuyển hàng xuống thuyền, những câu thì thầm, những cái đập tay và tiếng cười cầu tài… phải gần nửa tiếng đồng hồ sau mới xong. Con tàu lại rồ mát nhè nhẹ. Chỗ bà cụ lên bến ngồi có hai thanh niên nồng nặc mùi rượu. Một anh chàng hơi thở như mùi lạc thối phả ngang mũi tôi.

 
 – Bác ngồi xích vào chút nữa đi.

 
 Tôi chưa kịp xích thì anh thanh niên thứ hai đã nói:

 
 – “Tàu là nhà, hành khách là chủ”, khẩu hiệu này dán từ ở phòng bán vé cho xuống đến tàu, anh không thuộc hay sao mà cứ đòi ngồi thoải mái!!!

 
 Cô gái cạnh tôi dịch một chút và khe khẽ với tôi:

 
 – Anh dịch vào đây cho các anh ấy ngồi. Mỗi người chịu đựng một chút vậy.

 
 Tiếng nói này đúng là “dân Hà-nội” chính gốc. Nhẹ nhàng như tiếng gió, trong như tiếng hạc. Giọng cô ta nghe sao sang trọng và dõng dạc lạ thường.

 
 Anh chàng ngồi cách tôi một người lè nhè giọng rượu:

 
 – Chà, chà, có “phún” (tiếng lóng là phụ nữ) là vui rồi. Cô em giọng ngọt ngào như thế chắc là hát hay lắm. Đề nghị phục vụ bà con một bài đi.

 
 Cô gái ngồi im, chợt cái đùi hơi cựa cậy. Tôi cảm thấy sức nóng từ đùi con gái trinh nguyên truyền qua tôi, tuy đã hai lần quần vải gai. Tiếng anh chàng hôi mùi lạc thối ồm ồm:
 
 – Hát đi cô em. Thanh niên “ba sẵn sàng”, phụ nữ “ba đảm đang” mà nhát bỏ mẹ! Thế thì đánh Mỹ sao nổi?

 
 
Tay bạn hùa theo:

 
 – Các anh là giặc lái đây (tức lái xe ô-tô). Mới từ khu bốn lửa đạn về thăm gia đình. Hát đi rồi về quê anh chơi, anh chi hết tiền tàu xe đi xe về lại còn quà cáp nữa, ừ đi!
 
 Cả tàu im lặng, chỉ có tiếng máy rù rù và sóng nước ì oạp đánh vào mạn tàu. Anh chàng hôi mùi lạc thối đập tay vào đùi tôi:

 
 – Ông anh làm ơn đổi chỗ cho đàn em đi. Xin “các” ông anh hai gói Điện-biên giấy bạc hút cho vui. Được không?

 
 Cầm tay anh ta, tôi đặt về đùi anh ta, nhưng cố tình bóp tay anh ta thật mạnh – thị uy sức mạnh mà – :

 
 – Tôi cũng sắp tới bến rồi. Hai anh hát trước đi.

 
 Hẳn là hiểu sự cảnh cáo “hòa bình” của tôi, anh ta cười cười:

 
 – Ông anh “tập tạ” hay sao mà khỏe thế. Bóp gẫy mẹ nó bàn tay câu cơm của đàn em rồi. Ừ, hát thì hát.

 
 Rồi quay sang bạn:

 
 Này Thọ sùi, tao với mày đồng ca bài “Mười yêu” đi.

 
 Và, hai thanh niên mới – sản phẩm của ông Hồ chí Minh – cùng hát, đúng ra là gào lên:

 
  
 “Một yêu anh có peugeot (1)

 
 Hai yêu anh có Seiko (2) đàng hoàng

 
 Ba yêu anh có bộ đồ sang

 
 Bốn yêu hộ khẩu rõ ràng thủ đô

 
 Năm yêu không có bà bô (3)

 
 Sáu yêu Văn-điển ông bô sắp về (4)

 
 Bảy yêu lái xe là nghề

 
 Tám yêu phe phẩy, lè phè, nhởn nhơ

 
 Chín yêu bạc lắm, tiền dư

 
 Mười yêu dù lớn, dù vừa che thân (5)

 
 Với em, tiêu chuẩn phu quân

 
 Rõ ràng cho xứng mười phân vẹn mười

 
 Bà con ơi, xin chớ có cười!”

 
 
  Tiếng hát vừa dứt, hai anh chàng tự vỗ tay tán thưởng trước. Một số khách đi tàu cũng

vỗ tay theo. Anh chàng “lạc thối” lớn tiếng:

 
 – Ngồi đây mới biết là còn sống về lễ ông bà, ông vải ngày Tết bà con ạ. Thuốc lá Điện-biên bao bạc đây, xin mời bà con hút một điếu đoàn kết cho vui.

 
 Cả tàu bỗng nhao lên gọi phần thuốc được mời. Anh chàng lễ phép mời tôi và cô gái bên cạnh. Có tiếng Tâm “Châu Xương” sang sảng:

 
 – Lệnh phòng không, cấm lửa bà con ơi. Đề nghị triệt để chấp hành điều lệnh phòng không nhân dân khi đi tàu.

 
 Bạn anh “lạc thối”, có tên Thọ sùi, nổi giận:

 
 – Đéo cho hút thì thôi, bà con giữ làm kỷ niệm năm hết Tết đến vậy.

 
 Tiếng Tâm nạt lại:


  Đề nghị đồng chí ăn nói đàng hoàng, đừng văng tiếng Đức như thế.

 
 – Nói tiếng Cu-ba, Cu-mẹ được không?

 
 Mấy người già giàn hòa. Tâm bỏ đi, còn hai anh chàng “giặc lái” vẫn ấm ức văng tục một lúc nữa.

 
 Tôi chợt nhớ đến tiếng “đồng chí”, giờ đây nó được dùng vào lúc người ta định đối phó với nhau, định chụp cho nhau các kiểu mũ. Lại cũng một sản phẩm ngôn từ nhãn hiệu Hồ chí Minh.

 
 Cô gái khẽ nói với tôi:

 
 – Anh làm ơn cho em lách ra, sắp tới bến em phải lên rồi.

 
 Tôi như hụt hẫng:

 
 – Vậy hả… chúc cô năm mới mọi điều may mắn tốt lành nhất.

 
 – Em cám ơn anh. Xin được kính chúc anh và gia đình sức khỏe, công tác tốt.

 
 Cô gái cúi người nhặt chiếc túi xách dưới gầm ghế, mớ tóc lao xao và hương lá bưởi, bồ kếp lại bay lên. Tôi khẽ hít đầy lồng ngực.

 
 Tôi lên boong tàu. Nghe tiếng chèo thuyền lõm bõm mà chẳng thấy thuyền. Cái lạnh ngấm nghía. Cái lạnh tái tê. Khi tàu chuyển động, tôi đi về phòng thuyền trưởng. Mâm nhậu chỉ có mình ông giám đốc, tay còn cầm cái chân chó, bát nước sáo trong mâm, ghếch đầu dưới bàn thờ ông Hồ chí Minh, đang ngáy như Trương Phi.

 
 Vừa kịp ngồi lên giường thì một thuyền viên mở cửa bê cho tôi tô sáo chó nóng hôi hổi. Tôi húp một miếng mà chẳng cảm thấy mùi vị gì. Thoang thoảng bên mũi tôi như vẫn còn mùi lá bưởi, mùi bồ kếp và lá sả. Tôi đưa điếu thuốc lá cho anh thuyền viên. Anh ta đưa lên mũi hít hít và cười thú vị:

 
 – Điện biên giấy bạc đây. Tiêu chuẩn Vân-hồ (6) đấy. Em xin anh.

 
 Tôi thấy mình như đang đi trong sương mù, không đầu, không đuôi, không bến, không bờ: người đầy tớ vĩ đại nhất của nhân dân đang trên bàn thờ “Tổ quốc”; người đầy tớ trung thành của nhân dân đang nằm ngáy o o, tay còn cầm chiếc chân chó nấu sáo. Những người chủ của đất nước đang chen nhau dưới hầm tàu hôi hám. Và tôi, người có lý lịch là thành phần “bóc lột” đang được giai cấp công nhân phục dịch, vâng dạ.
 

 

Mùa xuân năm 1971

 
 Bộ nông nghiệp tổ chức họp báo giới thiệu những đơn vị và cá nhân có thành tích chăn nuôi lợn. Sau hội nghị, tôi được phó giám đốc kỹ thuật của “trại lợn giống” ở tỉnh Thanh-hóa mời về thăm trại. Chúng tôi đi tàu hỏa đến ga Phủ-lý rồi từ đó đi bằng xe đạp.
 
 Phó giám đốc Tân tốt nghiệp khóa 1 trường trung cấp nông lâm. Quê anh là Đồng-kỵ (Hà-bắc), nơi làm pháo nổi tiếng cả nước. Ai chưa được dự ngày “Hội pháo” của Đồng-kỵ thì quả là một thiếu sót lớn. Dân Đồng-kỵ chịu chơi lắm và rất hiếu khách.

 
 Chiếc xe đạp của tôi được sản xuất tại quê hương của Lénine và Staline, nặng như cái cùm, lại cao lêu nghêu. Xe của Tân làm tại Việt
Nam, nhưng vật liệu do hãng Mercier của Pháp để lại. Tôi cứ phải tưởng tượng rằng mình đang tập thể thao mới đủ hào hứng đạp “cái cùm” này hơn một trăm ki-lômét đường đất lầy lội. Tân đề nghị đèo giúp tôi cái ba-lô. Đi đường xa, chúng tôi đều có kinh nghiệm là bỏ bớt được cái tăm cũng nên bỏ cho nó nhẹ. Cánh làm báo thuộc thành phần “hạ phong” như bọn tôi đi vào tận Vĩnh-linh cũng đạp xe từ Hà-nội. Làm gì có xe con đưa đón như Xuân Diệu hay Chế lan Viên, nằm giường trải nệm trắng, tiêu chuẩn của chuyên gia Nga-xô, để viết bài ca ngợi “Quê hương Võ đại tướng”! Hai nhạc công “trompette” này thuộc loại thượng thừa trong môn phái Tố Hữu.

Khởi hành từ 5 giờ sáng, đến giờ gà lên chuồng buổi chiều, bọn tôi đã ngồi trong văn phòng của trại, uống ly trà xanh với thìa đường Cu-ba màu cánh gián. ở đây, ông Hồ chí Minh cũng chễm chệ ngồi trên bàn thờ “Tổ quốc”; cũng có ba nén nhang và ngọn đèn dầu lửa, chiếc băng tang viền quanh khung ảnh. Xung quanh tường là Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm văn Đồng, Tôn đức Thắng, Nguyễn lương Bằng, Hoàng quốc Việt.


 Mặt trời đã khuất, mà tiếng bìm bịp vẫn nỉ non vọng vào. Trại chỉ có ba đàn ông, còn toàn đàn bà, con gái. Ba đàn ông là Tân, phó giám đốc;
Cam lái xe và Tôn làm tiếp liệu. Bí thư đảng là Cú, nghe nói là cốt cán của địa phương hồi cải cách ruộng đất, có chồng là chánh văn phòng tỉnh ủy Thanh-hóa. Anh này là dân tạch-tạch-sè – tiểu tư sản –, nhờ lấy vợ cốt cán nên được đề bạt vào chức vụ quan trọng như vậy – Dọc đường đi, khi nghe phó giám đốc Tân nói cái tên Cú, tôi đạp “cái cùm” đang muốn gãy giò mà phải phì cười:
 
 – Này Tân, tên là Cú mà người có cú không?

 

Kinh khủng anh ạ. Như con mụ phù thủy. Mụ ta cũng ém em dữ lắm nên đến nay em vẫn ở ngoài đảng, mặc dù mọi sự điều hành do em.

 

         Thế sao cậu được đề bạt phó giám đốc?

 

Trại này em đến từ lúc có ba con lợn nái và con lợn nọc. Một tay em gầy dựng nên, đồng chí trưởng ty của tỉnh về thăm chịu em lắm, mà ông ấy là thường vụ tỉnh ủy nên ông ấy ký lệnh đề bạt em. Còn vấn đề đảng thì ông ấy đành chịu vì phải dựa vào cơ sở.

 

 – À ra thế.

 
 Dụ dự một hồi, Tân hỏi:

 

         Anh chắc… đảng thâm niên lắm nhỉ?

 

  Tôi phì cười:

 

         Bạch vệ như cậu thôi.

 

         Em tưởng phóng viên báo các anh là đảng viên hết.

 

 

Không là đảng viên hết nhưng tất cả đều do đảng trả lương và sử dụng, như cậu vậy.

 
 Tôi thì mệt, Còn Tân có vẻ suy nghĩ lung lắm. Từ lúc ấy cả hai chỉ lo mải mê đạp cho chóng đến trại còn được nghỉ ngơi.

 
 Đến bữa ăn tối, tôi mới được gặp bí thư đảng Cú và giám đốc Tơ. Trại này đã quen tiếp khách thập phương đến tham quan nên ra vẻ lắm. Bí thư Cú qua nghi lễ giới thiệu của Tân dùng cả hai tay lắc mạnh tay tôi, cười nhe bộ lợi màu bùn than và hàm răng nhuôm nhuôm:
 
 – Chào đồng chí nhà báo. Thay mặt lãnh đạo đảng, chuyên môn, công đoàn và thanh niên trại lợn của tỉnh Thanh-hóa, tôi nhiệt liệt hoan nghênh sự có mặt của đồng chí. Đây là sự khích lệ to lớn cho chúng tôi phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch cả năm. Chúc đồng chí sức khỏe, lăn mình vào thực tế của trại để giới thiệu kinh nghiệm của trại chúng tôi cho cả nước cùng nhau thi đua “chắc tay cày tay súng” (7) vì công ơn và sự nghiệp của Hồ chủ tịch vô vàn yêu quý và vĩ đại.

 
 Dứt lời, bí thư Cú rút hai tay lại và theo thói quen vỗ vào nhau đôm đốp như trước cuộc mít-tinh vậy. Giám đốc vỗ theo, rồi đến Tân và tôi cũng phải vỗ tay đáp lễ.
 
 Bốn người vào tiệc. Nếu bí thư Cú vừa béo vừa lùn bao nhiêu, hai con mắt lươn tí hý, cái mồm trư bát giới thì giám đốc Tơ lại cao và gầy bấy nhiêu, hai con mắt ốc nhồi và cái mồm rộng ngoác. Còn Tân khá điển trai với nước da mánh mật, hai con mắt sáng, thông minh, đầu cắt theo kiểu Tố Hữu – lòa xòa trước trán. Bữa cơm đầy vẻ khách khí.thư Cú ra công tiếp thức ăn cho tôi, còn giám đốc Tơ im lặng, thỉnh thoảng chạy ra chạy vào – theo lệnh bí thư Cú – lúc thêm trái ớt, đĩa lòng gà xào dứa, lúc bát canh gà nấu bí đao. Tân và tôi mệt và đói nên đánh chén rất thực lòng. Đã lâu lắm tôi mới cảm thấy bữa cơm ngon như thế, y như mẹ tôi hoặc chị tôi nấu ở nhà những ngày có giỗ.
 
 Sau bữa ăn, bí thư Cú muốn tôi về phòng khách của trại ngủ, nhưng Tân rủ tôi về chỗ ở của Tân, lấy cớ là trao đổi với tôi một số vấn đề chuyên môn.

 
 Căn phòng ngủ của Tân liền ngay phòng làm việc. Văn phòng trại sơ tán theo lệnh phòng không của tỉnh. Giường ngủ cũng như chỗ bàn làm việc có hào ra khỏi nhà vào ngay hầm trú ẩn chữ A. Khá an toàn về máy bay nhưng hào và hầm lại có sức lôi cuốn rắn các loại.

 
 Tôi cứ tưởng ngủ ngay được, nhưng khi Tân ghé tai tôi nói:

 
 – Thức ăn chiều nay anh có thấy cái vị Hà-nội không?

 
 Tôi chợt nhận ra điều đó và gật đầu. Tân thì thào:

 
 – Một đồng hương của anh đang ở đây và nấu cho anh ăn đấy. Em định kéo cô ấy ra cho anh cám ơn “chị nuôi” (8) nhưng cô ấy nhất định không chịu ra, chỉ nhìn qua khe vách. Mọi khách khứa khác cô ấy không bao giờ rụt rè như thế đâu. Cùng người Hà-nội với nhau, hay là cô ấy biết anh?

 
 Tôi bật cười:

 
 – Làm gì có chuyện đó. Cậu này nhiều chuyện thật.

 
 Tâm không nói gì, yên lặng hít vài hơi thuốc lá đen, mùi thật nặng của thuốc Cẩm-thùy (một huyện của Thanh-hóa). Đột ngột Tân kéo ghế lại sát giường tôi:

 
 – Em có chuyện này muốn kể với anh, nhưng anh phải thề không cho ai biết kia đấy.

 
 – Nếu quá bí mật thì thôi đừng kể. Mình hay trống miệng lắm. Giấu cái gì trong bụng là y như người muốn đẻ vậy.

 
 Vẻ quan trọng, Tân cầu khẩn:

 
 – Anh là nhà báo, có học, đọc nhiều, tâm lý, lại là người Hà-nội, anh nghe em kể đi, chuyện của riêng em chứ đâu có là bí mật quốc gia. Em muốn được anh chỉ bảo cho. Các anh ở báo Nhân dân, Cứu quốc, Tiền phong… hôm họp ở bộ nông nghiệp nói với em rằng anh là “chính ủy” của họ. Hễ ai có gì buồn hay khó khăn, nghe anh phân tích là yêu đời lại ngay. Anh giúp em đi.

 
 Nhìn đôi mắt van lơn của Tân, tôi phì cười:

 
 – Thì ra vậy mà cậu nằn nì bằng được Ban thi đua của Bộ để mời tôi về đây.
 
 Tân cười như xin lỗi:

 
 – Công tư lưỡng lợi anh ạ. Nhiều lúc em muốn điên cái đầu lên, anh biết không? Có lúc em nghĩ đến cả giết người hay tự tử nữa kia đấy.

 
 – Chà, chà. Lâm ly, bi đát nhỉ. Cứ như là Othenlo lên cơn ghen ấy. Có cà phê không?
 
 – Có chứ. Arabica của nông trường Đồng-giao đấy. Thằng bạn cùng khóa với em làm kỹ thuật ở đó. Anh muốn cả tạ cũng được. Xã hội nào chì cũng “thợ may ăn bớt vải, thợ mã ăn bớt hồ”.

 
 Tôi cười:

 
 – Các cụ mình giỏi thật. Nói câu nào trúng phóc câu ấy. Có lẽ vì thế mà các cụ bị “cách mạng”.
 
 Trong khi Tân pha cà-phê, tôi hỏi:

 
 – Nói thật nhé, mới liếc qua cả tổ chức lẫn lều trại, mình thấy trại này của cậu hoang sơ quá thế mà sao lại được chọn là điển hình hả?

 
 Tân thích trí cười sằng sặc:

 
 – Anh tinh thật. Các anh bạn anh bảo anh giả ngây giả ngọng vậy thôi chứ con ruồi bay qua cũng biết đực cái.

 
 – Nghe cánh nhà báo thì bán thóc giống và… lợn giống đi mà ăn. Có đàn bò đi qua thì mình biết con nào đực, con nào cái. Thôi, thành thật khai đi, không phải để viết báo đâu, mình tò mò thôi, có thế mới mách nước chuyện riêng của cậu.

 
 – Vâng. Bọn em một mặt làm báo cáo cho kêu, một mặt “cung cấp lợn giống” theo giá “lợn chết” cho các vị có quyền từ tỉnh đến bộ.

 
 – Giá “lợn chết” là thế nào?

 
 – Thí dụ con lợn giống 5 kí-lô bán cung cấp là 15 đồng. Nhưng bán cho vợ con các cụ ấy – về nuôi hoặc bán lại lấy lời – thì hạ từ 5 kí-lô thành 3 kí-lô và coi như vận chuyển bị chết hoặc chuồng chật mà chết, thế là còn bán có năm hào một con thôi. Như vậy tránh tiếng tham ô, hối lộ.

 
 – Thế còn các vị ở bộ họ cũng nuôi à?

 
 – Số nuôi lợn cũng có, nhưng ít lắm. Họ bán lại cho mấy người Trung quốc ở phố Hàng Buồm, nên mới có lợn quay “bán chui” chứ! Những 3 đồng rưỡi một kí-lô móc hàm.
 
 Tôi ngồi im, nhìn những giọt cà-phê sánh lại chảy giọt từ cái phin nhôm xuống chiếc ly thủy tinh. Một nỗi căm phẫn bùng lên. Tôi muốn chửi thật to cái nhà báo, giáo sư, trí thức nước ngoài đã ca ngợi, vẽ vời cho Hồ chí Minh và đảng của hắn. Họ chẳng biết một tý gì cái “thực” của miền Bắc Việt
Nam trong tay Hồ chí Minh. Tôi nhớ đến một anh bạn thân, từng được cử đi làm chuyên gia ở châu Phi trở về, đã tâm sự “chế độ Hồ chí Minh sẽ đổ vì nền kinh tế không tưởng của nó”. Câu “an ủi” đó làm tôi dịu lại. Chợt nhớ đến câu chuyện lạ kỳ nhất thế giới về kinh tế, đã xảy ra ở miền Bắc Việt Nam, vừa mới năm ngoái thôi. Đó là nông trường trà ở Sa-pa (Hoàng-liên-sơn), với hơn hai trăm cán bộ, công nhân viên, với hàng trăm mẫu tây diện tích, đã được nhận lẳng hoa của chú tịch Tôn đức Thắng về thành tích sản xuất. Thực tế, cả năm họ chỉ làm ra có “năm (5) kí-lô trà” và đã dùng để biếu: Tôn đức Thắng, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm văn Đồng và Hoàng quốc Việt, mỗi người vừa đúng “một (1) kí-lô”. Chuyên nay phải ỉm đi. Thật là như đùa.

 
 Cà-phê thơm thật là thơm nhưng uống với đường màu cánh gián Cu-ba thì thật là phí, nó chua ngoét. Tôi nhớ cà-phê bà Sính ở đường Cột-cờ và cà-phê Hói ở đầu Bà Triệu (Hà-nội).
 
 Tôi nhìn Tân, động viên:

 
 – Nào, kể chuyện riêng của cậu đi.

 
 Tân e hèm hai ba lần, cứ như con cắc kè trước lúc tắc lưỡi, mới nói được:

 
 – Em kể chẳng đầu chẳng đuôi lại tóm tắt cho anh còn đi ngủ, anh bỏ lỗi cho em nhé.
 
 Tôi cười:

 
 – Không sao. Cứ nói theo ý nghĩ của cậu. Nói đến sáng cũng được.

 
 Muỗi nhiều quá, tôi mắc màn, và hai chúng tôi ngồi trong màn nói chuyện.

 
 Tân bắt đầu:

 
 – Cái cô nấu cơm cho anh ăn chiều nay tên là Mai. Lưu Nghiêm Hoàng Mai. Cô ấy là người Hà-nội đấy. Xưa kia gia đình có cửa hàng đại lý bán và sửa chữa radio ở gần Chợ Mơ. Năm 1960 bị qui là tư sản mại bản, bị tịch thu nhà cửa. Ban cải tạo cho hai điều kiện, hoặc ông bố cô ấy phải đi cải tạo tập trung hoặc cả gia đình phải đi kinh tế mới ở miền núi. Và gia đình cô Mai đã chọn điều kiện hai: Cả nhà vào lập nghiệp ở huyện Thạch-thành (Thanh-hóa) này. Cả cơ nghiệp chỉ có ít áo quần, chăn màn, nồi niêu với hai trăm đồng vốn sau khi đổi tiền. Số tiền dư thừa bị ngân hàng quản lý không được phép chi tiêu, và sau khi trừ nợ thuế – tính từ 1945 – thì chẳng những không còn đồng nào ở ngân hàng mà còn nợ nhà nước hàng ngàn đồng tiền thuế. May làm sao, gia đình sau khi về Thạch-thành đem theo được một chục trứng gà
Rhodes Island và một chục trứng gà Sussex. Cụ Phác, bố cô Mai là một người đa tài và cần cù. Ông tự làm lấy lều để ở rồi khai hoang, chăn nuôi. Cô Mai lúc ấy mới lên mười tuổi đầu cũng phải cuốc đất với bố. Cả cô chị, hơn cô Mai hai tuổi, cũng thế; cũng tên là Mai nhưng là Bạch Mai. Còn bà mẹ cô Mai khi đó đang có mang đứa út. Bà bị xẩy thai vì buồn và vất vả, rồi ốm quặt quẹo luôn luôn. Và, cứ trông hai đứa em trai, một lên bốn, một lên ba cũng đủ mệt rồi. Cô Bạch Mai đến năm 1964, theo người ta lên rừng cắt lá bán dịp Tết bị hổ vồ chết. Cụ Phác thì lao lực, lại bị sốt rét ác tính nên chết từ năm 1963. Trước khi chết cụ chỉ căn dặn phải cố gắng cải tạo để được thay đổi thành phần và hai cô chị phải thề sẽ hy sinh cho hai đứa em trai, sau khi được thoát khỏi thành phần tư sản mại bản, thì được ăn học đến nơi đến chốn. Năm sau nữa, cô Bạch Mai bị hổ vồ chết, thành ra cả gia đình bốn miệng ăn chỉ nhờ vào cô Hoàng Mai là lao động chính mới tròn 15 tuổi. Thành phần như vậy, lại neo đơn về lao động nên gia đình cô Mai không được vào hợp tác xã nông nghiệp địa phương, vẫn làm ăn cá thể và ở tận rẻo đất xa làng mạc. Cũng may gây được hai loại gà giống Rhodes IslandSussex do mẹ và hai em trai nhỏ chăm sóc nên đỡ phần nào. Cô Mai tuy học dở dang cấp hai phổ thông, nhưng được cụ Phác kèm cặp thêm, và với địa phương là loại khá về văn hóa nên cô ấy tích cực tham gia dạy học ban đêm cho người lớn, phải đi đêm hôm hàng cây số đường rừng để vào làng dạy học. Trời phù hộ hay sao mà cô ấy chẳng bệnh tật đau yếu gì, thật là khỏe như lực điền, gánh gần 60 kí lô thóc đi đường xa cứ phăm phăm. Đảng ủy và ủy ban xã dần dần hay họp hành chè chén cả khi đón cấp trên cũng như khi hiếu hỷ và mẹ con cô Mai được gọi làm đầu bếp vì là người Hà-nội. Thế rồi lãnh đạo huyện về đây ăn ngon miệng nên tuyển cô ấy về cho vào làm hợp đồng của trại lợn giống này, khi ấy còn do huyện quản lý. Đây là tổ nặng nhọc nhất vì phải nấu và cả kiếm thức ăn cho cả đàn lợn hàng trăm con, chưa kể còn phải nấu nướng cỗ bàn mỗi khi đảng ủy hoặc ủy ban huyện có khách, đã thế lương lại thấp hơn hồi lao động cá thể. Nhưng cô Mai chấp nhận, hy vọng nếu vào được biên chế tức là thành phần công nhân thì có thể thay đổi thành phần giai cấp xã hội, nhờ đó hai em trai khỏi bị xếp là công dân loại 13, là loại lý lịch đen. Em và cô ấy rất quen nhau ở đây. Tuy bận đầu tắt mặt tối, nhưng cô ấy rất hiếu học. Em đã kèm cho cô ấy học và đã đậu hết phổ thông cấp hai của chương trình bổ túc văn hóa. Và, cũng do sự động viên của cô ấy mà em học thi xong cấp 3 phổ thông, học hàm thụ đại học nông lâm. Em yêu cô ấy thực lòng và em thấy cô ấy cũng có nhiều cảm tình với em, tuy không có gì biểu lộ rõ ràng. Cô ấy kín đáo, hầu như chẳng thấy đùa vui bao giờ. Em báo cáo với tổ chức việc tìm hiểu thì bị mụ Cú, lúc ấy vừa là bí thư chi bộ đảng, vừa là trại trưởng ngăn cản. Mụ ta nêu lý do là tất cả thanh niên trong thời chiến đã làm đơn “3 khoan” (tức là chưa yêu thì khoan yêu; yêu rồi thì khoan cưới, cưới rồi thì khoan sinh con) thì phải chấp hành, không những em là cán bộ, là cảm tình đảng đã đành, mà ngay cô Mai cũng vậy. Mụ còn bảo cho dù không có chính sách “3 khoan” của đảng thì đường lối giai cấp cũng không cho phép mụ ấy để em lấy cô Mai, vì cô ấy là thành phần xã hội xấu, còn đang phải cải tạo trong lao động. Em nói rằng cô ấy đã lao động tư 12 tuổi đến nay, vả chăng cô ấy còn là “công nhân” hợp đồng của trại. Mụ đập bàn quát: “Công nhân gì nó, cho dù có lao động đến hết đời nó đến đời con nó, nếu như có đứa đàn ông nào ngu xuẩn đâm đầu vào lấy nó làm vợ.”

 
 Nghe đến đó, tôi không nén được:

 
 – Mụ ấy nói vậy sao?

 
 Tân run giọng vì phẩn uất:

 
 – Em thề là nhớ không sai một chữ. Mụ còn hăm dọa là nếu em còn nuôi ý nghĩ lấy cô Mai làm vợ thì mụ sẽ đề nghị tổ chức cho em chuyển công tác đi nơi khác hoặc sẽ cho cô Mai vào thanh niên xung phong đi đắp đường ở Trường-sơn.

 
 Xa xa, chợt có tiếng cú vọng vào. Tôi tưởng như hồn của mụ Cú, bí thư đảng, đêm nhập vào thân chim để kêu tiếng kêu ma quái của mụ. Cũng có thể mụ đang kêu gọi hồn ông Hồ chí Minh về soi sáng mụ hơn nữa về đường lối đấu tranh giai cấp.

 
 Tân ngừng một lúc rồi trầm giọng:

 
 – Em không sợ cho em vì dù sao bố em cũng là thương binh chống Pháp. Em lo cho số phận cô Mai. Mụ Cú sẽ trút mọi sự tàn nhẫn lên đầu cô Mai, mà như thế có nghĩa là cả lên mẹ và hai em nhỏ của cô ấy. Em đành nuốt hận và còn phải theo lệnh của mụ ta viết bản tự kiểm thảo với lời hứa trên giấy trắng mực đen là không bao giờ được có quan hệ “luyến ái vô tổ chức” với cô Mai.

 
 Tôi cắt ngang:

 
 – Cô Mai có biết chuyện này không?

 
 Tân do dự:

 
 – Cũng có thể. Như em đã nói, cô ấy là loại sống nội tâm và vị tha. Cô ấy rất ít nói lúc nào cũng khép kín mình. Nhưng vẫn giữ quan hệ bình thường với em, tuy có lúc em cảm thấy như cô ấy muốn tránh mặt.

 
 – Thí dụ?

 
 – Chẳng hạn cô ấy mượn các sách giáo khoa cấp ba của em để tự học mà không chịu cho em kèm học như trước. Có một điều…

 
 – Một điều làm sao?

 
 – Em thấy mụ Cú căm thù lắm.

 
 – Quan điểm giai cấp cực đoan chăng?

 
 – Không phải. Mụ Cú thì biết gì về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Mụ ấy là người dốt nhất thế giới, đó là con vẹt anh ạ. Chính chồng mụ, trước khi lấy mụ, là thành phần tiểu tư sản: một giáo viên chuyển sang làm công tác thông tin của huyện. Mụ căm thù cô Mai vì đố kỵ nhỏ nhen, vì cô Mai trẻ, đẹp, giỏi và nết na hơn mụ. Đây là cốt lõi của vấn đề. Anh không biết chứ, mụ ta là một dâm phụ, đại dâm phụ.

 
 Tôi phì cười:

 
 – Mụ ấy phải lòng cậu rồi chứ gì?

 
 Tân bật cười theo:

 
 – Mụ không thích mẫu người như em mà thích thằng
Cam lái xe và thằng Tôn làm tiếp liệu.
 
 Hai nhân vật đó chợt hiện lên trước mắt tôi. Cam to cao, da mai mái, tóc rễ tre, có cặp mội dày như hai múi bưởi gắn vào mồm, lúc nào cũng ươn ướt, hao hao giống môi Phạm văn Đồng. Còn Tôn, nếu đeo cặp kính trắng và cái đầu lúc lắc, tóc dài chút nữa và rũ rượi ra thì đúng là Xuân Diệu. Tôi nhìn Tân hỏi lại:

 
 – Có thật thế không?

 
 Tân tròn mắt như ngạc nhiên:

 
 – Chính em thấy tận mắt bọn chúng bay bạ với nhau tay ba! Lúc đầu em không tin là sự thật mà tưởng như nằm mơ. Phải đến lúc bọn chúng đập nhau đôm đốp và cười cùng cực em mới tin là sự thật.

 
 – Ngoài ra cậu liệu có ai biết chuyện này không?

 
 – Em không biết. Ngay như em, biết cũng chẳng dám nói. Anh là người thứ hai được em kể lại. Người thứ nhất là bố em. Em kể cho ông nghe, ông ống điếu đập vào đầu em và nói: “Mày mê một tư sản mại bản mà vu cáo bí thư đảng. Tôi mày đáng bắn vỡ đầu, đáng thắt cổ trôi sông. Mày mà không đoạn tuyệt với những ý nghĩ phản động ấy thì tao sẽ đích tay bắn chết mày để khỏi mang tội với đảng và Hồ chủ tịch. Đảng bao giờ cũng đúng và đảng viên là tinh hoa vủa giai cấp công nhân. Mày nhớ cho đến chết, nghe chưa!”

 
 Rồi Tân buồn rầu:

 
 – Và, bố em đã chết vì đứng tim khi nghe bộ trưởng phủ thủ tướng Nguyễn Khang, ủy viên trung ương đảng, làm hại đời con gái của bạn.

 
 Càng về khuya, trời càng lạnh. Con cú tai quái vẫn rúc liên hồi đâu đó. Tôi phủ cái chăn chiên của nhà máy dệt Nam-định lên người mà vẫn run. Tân hỏi tôi:

 
 – Có mứt gừng ăn Tết đấy, anh ăn cho nóng người nhé.

 
 Tôi gật đầu. Tân lục đục một lúc rồi cầm cả lọ mứt vào. Tôi nhấm một miếng, vị cay, ngọt, âm ấm. Miếng mứt khô và cứng vừa đủ. Tôi hỏi:

 
 – Mứt thương nghiệp tỉnh đây hay ở quê cậu mà khá thế. Y như mứt Hà-nội trước 1954.

 
 Tân nhấm nháp, gật gù có vẻ tự hào:

 
 – Bà mẹ cô Mai nấu lấy đấy. Thì đã bảo dân Hà-nội chính hiệu mà anh. Đủ cả “công, dung, ngôn, hạnh”. Như anh ở tuổi đó chắc chị ấy cũng khéo, chứ em xem bây giờ con gái cỡ bọn em toàn “3 đoảng” chứ chẳng “3 đảm” chút nào (tức là đảm đang việc nhà; đảm đang việc nước; đảm đang việc xã hội). Kén vợ khó lắm anh ạ.

 
 – Cũng chẳng trách họ được, vì những thứ “công, dung, ngôn, hạnh” bị coi là tính cách của giai cấp bóc lột, của khuôn mẫu cho người phụ nữ trong xã hội coi “đàn bà là đồ chơi, tôi mọi” nên bị đả phá.

 
 Tân cười hiền lành:

 
 – Thú thật với anh, em nghĩ “công, dung, ngôn, hạnh” của người phụ nữ chính là vật liệu dựng nên lầu đài hạnh phúc gia đình đấy ạ. Đàn bà kiểu mụ Cú hay mụ Tơ thì có chết hết đàn bà em cũng không màng tới họ, thà lấy con bò cái làm vợ còn hơn.

 
 Tôi bật cười:

 
 – May mà ông cụ nhà cậu chết rồi, chứ còn sống chắc ông ấy thắt cổ cậu đem trôi sông rồi đấy.

 
 – Tội nghiệp bố em, ông ấy cuồng tín đến mù lòa.

 
 Tôi gạt đi:

 
 – Thôi, kể tiếp chuyện cô Mai đi. Đừng nói đến người đã khuất nữa mà mang tội.

 
 Tân e hèm:

 
 – Chắc anh cũng mệt vì đạp chiếc xe Liên-xô cả ngày rồi. Ngủ đi cho khỏe. Mai em đưa anh đến chỗ cô Mai để thấy “người thật việc thật”, anh sẽ sửng sốt, không khéo chết đứng như Từ Hải của cụ Nguyễn Du.

 
 Tôi chập chờn đi vào giấc ngủ với một linh cảm rằng cái cô Hoàng Mai này có liên quan gì đó đến cô gái mà tôi gặp trên chuyến tàu thủy đi Thái-bình vào dịp Tết mấy năm về trước. Tôi mơ thấy một gương mặt buồn, nặng nề chịu đựng; thấy tiếng gà cục tác, thấy hoa bưởi rơi trắng sân, mùi thơm ngan ngát; mùi sắn nướng thơm làm sao, bùi bùi, nóng nóng và một vị ngọt thoang thoảng trên đầu lưỡi. Tất cả đều hư ảo, không rõ ràng, chẳng hiện hẳn ra mà cũng chẳng chịu biến đi. Thế rồi tôi tỉnh dậy. Nhiều năm bị cải tạo đã thành phản xạ có định hình. Tôi vừa mở mắt thì cái loa công cộng của trại lợn giống cũng ồm ồm bài nhạc tập thể dục buổi sáng. Trời lạnh buốt nhưng tôi cũng nhảy ra khỏi giường làm vài động tác thể dục. Tân vừa đi đâu về, nhấm nháy bảo tôi mặc quần áo đi ngay.
 
 Qua một nương sắn, trước mắt tôi là căn nhà lá xinh xắn. Chưa tới gần đã nghe một giọng đàn ông khàn khàn chửi:

 
 – Tiên sư cha thằng Hồ chí Minh, mày đánh lừa tao! Tiên sư cha thằng bác sỹ cưa hết cả chân, tay của tao! Tao sống thì ngày ngày chửi mày, tao chết thì kiện mày tận ba tòa Diêm-vương.
 
 Tôi chưa hết ngạc nhiên tột độ thì Tân khẽ nói:

 
 – Chồng cô Mai đấy. Ngày nào cũng chửi như thế đủ cả ba buổi: sáng, chiều và tối.

 
 Đi gần tới cửa, Tân lên tiếng:

 
 Anh Thìn ơi, có khách ở Hà-nội vào chơi này. Chị Mai có nhà không?

 
 Một giọng tỉnh táo:

 
 – Tân đấy hả? Mày về hồi nào, vào đây, mời cả khách vào đây. Cô Mai ra chuồng rồi, nghe nói đêm qua có sương muối, lợn bị chết đấy.

 
 Tôi theo Tân vào nhà. Trên chiếc giường đôi, nằm sát phía ngoài, một người đàn ông có bộ mặt xanh xao nhưng ưa nhìn đang nằm đắp chăn đến tận vai. Dưới gậm giường một cái chậu sành than hồng tỏa ấm cả căn phòng. Mùi vỏ bưởi cháy thơm bốc lên. Tân giới thiệu:
 
 – Đây là anh Thìn. Thương binh loại…

 
 – Loại… “3 không”: không tay, không chân, không trợ cấp thương tật.

 
 – Còn đây là nhà báo đi thực tế về trại ta, lại thăm anh chị…

 
 Mới nghe đến thế, anh thương binh Thìn nhăn mặt mũi như vừa ngửi phải cái gì hôi thối

lắm:
 
 – Nhà báo hả? Tiên sư cái thằng Tân này, mày dẫn nó đến đây làm gì? Để “thực tế” cái què, cụt tàn phế của tao hả? Để mô tả cái con c… tao hả? Để phịa chuyện đánh lừa các thanh niên chết hoặc tật nguyền cho chúng nó phè phỡn hả!!!

 
 Cái chăn động đậy, một cánh tay khẳng khiu thò ra khỏi chăn, chỉ ra phía cửa:

 
 – Cút, cút ngay cái thằng làm báo thối tha kia. Thằng bồi bút. Thằng tô hồng chế độ! Thằng bôi đen sự thật! Thằng con hoang của chế độ Hồ chí Minh!

 
 Tôi đứng im chịu trận mắng như trút nước, không tự ái mà chỉ xót xa hổ thẹn. Tân ngồi xuống mép giường, giọng vỗ về:

 
 – Khoan nào anh Thìn, nghe em nói đi. Anh ấy không phải loại làm báo cơ hội bẩn thỉu như anh vẫn kể cho em nghe đâu. Anh ấy cũng như người anh tinh thần của em ấy mà. Cho nên em mới dám đưa lại thăm anh, nói chuyện cho anh đỡ buồn.

 
 Nét mặt nhợt nhạt, hai cánh mũi phập phồng vì mệt, Thìn nằm im, một lúc sau, giọng bình tĩnh hơn:

 
 – Anh ngồi đi.

 
 Ghế là một khúc gỗ cong queo với cái nệm là lá ngô bện đan thành các hình kỷ hà học. Tôi ngồi xuống liếc nhìn căn phòng. Ngăn nắp và toát lên một vẻ diêm dúa trong tay một người con gái kỹ tính. Một ống tre làm lọ hoa, chồi lên một giỏ phong lan “hài vệ nữ”; mấy gốc sắn đã chặt củ làm thành hình các con thú được quang dầu bóng nhoáng để trên chiếc tủ con; ba chậu hoa “pensée” làm bằng mo cau ở kế cửa sổ; có rèm làm bằng màu giấy lấy từ họa báo của Trung cộng, se lại như chiếc điếu thuốc lá nhỏ và luồn giây dù để nối lại nhau. Nhìn vào đâu cũng có dấu tích bàn tay khéo léo và con mắt thích cái đẹp của con gái Hà-nội.

 
 Thấy tôi quan sát tỉ mỉ, anh Thìn lên tiếng:

 
 – Tác phẩm của cô Mai đấy, anh thấy thế nào?

 
 Tôi mỉm cười:

 
 – Khéo lắm, chắc cũng có ý kiến đóng góp của anh chứ?

 
 Thìn cười buồn:

 
 – Tôi ấy à. Tôi là thằng khốn nạn, làm được cái quái gì khi cụt cả hai chân và một tay. Còn lại một tay thì là tay trái. Còn đầu óc, ngu như là bò đực, anh biết không? Tôi chỉ nằm đây cho cô ấy hầu, cho cô ấy nuôi như nuôi… lợn con, để rồi lúc đầu óc đau buốt thì chửi. Tôi chửi thằng Hồ chí Minh lường gạt nhân dân, cả Việt Nam, cả thế giới. Tôi chửi nhân dân Việt Nam ngu dốt, thích làm nô lệ, hết cho Tây lại cho Nga, cho Tàu, cho Hồ chí Minh. Tôi chửi tôi ngu đã nghe lời Hồ chí Minh nên mới ra nông nỗi này. Tôi chửi bố cô Mai ngu, không di cư vào Nam mà ở lại để bản thân chết như con chó ghẻ, còn làm khổ vợ, khổ con. Tôi chửi cô Mai ngu, đã nghe lời Hồ chí Minh và con Cú để cõng tôi từ trại thương binh về làm chồng, lại còn làm đơn tình nguyện hiến hết mọi trợ cấp thương binh của tôi để ủng hộ miền
Nam đánh Mỹ-Ngụy. Tôi chửi mẹ cô Mai đã đẻ ra hai thằn em trai của cô ấy để bây giờ cô ấy hy sinh cho chúng nó được đổi thành phần giai cấp xã hội bằng cách lấy tôi, lợi dụng cái tàn tật của tôi, giả vờ làm vợ của tôi, giả vờ tiến bộ. Tôi ngu nhưng tôi còn hơn bọn các anh vì tôi dám chửi thằng Hồ chí Minh. Anh có dám nghe tôi chửi không? Này thì tổ sư cha thằng Hồ chí Minh, thằng Lê Duẩn, thằng Trường Chinh, thằng đại sứ Nga, thằng đại sứ Trung cộng!!!

 
 Nghe Thìn nói, tôi thấy lòng sôi sục phẫn nộ:

 
 – Anh Thìn, nghe tôi nói này. Anh nói đúng, anh là thằng khốn nạn, là đồ ngu như bò. Vì thế mới có cái hiện tại của anh. Tất nhiên không hoàn toàn ở anh, còn có nguyên nhân khác nữa. Đừng nằm đó mà làm anh hùng với cô Mai, ân nhân của anh. Anh càng chừi, người ta càng cho anh là thằng điên, chẳng ai thèm nghe mà cũng chẳng ai thèm để ý đến cái thứ như anh đâu. Anh làm khổ anh chưa đủ hay sao mà còn làm khổ, sỉ nhục người con gái yếu đuối như cô Mai.

 
 Tân đứng dậy can:

 
 – Đừng anh, đừng…

 
 Giọng Thìn tỉnh lại:

 
 Để yên anh ấy chửi tao, Tân. Anh ấy nói nghe được đấy. Anh ấy bênh vực cô Mai tuy chưa quen biết, được đấy. Tao tin anh ấy.

 
 Rồi nhìn tôi, Thìn tiếp:

 
 – Từ ngày tôi về đây chưa đứa nào dám chửi tôi, cũng như chưa đứa nào dám bênh cô Mai trước mặt tôi. Anh chưa mất chất người như bọn chúng nó. Tôi nằm nhiều năm mới có cái cách nhìn người như thế đấy.

 
 Tự nhiên tôi thấy hụt hẫng, thấy hối hận trước thái độ của Thìn. Tôi lại sát giường, cầm bàn tay xương xẩu, giá lạnh của Thìn. Chúng tôi nhìn nhau và tự nhiên có cái đồng cảm như người cùng trong cuộc. Đôi mắt Thìn tối sầm, những giọt nước mắt ràn rụa. Thìn khóc thút thít như con nít. Tôi vốn khó chịu khi nghe ai khóc, có lẽ vì cứ hay bị nghe vợ khóc khi hết tiền mua gạo, hết tiền mua các thứ tem phiếu tiêu chuẩn làm quá hạn phải hủy đi hoặc nghe con bé lớn cứ i ỉ khóc lúc nửa đêm, lúc mà bụng đã ngót, trời thì nóng hầm hập, muỗi như trấu mà vẫn phải ngồi dịch sách kiếm thêm bằng tay trái vẫn chẳng đủ tiêu. Nó đòi quạt cho mát vì rôm xẩy đầy người. Thế mà giờ đây nhìn nước mắt của một người đàn ông khóc vì bất lực, tôi thấy xúc động, thấy muốn gào thật to cho hả. Khi cơn xúc động đã qua, cả ba chúng tôi kẻ nằm, người ngồi đều yên lặng như tượng gỗ. Tôi chợt thấy một mùi khăn khẳn, hình như từ chỗ nằm của Thìn. Chắc là máu mủ từ những chỗ loét nơi thương tật. Thì ra vậy nên cô Mai mới bày cách đốt cùi vỏ bưởi cho át mùi hôi đó. Tân là người phá bầu không khí đầu tiên:

 
 – Chị Mai làm mứt Tết ngon lắm, anh ăn thử mấy thứ mứt xem nhé, phải không anh Thìn?
 
 Thìn ừ hử, chỉ tay ra chiếc tủ con:

 
 – Mày giúp tao lấy mứt và có trà tươi nóng đấy mời khách hộ tao.

 
 Mứt chanh, mứt đu đủ, mứt na, mứt gừng, mứt khoai, mứt đậu nành, tôi nếm mỗi thứ một miếng, không ngờ ở xó rừng này lại có đủ thứ mứt ngon như vậy. Ly chè xanh khói lên mờ mờ, uống chiêu mứt sao mà hợp khẩu thế. Đúng ra căn nhà lá ngăn nắp này phủ lên sự thể hiện của “túp lều tranh, hai trái tim vàng”, ấy thế mà lại chỉ là máu mủ, nước mắt, những câu chửi ngày đêm, những thổn thức như tiếng thạch thùng tắc lưỡi, và đêm đêm phải nghe tiếng cú vọng vào!

 
 Chợt một đứa bé chạy tới đứng ở bậu cửa:

 
 Chú Tân ơi, mẹ cháu bảo chú phải ra ngay chuồng lợn giống.

 
 Tân vội đứng dậy, thì thầm với tôi:

 
 – Thằng con mụ Cú đấy, giọng ông tường không! Anh ngồi đây nói chuyện với anh Thìn nhé, em đi một lát vậy.

 
 Còn lại tôi và Thìn, chúng tôi nhìn nhau. Thìn dùng một tay còn lại tìm miếng vỏ bưởi. Tôi hiểu ý vội làm hộ, vứt miếng vỏ bưởi xuống chậu than, mùi vỏ bưởi cháy vừa thơm, vừa làm căn nhà ấm lại. Hai mắt Thìn lúc này dịu lại, hiền lành như mắt gà con mới mở, Thìn nhìn tôi:

 
 – Em xin lỗi anh. Em điên đấy. Tại em yêu và thương cô Mai cũng như em thương thằng Tân và cái si tình của nó với Mai. Phần lớn trong ngày em nằm để đau đớn cho số phận, buốt nhói từ các vết thương chẳng bao giờ lành, cho nên em hay suy diễn. Bố mẹ đẻ em là dân Nam-định, đều là liệt sỹ chống Pháp. Em còn ông chú và thằng em, nhưng họ đã quên em rồi vì sợ phải cáng đáng cái thân phận tàn tật này. Điều họ cần họ đã có rồi, đó là ghi em trong lý lịch của họ: thương binh loại đặc biệt trong đánh Mỹ.

 
 Thìn nhăn nhó cười mỉa. Tôi nâng đầu Thìn lên cho uống hớp chè tươi. Lúc trước hẳn Thìn cũng khá đẹp trai, mũi thẳng, môi dưới tề tề đa cảm và hàm răng nhỏ, đều. Thìn nhìn tôi cảm ơn và nói tiếp:

 
 – Em, bị thương từ 1964, ở bến phà Linh-cảm, vì xe ô-tô chở súng đạn vào chiến trường miền
Nam bị nổ. Họ đưa em ra Hà-tĩnh, ở đấy mấy thằng bác sỹ chó chết đã cưa hai chân và một tay em. Một trung úy, đại đội trưởng đại đội vận tải mà bây giờ như thế này đấy anh ạ.

 
 Đôi mắt Thìn nhìn vào khoảng không như đang sống lại trong quá khứ:

 
 – Những ngày ở bệnh viện mê man kề bên cái chết, em luôn nằm mơ thấy một người con gái đẹp – em biết là đẹp – nhưng không sao nhìn rõ mặt. Cứ hễ lần nào em cầm tay cô ta, ở ngón út bên phải có một cái bớt xanh nhỏ bằng hạt đậu thì tự nhiên cô ấy biến mất và em tỉnh lại. Sau năm 1965, để động viên thanh niên đi bộ đội vào Nam đánh nhau, mà cũng là để giải phóng cho các bệnh viện, trại thương binh tiếp nhận bệnh nhân mới từ các chiến trường đưa ra – là sau này em mới hiểu điều đó – và cũng để bớt gánh nặng cả tiền lẫn người cho chính phủ, ông Hồ chí Minh chỉ thị cho đảng và đoàn thanh niên tổ chức cho các nữ đoàn viên thanh niên, kể cả ngoài đoàn, ở các địa phương hẻo lánh, tình nguyện lấy thương binh làm chồng và làm đơn tình nguyện trả lại mọi trợ cấp thương tật cho nhà nước, tự mình nuôi chồng. Ai chấp nhận như vậy sẽ có một số ưu đãi. Cuối năm 1966, không kể các nơi khác, ở Thanh-hóa này có hơn ba chục cô ra bệnh viện Hà-tĩnh làm đám cưới tập thể với thương binh, trong đó có cặp Mai và em.

 
 Thìn im lặng một lúc rồi tiếp:

 
 – Khi nghe phổ biến chủ trương trên, em chẳng vui cũng chẳng buồn. Biết mình thành quái vật em đã khóc nhiều đêm và sự đau đớn quá độ làm chai lỳ, mất hết mọi xúc động và cảm giác. Hôm đám cưới, bên nhà gái có mụ Cú vào chọn chàng rể, mụ đi khắp lượt và đã chọn em, làm xong thủ tục nhận về địa phương, mụ giắt Mai vào. Vừa thấy Mai, tự nhiên em như thấy mình sống lại, như có một sinh khí mới ập vào lồng ngực em. Tóc của Mai dài, đáng lẽ dùng cặp tóc thì Mai dùng chiếc khăn tay nhỏ buộc lại. Hai con mắt to màu hạt dẻ nhìn em rụt rè, sợ hãi. Mặt tái mét, một lúc sau mới run giọng nói:

 
 – Chào anh. Em là Mai, vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa cao đẹp, vì tình quân dân cá nước thiêng liêng, từ nay em là vợ của anh. Chúng ta kết đôi để làm thành một gia đình kiểu mới, trong đó vợ chồng còn là tình đồng chí, giúp nhau tiến bộ để thực hiện tốt đẹp sự nghiệp vĩ đại của đảng và bác Hồ vô vàn kính yêu của chúng ta.

 
 Em tròn mắt thấy những câu rất “chính trị” ở mồm một cô gái mặt non choẹt và ngây thơ như Mai, nhưng chợt nghe từ xung quanh, các cô khác cũng nói đúng câu nói như vậy với các ông chồng vừa biết mặt. Thú thật với anh, nhìn Mai em xúc động và thấy yêu cô ấy ngay từ lúc gặp mặt lần đầu ấy. Yêu điên cuồng anh ạ. Giá em đủ cả hai chân, hai tay, em sẽ chạy lại ôm cô ấy vào mình, che chở cho cô ấy. Đứng cạnh mụ Cú, Mai như nàng tiên trong chuyện cổ tích bên cạnh ác quỷ. Và, em chợt tự hỏi không biết nên cám ơn mụ Cú đã mang Mai đến cho em, vì em là thương binh tàn tật nhất mà Mai lại là cô gái trẻ và đẹp nhất, không thể có ai so sánh được chứ nói gì với hàng trăm cô gái Thanh-hóa và Nghệ-an hôm ấy; hay nên căm thù mụ ấy đã đẩy em vào sự thách đố của hạnh phúc.
 
 Thìn ngừng lại như mệt mà cũng như nén tiếng thổn thức:

 
 – Hôm về nhà, chính căn nhà này anh ạ. Khi đã khuya, chỉ còn hai người, em nằm ở đây và Mai ngồi ở chỗ của anh bây giờ, nét mặt vừa hốt hoảng, vừa chịu đựng. Em ngắm Mai, lòng thắt lại và chợt hỏi: “Ngón tay út bên phải của Mai có cái bớt xanh bằng hạt đậu phải không?” Vừa nghe thế, Mai giật thót người, nhìn em mồm há hốc, rồi đột nhiên chạy ra ngoài. Em sững lại, đau đớn hiểu rằng Mai nghĩ em là ma quái hiện hình. Rồi em phẫn nộ hắt chiếc khăn khỏi người cho cái lạnh của tháng chạp làm dịu lại. Thấy thế, Mai vội chạy vào, nhặt chăn lên đắp lại cho em, giọng nước mắt: “Em lạy anh, tha lỗi cho em, đừng làm thế, cả hai vợ chồng mình sẽ khổ”. Rồi cô ấy úp hai bàn tay vào mặt nức nở. Tự nhiên em tỉnh táo khác thường, bình tĩnh khác thường. Em nhìn cô ấy và… anh có thể tưởng tượng được không, ngón tay út bên phải của Mai đúng là có cái bớt màu xanh hằng hạt đậu. Em an ủi Mai. Cô ấy nín rất nhanh và lấy khăn nước nóng lau mặt cho em, nước lá bưởi thơm một cách sảng khoái. Em chợt hiểu “hạnh phúc là gì?” Em ước ao được hôn lên hai bàn tay mà các ngón khô lại, lòng bàn tay có những cục chai của lao động nặng nhọc nhiều năm, nhưng không dám. Rồi, có vẻ như một thế lực vô hình nào thúc đẩy, cô ấy nhẹ nhàng lên giường nằm cạnh em.

 
 Nói đến đây Thìn nấc lên:

 
 – Em khổ quá anh ạ. Có ai ngờ một thằng như em, cao một mét bảy mươi tư, nặng bảy mươi ký, có thể lùa một lúc hết tám bát cơm lèn, đang học hàm thu cơ khí năm thứ ba, được một học viên loại xuất sắc ở lớp múa Ba-lê mê như điếu đổ, đột nhiên trở thành quái vật như thế này. Lúc đầu em chửi cho số phận, nhưng rồi em hiểu ra là tại em, tội ác của em bị quả báo anh ạ. Em, đã nghe Hồ chí Minh, chuyên chở biết bao vũ khí vào Nam, làm chết và tàn tật biết bao đồng bào trong đó, có thể cũng có nhiều người như em bây giờ. Tại sao không dùng tiền của mua vũ khí, sức lực chém giết để xây dựng cái miền Bắc này? Tại sao phải giải phóng miền
Nam? Nếu cần đến sự giải phóng của Hô chí Minh thì người ta đã chẳng bồng bế nhau di cư vào Nam và dân miền Nam đã ra tập kết hết ở ngoài Bắc này, phải không anh? Chẳng qua là vì quyền lợi của thực dân mới Liên-xô và Trung cộng và cái chức chủ tịch cả nước Việt Nam, oai gấp hai lần làm chủ tịch nửa nước. Chỉ có vậy thôi. Cái chân lý ấy chỉ cho đến lúc thành quái vật em mới thức tỉnh, chịu một sự mặc khải sau khi nhiều lần hồn đã tới cõi chết trở về. Khi hồn lìa xác phàm thì người ta nhận thức được chân lý, nhưng quá muộn, cũng như người ta làm cho linh giác chứng nghiệm được cái sắp tới, đó là việc em mơ thấy ngón út bên phải có vết chàm của người con gái chịu nghiệp nợ em.

 
 Giờ tôi chẳng ngạc nhiên gì vì biết Thìn có trình độ ở bậc đại học. Biết bao con người ưu tú như vậy ở cả hai miền Nam-Bắc đã trở thành nạn nhân thảm thương và mãi mãi của tham vọng cá nhân tàn bạo của Hồ chí Minh, tôi tự hỏi và thấy tái tê trong lòng. Chợt nghĩ đến những Jean Chesnaux, Burchett, Madelein Riffaud, Jane Fonda… chẳng biết nên khinh vì họ cơ hội hay nên thương vì họ mù lòa trí tuệ, rồi cả cái trò hề tòa án Bertrand Russel!

 
 Tôi vứt một miếng vỏ bưởi và mẩu bồ kếp vào chậu than. Cho thêm vài mẩu than mới rồi đỡ cho Thìn uống nước. Tôi hỏi:

 
 – Ngày thường Thìn cũng nằm một mình như thế này cả ngày sao? Ăn uống, đái ỉa như thế nào?

 
 – Vâng, em nằm một mình. Mai chuẩn bị cho em đầy đủ và cho em ăn trước khi đi làm. Cô ấy phải làm gấp hai, ba người ta để nuôi em và giúp đỡ thêm cho mẹ cô ấy và hai thằng em nhỏ. Toàn là sáng kiến của cô ấy cả đấy: dưới đất em có một cái rổ để tro được che bằng cái mo cau, hễ đái, ỉa em chỉ cần dùng tay còn lại kéo dịch cái mo cau sang bên. Xong việc lại kéo vào như cũ. Cô ấy về nấu ăn, rửa ráy cho em. Cô ấy tận tình và thực lòng xót thương em. Nhưng em nhìn ở mắt cô ấy thì em biết không có tình yêu, cái tình yêu trai gái ấy mà.

 
 – Sao cậu biết được?

 
 – Khổ lắm, không thể cắt nghĩa và chứng minh được mà chỉ tự cảm nhận được thôi. Cô ấy chỉ tận tâm như bà phước với bệnh nhân cùi, chứ không phải “yêu” như em yêu cô ấy.
 
 – Thế thì cô ấy yêu ai?

 
 – Cô ấy không yêu ai, anh biết không, kể cả thằng Tân dù nó yêu cô ấy từ lúc chưa có em len vào, từ lúc cô ấy mới đến cái trại này.

 
 – Thế sao cậu lại chửi và sỉ nhục cô ấy?

 
 Thìn khóc thút thít:

 
 – Tại em yêu cô ấy. Em muốn cô ấy bỏ em, chán em đi rồi đi lấy thằng Tân. Chỉ có vậy cô ấy mới ngóc đầu lên được, mới có hạnh phúc anh ạ. Em muốn hy sinh để trả cái ơn cô ấy đã lấy em, đã săn sóc, thương xót em thật sự. Nhưng… đồng thời em lại sợ mất cô ấy. Anh có thấy cái hố bên kia nương sắn không? Dấu vết bom lạc của Mỹ đấy. Lần ấy cô ấy đã ôm em lăn xuống hào, dùng cả người che chở cho em. Đó là lần đầu em sợ chết, bởi vì, lần đầu em ngửi thấy da thịt của cô ấy, thấy cái nóng của sức sống của cô ấy bọc lấy cơ thể em. Còn ngày thường, chúng em nằm cùng giường, nhưng em để cái quạt nan ở giữa hai người, như lưỡi gươm của Tiểu Nhiên khi phải nằm cùng Mỵ Cơ. Anh có biết chuyện đó không.

 
 – Có, đó là tên dịch từ câu chuyện tình bất hủ giữa Tristan và Yseult. Cậu đọc sách nhiều nhỉ?
 
 – Trước kia anh ạ, Còn bây giờ em thích nghĩ nhiều hơn, và thích sống tưởng tượng. Em luôn thấy mình đủ cả chân tay, em lái xe chở cả Mai, mẹ cô ấy và hai thằng em rồi vào giới tuyến để vượt vào Nam, đi thật xa cái nơi này, chỉ như thế mới có hạnh phúc. Chúng em sẽ lập nghiệp ở Đà-lạt. Anh thấy có được không? đó khí hậu tốt cho phụ nữ. Đẹp như Mai lại càng đẹp ra. Em dự định chỉ ba đứa con thôi, hai đứa đầu là trai, còn đứa con út phải là gái. Về già, em và Mai sẽ sống với con gái, chàng rể. Con gái hiếu với cha mẹ hơn, còn đàn ông thì xề xòa ít để ý như con dâu. Chẳng cần giàu có xa hoa, chỉ cần đủ ăn thôi. Bọn em làm nghề trồng hoa, làm đẹp cho đời mà. Anh đọc “Gánh hàng hoa” chưa?

 
 Tôi gật đầu không ngăn được nước mắt, phải vờ đi ra ngoài, sợ Thìn trông thấy. Mọi người chẳng ao ước cao sang, người ta chỉ muốn sống yên bình. Nhưng, buồn thay lũ ma quái như Hồ chí Minh lại chỉ muốn ngai vàng, muốn đi vào lịch sử, muốn làm “bác”, làm “cha già” của cả dân tộc Việt Nam. Có ai thống kê được bao nhiêu hạnh phúc bị Hồ chí Minh làm tan nát, bao nhiêu cuộc tình chôn vùi trong máu và nước mắt? Tôi không muốn một Việt
Nam anh hùng, tôi chỉ muốn một Việt Nam hòa bình và hạnh phúc.
 
 Tân trở lại và mời tôi lên văn phòng đảng ủy. Tôi vào chào Thìn. Nắm tay tôi, Thìn lưu luyến:
 
 – Thế nào anh cũng phải quay lại với em, cả thằng Tân nữa, để ăn một bữa cơm Tết.

 
 Tôi hứa hễ rảnh tý chút sẽ trở lại nói “tâm sự” với Thìn.

 
 Tuy nhà ngói một tầng, nhưng văn phòng đảng ủy trông đẹp. Rõ ràng đây là bộ mặt để tiếp khách đến “tham quan” trại. Mụ Cú ra tận cửa đón tôi. Ngồi chưa yên chỗ thì thấy một người đàn bà đứng tuổi – trạc mụ Cú – bê cái khay có hai đĩa sôi nếp thơm phức hành phi mỡ và một đĩa thịt kho tàu. À thì ra ăn sáng. Đưa sôi và tiếp thịt cho tôi, mụ Cú miệng nói:

 
 – Mời đồng chí dùng sáng, cây nhà lá vườn. Nếp là tăng gia tự túc của trại, thịt lợn của trại luôn.

 
 Tôi nói đùa:

 
 – Còn củi, lửa và nước?

 
 – Dạ, tất cả là của đảng, của bác ạ.

 
 Rồi mụ thành kính ngước lên trần nhà, tôi nhìn theo. Thì ra, bàn thờ “tổ quốc” trên cao chót vót, hương nến nghi ngút, cùng đĩa sôi trắng và đĩa thịt kho tàu; cùng hoa tươi cắm lọ. Tôi cũng chẳng lạ lắm, vì đây là “lệ mới” bất thành văn, ở đâu cũng thế, cho dù chưa chắc họ đã tin yêu gì Hồ. Hệt như mấy anh sư hổ mang, thầy chùa “quốc doanh”, nhang khói trên bàn thờ Phật nhưng chúng vẫn làm chuyện bậy bạ ngay trong điện thờ. Trung ương đảng đang xây lăng cho Hồ kia mà.

 
 Mụ quay bảo Tân và người đàn bà kia:

 
 – Thằng Tân qua bên anh
Cam xem cho xe đi sửa chữa ra sao để còn dùng đi chúc Tết chứ. Còn Lài, mày xem lại báo cáo tổng kết để Tết ra tao cho mở “đại hội công nhân viên chức” của trại.

 
 Phó giám đốc Tân bỏ đi. Về sau, tôi được biết Lài là thư ký công đoàn. Đó là thực tế “đảng lãnh đạo toàn diện” đấy! Kiểu “lãnh đạo” của chủ với đày tớ. Tôi nhớ lại những lần họp “quốc hội” mới, Hồ chí Minh cười hề hề với các đại biểu:

 
 – Bác giới thiệu chú Đồng làm thủ tướng, các cô, các chú đồng ý thì cho tràng pháo tay.
 
 Tất nhiên, cả hội trường đứng dậy thi đua vỗ tay xem của ai kêu to hơn, trong cái không khí đó, tiếng của chủ tịch Hà-nội Trần duy Hưng, gào như muốn bể phổi: “Hồ chủ tịch muôn năm!”, y hệt “Heil Hitler!”.

 
 Ăn sáng xong, mụ Cú đích thân đưa tôi đi tham quan trại, cho đến bữa cơm trưa, rồi lại đi cho đến bữa cơm chiều. Hai bữa ăn vẫn là món ăn do bàn tay Hà-nội nấu. Tôi no mà vẫn cứ muốn ăn, để được có thêm cái hơi “Hà-nội”.

 
 Tối đến, Tân đi họp. Tôi vội sang bên nhà Thìn, thực lòng vừa thăm Thìn nhưng có lẽ lý do chính yếu là muốn biết mặt Hoàng Mai.

 
 Tôi đẩy cửa vào, chỉ có tiếng ngáy của Thìn. Chẳng có ai. Con mèo tam thể ở đâu chạy lại, cong đuôi dụi đầu vào chân tôi, rò rò vẻ hài lòng. Có tiếng động phía sau, tôi quay lại. Tôi biết ngay đó là Hoàng Mai. Chiếc khăn màu cỏ úa buộc trên đầu vẫn để lọt những sợi tóc mai mượt mà, làm nổi bật khuôn mặt bầu bầu, trắng hồng, lại càng hồng thêm có thể vì cái lạnh của tháng chạp mà cũng có thể vì thẹn. Môi đẹp như tranh tố nữ của bạn tôi, họa sỹ Trần đông Lương – vua tranh lụa. Cái áo cánh màu vỏ sim kín cổ làm cho cổ thêm cao và trắng. Tôi chợt tự hỏi: “Phải chăng đây là giáng kiều, của Tú Uyên, xuống trần lại”.
 
 Mai khẽ chào:

 
 – Em chào anh. Mời anh ngồi ạ.

 
 Giọng nói vừa cất lên, tôi đã như thấy trước mắt cái ngày giáp Tết Đinh Mùi. Sông Hồng hôm đó trắng nõn sương mù, không có bến, có bờ, có đầu, có cuối.

 
 Mai pha trà, lấy mứt, và ngồi vào mép giường của Thìn. Đôi tay nhẹ nhàng kéo lại chăn và khẽ sờ lên trán Thìn.

 
 – Cả trưa, chiều nay anh ấy gào khóc. Y tá phải tiêm thuốc và cho anh ấy uống thuốc ngủ ạ. Em đang bận dọn dẹp không biết anh tới chơi, thất lễ quá.

 
 Nghe Mai nói, tôi thấy thú vị vì nghĩ chính sách của Hồ chí Minh không thể “cải tạo” được cái chất Hà-nội, đó là truyền thống mà.

 
 Tôi nhìn Mai:

 
 – Chúng ta đã cùng đi một chuyến tàu thủy dịp gần Tết năm 1967, có đúng không cô Mai?
 
 Mai gật đầu, rồi để giấu vẻ lung túng, chế thêm trà cho tôi:

 
 – Hôm tôi tới đây chắc cô nhận ra phải không? Còn tôi chỉ nhận ra cô ở giọng nói.

 
 Im một lúc, Mai nói:

 
 – Dạo ấy hai chúng em vừa cưới xong. Anh Thìn em không thể đi được, nên em về quê anh ấy lễ mộ ba, mẹ chồng em, nhưng… nhưng… bị đưa đi đâu hết cả rồi anh ạ. Nghĩa trang bị phá bỏ làm công trường. Em đành đứng ở đó mà khẩn vọng vậy.

 
 Rồi ngập ngừng, Mai tiếp:

 
 – Trước lúc anh xuống, hành khách biết cả vì ở trên tàu người ta phổ biến là có nhà báo đi thực tế, mọi người cố giữ gìn rồi sau thì lại cứ việc thoải mái.

 
 – Thế sao cô nhận ra tôi?

 
 – Cái anh thuyền viên râu quai nón ấy báo động cho khách rồi bấm đèn pin nên mọi người biết mặt anh hết.

 
 Tôi phì cười:

 
 – Đâu cũng thế cô Mai ạ. Họ toàn bịp bợm, như trại này chẳng hạn, thế này mà cũng điển hình và xuất sắc.

 
 Mai sợ hãi:

 
 – Đừng anh ạ. Tai vách mạch rừng, có thế nào thì chỉ khổ em.

 
 Tôi xin lỗi rồi dần dần lái vào chuyện của Mai. Có điều lạ là Mai có vẻ tin tôi ngay:

 
 – … Vâng, em biết anh Thìn đau khổ, nhưng em chẳng biết phải như thế nào. Em dần dần thương anh ấy thực lòng, và thấy anh ấy chửi em cũng đúng. Bà Cú bảo em muốn thay đổi thành phần thì phải “đầu hàng giai cấp công nhân cả hành động và tư tưởng”, phải vì sự nghiệp của “đảng và bác Hồ” mà phấn đấu không do dự. “Đảng và bác Hồ” muốn em đền ơn đáp nghĩa những người đã cống hiến xương máu cho sự nghiệp của “đảng và bác”. Và, em vâng lời, hoàn toàn tự nguyện.

 
 Tôi bực mình:

 
 – Có thật “tự nguyện” không? Và, tôi kể câu chuyện vui của Bernard Shaw về tự nguyện và biện pháp.

 
 Mai tròn mắt nghe tôi kể. Tội nghiệp, trong Mai háo hức được học hành hiểu biết.

 
 Tôi thấy một sự đồng cảm giữa chúng tôi, những người Hà-nội với nhau. Mai do dự, rồi nhắc lại thời thơ ấu trước 1954. Cả hai, Bạch Mai và Hoàng Mai đều học ở Rosaire, trường của các Mẹ áo trắng. Tôi nói cho Mai biết, nay trường đó – ở phố Hàng Chuối, Hà-nội – bị lấy làm văn phòng bộ tài chính. Rồi Mai lại kể là hai chị em cũng có ý nghĩ sau này sẽ đi tu như các Mẹ – mặc dù gia đình Mai theo đạo Phật. Mai hào hứng kể về Mẹ bề trên, đẹp, hiền dịu và thông thái, hình như thuộc gia đình quý tộc ở Pháp. Và, Mai thích thú:

 
 – Từ đó cho đến nay, lúc nào em cũng cầu Trời, Phật phù hộ cho gia đình em, bây giờ thì thêm cả anh Thìn. Rồi em lại cầu xin đức Mẹ Maria cho gia đình em sự an lành. Em vẫn kín đáo đọc kinh, nhất là khi đi thăm mộ ba em và chị Bạch Mai em. Xưa đi học bao giờ em cũng được điểm cao về catéchisme.

 
 Khi lái sang chuyện của Tân, tôi khéo thăm dò quan hệ của Mai – Tân ra sao, Mai nói:
 
 – Em rất kính trọng anh Tân, nhưng chưa bao giờ em yêu anh ấy. Em nghĩ bọn em không thể hợp nhau.

 
 – Thế còn Thìn?

 
 – Chúng em là vợ chồng mà, và sẽ gắn bó với nhau trong tay Chúa.

 
 Tôi thán phục:

 
 – Mai sống rất nghị lực bởi Mai có đức tin

 
 Mai nhìn tôi:

 
 – Anh có đức tin không?

 
 Tôi gật đầu. Mai thoáng ửng hồng đôi má:

 
 – Ngay lần đầu nhìn thấy anh, hôm đó là ngày cúng ông Táo về Trời, em nghĩ ngay anh là người tốt, kính trọng anh và em linh cảm sẽ có ngày gặp lại anh. Em kể cho chị Bạch Mai nghe, chị ấy đang ở trên kia, trong nước Chúa. Em luôn tâm sự với chị ấy.

 
 Tôi cảm thấy một nỗi buồn man mác, tái tê.

 
 Không tiện ngồi lâu vì Thìn ngủ, tôi ra về nằm chờ Tân rồi ngủ lúc nào không biết. Tôi mơ thấy đi trong mây trắng nõn nà. Tôi thấy mình bay bay. Khi tỉnh giậy, tôi sờ lên cổ, còn thấy cây thánh giá làm bằng tre, đã lên nước, nhỏ tý xíu, có sợi giây dù để đeo. Đúng là sự thật như đêm qua tôi đã nghe Mai nói:

 
 – Từ nay, đêm đêm em sẽ cầu xin Đức Mẹ ban ơn lành cho anh… đó là… phần cầu xin cho tình bằng hữu. Em biếu anh cây thánh giá này, của em đấy, em sẽ đeo cây của chị Bạch Mai em để lại, nhưng phải lúc đêm khuya, còn sáng ra phải đem giấu thật kín. Còn đang bang khuâng với mộng và thực thì tôi thấy mụ Cú tới và một người đàn ông lạ mặt. Mụ ta nghiêm chỉnh:

 
 – Báo cáo đồng chí nhà báo, có điện từ Hà-nội vào, đồng chí phải ra ngay với đoàn xe vận tải số 2 ngoài Nghệ-an. Đây là đồng chí ở đoàn 2, từ Hà-nội vào đón đồng chí.

 
 Tôi sững người và càng buồn khi biết Mai phải vào rừng, còn Tân ra tỉnh về chuyện chiếc ô-tô con. Tôi chạy sang chào Thìn. Bàn tay xương xẩu của Thìn nắm chặt tay tôi:
 
 – Anh ráng cẩn thận, đừng ngu như em.

 
 Tôi gật đầu vội quay đi giấu sự xúc động.

 
 Tôi và xe đạp “nằm” ở thùng chiếc xe tải. Đường xóc như rang cà-phê.

 
 Từ đó chẳng bao giờ tôi có dịp gặp lại Mai, Thìn và Tân. Nhiều lần cầm bút viết thư rồi lại xé đi.

 
 Cho đến nay, hơn hai chục mùa xuân qua đi, chẳng biết những người đó còn sống hay chết. Nếu còn sống nhất định Mai vẫn cầu xin Mẹ Maria cho tôi trong phần bằng hữu cũng như tôi cầu xin cho Mai và gia đình và dân tộc Việt
Nam chúng mình. Không còn gặp lại nhau nữa, nhưng tôi hiểu rằng cả Mai, cả Thìn, cả Tân và ngày càng nhiều người thức tỉnh được rằng Hồ chí Minh và các đệ tử của hắn chưa bao giờ là những người Việt Nam yêu nước!

 
 
 
 Tháng 12/1992

 
 
 
 Chú thích:

 
 * Nhà báo Trọng Kính từng viết cho các báo ở Hà-nội trước năm 1975. Ông cũng là Việt Thường ở hải ngoại và là tác giả ba quyển “Chuyện thâm cung dưới triều đại HCM; Con yêu râu xanh ở Việt nam; Những tên đặc công đỏ trong phong trào đòi hỏi dân chủ cho Việt
Nam” và bài ký sự này này.

 
 1) Xe đạp của Pháp, nhãn hiệu Peugeot. 

 2) Seiko: đồng hồ của Nhật. 

 3) Bà bô: mẹ đẻ. 

 4) Ý nói bố sắp chết. Văn-điển là nghĩa địa.

 5) Ý nói có cấp trên nâng đỡ, bao che. 

 6) Cửa hàng cung cấp riêng cho loại cán bộ trung cao.

 7) Khẩu hiệu thời chiến tranh với Mỹ ở phía Bắc. 

 8) Tức người nấu bếp. 

http://www.vietthuongonline.com/mainarticles/haimuaxuan.htm

 

Posted in Uncategorized | Tagged: | 2 Comments »

TẾT TẢN CƯ

Posted by tudodanchu trên Tháng Bảy 14, 2008

 

TẾT TẢN CƯ

 

Bút Xuân TRẦN ĐÌNH NGỌC

 

 

 

Khoảng trên 60 năm trước đây, tôi cùng gia đình đã sống một cái Tết thật đặc biệt.

 

Chiến cuộc lan tràn từ ngày 26-12-1946 giữa Pháp và Việt Minh (VM) mỗi ngày càng khốc liệt. Pháp vận dụng xe tăng, tầu chiến, phi cơ, trọng pháo và các thứ lính Hải, Bộ, Không, Nhảy Dù…từ chính quốc sang quyết đè bẹp lực lượng Việt Minh mới đầu chỉ có dao găm, lựu đạn, súng lục và mã tấu mới ở rừng về thành phố, ở trong Nam là những cây gậy tầm vông. Nhưng sau đó, Việt Minh đã cầu viện Liên Xô, Trung Cộng và các nước trong Khối Cộng sản quốc tế như Tiệp Khắc, Hung gia Lợi, Ba Lan, Đông Đức …để quyết một mất một còn với Pháp.

 

Lúc đó Pháp không có chính nghĩa, bị coi như kẻ mạnh xâm lăng một nước nhược tiểu, muốn kéo dài vai trò chủ nhân ông thuộc địa để hút máu hút mủ dân bị trị  trong khi Việt Minh tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng, nhất là quần chúng nông thôn, là hãy cùng với Việt Minh đánh Pháp giành lại quyền Tự chủ, giương cao ngọn cờ Độc Lập, mưu cầu Tự do, Hạnh Phúc cho toàn dân Việt.

 

Lời tuyên truyền ấy có hiệu quả vô song bởi hầu hết dân Việt đã sống kiếp nhục nhằn nô lệ trong 80 năm dưới sự thống trị tàn ác của thực dân Pháp và hơn 1,000 năm dưới gót sắt giặc Tàu qua nhiều lần xua quân chiếm đóng lãnh thổ nước ta nhưng đã bị các anh hùng dân tộc Việt đánh cho tan nát phải chạy về Tàu.

 

Ngoài ra, sau trận đói tháng Ba năm Ất Dậu, làm chết gần 2 triệu người dân Bắc Việt, nguyên nhân từ Pháp và Nhật và mấy lí do khác nữa, người dân Việt đã căm thù Pháp và Nhật tận xương tủy. Nay có lời kêu gọi kháng chiến giành Độc lập thì từ một cháu bé tiểu học cho đến các cụ già phải chống gậy, ai nấy đều muốn hi sinh thân mình, của cải của mình  cho đại nghĩa dân tộc mà không hề nghi ngờ gì. Đó chính là cái thế toàn dân quyết thắng, Diên Hồng vùng lên  ông Hồ chí Minh, lãnh tụ đảng Cộng Sản, và đảng của ông đã được hưởng.

 

Từ thành phố đến nông thôn, không khí chiến tranh lan tràn, hình như đâu cũng ngửi thấy mùi thuốc súng khét lẹt và mùi tử khí tanh tưởi âm u trong gió. Quay qua quay lại phía nào cũng thấy khói lửa mù trời, nhà cửa, ruộng vườn, đền đài, miếu mạo, nhà thờ, trường học, tu viện các tôn giáo, nói chung là những kiến trúc lớn…bị cháy tan hoang, có những làng quê bị cháy gần hết ngay những ngọn cau, ngọn tre cũng bị ngã gục, xém rụi, cảnh tượng vô cùng thê thảm. Người bị thương, bị phỏng nằm rên la, không thuốc, không băng bó; còn người chết phải đợi đến đêm tối bó chiếu mang ra đồng e ban ngày máy bay Pháp đi tuần trông thấy sẽ bắn và bỏ bom, càng thêm tan nát. Người may lắm có được cái phản cưa ra làm săng (hòm) vì những hàng bán săng chạy tản cư hết cả, vả lại không có gỗ xẻ sẵn thì lấy gì làm săng, làm hòm? Chưa có thời kì nào người dân nước ta chịu khổ đau cùng cực như thế suốt từ 1945-1954!

 

Các đường giao thông đều bị gián đoạn. Đường xe lửa bị phá quá nửa, kể cả các nơi không cần thiết phải phá. Việt Minh ra lệnh cho du kích các làng xã, thôn xóm phải phá hết theo lệnh tiêu thổ kháng chiến, đồng không nhà trống để vô hiệu hóa quân Pháp. Đường ô-tô chạy liên lạc tỉnh này với tỉnh kia thì đào hoặc phá bằng mìn thành những cái hố sâu ngập đầu người, dài vài, ba chục mét, không xe nào đi được dù là xe đạp. Nếu không đào hố thì đắp mô thật lớn ở giữa đường để ngăn chận xe cộ các loại, trừ xe đạp. Việt Minh nói là phá, đắp để xe tăng, tầu bò của Pháp hết khiển dụng nhưng Pháp chưa cần bao nhiêu mà người dân nông thôn hết đi lại làm ăn, có chút lúa thóc để làm mùa cũng phải dốc ra ăn. Tình cảnh túng quẫn, đói kém cả nước vô cùng ngặt nghèo, khổ sở. Đường sông, thuyền bè đi lại ban ngày, Pháp nghi là tầu, thuyền chở tiếp tế cho VM nên máy bay sà xuống bắn phá, người chết, đò tầu tan nát. 

 

Quê tôi, tổng Trà Lũ, thuộc phủ Xuân trường, tỉnh Nam Định. Gia đình tôi rời Hải Phòng để về quê từ giữa năm 1947 với hi vọng có thể sống qua ngày với vài mẫu ruộng tư điền do ông bà nội để lại cho thầy mẹ tôi, vẫn cho người trong họ hàng cấy rẽ từ lâu. Ngoài ra còn dăm sào vuờn trồng chè tươi, cây ăn trái và rau cải. Lúc bình yên, chè tươi được hái quanh năm có thể dùng tiền đó mua thức ăn như thịt thà, tôm cá; trái cây trong vườn như cam, quýt, hồng, cau, khi được mùa cũng được bán thêm cặp ít nhiều còn rau cải đủ cung cấp cho cả gia đình quanh năm không phải mua ở chợ.

 

Kể từ hồi chiến tranh, việc học của anh tôi và tôi bị gián đoạn luôn luôn. Thực ra lúc đó có ai còn tâm trí nghĩ đến học hành. Đang ngồi ăn cơm tự nhiên một quả bích kích pháo hay một quả đạn đại bác ở đâu vèo vèo bay tới, nổ tung, có khi chết nguyên một gia đình. Đang trên đường đi chợ huyện, chợ tỉnh mua bán chút đỉnh nhu yếu phẩm hàng ngày chợt ba, bốn chiếc phóng pháo cơ của Pháp ở đâu lao tới bắn phá và bỏ bom, người ngả như rạ; còn nhà cửa, lều chợ hoặc những đống rơm, đống rạ, chuồng trâu, chuồng bò cháy ngút trời xanh.

 

Trường học, từ tiểu đến trung học dĩ nhiên đóng cửa hấu hết. Giả sử có trường còn hoạt động vì ở trong khu an toàn thì cũng thiếu giáo sư. Thầy đi dạy là trông vào lương để nuôi gia đình; chính phủ mải lo đánh nhau không phát lương, còn học trò toàn con nhà nghèo tiền đâu đóng học phí cho thầy? Những vùng do Việt Minh kiểm soát, họ đâu cần để ý đến giáo dục. Làm dân công khiêng đạn hoặc xung vào tổ giao liên, tổ du kích đối với họ quí hơn ngồi mà tụng dăm, ba chữ vô bổ (cho chiến tranh). Chẳng vậy họ Mao, sản xuất ra cái gọi là Maoism đã từng tuyên bố:”Trí thức không bằng cục phân”. Câu này được các cấp cán bộ lớn nhỏ học tập và là một trong những giáo điều quan trọng của chủ nghĩa Cộng sản khiến trí thức bị ngược đãi, trù dập đến phải chối bỏ cả cái vốn trí thức của mình để đẹp lòng cấp trên (vốn dốt nát). Nguyễn Tuân, tác giả “Vang Bóng một thời”, đã chẳng từng nói:”Sở dĩ tôi còn sống đến ngày nay là vì tôi biết sợ.” Đúng, phải biết sợ mới sống được!

 

Người ta còn nhớ ngày 16-10-1949 quân đội Liên Hiệp Pháp nhảy dù xuống vùng Hành Thiện, Bùi Chu và đặt một Tổng hành dinh ngay tại Hành Thiện, nơi xuất phát những cuộc hành quân tảo thanh du kích VM ở các xã thuộc phủ Xuân Trường, và các huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Nam Trực, Nghĩa Hưng, Trực Ninh…Mạch tiếp tế quân sự là từ tỉnh Nam Định, đi qua Cổ Lễ, xuống Hành Thiện và xuống tận đồn Lạc Quần để ảnh hưởng toàn vùng bao gồm các phủ huyện nói trên.

 

Gia đình tôi không di tản vào thị xã Bùi Chu (tỉnh mới) như những gia đình khác. Lí do giản dị là ở cái thị xã còn lèo tèo đó, chúng tôi không có phương tiện sinh sống trong khi vẫn còn phải bám lấy mảnh đất của gia đình nơi chôn nhau cắt rốn. Vả lại còn bà con, họ mạc, xóm giềng, bạn hữu… chúng tôi còn có thể xoay xở đủ sống, không sung túc như trước kia nhưng cũng không quá thiếu thốn với ngày hai bữa. Vườn, ao và vài mảnh ruộng với ít thóc lúa trữ được từ mùa trước có thể giúp gia đình tôi qua cơn ngặt nghèo để đợi mùa sau hi vọng trồng cấy dễ dàng hơn.

 

                                                                        ***

 

Bữa đó là đầu tháng chạp âm lịch, chính xác năm tôi cũng đã quên, mẹ tôi gọi con cái vào căn nhà ngang, bảo:

“Bố các con đi biền biệt không về, ở nhà chỉ có mẹ con mình. Mẹ ra đường thấy người ta có vẻ chuẩn bị Tết, mẹ nghĩ đến các con nên dù trong không khí chiến tranh, mình ở giữa hai lằn đạn của đôi bên, mẹ cũng muốn cho các con ăn một cái Tết vui vẻ kẻo sau này biết đâu xẻ đàn tan nghé, mẹ con không được đoàn tụ nữa.”

 

Mẹ tôi nói đến đó cảm động, giọng bà lạc đi, nghẹn ngào… Bà ngưng một chút lấy lại bình tĩnh rồi tiếp:

“Vậy mấy chị em bảo nhau xay, giã gạo nếp, ra vườn kiếm lá giong, lá chuối gói bánh chưng, mẹ sẽ đưa tiền cho Lạng – chị lớn chúng tôi, tên chồng – đi chợ dùm mẹ để mua thịt thà, tôm cá và đồ gia vị cần thiết. Còn 20 ngày nữa mới Tết nhưng mẹ sợ tình hình này không chắc có chờ được tới Tết. Vậy cứ chuẩn bị đâu đó ăn Tết trước một tuần cũng được.”

 

Chị Lạng lĩnh ở mẹ một ít tiền và hăng hái đi chợ phiên mua đồ. Tôi được giao một công việc nhẹ: ra vườn cắt lá giong, lá chuối và kiếm tre chẻ lạt buộc bánh.

 

Thời tiết tháng chạp ở miền Bắc lạnh khan. Gió heo may hun hút thổi xuống, lùa cái lạnh vào da thịt làm buốt như những mũi kim đâm mặc dù tôi đã mặc hai áo cánh và áo len bên trong, bên ngoài là cái áo trấn thủ chần quả trám và phía dưới là hai cái quần nâu dầy. Tre nhà tôi trồng xung quanh vườn rất nhiều, lựa một cây tre lạt (không già, không non) thật dễ nhưng lá giong nhà tôi thưa thớt, chẳng còn đủ, tôi phải đi qua nhà ông bác họ, bác Viên, xin thêm một ít nữa mới đủ gói vài chục tấm bánh.

 

Chuẩn bị hai, ba ngày mới đủ mọi thứ để gói bánh. Có tiền nhưng thịt thà, cá mú không có, đường đậu cũng không. Thực phẩm và nhu yếu phẩm như dầu lửa, dầu lạc, đá lửa, hộp diêm (quẹt), hạt tiêu, cánh hồi, các vị thuốc bắc dân ta thường dùng làm thuốc cao đan hoàn tán v.v…khan hiếm, tìm đâu cũng không ra. Người có, họ giữ lại cho gia đình họ dùng, người sẵn tiền mua tích trữ mong sau này bán lấy lời. Đá lửa và thuốc Dagenan (thuốc trị bá bệnh lúc đó) là hai thứ dân buôn lậu rất thích vì dễ cất giấu mà có lời nhiều, ai cũng cần nên bán rất chạy.

 

Ngày mẹ và các chị tôi bày biện gạo nếp đã ngâm, đỗ xanh, thịt ba chỉ, lá giong ra cái phản lớn ở ngay nhà ngang để bắt đầu gói bánh chưng là ngày thật vui trong gia đình. Anh Tuyến và anh Lạng, hai anh rể tôi,  bẻ sẵn góc bánh; tôi nổi lửa trong bếp hơ lạt cho dẻo, mẹ và các chị tôi ngồi gói, chuyện trò rôm rả, nếu người ở một nước khác nhìn vào cứ tuởng là thời bình gia đình xum họp, vui vẻ. Theo ý mẹ tôi, bà muốn gói chừng hai mươi lăm cái bánh, vừa đi biếu, vừa để ăn trong mấy ngày “Tết sớm”. Giò thủ, thịt đông, dưa cải bẹ nguyên cây và dưa hành đã có đủ, chỉ việc xào nấu thêm vài món nữa là có mâm cỗ Tết coi được.

 

Trước kia, bao giờ bánh cũng gầy nấu về đêm vào những ngày giáp Tết. Bây giờ, ban đêm không dám để le lói ánh lửa lọt qua vách bếp vì du kích Việt Minh trong làng đã ra lệnh cấm để ánh lửa và khói lọt ra, quân Pháp nhìn thấy sẽ câu đạn moọc-chê vào làng. Nhà nào không tuân lệnh sẽ bị bắt về đồn công an tra khảo, nhốt tù chưa biết tội vạ sẽ nặng như thế nào, nếu không thì cũng bị du kích xả súng bắn bừa vào nhà cho kì tắt ngọn lửa mới thôi.

 

Vì thế, bánh chưng chỉ được nấu ban ngày, nếu vàng vàng mặt trời bánh vẫn chưa chín thì cũng phải dập lửa củi đi, sáng rõ ngày mai ninh tiếp. Nấu hai, ba lửa thế này, bánh không ngon, có khi bị chương, bị hấy (sống) nhưng biết sao hơn? Ở vào thời loạn li, mạng người như con ong cái kiến, sống được là may mắn lắm rồi!

 

Chuyện củi lửa ban đêm còn có thể kiểm soát được chứ chuyện chó sủa du kích đi rình mò ban đêm thì thực là nan giải, là ngoài sức tưởng tượng của con người. Chó nào thấy người lạ không sủa:

 

Chó đâu có sủa lỗ không

Chẳng thằng ăn trộm cũng ông ăn mày.”

(Ca dao)

 

Ban đêm, du kích Việt Cộng đi rình mò ở bụi tre, gốc dứa, chó thấy sột soạt tất nhiên sủa báo cho chủ nhà cho kì du kích đi khỏi lãnh thổ của nó mới thôi. Nhưng có nhiều du kích nổi hứng, tiện tay có súng, đưa cho chó một phát. Thế là chó chết lăn quay; chó chết nhưng chưa hết chuyện. Ngày hôm sau, chủ chó còn bị đòi ra đồn công an xã làm việc tới nơi tới chốn, bị nhốt và bị phạt tiền, lại mất con chó giữ nhà, đau hơn hoạn.

 

Nhà tôi cũng có con Vàng, chó đực, nuôi đã bốn, năm năm, to lớn, rất khôn, xưa nay giữ nhà thực chu đáo. Nay có lệnh “bài trừ chó” của du kích xã, mẹ và chúng tôi rất bối rối. Giết nó đi ăn thịt thì không nỡ mặc dù thịt, nói chung, lúc đó rất hiếm. Làm sao có thể nuốt miếng thịt con chó thân thương coi như kẻ ăn người ở trong nhà? Đem bán nó đi cho người ta thì cũng tiếc vì biết chắc người ta cũng sẽ giết thịt nó chứ đâu có nuôi. Người ta cũng đang ở trong trường hợp “Cấm nuôi chó” khẩn trương.

 

Mẹ tôi và chúng tôi ngồi bàn hai buổi tối mà không tìm ra giải pháp trong khi lệnh cấm tuyệt chó chỉ còn 5 ngày. Tôi chợt có ý nghĩ là ban đêm nhốt nó ở trong buồng phía tây gần bờ ao. Nếu nó có gầm gừ vì có người lạ, toan sủa thì chính tôi là người nằm trong cái buồng đó phải ôm lấy cổ và vỗ vào lưng nó cho nó yên tâm không sủa. Cả nhà coi như thượng sách, đồng ý thi hành.

 

Nhưng chỉ được hai đêm, đến đêm thứ ba tôi mệt quá chịu không nổi. Vàng là loại chó quá thính tai, có khi tôi chẳng nghe thấy gì mà nó đã gầm gừ trong họng như có người đã đột nhập vào trong vườn. Chẳng trách khoa học khám phá ra thính giác của chó bén nhậy hơn của con người 70 lần. Dù đang thiu thiu ngủ, tôi phải choàng dậy, nhẩy khỏi giường và cái chăn ấm, ôm lấy nó. Có khi tôi đang ngủ say, nghe nó sủa, tôi mới choàng dậy rồi mẹ tôi từ buồng bà sang ôm lấy tôi trong khi tôi đang ôm nó. Mẹ bảo tôi:

“Như thế này là không được, con ạ. Chúng bắn vào nhà thì chết hết cả nhà mà suốt đêm mẹ có dám chợp mắt đâu!”

 

Tôi thương mẹ quá! Cuộc đời bà đã biết bao khổ cực vì chồng, vì con (bố tôi đi làm cách mạng trong VN Quốc dân đảng. Ông đã sang cả Tàu, cả Nhật với các đồng chí, đi hoài không về), giờ này lại khổ vì chó. Thế là kế hoạch giữ chó của tôi tiêu tan.

 

Nghe nói ở thành phố Nam Định, người ta chịu nhận nuôi chó. Thế là mẹ tôi bàn với anh Lạng mang chó lên tỉnh đem cho người ta, những người nhận nuôi chứ không nhận giết. Anh Lạng chỉ là dân buôn bán nhưng anh khoẻ mạnh như nông dân, đi bộ rất giỏi và thuộc đường đất, vứt anh vào đâu anh cũng kiếm đường về nhà được. Anh kiên nhẫn và chịu cực, chịu khó, làm việc gì làm đến nơi đến chốn, không chịu bỏ ngang dù khó khăn bao giờ.

 

Mẹ tôi phải nắm sẵn cơm nắm bó vào mo cau và rang vừng giã muối lại đưa thêm chút tiền uống nước dọc đường  và đi đò ngang cho anh Lạng dắt chó đi Nam Định.

Lúc anh Lạng buộc giây vào cổ kéo con Vàng ra đường, nó cứ trì lại không chịu bước. Mẹ tôi phải ôm nó và vuốt ve khuyên nhủ y như với đứa con:

“Mày phải đi chứ ở nhà người ta bắt mày làm thịt. Tao cũng thương mày lắm nhưng không thể giữ mày được. Hãy ngoan ngoãn đi nhé!”

 

 Sau đó, nó mới bước đi theo anh Lạng, đôi mắt nó đỏ hoe cũng không khác gì mắt mấy mẹ con chúng tôi.

 

Con Vàng lủi thủi đi rồi, từ mẹ tôi đến chúng tôi ai cũng cảm thấy một mất mát lớn. Nhưng chúng tôi yên tâm hơn vì từ nay không sợ du kích bắn vào nhà nữa. Chúng tôi chỉ cầu mong sao cho con Vàng được vào một gia đình khá giả và biết thương nó.

  

Phải 4 hôm sau anh Lạng mới về đến nhà, trên vai vác một đoạn tre, ở đầu tre buộc một cái gói bằng mo cau. Mẹ tôi giở gói ra thấy hai chục bánh đa sống, chục bánh gai Vĩnh Bảo, một gói khoảng 1 kg bột sắn và một hũ mắm rươi đậy thật kín.

 

Việc đầu tiên khi vừa vào tới nhà là anh nằm lăn ra phản rên hừ hừ. Anh bị nóng lạnh, sốt rét, nóng như than hồng trong lò, tiếp theo cơn lạnh run cầm cập.

 

Mẹ tôi và chị Lạng lo cuống cuồng, đi hái các thứ thuốc Nam như hương nhu, tía tô, gừng, sả… nấu nước cho anh uống với mấy viên thuốc cảm (thuốc Nam); sau đó nấu một nồi nước cho anh xông cho mồ hôi tóa ra rồi ăn bát cháo hành thật nóng.

 

Cũng hơi bớt nhưng cái chân sốt rét, chắc do muỗi anophèle chích khi anh ngủ đường ngủ chợ, không dứt được. Chị Lạng cậy cục mãi mới kiếm được thím Liên là người hay đi buôn Đồng Quan, Chợ Đại, Cống Thần, Nhật Tựu, Đống Năm, những nơi có nhiều hàng ngoại hóa từ trong thành phố lớn đưa ra như Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định v.v…Thím Liên bán cho chị Lạng, chỉ còn có 6 viên, kí ninh (quinine) quí hơn vàng lúc đó. Anh Lạng uống 6 viên trong 3 ngày nhờ vậy cơn sốt rét mới lui. Lúc đã hơi khoẻ, anh kể câu chuyện đem chó đi cho thật là trần ai. Mẹ và chúng tôi vừa thương anh chịu cực khổ với con Vàng, vừa buồn cười ra nước mắt vì bước đường lưu lạc của anh.

 

Anh Lạng kể có đầu đuôi, khi anh và con Vàng ra khỏi cổng làng trời đã sáng rõ. Du kích Việt Minh đêm đi rình mò nên giờ này đã về đồn công an hoặc về nhà ngủ thẳng cẳng. Nếu thấy anh dắt cho đi, chúng sẽ hỏi và làm khó kì cho anh phải tặng chúng con chó mới yên. Đêm hôm canh gác xót ruột, dăm ba bữa lại có cờ tây ngả ra đánh chén với nhau, còn gì thú bằng. Càng thú khi chó là chó cho không, không phải tiền bạc gì. Rượu trắng với gia vị xoay xở cũng không khó, chúng thiếu gì cách để mua mà không phải trả tiền có khi người bán cố nài ép cho chúng lấy để yên bề làm ăn sinh sống. Chỉ một lá cờ tam tài nhỏ bằng bàn tay giấu trong bụi tre ban đêm rồi ban ngày cho dăm tên du kích đeo mã tấu tới khám, lôi lá cờ ra là khổ chủ phải lậy như tế sao. Một vò hay hai vò rượu cũng dễ thôi! Ngoài ra, chỉ hỏi một cách lương thiện không cần gian trá, những nhà giầu có hoặc có máu mặt trong làng, trong tổng thấy chúng đến, chúng chưa mở lời đã phải đón ý rồi đồng ý. Ngoan cố sống không yên đâu. Vì thế, vừa phải đem đi tỉnh cho, vừa bị cái nạn “rựa mận” của du kích xã, chó trong các làng quanh vùng tôi vắng hẳn, mười con không còn một.

 

Anh Lạng và con Vàng cứ theo con đường cái quan trải đá đắp cho ô-tô chạy đi từ Bùi Chu, song song với sông Ninh Cơ, lên đến thành phố Nam Định. Buổi trưa, nghe chuông chùa hoặc chuông nhà thờ báo ngọ, anh Lạng kiếm cái gốc cây có bóng râm cạnh đường, hai thầy trò ngồi lại nghỉ và giở cơm nắm muối vừng ra ăn. Ăn xong, xuống bờ sông, bờ ruộng, người lấy tay vục nước uống, còn chó thì nhúng cả mõm xuống uống cho đã. Xong lại lên đi. Từ hồi chiến tranh lan tràn, các quán bán nước, bán cơm dọc đường cũng vắng dần. Khách bộ hành, thông thương không còn lai vãng thì bán cho ai?

Phải chịu là con Vàng đi khoẻ, anh Lạng nói vậy. Anh đi chừng nào, nó đi chừng đó, anh nghỉ nó mới nghỉ, mặc dù nó cũng thở há mõm, thè lưỡi vì mệt.

 

Khoảng bốn giờ chiều hôm đầu tiên, lúc chủ tớ vừa ngồi xuống nghỉ ở gốc cây đa ven đường được mấy phút thì súng nổ lộp độp ở lũy tre xanh bao bọc một ngôi làng nhỏ cách đó khoảng hơn 1km. Súng mới đầu thưa, càng lúc càng bắn rát, lại có cả tiếng “moọc chê” câu ục một cái và nghe tiếng đoàng như đất lở trời long.

 

Chủ tớ sợ dúm vó, nhất là con Vàng, nó sợ chết hơn người nữa; nó lồng lên làm anh Lạng sút mất sợi giây. Nó đeo sợ giây chạy băng xuống ruộng; anh Lạng phải chạy theo nó bén gót trong khi anh thấy lố nhố những người lính của bên nào không rõ, đang chạy, ẩn nấp và bắn từ phía ngoài lũy tre vào làng.

 

Lúa ruộng đã gặt hết tuy nhiên còn rạ, lại có thửa đang xếp ải ngang bụng. Nhờ thế, anh Lạng khom người xuống thật thấp cho lính khỏi trông thấy và luồn đi theo những luống ải. Nhưng con Vàng thì mất tăm mất tích, ruộng nương bát ngát bao la thế này, lại gò đống san sát, bụi cây um tùm, làm thế nào anh có thể kiếm lại được con Vàng?

 

Khoảng hơn một giờ sau, tiếng súng im hẳn nhưng trời cũng bảng lảng sắp tối. Anh Lạng đeo mo cơm nắm hãy còn một nửa trên vai (định để tối ăn) đi trên bờ ruộng (đắp rất nhỏ vì sợ tốn đất), gọi con Vàng. Tên nó là Kiki nên vừa đi, anh vừa nghểu nghến xung quanh tìm nó, vừa kêu chỉ đủ nghe:

“Kiki! Kiki! Kiki!”

 

Anh không dám kêu lớn vì sợ người trong làng nghe được ra hỏi han trình giấy, bắt bớ lôi thôi.

 

Vì mắt anh phải láo liên nhìn đây nhìn đó, lại lo sắp tối đến nơi, chủ một nơi, tớ một nẻo, lo ra trăm mối, anh bỗng bước hụt xuống một cái hố phân người ta trữ để bón lúa. Hố sâu quá, người anh gần chìm nghỉm dưới hố, may mà nó chỉ lên khoảng ngang ngực, phân tro bầy nhầy như đống bùn ao. Giây đeo mo cơm sút ra văng đâu mất, cái nón đội trên đầu anh cũng văng luôn. Một mùi hôi hám phà vào mũi anh khiến anh muốn ngộp thở.

Tuy bị dơ nhưng không quá lạnh, anh Lạng bình tĩnh bám tay vào bờ và trèo lên. Bùn quá trơn mà thân anh hơi nặng nên anh cứ leo lên được một tí thì nó lại tụt xuống. Mím môi mím lợi bám lấy đám cỏ gà cạnh đó cho bớt trơn, anh Lạng dùng hết sức trèo lên khỏi hố phân, anh vừa mệt đứt ruột vừa ngán: phân tro bám dính từ ngực anh trở xuống như người đi đóng bùn ao.

 

Bỗng anh nghe tiếng chó rít khe khẽ phía sau, quay lại là con Vàng đang đứng nhìn anh vẫy đuôi mừng tíu tít. Chỉ vì cái con chết tiệt này mà anh khổ, anh Lạng thầm nghĩ, rõ giận nó muốn thoi cho nó một đấm, nhưng rồi anh nghĩ lại, anh không oán nó mà lại mừng rỡ,  kêu:”Kiki, Kiki”. Nó chẳng phải là người bạn độc nhất cần thiết của anh sao? Anh mắng yêu nó vài câu và vuốt nhẹ vào lưng nó vài cái.

 

“Mày làm tao ra thế này, mày thấy không Kiki?”

Nào có có hiểu gì, nó chỉ mừng được gặp lại chủ, đứng vẫy đuôi mừng.

 

Trời sập tối. Anh Lạng kiếm được một cái lạch gần đó bèn nhào xuống giặt giũ, tắm rửa. Anh không có quần áo khô để thay nên phải vắt kiệt bộ quần áo ướt mặc trở lại, run cầm cập vì lạnh. Cái giây còn lòng thòng, anh Lạng lại dắt nó đi gập ghềnh qua mấy bờ ruộng, trở ra đường cái. Trong bụng anh, anh chỉ mong thấy được một cái quán bên đường hoặc ngôi nhà nào đó gõ cửa vào trọ qua đêm và kiếm chút gì ăn đỡ vì tối nay hai thầy trò chưa có gì vào bụng.

 

Con Vàng làm như biết lỗi, nó cắm đầu đi ngoan ngoãn, không hó hé một tiếng mà cũng không nhìn chủ. Anh Lạng bước nhanh nó cũng bước nhanh, anh đi chậm nó cũng đi chậm. Hai thầy trò cứ lủi thủi đi trong bóng đêm như hai bóng ma. Quang cảnh vắng tanh vắng ngắt.

 

Chợt anh Lạng nhìn thấy khoảng vài trăm thước trước mặt có một cái quán nhỏ. Anh mừng rỡ rảo chân đi tới. Nó không phải quán hàng hoặc cũng từng là quán bán hàng nhưng chủ nhân đã bỏ đi, để trống. Ngoài cửa quán có những vết chân trâu sâu hoắm nên anh Lạng đoán có thể mục đồng chăn trâu cắt cỏ qua lại thường vào trú mưa, trú nắng hoặc bày vài trò chơi nhỏ bên trong.

 

Anh Lạng khẽ gọi nhưng không ai thưa. Anh lách mình qua cái phên liếp vào bên trong thấy ấm hơn bên ngoài. Con Vàng theo anh bén gót. Chợt anh thấy trong góc có vài cục than hồng còn le lói. Anh mừng quá sờ sẫm mò vào cái bếp với ba hòn đầu rau còn nóng hổi chứng tỏ có người vừa mới đun xong. Sờ sẩm chung quanh, anh chạm tay mấy lọn rạ và củi khô. Anh cho rạ vào cục than hồng trong bếp và thổi phù phù. Chỉ còn một cục than hồng vừa bằng đầu ngón tay út còn tất cả đã ngàn tuy còn sức nóng. Anh Lạng biết rằng phải khéo léo lắm mới gây lửa từ cục than nhỏ xíu đó thành một bếp lửa để sưởi ấm anh và con Vàng đang sắp chết giá. Anh biết phải làm thật nhanh kẻo cục than tắt ngúm thì khốn khổ, anh quơ thêm rạ, vò trong hai bàn tay cho nó mềm ra, uốn tròn cho nó thành như một cái tổ chim mềm mại, xong gắp cục than hồng nhỏ xíu đó bỏ vào giữa cái tổ chim. Hai tay anh đưa cái tổ chim ấy lên vừa tầm rồi nhẹ nhẹ thổi cho lửa từ cục than bén từ từ sang cái tổ chim. Là một người ở thôn quê lâu ngày, anh gây lửa rất khéo. Thế là chỉ mười lăm phút, cái tổ chim đã thành một mồi lửa lớn. Có ánh sáng, anh Lạng đi vòng xung quanh gian bếp kiếm thêm rạ và củi khô nhưng anh cũng sợ không dám để ngọn lửa lên cao quá sợ ở ngoài đường nhìn thấy. Anh Lạng yên trí thầy trò không còn sợ chết cóng nữa.

 

Nhưng còn cái đói? Anh phải tìm ra cái gì để ăn. Anh ra phía sau. Một cái vườn nhỏ hiện ra trước mắt. Vườn trơ trụi không có gì vì đang mùa Đông.

 

Cái đói bắt anh Lạng phải mò và sờ khắp vườn xem còn cái gì nhai được. May quá, mắt anh nhìn thấy mờ mờ vài luống đất đang đào giở. Anh lại gần thì ra là luống khoai lang, giây khoai lang đó đây còn đan trên luống. Anh kiếm một cành cây chắc và nhọn đầu, dùng nó bẩy tiếp chỗ đang đào. Khoai rụng ra. Có củ bằng cổ tay, có củ nhỏ hơn. Mừng quá, anh Lạng vơ lấy dăm củ đem vào bếp. Anh vùi khoai vào tro nóng và đốt thêm rơm rạ cho khoai chín. Khoảng tiếng sau, hai thầy trò anh ung dung ngồi nhai khoai dưới ánh lửa bập bùng. Con Vàng chẳng e ngại cái mùi hôi từ người chủ toát ra mà khi chủ nằm vào cái ổ rạ thì nó đến nằm ngay dưới chân.

 

Anh Lạng chờ sáng rõ mới dám dắt chó đi. Đi quá sớm ở chỗ lạ, hai bên Pháp – Việt Minh không biết cứ thế bắn thì khốn.

 

Chủ tớ tới bến đò Cựa Gà vào lúc 12 giờ trưa. Ba, bốn chiếc phà chở khách qua lại, cả những xe của đoàn công-voa của Pháp. Ngay trên bến đò, vào sâu khoảng vài chục mét, có cái chợ họp khá đông.  Anh Lạng dắt chó vào chợ thì gặp ngay một cái chợ chó kẻ mua người bán tấp nập. Chó để trong lồng nhốt gà, chó nhốt trong cũi, chó dắt tay, chó đã bị trói bốn cẳng và mõm, chó mẹ và đàn chó con đang bú…thôi đủ hết.

 

Anh Lạng chưa kịp suy nghĩ thêm thì một anh lái chó, rồi anh nữa, anh nữa, tay cầm cái thòng lọng, túi áo cánh phồng to cài kim băng ra vẻ nhiều tiền, đến hất hàm hỏi:

“Bao nhiêu?”

Anh Lạng đều lắc đầu. Một anh lái tức quá nhìn trừng trừng vào mặt anh Lạng như muốn nuốt sống ăn tươi:

“Không bán thì mang chó đến đây làm gì ? Hả?”

Tiếng “hả” hắn quát thật to cho anh Lạng sợ, nhưng anh không sợ. Anh lủi thủi dắt chó đi.

 

Bỗng có một ông lão mặc bộ quần áo trắng, đi giầy da. đeo kính trắng, dáng điệu ung dung, chững chạc, lịch sự, rảo bước theo anh mà nói:

“Anh kia ơi, anh dắt con chó Vàng ơi, đứng lại cho tôi hỏi đã.”

Anh Lạng đứng dừng, quay đầu nhìn lại. Giáp mặt, ông lão hỏi:

“Này, tôi xin lỗi, anh đem chó đến đây nhưng không bán, vậy định làm gì? Có thể cho lão này biết được không?”

“Thưa cụ, cháu không định bán cho người ta giết thịt. Cháu chỉ cho nó cho người nào biết thương chó, quí chó vì con chó này rất khôn, đem giết uổng lắm.”

 

Ông lão nhìn qua nhìn lại con Vàng lấy làm ưng ý. Quả là con chó thật khôn lại giúp chủ nhiều việc. Ông bảo anh Lạng:

“Lão coi hai chủ tớ anh đã có vẻ mệt và khát. Vào cái quán kia lão đãi bát bún riêu, ăn rồi nói chuyện.”

 

Thấy ông lão tử tế, anh Lạng dắt chó đi theo. Chó được một bát cơm lớn; còn anh Lạng, hai bát chiết yêu (tô) bún riêu, rau sống, rau thơm. Ông lão cũng ăn một bát.

 

Ăn xong, anh Lạng nói cho ông lão rõ ý định. Ông cười khà khà:

“Nếu vậy thì cháu gõ đúng cửa rồi. Lão bảo đảm lão sẽ nuôi con chó này cho đến khi nó chết. Lão không phải người tham tiền đâu. Về nhà lão gần đây ngủ một đêm, sáng mai hãy trở về làng.”

 

Anh Lạng dắt chó đi theo. Quả ông lão là người khá giả, có nhà cao cửa rộng. Ông đã có hai con chó khá đẹp nhưng ông ưng con Vàng hơn.

 

Vậy là con Vàng nhập bọn với hai con bạn mới, một đực, một cái, nhỏ tuổi và nhỏ con hơn Vàng. Mới gặp mà ba con chó đã trửng giỡn với nhau như đã quen lâu ngày. Ông lão gọi con giết gà làm cơm, lại kiếm một bộ quần áo còn khá tốt của người con trai ông cho anh Lạng, bảo con dắt anh ra bến sông tắm rửa sạch sẽ. Ông lão giữ anh Lạng ở chơi thêm một ngày sau đó mới cho về.

 

Sáng kế tiếp, anh Lạng từ giã ông lão và gia đình ông. Khi anh bước ra ngõ, con Vàng theo chân anh nhưng anh quay lại, ngồi xuống ôm cổ nó bảo:

“Mày phải ở đây hầu hạ, trông nhà cho cụ. Mày không thể về làng được. Người ta giết mày, nghe không?”

 

Sau câu nói, nó không theo anh Lạng nữa nhưng đứng thừ người nhìn anh cho đến khi anh đi khuất.

 

Ông lão đưa ra một số tiền tương đương giá con chó ở ngoài chợ, nói là để trả anh Lạng nhưng anh không lấy mà chỉ xin một nắm cơm đem theo ăn đường. Lẽ dĩ nhiên ông lão thỏa mãn hết và còn gửi hai chục tấm bánh đa đường (thứ chưa nướng), một chục bánh gai Vĩnh Bảo, một kí bột sắn và một hũ mắm rươi cho anh đưa về làm quà cho gia đình. Ông lão bảo vùng ông về mùa giáp Tết, rươi nhiều lắm và mắm rươi là thứ đặc sản có tiếng thường đem lên Nam định và Hà Nội bán cho những người sành ăn.

 

Lượt về, vì không có chó, anh Lạng đi nhanh hơn nhưng qua ngày rưỡi đầu cực khổ, đói khát, lạnh lẽo, tinh thần căng thẳng vì mất chó, vì chiến trận dọc đường, anh quị ngay khi vừa về đến nhà.

 

Mẹ tôi và chúng tôi nghe anh kể lại lúc anh chới với dưới hố phân, cười đau cả ruột. Thỉnh thoảng, mấy ngày sau, chị Lạng lại cầm lấy cánh tay áo của anh đưa vào mũi hít hít:

“Coi xem, còn có mùi hôi không?” làm mẹ con tôi lại phá lên cười. Còn anh Lạng thì có vẻ xấu hổ vì đã sơ ý tệ hại như thế.

 

                                    ***

 

Chỉ còn đúng một tuần là Tết. Bố tôi đi biền biệt chưa về. Có người bạn của bố về báo cho mẹ hay rằng, bố đang ở một vùng nào đó giữa biên giới Trung Hoa-Việt Nam thuộc vùng Cao bằng, hay Lạng Sơn gì đó. Mẹ ở nhà cứ lo cho bố héo hắt cả người.

 

Dù sao những sinh hoạt của con cháu không thể bỏ. Mẹ tôi định chiều hôm đó sắp sẵn cỗ bàn cúng gia tiên rồi cho con cháu ăn uống vì tất cả đều đã sẵn sàng. Sáng sớm, khi cả nhà còn đang ngủ, bỗng nghe tiếng đạn xé gió trên không rồi những tiếng nổ “đoàng” đinh tai nhức óc làm như nó nổ ngay trong làng chúng tôi.  Mọi người đều nhốn nháo cả lên trong khi đạn cứ “véo, véo” trên đầu.

 

Chú Hội là em họ mẹ tôi, nhà ở ngay sau nhà tôi, từ ngoài ngõ băng qua sân vào bảo mẹ tôi và chúng tôi, vừa thở vừa nói:

“Nghe nói quân Pháp đổ bộ lên bến đò Sa Cao, sẽ tiến về làng mình và mấy làng lân cận. Chị và các cháu lo gom góp quần áo mà tản cư thôi!”

Mẹ tôi níu tay chú:

“Chú bảo bây giờ đi đâu?”

“Em tính chạy xuống phía Ngô Đồng cho xa chỗ quân Pháp đóng. Ngô Đồng có nhà bác Bội, tạm trú ở đó rồi tính sau.”

 

Nói xong, chú Hội chạy biến về nhà. Mẹ tôi hỏi hai anh Tuyến và Lạng, các anh nói chẳng còn chỗ nào tốt hơn. Mình phải ra khỏi trận địa tức là đi xuống phía biển, chứ đi ngược lại là gặp Tây.

 

Thế là ai vào việc nấy. Mẹ tôi đã may sẵn những cái tay nải (một loại túi dài bằng vải kaki Nam định rất bền rất chắc để đựng bất cứ thứ gì, đeo trên vai), ruột tượng để thắt vào lưng và thêm vài đôi quang gánh, thúng hai bên chất đầy đồ đạc cho một người khoẻ sức gánh. Quần áo quan trọng nhất, thứ đến là thực phẩm. Bánh chưng luộc xong, mẹ tôi đã sai các chị đi biếu đâu vào đấy hết, những ông chú, bà dì của bố mẹ tôi, những ông bà thông gia v.v… Còn lại hơn chục chiếc, anh Lạng bỏ vào thúng cho các chị đội. Gạo bỏ vào tay nải vác trên vai, cũng như quần áo. Còn tiền bạc thì mẹ tôi bỏ vào ruột tượng thắt vào lưng.

 

Chúng tôi khép cổng ngõ lại và ra khỏi nhà lúc chín giờ sáng, khi nghe tiếng chú Hội la ầm ầm ở bên ngoài:

“Chị Biểu ơi, mẹ con chị xong chưa? Lúng túng ở đó mãi chết hết bây giờ!”

 

Chúng tôi đã cuống, nghe chú giục càng cuống hơn, bước theo chú mà chân ríu lại, tay và hàm thì run vì lạnh và sợ.

 

Cũng may khi chúng tôi đi, đám du kích xã đi đâu hết nên không gặp trở ngại mà cũng không bị đạn bích kích pháo sà xuống hỏi thăm. Dọc đường, người đi tản cư đông quá, gánh, đội, mang xách đủ hết. Có người bỏ hai đứa con vào hai cái thúng hai bên quang gánh, gánh đi, lôi thôi, lếch thếch, vô cùng khổ sở.

 

Vì có chiếc máy bay bà già (Morane) trên đầu làm hiệu cho tầu chiến đậu ngoài sông bắn vào khi máy bay nghi là có bộ đội VM, chúng tôi vừa đi vừa phải kiếm chỗ núp, lại không dám mặc những thứ quần áo có mầu lộ liễu như trắng, xanh, đỏ. Những mầu này, người ta nói, trên máy bay dễ nhìn thấy nên chỉ mặc đồ đen hoặc nâu, lẫn lộn với mầu đất. Hơn nữa, phải tránh ba mầu cờ tam tài của Pháp vì vô tình có thể bị du kích kết tội và xử phạt ngay.

 

Khi gia đình tôi và gia đình chú Hội xuống đến Ngô Đồng  thì bác Bội và vợ con đã đi khỏi, chẳng biết đi đâu. Ngủ trọ một đêm tại đó, sáng hôm sau chúng tôi theo đoàn người tản cư sang vùng Đống Năm, Thái Bình rồi từ đó bắt đầu một cuộc đời tản cư vô định.

Chuyện tản cư còn rất dài nhưng câu chuyện phải mang chó đi cho đã kết thúc.

 

Từ một đất nước của tôi có quá nhiều biến loạn này, tôi nghiệm ra, trừ miền thượng du Bắc Việt, vì chiến cuộc, tôi đã đặt chân hầu hết các tỉnh vùng đồng bằng sông Nhị Hà. Trong 4 năm sau cùng của miền Nam từ 1971-1975, tôi cũng đã đi gần khắp từ Bến Hải đến Cà Mau ra cả Hà tiên, Phú Quốc. Tôi không nghĩ một công dân ở một nước may mắn không có chiến tranh như đất nước Việt Nam của tôi, thí dụ Thụy Sĩ, Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy, Hà Lan v.v… lại  bôn ba, xuôi ngược khắp nơi như tôi, già trước tuổi trong những lần tản cư chạy giặc thập tử nhất sinh. Nhiều lúc ngồi nghĩ lại, tự hỏi sao mình có thể sống sót được trong những hoàn cảnh hiểm nguy và nghiệt ngã đến thế!        

 

Bút Xuân  TRẦN ĐÌNH NGỌC

 http://www.hon-viet.co.uk/TranDinhNgoc_TetTanCu.htm

Posted in Uncategorized | Tagged: | 1 Comment »

HỒ CHÍ MINH, MẠC ĐĂNG DUNG THẾ KỶ 20

Posted by tudodanchu trên Tháng Bảy 14, 2008

 

HỒ CHÍ MINH, MẠC ĐĂNG DUNG

THẾ KỶ 20

            

* Bút Xuân  TRẦN CÔNG TỬ

 

 

Ông Nguyễn sinh Cung (tức Hồ chí Minh) vừa hát xong bài “Ai bảo đội trôn là khổ” giọng ông nhừa nhựa như giọng mụ xướng ca Khánh Lon xưa kia hát nhạc thằng giặc Trịnh cộng Sơn để làm nản lòng các chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa mà Tổng Cục Chiến tranh Chiến trị và Bộ Thông Tin cứ ăn no ngủ kĩ, tối thứ sáu đi nhẩy đầm, sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi; khi sang đến hải ngoại, thấy rõ bộ mặt Việt gian Cộng sản của thằng giặc điếm nhạc nhưng con mụ xướng ca Khánh Lon vẫn cứ ca thằng điếm chảy Trịnh Cộng lên tới mây xanh bởi xưa kia nó đã cho con mụ này hầu hạ bưng bô cho nó nhiều lần.

 

Trong tháng 3-08, mụ Khánh Lon và mấy tên chuyên lòn trôn Việt gian CS dự định tổ chức buổi nhạc hội vinh danh Thằng Cộng Sản TCS ở quận Cam Cali và vài nơi khác theo NQ 36 của Thủ tướng Việt gian CS Nguyễn tấn Dũng nhưng bị đồng bào hải ngoại cực lực phản đối, lên án bọn gia nô này. Chưa biết chúng có bãi bỏ hay vì tiền VC cho rất hậu hĩ, chúng vẫn tiếp tục liếm trôn! 

 

Lại nói ông Nguyễn sinh Cung đã hát xong, đằng hắng hai ba cái để báo cho cử tọa hay rằng xong rồi đấy, cố mà vỗ tay cho “sự nghiệp” của bác đi nhưng chẳng ai vỗ tay cả mà lại có nhiều tiếng la hét ầm ĩ:

“Đồ bán nước cho đế quốc Tàu Đỏ! Tội đáng băm vằm không biết nhục lại còn tưởng là hay. Tội của ông một ngàn lần nặng hơn tội của Lê chiêu Thống, Trần ích Tắc, hay Mạc đăng Dung tự trói mình ra hàng, ra chịu tội ở cửa Nam Quan, lậy phục xuống đất để nộp sổ điền thổ và sổ dân đinh cho Tàu, lại xin dâng đất 5 động và đem vàng bạc dâng riêng cho nhà Minh. Ông có biết không??”

 

Ông Nguyễn sinh Cung ú ớ chưa kịp trả lời thì chợt một ông trung niên, ăn mặc quần áo trây-y xanh nhà binh của Việt Nam Cộng Hòa, ra khỏi hàng xin nói. Ông Hoàng MC nhìn vào cái lon và bảng tên trên túi áo, mời:

“Vâng, xin mời  Trung tướng Nguyễn Khoa Nam, QLVNCH.”

 

Người này chính là Trung tướng Nam, xưa đã tuẫn tiết ở vùng 4 Cần thơ lúc quân của Nguyễn sinh Cung tiến vào Sàigòn nhưng vùng 4 còn rất yên tĩnh, ngoại trừ lệnh buông súng từ tên mạt tướng Dương văn Minh, đệ tử ruột của sư hổ mang CS Nằm Vùng Trí Quang. Tướng Nam dõng dạc nói:

“Thưa đồng bào, mọi người Việt Nam chúng ta, dù ở bên này hay bên kia vĩ tuyến 17 đều phải có bổn phận đối với đất nước là giữ vững sơn hà, lãnh thổ của cha ông để lại đồng thời mưu cầu hạnh phúc ấm no, tự do, dân chủ cho toàn thể đồng bào.

 

Trong 21 năm, miền Nam có những cuộc chính biến, có đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa nhưng quân dân cán chánh chúng tôi luôn luôn đề cao chính nghĩa QG, giữ gìn lãnh thổ, bảo vệ nhân dân khỏi bị kẻ thù khủng bố làm hại, kẻ thù ấy chính là bọn Việt gian Cộng sản mà Nguyễn sinh Cung là thủ lãnh.

 

Ngày 19-1-1974, Trung cộng đưa tầu chiến đến Hoàng Sa, Trường Sa chiếm đoạt hai quần đảo này. Hải Quân Cộng hòa miền Nam đã chiến đấu hết sức dũng cảm nhưng vì Trung cộng mang đến một lực lượng quá mạnh để nắm phấn thắng nên Hải quân Cộng hòa chúng tôi đã phải rút lui sau khi hơn 60 chiến sĩ và Sĩ quan chỉ huy yêu nước hi sinh cản bước chân xâm lược của Trung cộng.

 

Chính là Ngụy quyền CS miền Bắc VN muốn dâng hai quần đảo này cho Trung cộng nên mới tuyên bố sau đó là:

“Chẳng thà để đàn anh Trung quốc chiếm hai quần đảo ấy còn hơn là để Ngụy quyền miền Nam cai quản.”

 

Là một tướng lãnh chỉ huy quân đội miền Nam, tôi trân trọng đưa ra sự thật về hai quần đảo này để quốc dân đồng bào và lịch sử phê phán ai đúng ai sai, ai yêu nước, ai phản bội tổ quốc?

 

Sàigòn ngày ấy hàng nửa triệu dân và sinh viên, học sinh đã biểu tình phản đối sự xâm lược trắng trợn của đế quốc Đỏ Trung cộng cũng y như ngày nay dân Tây Tạng, ngày 10-3-2008 vùng lên chống lại sự đô hộ tàn bạo của Trung cộng. Ông Nguyễn văn Thiệu, Tổng Thống miền Nam lúc đó, thường bị ông Nguyễn sinh Cung và đồng bọn gọi là Việt gian đi theo Mỹ, nhưng chính ông Thiệu đã ra sức bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa nhưng đành thất thủ trước cường lực “sức yếu thành ra thiếu khôn”!

 

Quốc Hội VNCH, họp nhiều ngày sau 19-1-1974, tìm biện pháp, nhưng rồi đành đau buồn ra Tuyên cáo phản đối bọn đế quốc Trung cộng Đỏ xâm lăng, mạnh mẽ lên án Trung cộng và Việt gian CS trước quốc tế chứ không như cái gọi là Quốc Hội khóa 12 của Xã hội CN, khi Trung cộng ra văn bản hành chánh chiếm Hoàng Sa và Trường Sa ngày 3-12-2007 thì cái Cuốc Hại này câm như thóc, 500 đại biểu ăn hại đái nát không tên nào dám ho he một tiếng vì sợ mất chức, mất quyền! Ba chóp bu Mạnh, Dũng, Triết cũng câm như thóc, hơn nữa, khi đồng bào và sinh viên học sinh biểu tình đòi trả lại Hoàng Sa, Trường Sa trước tòa đại sứ Trung cộng ở Hà Nội và Lãnh sự quán ở TC ở Sàigòn thì Mạnh, Dũng, Triết lại cho công an đầu gấu dùng dùi cui, súng ngắn, lựu đạn cay giải tán họ. Cả 6 tỉ người trên hành tinh này không ai hiểu nổi! Đúng là một bọn bán nước chuyên nghiệp, bán nước có gia phả, bán nước có gene, vô địch toàn cầu!

 

Lẽ ra tôi đâu có hàng dễ dàng thế vào ngày 30-4-1975 nhưng vì kỉ luật QĐ, cấp trên của tôi là Tổng Thống Dương văn Minh ra lệnh buông súng mà tôi đành phải ra lệnh cho các chiến sĩ của tôi buông súng chứ nếu để cho tôi cùng các chiến sĩ của tôi chiến đấu đến giọt máu cuối cùng thì quân của Nguyễn sinh Cung có thắng được tôi cũng phải mất mười Sư đoàn trở lên! Dân Vùng 4 hằng thương mến chúng tôi, chúng tôi trường kì kháng chiến cho mà coi! Không dễ ăn đâu!

 

Điều kế tiếp tôi yêu cầu Sử gia Trần trong Kim hãy đọc lại đoạn sử này để đồng bào được rõ tâm địa của Mạc đăng Dung khi xưa và Nguyễn sinh Cung ngày nay!”

 

Cả rừng người vỗ tay ào ào xen lẫn tiếng huýt sáo tán thưởng câu nói. Ông Nguyễn khoa Nam trở lại chỗ cũ. Một ông già tự xưng là Sử gia Trần trọng Kim bước ra, tay cầm một quyển sách dầy. Ông chào đồng bào xong đeo kính, mở sách, đọc:

“Từ khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê rồi, quan nhà Lê đã có người sang cầu cứu bên Tàu xin viện binh. Vua nhà Minh đã sai quan đi đến Vân Nam cùng với quan Tuần phủ sở tại tra xét bên An-nam thực hư thế nào.

 

Quan nhà Lê sang Vân Nam kể rõ việc họ Mạc thoán nghịch. Quan nhà Minh tâu với vua xin cử binh mã sang đánh.

 

Việc định sang đánh họ Mạc không phải là vua nhà Minh có vị gì họ Lê, nhưng chẳng qua cũng muốn nhân lúc nước Nam có biến, lấy cớ mà sang làm sự chiếm giữ như khi trước sang đánh họ Hồ vậy.

 

Ta phải biết rằng phàm những việc nước nọ giao thiệp với nước kia thì thường là người ta mượn tiếng “vị nghĩa” mà làm những việc “vị lợi” mà thôi.

 

Năm Đinh Dậu (1537) vua nhà Minh bèn sai Cửu Loan làm Đô đốc, Mao bá Ôn làm Tán lý quân vụ, đem quân sang đóng gần cửa Nam quan rồi truyền hịch đi mọi nơi, hễ ai bắt được cha con Mạc đăng Dung thì thưởng cho quan tước và hai vạn bạc. Lại sai người đưa thư sang cho Mạc đăng Dung bảo phải đưa sổ ruộng đất, nhân dân sang nộp và chịu tội, thì được tha cho khỏi chết.

 

Mạc đăng Dung sai bọn Nguyễn văn Thái sang sứ nhà Minh để xin hàng.

 

Đến tháng 11 năm Canh Tí (1540), Mạc đăng Dung thấy quân nhà Minh sửa soạn sang đánh, sợ hãi quá chừng, bèn để Mạc phúc Hải ở lại giữ nước, rồi cùng với bọn Vũ như Quế, cả thảy hơn 40 người, tự trói mình ra hàng, sang chịu tội ở cửa Nam quan, lậy phục xuống đất để nộp sổ điền thổ và sổ dân đinh, lại xin dâng đất 5 động là động Té phu, động Kim Lạc, động Cổ Xung, động Liễu cát, động La phú và đất Khâm châu. Lại đem vàng bạc dâng riêng cho nhà Minh.

 

Quan nhà Minh tuy làm bộ hống hách, nói đem binh sang đánh nhưng cũng sợ phải cái vạ như mấy năm bình định ngày trước, vả lại được tiền bạc của Đăng Dung rồi, cái lòng nhiệt thành vị quốc cũng nguội đi, cho nên mới tâu với vua nhà Minh xin phong cho Mạc đăng Dung làm chức Đô thống sứ hàm quan nhị phẩm nhà Minh. Từ biến cố này, là một Sử gia, tôi nghiêm túc lên án như sau đây:

Mạc đăng Dung đã làm tôi nhà Lê mà lại giết vua để cướp lấy ngôi, ấy là một người nghịch thần; đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ cõi, lại đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là một người phản quốc. Làm ông vua mà không giữ được cái danh giá cho trọn vẹn, đến nỗi phải cởi trần ra trói mình lại, đi đến quì lạy ở trước cửa một người tướng của quân nghịch để cầu lấy cái phú quí cho một thân mình, ấy là một người không biết liêm sỉ.

 

Đối với vua là nghịch thần, đối với nước là phản quốc; đối với cách ăn ở của loài người là không có nhân phẩm; một người như thế ai mà kính phục? Cho nên dẫu có lấy được giang sơn nhà Lê, dẫu có mượn được thế nhà Minh bênh vực mặc lòng, một cái cơ nghiệp dựng lên bởi sự gian ác, hèn hạ như thế, thì không bao giờ bền chặt được. Cũng vì cớ ấy cho nên con cháu họ Lê lại trung hưng lên được.

 

Kính thưa toàn thể các bậc trưởng thượng và đồng bào,    

 

Đó là nguyên văn những gì chúng tôi đã viết trong Việt Nam Sử lược, quyển II trang 16 và 17. Nay xin đọc lại theo lời yêu cầu của Trung tướng Nguyễn Khoa Nam, Việt Nam Cộng Hòa và chư liệt vị. Tôi xin hết lời.”

 

Tiếng vỗ tay như sấm ran. Có người còn hô: “Hoan hô sử gia Trần trọng Kim”.

 

Sau khi tiếng vỗ tay đã ngớt, có một người từ trong hàng bước ra xin nói. Ông MC gật đầu.

 

“Thưa quí vị trưởng thượng và toàn thể đồng bào.

 

Tôi là Đại tá Phạm văn Sơn, một Sử gia của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, đã bị đi tù cải tạo và bị Việt gian Cộng sản giết ở trong tù. Nghe ông Trần trọng Kim đọc đoạn sử trên, tôi có cảm tưởng là những gì đã xẩy ra thời ông Mạc đăng Dung thì ngày nay, từ 1945 trở đi, lại tái diễn với ông Nguyễn sinh Cung không sai bao nhiêu, có lẽ còn nặng hơn ở mức độ nô lệ ngoại bang.

 

Trước nhất, ông Nguyễn sinh Cung dạy cả nước phải học tập: “Trung quốc với Việt Nam vừa là đồng chí, vừa là anh em, môi liền môi, răng liền răng, núi liền núi, sông liền sông” là một luận điệu ru ngủ mà Trung quốc lừa cho ông Cung và đồng bọn quên hết những cuộc xâm lăng, những năm đô hộ (cả hơn nghìn năm) để dâng đất, dâng biển cho Trung cộng là kẻ thù truyền kiếp.

 

Trung cộng tiếp tế bom đạn vũ khí cho ông Cung để ông xua người VN vào chiến trường chết thay cho lính Trung cộng với mục đích thâm độc của Trung cộng là đuổi Hoa Kỳ đi khỏi vùng Đông Nam Á, để lại một mình một chợ cho Trung cộng. Hơn nữa, khi ông Cung càng hi sinh người (đánh biển người) ở chiến trường thì Trung cộng càng có lợi. Nước VN càng ngày càng bạc nhược, yếu hèn, Trung cộng nắm dễ. Trung cộng cần phải làm sao cho bọn tư bản Đỏ càng ngày càng giầu, trái lại nhân dân càng ngày càng nghèo, tư bản Đỏ cướp hết nhà đất của dân để dân căm thù bọn chóp bu, biểu tình phản đối thì bọn chóp bu bỏ tù hết cả, sự phân hóa ấy làm cho nước VN càng ngày càng chia rẽ, như thế càng có lợi cho Trung cộng trong chính sách chia để trị.

 

Trung cộng biết rằng tuyên bố vụ Tam Sa thì Việt gian CS mất mặt nhưng Trung cộng vẫn làm để cho VC mất hết uy tín với quốc dân và quốc tế. VC không còn con đường nào khác là phải bám gót đàn anh Trung cộng để sống còn, vơ vét. Bề ngoài, Trung cộng phủ dụ VC nhưng bên trong, Trung cộng khinh VC như một lũ hủi vì Trung cộng, dù có làm điều gì xấu đi nữa cũng không bán nước, bán biển dâng đất và không làm gia nô cho ai. Nay thấy VC vô liêm sỉ, táo tợn bán biển dâng đất như thế, Trung cộng vui nhận nhưng khinh VC ra mặt. Trung cộng sẽ càng ngày càng xiết chặt gọng kìm để Bộ chính trị VC và các chóp bu không thở được, rồi phải dâng hết, bảo sao nghe vậy, và cuối cùng nước VN trở thành một tỉnh (Quảng Nam chẳng hạn) của Trung cộng.

 

Đoạn văn trên mà sử gia Trần trọng Kim vừa đọc có thể đổi tên người và năm tháng đi thì cũng hợp.

 

“Đến tháng 12-2007, bọn Việt gian CS thấy quân Trung cộng sửa soạn cướp các quần đảo và lãnh hải bèn tự trói mình ra hàng, sang chịu tội ở cửa Nam quan, lậy phục xuống đất để nộp thác Bản Giốc và ải Nam quan cùng với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Lại đem các thứ quí kim, đôla dâng riêng cho quan chức Trung cộng.

 

Nguyễn sinh Cung tuyên bố làm cách mạng nhưng cướp chính quyền từ tay nhân dân, phi chính thống. Cung đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ cõi, lại đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là một người phản quốc. Làm chủ tịch nước mà không giữ được cái danh giá cho trọn vẹn, đến nỗi phải tuân lời những tên cố vấn Tàu bắt làm những điều sai trái (như trong Cải Cách RĐ) để cầu lấy chút phú quí cho một thân mình và một nhà mình, ấy là một người không biết liêm sỉ.

 

Ông Nguyễn sinh Cung, đối với quốc tổ Hùng vương là một nghịch thần, đối với nước là một kẻ phản quốc, đối với cách ăn ở của loài người là không có nhân phẩm; một người như thế thì ai mà kính phục?

 

Cho nên dầu có lấy được cả nước, dẫu có mượn được thế Trung cộng, một cái cơ nghiệp dựng lên bởi sự gian ác hèn hạ như thế, thì không bao giờ bền chặt được. Cũng vì cớ ấy cho nên dân nước vùng lên dẹp tan đảng VGCS mang lại Độc lập, Dân chủ, ấm no, tự do, Hạnh phúc cho đồng bào. Tôi xin hết lời.”

 

Những tiếng vỗ tay lại như sấm ran. Một người đàn ông xin ra nói, ông ta xưng tên là Khái Hưng, nhà văn, đã bị ông Nguyễn sinh Cung cho thủ hạ bỏ vào bao bố với mấy cục đá trôi sông Ninh Cơ khoảng năm 1946. Ông Khái Hưng nói:

“Ông Nguyễn sinh Cung tàn ác, lẽ ra tôi phải tao mày với ông chứ ông không xứng đáng cho tôi gọi bằng nhân xưng đại danh tự ông. Vì sao? Vì ông đã trở thành con yêu tinh chuyên hút máu người dân vô tội. Vì ông là một cái quái thai ghê tởm, một súc vật dơ bẩn, bạo tàn hơn chó sói, hơn cọp beo, rắn rết, hơn bất cứ thứ gì loài người ghê tởm, tránh xa.

 

Tội bán nước của ông và đồng bọn ngày nay đã quá rõ ràng, không ai có thể phủ nhận. Ông và đồng bọn đã dâng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng lãnh hải bao la thuộc về hai quần đảo này cho giặc Tàu. Công hàm do Phạm văn Đồng lúc đó là Thủ tướng nước VNDCCH kí ngày 14-9-1958 mặc nhiên công nhận hai quần đảo Hoàng, Trường Sa và phần lãnh hải quan trọng phụ thuộc hai quần đảo này là thuộc chủ quyền của Trung cộng.

 

Đó là một hành vi bán nước rõ ràng và Trung cộng, ngày 3-12-2007 đã kí văn bản hành chánh sát nhập hai quần đảo này vào huyện Tam Sa, tỉnh đảo Hải Nam.

 

Trước đó, từ 1956, sau khi chia đôi đất nước, Ung văn Khiêm, bộ trưởng Ngoại giao của chính phủ ông cũng đã kí nhiều Hiệp ước dâng biển dâng đất cho Trung cộng, theo lệnh của chính ông là chủ tịch nước VNDCCH.

 

Những bằng chứng này đã quá rõ ràng, không riêng người VN nhưng toàn cầu đều đã nhìn thấy. Khi nhân dân VN và sinh viên biểu tình phản đối Trung cộng xâm lăng thì chính Mạnh, Dũng, Triết là tay sai và con ông đã cho công an đàn áp họ. Hành động tàn bạo này càng làm rõ âm mưu bán nước của ông và tập đoàn Việt gian CS.

 

Ông Nguyễn sinh Cung! Kẻ bán nước là ông và thủ hạ của ông chưa tự xử, chưa có nghị án của toà án quốc tế, sống phây phây làm giầu trên xương máu người VN; còn tôi, tôi vô tội, tôi không từng bán nước, tôi không từng đi theo giặc Pháp, thế mà ông bỗng dưng cho thủ hạ bắt tôi tra tấn rồi bỏ bao bố trôi sông Ninh Cơ. Như thế thì có còn trời đất nào không?

 

Mà vì sao ông khát máu đồng bào đến thế?

 

Ngoài tôi, ông còn giết hàng trăm ngàn chiến sĩ Quốc gia chân chính yêu nước chỉ bởi họ, cũng như tôi, không cùng ông tôn thờ chủ nghĩa hoang tưởng Mác-Lê-Mao! Xin ông trả lời.”

 

Ông Nguyễn sinh Cung:

“Ông là nhà văn Khái Hưng? Nhà văn to lắm ông nhỉ? Nhà thơ cũng to, nhưng tôi nói thật, những quyển sách ông viết, cũng như trăm ngàn cuốn sách khác, chỉ đáng dùng làm củi chụm.

 

Năm 1954, khi tiếp thu Hà Nội, tôi đã ra lệnh cho cán bộ, công an, đoàn thanh niên CS Hồ chí Minh, các lãnh tụ Sinh viên, học sinh và cả quân đội nhân dân, tất tần tật, phải đem hết sách vở của thực dân Pháp và bọn phản động, nghĩa là những sách không do Xã hội chủ nghĩa xuất bản, đem đốt hết. Ông có biết không, ngay năm 1954 mà những sách báo phản động đã bị đốt hàng tháng không hết, đốt lai rai hoài vẫn không tuyệt nọc. Tần thủy Hoàng đốt sách mà ăn thua chi! Chưa bằng một phần ngàn chúng tôi đốt. Những cuốn sách dầy cả vài gang tay, mạ vàng, bìa cứng, những cuốn tự điển công trình cả mấy đời người, những tinh hoa kim cổ, tiểu thuyết, Thi ca, ráo hết đã vào lò thiêu.

 

Chính tôi đã đi dự một cuộc đốt sách ở trước sân Thư viện trường Viễn Đông bác cổ. Đống sách xếp ra đốt cao như đống núi mà về sau người ta bảo có những cuốn vô giá vì không còn tìm được nữa, vì chỉ còn 1 cuốn duy nhất. Nhưng tôi và các anh em sinh viên không lí tới điều đó, trừ phi cuốn sách là vàng thiệt thì mới giữ lại.

 

Suy thế, sách của ông chẳng đáng để tôi đọc cái nhan đề. Đốt hết là phải lắm rồi.

Còn cái mạng của ông? Sách đã thế thì người còn có giá trị gì? Chúng tôi nghi ngờ ông làm tay sai cho thực dân Pháp nên chúng tôi giết. Giết ngưòi thường, không nổi tiếng, không làm toàn dân sợ, mà giết người tài, có tiếng tăm như ông mới làm rúng động nhân tâm, ông hiểu chưa? Ông chết trôi sông như thế còn là mát mẻ chứ có những kẻ chúng tôi chôn sống, chỉ thò cái đầu lên, giở sống giở chết, cho trâu cày bừa vào đầu, nát sọ mà vẫn ngắc ngoải. Thế mới đáng sợ!”

 

Ông Khái Hưng:

“Ông Nguyễn sinh Cung, nhân loại có lẽ không đủ từ ngữ để mô tả cái độc ác, tàn bạo của ông và đảng ông! Tôi rất tiếc Thượng Đế đã cho tôi sinh ra làm kiếp người VN.”

 

Nhiều người ào ào la lên:

“Phải đấy, chúng tôi phải khiếu nại lên tới Ngọc hoàng Thượng đế vì đã đày đọa chúng tôi làm kiếp người Việt, sinh cùng trong cái thế kỉ với ông Nguyễn sinh Cung, một kẻ chẳng nên được sinh ra ở  cõi đời này. Ông đã làm cho Việt Nam trở nên chốn gió tanh mưa máu, chốn anh em một nhà chém giết nhau mà rốt cuộc cả dân tộc bại hoại vì cái chủ nghĩa sai lầm, hoang tưởng, đểu cáng, phi luân ông đem nhập vào nước Việt. Ngày nay, từ trong nước cho đến hải ngoại, người Việt vô cùng chia rẽ, giầu nghèo chia rẽ, chức quyền với dân thường chia rẽ, trong đảng CS, một đảng duy nhất: chia rẽ; người Việt ở hải ngoại sinh ra đủ thứ nhóm chính trị, cũng chia rẽ; mầm chia rẽ từ ông làm cho tình nghĩa anh em, huynh đệ một nhà không còn, chỉ nhăm nhăm chém giết nhau và lấy làm thỏa mãn. Từ khi ông xuất hiện ông đã làm cho nước VN biến chất, đạo lí đi đong, nhân tình lụn bại, người Việt trong nước ngày nay chỉ còn biết có hưởng thụ, đảng gọi dạ, bảo vâng, phụ nữ đi bán trôn nuôi miệng, thanh niên lao động xuất khẩu suốt đời nô lệ ngay cho những kẻ xưa kia thua kém mình rất xa như Mã lai Á, Hàn quốc v.v…Thật là một cái nhục, một sự thoát xác để trở lại thời đồ đá, một xã hội đảo điên, bát nháo, mạnh kẻ nào kẻ ấy vơ vét làm tiền; mạng người thua mạng heo, chó. ”

 

Giọng một người đàn bà:

“Tôi là Nguyễn thị Thanh, vừa nãy đã nói rồi, tôi là chị ruột ông Nguyễn sinh Cung. Tôi xin nhắc lại ý kiến lúc nãy, giá tôi biết thế này, hồi ông ta còn nhỏ, tôi bóp mũi cho ông ta chết đi để đỡ cái tai họa nghìn năm cho dân tộc.

 

Cha mẹ tôi cũng không muốn thừa nhận ông ta dù ông ta cho thủ hạ xây lăng hai cha mẹ tôi kĩ lưỡng lắm. Có người nói rằng, hai cái lăng cho cha và mẹ tôi, khánh thành được mấy ngày thì ban đêm có kẻ lấy cứt trát cùng khắp trên hai cái y như những cái lăng của các thằng Phạm văn Đồng, Lê Duẩn, Lê đức Thọ, Mai chí Thọ, Trường Chinh v.v…cũng bị trét cứt. Chúng đã gây ra quá nhiều tội ác, bây giờ có đổ cả thuyền phân lấp kín mả đi thì cũng chẳng lấy lại được cái gì.

 

Cái nhục là bà ngoại tôi đã dăng dện với ông Hồ sĩ Tạo đẻ ra cha tôi tức Nguyễn sinh Sắc, lấy họ của chồng mẹ chứ cái ông họ Nguyễn đó không phải là ông nội chúng tôi mà chính là Hồ sĩ Tạo.

 

Đứa con ngoại tình là cha tôi, tri huyện Nguyễn sinh Sắc, đẻ ra anh tôi, Nguyễn sinh Khiêm, hai em tôi Nguyễn sinh Xin và Nguyễn sinh Cung và tôi, Nguyễn thị Thanh. Tôi thực không hiểu do tiền oan nghiệp chướng nào mà cha mẹ chúng tôi, Nguyễn sinh Sắc và Hoàng kim Loan,  lại đẻ ra Nguyễn sinh Cung, một con quái vật, một quỉ vương thời đại như thế!”

 

Nguyễn sinh Cung ngồi nghe tức giận cành hông:

“Bây giờ mấy người cậy có công lí, pháp luật nhà trời đua nhau thóa mạ tôi đấy phải chăng? Chuyện xưa như trái đất vẫn cứ lôi ra, hay thật. Sao hồi tôi còn sống không đứng ngay giữa Hà Nội hay hang Pắc Pó mà nói? Chỉ một búa vào ót như cô Nông thị Xuân là êm hết. Tôi giải quyết vụ việc rất nhanh rất gọn.

 

Tôi thích cách giải quyết của đồng chí Phùng thế Tài.

 

Hơn hai trăm sinh viên Hà Nội phản đối việc đăng kí đi lính Sinh Bắc tử Nam, có đứa đã trốn, đồng chí Tài vô cùng tức giận nhưng nhẫn nhịn phủ dụ cho về hết, hứa là sẽ cứu xét nguyện vọng và khoan hồng. Chúng tưởng bở vào trình diện không thiếu một thằng. Đồng chí Tài cho xe chở chúng ra bờ sông, bắt xếp bốn hàng dọc, đứng nghiêm nghe đọc bản án chung cho tất cả: tử hình. Sau đó một tiếng hô của đồng chí Tài, bốn khẩu trung liên đã sẵn sàng bắt đầu nhả đạn. Từng thằng, từng thằng gục ngã như người ta đẫn chuối. Máu thấm đỏ một quãng đê!

 

Phản động phải giải quyết bằng cách đó. Tôi thăng cấp tướng cho đồng chí Tài và bắt Ban Tuyên Huấn viết bài về “sự cố” ấy cho toàn quân, toàn dân học tập thật kĩ. Phản động sẽ bị trừng trị như thế đó!

 

Đồng bào biết vì sao tôi phải độc tài? Giả sử 200 mạng ngã xuống đó là 200 con chó hay con lợn thì quá hay. Tôi sẽ bảo chia cho mỗi đại đội một con ăn cho lên tinh thần mà đánh biển người. Đàng này 200 cái thây thối của bọn phản động, phải gọi thân nhân đến lãnh xác về chôn gấp. Coi đó, người thua chó xa!”

 

Bỗng phía ngoài có những tiếng la hét, tiếng người ồn ào, tiếng chân chạy rầm rập. Những tiếng nói từ trong hàng:

“Tibet! Dân Tây Tạng! Các nhà sư Tây Tạng trời đất ạ!”

Có những tiếng hỏi:

“Vì sao họ bị giết?”

“Vì họ không chịu nổi ách thống trị hà khắc của Trung cộng nên  vùng dậy đòi độc lập và tự trị.”

 

Một người đàn ông đứng ra xin nói:

“Thưa toàn thể quí vị và đồng bào, tôi là Nguyễn văn Linh, nguyên Tổng bí thư đảng CS và Chủ tịch nước VNDCCH. Tôi xin cải chánh điều có người vừa nói. Nước Tây Tạng rất nhỏ bé so với siêu cường vĩ đại là nước Trung cộng thì cũng ví như con châu chấu đá cái bánh xe bò mà thôi. Nước Tây Tạng với dăm, bảy triệu dân, lãnh thổ nhỏ xíu toàn ở trên núi, được nước Trung cộng vĩ đại bảo hộ là điều quá may mắn lại không biết điều, giở giói ra bị thiên triều cho quân lính giết là quá phải.

 

Ngay như nước Việt Nam, dân số gấp cả chục lần Tây Tạng, lãnh thổ cũng vậy mà chủ tịch Hồ chí Minh cùng tôi bàn luận là trước sau phải nằm dưới ô dù của thiên triều mới xong. Vì vậy ngày 14-9-1958, thừa lệnh Hồ chủ tịch, Thủ tướng Phạm văn Đồng đã kí Công hàm thừa nhận quyền bất khả xâm phạm của Trung quốc vĩ đại trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bởi chúng tôi biết rất rõ, không nộp trước cũng phải nộp  sau, không đi đâu mà chạy được. Hoàng Sa, Trường Sa là điểm chiến lược bởi chỉ cần một đài ra đa đặt trên đảo là có thể kiểm soát được hết tất cả thuyền bè qua lại eo biển Malacca.

 

Hồ cẩm Đào chủ tịch tại Bắc Kinh đã nhắm cả rồi. Trước đây khoảng mấy năm , nguyên chủ tịch nước CHNDTH Giang trạch Dân  đã sang tắm ở bãi biển Tiên Sa, Đà nẵng. Ý ngài chủ tịch vĩ đại là, bãi biển này của nước Trung Hoa thì ngài ra tắm tự nhiên, khỏi cần hỏi han lôi thôi. Tất cả lãnh tụ trong Bắc bộ phủ đều là con cháu của ngài. Rồi mai mốt đây, dân VN mình phải vào trong động, trong núi mà ở nhường đồng bằng cho Hán tộc sang sinh con đẻ cháu tràn lan, tiếng nói chính thức sẽ là tiếng Bắc kinh cho mà coi. Họ đã chuẩn bị sẵn nên giờ này sự cố, chất lượng, khẩn trương, tham quan, bức xúc, triển khai, cảnh giác, khả năng…cứ thế nằm lòng bởi những từ này là do tiếng Hán mà ra cả. Ít chục năm nữa thì văn tự, tiếng nói của VN đã hoàn toàn lai căng hoặc mất hết dấu tích để chỉ còn Hán tự, Hán hóa mà thôi! Dù tôi đi theo ông Nguyễn sinh Cung nhưng sau khi xuống ngục A tì này, tôi đã giác ngộ, tôi phải nói những gì là chân thật chứ không dám gian dối như khi còn ở Hà Nội bởi Thượng Đế đã dạy cho tôi một bài học ngay thật ở đời.”

 

 Bút Xuân TRẦN CÔNG TỬ  

http://www.hon-viet.co.uk/TranDinhNgoc_HoChoMinh_MacDangDungTheKy20.htm

 

 

 

Posted in Uncategorized | Tagged: , | 2 Comments »